Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 32 thường niên, năm A
CHÚA NHẬT 32 MÙA TN-2020
Kn 6,12-16; 1 Tx 4,13-18; Mt 25,1-13
TỈNH VÀ THỨC
Tỉnh thức trước hết là luôn nghĩ rằng cuộc đời này hữu hạn chóng qua. Nhiều người trong xã hội hôm nay sống mà không cần biết đến ngày mai. Họ không nghĩ tới có ngày họ phải nhắm mắt xuôi tay để rời cõi đời này. Chính vì thế, họ đắm chìm trong say sưa, sống vô trách nhiệm với gia đình và những người thân thuộc.
Hơn thế nữa, họ trở nên gánh nặng cho xã hội và là mối kinh hoàng cho những người xung quanh. Xã hội hôm nay ngày càng có nhiều thanh niên trong tình trạng “ngáo đá” hoặc nghiện ma túy.
Đây cũng là nguyên nhân của bạo lực, cướp của giết người. Năm cô khờ dại chắc chắn cũng chuẩn bị nhiều thứ để đi đón chàng rể, nhưng điều cốt lõi như “dầu đèn” thì họ lại không coi trọng và để ý. Có thể họ chỉ chú trọng đến nhan sắc và những gì bề ngoài. Một cái kết không ngờ đã dành cho họ, khiến họ bị xua đuổi ra ngoài. Khi nghĩ đến cuộc đời chóng qua, chúng ta cố gắng nỗ lực để vươn tới sự sống vĩnh cửu.
Tác giả thư gửi tín hữu Thesalônica đã khẳng định với chúng ta về sự sống mới sau sự chết. Chết chỉ là sự biến đổi. Nếu sự chết là mối kinh hoàng đối với người vô tín và đối với những người gian ác, thì lại là dịp để người lành gặp gỡ Thiên Chúa và được Ngài thưởng công. Đây là câu trả lời cho một vấn nạn gai góc về ý nghĩa cuộc đời, về cái chết và sự sống đời sau. Tin vào đời sau và chuẩn bị sẵn sàng để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là niềm hy vọng Kitô giáo. Người tỉnh thức là người sống niềm hy vọng ấy, đồng thời chuẩn bị những gì cần thiết, để sau khi kết thúc cuộc đời dương thế, được Chúa đón nhận vào nhà của Người.
Chúa Giêsu đưa ra một dụ ngôn hơi kỳ lạ, một tiệc cưới khác với mọi tiệc cưới ở trần gian mà chúng ta đã được tham dự. Thực tế, Chúa nói về tiệc cưới Nước Trời. Chàng rể không đến đám tiệc bình thường, nhưng lại đến một cách bất ngờ, một cách đột xuất vào nửa đêm. Thật kỳ dị, thật lạ lùng ! Tuy nhiên, Tin Mừng thuật lại :” Năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn, mang dầu dự phòng đi theo. Nên, chàng rể đến, họ đã thắp đèn đón chàng rể và cùng chàng rể vào phòng dự tiệc cưới “.Còn năm cô trinh nữ khờ dại mang đèn, nhưng không mang dầu, nên họ không được vào phòng cưới dự tiệc.
Dụ ngôn này cho chúng ta thấy rõ việc tỉnh thức sẵn sàng là tối ư quan trọng. Việc mười cô trinh nữ trong đó có năm cô khôn và năm cô khờ dại cho chúng ta thấy hình ảnh của cả loài người.Chúa đến trần gian để cứu độ mọi người, cứu rỗi con người và đem lại cho con người hạnh phúc. Dân Do Thái được Thiên Chúa chọn, họ cứ tưởng ơn cứu độ chỉ dành cho họ mà thôi, do đó, họ không cố gắng, họ không sẵn sàng, họ không tỉnh thức.Lịch sử của dân tộc họ là một chuỗi những bất trung, ngỗ nghịch, trong khi đó, Chúa là Đấng luôn trung tín…
Chúa mời gọi mọi người hưởng hạnh phúc Nước Trời, tuy nhiên, muốn được vào Nước Thiên Chúa, con người phải khôn ngoan, sẵn sàng và tỉnh thức như năm cô trinh nữ khôn ngoan. Theo Chúa không có nghĩa là cứ ngồi lì, hay nằm đó mà chờ sung rụng.Nhưng theo Chúa, con người phải vượt thắng, cải thiện đời sống, ăn năn sám hối và đặc biệt bước theo con đường tám mối phúc thật.
Con người phải lắng nghe và thực hành lời Chúa.Nước Trời luôn mở rộng nhưng người Kitô hữu không thể sống tà tà, giữ đạo bằng cách đọc một số kinh nào đó, đi lễ một năm vài lần theo luật nhưng lòng mình lại xa Chúa và xa anh em của mình. Theo Chúa nhưng không biết cảm thông, không biết chia sẻ, không biết giúp đỡ những người nghèo, những người neo đơn, già cả, những người cô thân cô thế, cô nhi quả phụ vv…Muốn đi vào Thiên Quốc, người Kitô hữu phải khôn ngoan tỉnh thức, sẵn sàng và chờ đợi chàng rể.
Muốn đón Chúa chúng ta phải khôn ngoan, tỉnh thức, sẵn sàng và phải có đèn. Đèn ở đây là chính tình yêu, một lòng mến bình thường, không gây mỏi mệt và buồn chán. Đèn muốn hữu dụng phải có dầu. Dầu đốt mãi cũng phải hết. Vậy, chúng ta phải tích trữ dầu càng nhiều càng tốt. Từng giọt dầu nhỏ bé được thêm vào liên tục là những công việc nhỏ bé, tốt lành, thiện hảo trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Đó là những giọt dầu của tình yêu mến, giữ cho ngọn lửa đời sống đạo đức của chúng ta luôn cháy sáng như ngọn lửa hồng đầy sức sống. Với dầu cầu nguyện và việc lành, chúng ta sẽ giữ đèn của chúng ta luôn cháy sáng, và Người sẽ nhận ra chúng ta.
Tỉnh thức như năm trinh nữ khôn ngoan chờ đón chàng rể. Họ mang đèn và mang dầu theo. Bất cứ trong hoàn cảnh nào, họ sằn sàng thắp đèn ra đón chàng rể. Còn các trinh nữ khờ dại, họ đã phung phí tất cả cho cuộc sống hưởng thụ. Họ sống trong bừa bãi theo phù vân giả tạo. Không lo cho ngày mai. Không dự liệu phòng hờ cái gì sẽ xảy ra.
Mang theo dầu, dầu đây chính là các nhân đức tập luyện được. Trong cuộc sống đời thường, ai trong chúng ta cũng phải lo, phải chắt chiu, để dành và dự phóng về tương lai. Rất ít người trong chúng ta nghĩ đến việc chuẩn bị cho ngày sau cùng. Đôi khi chúng ta nghĩ có lẽ chưa xảy ra cho chúng ta. Sự chết còn xa vời.
Thường thì chúng ta rơi vào cảm nghĩ rằng chúng ta còn cảm thấy khoẻ khoắn và còn nhiều dự án chưa xong. Chúng ta không muốn chết và không muốn nghĩ đến cái chết. Dù rằng hằng ngày, nhiều tai nạn và chết chóc xảy đến ngay bên. Chúng ta như cứ bình chân như vại. Hưởng thụ cuộc đời đi kẻo hết.
Hôm nay Chúa mời gọi chúng ta đừng mải mê hoan lạc lo tìm tích trữ của thế gian mà quên đi sự sống ngày sau. Mỗi ngày chúng ta hãy chu toàn mọi việc được trao ban. Cái gì chúng ta có thể làm được trong ngày hôm nay, hãy cố gắng hoàn tất. Đừng để cơn giận vần còn lẫn quẩn trong người chúng ta. Để rồi khi trên giường ngủ, vắt tay trên trán, trần trọc trong sự bực tức và cay cú khi tìm vào giấc ngủ. Biết đâu đêm nay Chúa sẽ gọi chúng ta về. Chi bằng chúng ta hãy luôn tỉnh thức và sẵn sàng để được ra đi trong bình an.
CHÚA NHẬT XXXII TN A-2017
KHÔN KHỜ - KHỜ KHÔN
Kính thưa Cộng Đoàn,
Khi đọc dụ ngôn này, con cũng cảm thấy rất là buồn cười. Bởi vì, chắc có lẽ, con cũng như cộng đoàn nghe rất nhiều, nhiều lần lắm rồi! Và đặc biệt trong nhiều đám tang mà chúng ta đi dự lễ thì chúng ta cũng nghe.
Mười trinh nữ là dụ ngôn mà thánh Matthêu ghi lại trong Tin Mừng của Ngài. Để nói về: năm người khôn và năm người khờ chuẩn bị tâm hồn để đón chàng rể đến.
Trong khi năm người thì chuẩn bị đầy đủ đèn và dầu và sẵn sàng đáp ứng sự hiện diện khi mà chàng rể đến. Ngược lại thì, năm cô có đèn nhưng mà lại thiếu dầu.
Dụ ngôn này, chúng ta thấy Chúa Giêsu sử dụng chất liệu từ phong tục của người Do Thái. Phong tục của người Do Thái thì chàng trai tìm đến gia đình cô gái để xin kết lập hôn ước. Rồi sau đó, chàng trở về chuẩn bị chỗ ở cho người vợ mới trong nhà cha mình.Cái thời gian mà đi về đó có thể lên đến một năm . Trong khi đó cô dâu tương lai, thì vẫn bận rộn với những điều mà đi học hỏi để mà đi làm dâu, rồi về việc cần thiết cho đời sống hôn nhân. Rồi đến khi chàng rể trở lại, thì cô dâu với phù dâu được báo trước, để chuẩn bị đón tiếp chàng rể. Và khi chàng rể đến rước dâu, thì mọi người vui mừng cùng nhau để mà đi vào dự tiệc cưới.
Qua cái Dụ ngôn này chúng ta thấy, có một nhóm vinh dự đi đón kiếp chàng rể trong hôn lễ. Và rồi mọi người mang theo dầu và chuẩn bị đầy bình. Năm người khôn mang theo dầu dự trữ trong bình, nhưng mà năm người dại thì không. Tiếc thay, không biết vì kẹt xe, hay kẹt đường, mà chú rể đến trễ . Dầu trong đèn cạn rồi, biết là đèn cạn, năm cô khờ mới xin năm cô khôn nhưng mà năm cô khôn thì nói rằng : Bây giờ chị đi ra ngoài hàng mà mua thì hơn! Chứ bây giờ, mà em có sang qua cho chị, mà bây giờ chẳng may đi qua đường mà hết dầu, coi như em với chị kể như chết chắc !
Và đèn và dầu là hai biểu tượng nổi bật ở trong dụ ngôn. Các nhà chú giải Kinh thánh thì xem rằng đèn chính là biểu trưng cho phần tâm linh của con người, và dầu là biểu trưng của sự hiện diện của Chúa Thánh Thần ngự trong lòng mỗi người.
Và nếu như theo cái cách lý giải này, thì sự hiện diện của Chúa, luôn luôn đảm bảo cho cái nguồn sống tâm linh của chúng ta. Dẫu rằng cuộc đời của chúng ta còn đó những cái khó khăn, những cái hiểu lầm, những cái gai góc nhưng mà có Chúa ở cùng, thì cái cuộc sống của chúng ta sẽ mạnh dạn. Chúng ta sẽ bước đi cùng với Thần Khí. Còn nếu dầu chúng ta cạn kiệt, Chúa không có ở trong người chúng ta, thì chúng ta rất là dễ suy sụp với cuộc sống.
Những người mà có dầu thì sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu trước mặt Chúa vào lúc nào Chúa gọi họ trở về với Chúa. Còn nếu mà người không có dầu thì coi như xong, không thể nào mà đi được.
Với cái thông điệp của dụ ngôn này, chúng ta hiếu rằng không ai có thể vào Nước Trời bằng một Đức Tin vay mượn được.
Mười cô Trinh Nữ này không thể nào mà : 5 cô này cho năm cô kia mượn được. Rằng cái câu trả lời của năm cô khôn dường như xem ít kỷ ! Nhưng mà xét cho bằng cùng, trong cái hoàn cảnh này thì đây là câu trả lời duy nhất, bởi vì, chàng rể đã đến rồi.
Thời gian đâu có chờ đợi nữa, để mà đi vay mượn được. Với lại ngọn đèn ở đây nè biểu thị cho Đức Tin, cho Lòng Mến và nếu ai chuẩn bị Dầu, thì sẵn sàng đủ để đi đón.
Ai có khả năng đi đón? Chỉ có rằng mình thôi, chủ thôi . Mình là cái người chủ và mình chuẩn bị dầu cho mình đó là những nhân đức là CHÚA trong cuộc đời của mình. Mình kết hợp mật thiết với Chúa. Điều này chắc chắn rằng (xin lỗi nhé) Dầu thì có thể cho mượn được nhưng cái Đức Tin của chúng ta, lòng mến của chúng ta, cái bác ái của chúng ta thì không thể nào mà cho người khác được.
Dầu là đời sống Đức Tin là Chúa ở trong ta mỗi người chúng ta. Phải tập luyện cái đời sống tâm linh của chúng ta để: Đời sống tâm linh của chúng ta ngày một lớn, để có Đức tin và có CHÚA ở trong người chúng ta.
Tâm hồn chúng ta quan trọng vì chúng ta sống theo xác thịt hay Thần Linh. Nếu mà chúng ta sống theo thần linh thì cuộc đời của chúng ta luôn luôn có Chúa, cuộc đời chúng ta luôn luôn bình an.
Còn nếu mà chúng ta đi theo cái xác thịt, thì dù chúng ta ở trong bình cũng sẽ cạn thôi. Rồi khi chúng ta thấy chàng rể đến thì cửa đóng lại, các cô thì có năn nỉ như vậy thì xem ra có tiếc hay không!
Và qua cái viễn tượng ngày cánh chung này. Chúng ta cảm thấy đó là một lời nhắc nhở cho chúng ta. Khi mà người dại nói với người khôn xin bớt Dầu cho chúng tôi bởi vì đèn chúng tôi gần tắt. Nhưng người khôn trả lời, không đủ cho chúng ta và cho các chị. Chúng ta không thể lấy dầu của người khác. Chúng ta không thể nào nhờ Người khác cầu nguyện. Chúng ta không nhờ người khác sống đời sống Đức tin cho chúng ta, và rồi lời kết thúc của dụ ngôn cũng là lời cảnh báo với chúng ta hãy canh thức vì anh em không biết giờ nào ngày nào lời cảnh báo phù hợp với tâm tình của tháng các linh hồn mà chúng ta đang bước vào.
Ngày hôm nay, khi chúng ta bước vào tháng các linh hồn, chúng ta nhớ đến ông bà, cha mẹ, anh chị em của chúng ta. Với cái chết của những người đã đi trước chúng ta «nay anh, mai tôi»
Một ngày nào đó chúng ta cũng phải ra đi thôi. Thời gian vắn và dài đó không thể nào biết được! Có thể chỉ là đêm nay có thể chỉ là đem mai có thể chỉ là đêm mốt, có thể chỉ là một tháng nào đó mà chúng ta không biết. Bởi vì chúng ta chỉ là thụ tạo, trong bàn tay của Đấng Tạo Hóa là Thiên Chúa thôi.
Ngày sống thì có rồi, mà ngày chết thì không biết. Ngày sinh thì có rồi, mà ngày tử thì không biết.
Và chàng rể đến với chúng ta là điều chắc chắn không thể nào mà chàng rể không đến . Nhưng mà liệu rằng, cái thái độ của chúng ta đáp ứng cái sự chờ đón chàng rể như thế nào?
Chúng ta có khôn ngoan tỉnh thức để mà thắp sáng ngọn đèn đức tin của chúng ta bằng đời sống nhân đức, bằng đời sống Yêu Thương, bằng đời sống bác ái. Hay là chúng ta cứ “ âu ơi ví dầu” chờ ngày nay, ngày mai, ngày mốt.
Con nói thật chứ! Con ngồi tòa giải tội, con cảm thấy buồn nhất là cái chuyện mà bỏ lễ. Một ngày Chúa cho mình bao nhiêu tiếng đồng hồ một tuần, trong 7 ngày, mà một tuần mình chỉ (xin lỗi) bố thí cho Chúa một tiếng thôi, mình lại tính toán với Chúa. Chưa nói, một ngày Chúa cho mình 24 tiếng đồng hồ. Mình dành cho giờ ăn là bao nhiêu? giờ ngủ là bao nhiêu? giờ chơi là bao nhiêu? giờ giải trí là bao nhiêu? và mình nhớ đến Chúa là bao nhiêu? Dầu là chỗ đó đó !
Dầu là cái tâm tình mình nhớ đến Chúa. Dầu là cái tâm tình mình tỉnh thức mình đón nhận Chúa vào trong cuộc đời của chúng ta.
Chúa Giêsu nói: “Vậy, anh em hãy canh thức, vì anh em không biết giờ nào, ngày nào…” Lời dạy rất là được nhấn mạnh bởi từ «vậy». Ở đây cho thấy là điểm chính yếu của dụ ngôn mọi người đều được mời gọi canh thức. Đó không phải là tình trạng ngủ, không ngủ . Các trinh nữ trong cái dụ ngôn này cũng ngủ say đấy chứ! Nhưng là một thái độ tâm linh, tinh thần luân lý phù hợp, để chúng ta bước vào Tiệc Cưới Cánh Chung của Chúa, cho dù Ngài đến chậm, chứ không như chúng ta tưởng.
Thái độ canh thức đó là một thực tại cốt yếu đuợc đòi hỏi bởi: Thời điểm, ngày, giờ, tháng, năm xảy đến . Quang lâm là: ngày, giờ mà chúng ta không thể nào biết được. Không biết ngày nào giờ nào, có khi đi ra đường thấy một chiếc xe nó mất thắng, nó lao vào ta. Hay chỉ cần một cơn gió thoảng thôi! Một cơn đau máu, mà chúng ta có thể nằm xuống vĩnh viễn.
Và chính vì thế, trang Tin Mừng ngày hôm nay, là một trang Tin Mừng rất ý nghĩa. Nhắc nhớ chúng ta, chúng ta chọn thái độ sống chúng ta. Chúng ta là những người khờ dại hay là những người khôn ngoan. Nên nhớ, chúng ta không thể nào mượn được nhân đức của người khác, cũng như chúng ta không thể nào chia sẻ nhân đức của chúng ta cho người khác.
Nhiều lần, nhiều lúc trong cuộc sống, chúng ta soi mói người này, người kia là đạo đức giả. Người này người kia, thế này thế kia, sau khi thấy họ làm cái này cái kia. Nhảm, vô duyên! Khi mà mình chết, Chúa sẽ không bao giờ hỏi cái người A, người B, người C mà Chúa hỏi chính mỗi người chúng ta.
Chúa đâu hỏi ông cha xứ như thế nào? Chúa đâu hỏi bà xơ sống như thế nào? Và thậm chí CHÚA không hỏi vợ chồng ta sống như thế nào? và ba mẹ chúng ta sống như thế nào nữa? Mà Chúa hỏi mỗi người chúng ta rằng : Ngày xưa khi ở trần gian chúng ta sống như thế nào? Và chúng ta chuẩn bị cái gì để mà hành trang theo CHÚA.
Được lời lãi và cả thế gian mà lỗ vốn mất linh hồn thì được ích gì? Lời đó còn văng vẳng bên tai chúng ta, để chúng ta nhìn lại cuộc đời chúng ta.
Và xin Chúa cho chúng ta luôn luôn, chuẩn bị dầu đầy bình trong cuộc đời chúng ta. Để bất cứ lúc nào, mà chàng rể đến, chúng ta cũng có dầu, mà vui vẻ hân hoan, để bước theo chàng rể, đi vào dự tiệc cưới với chàng rể. Amen.
Huệ Minh
Thứ Hai tuần 32 Mùa TN.
LỄ CUNG HIẾN ĐỀN THỜ THÁNH GIOAN LATÊRANÔ. Lễ kính.
Ed 47,1-2.8-9.12 hoặc 1 Cr 3,9c-11.16-17;
Ga 2,13-22
LỄ CUNG HIẾN ĐỀN THỜ THÁNH GIOAN LATÊRANÔ
Nhà thờ chính tòa Rôma do hoàng đế Contantinô xây năm 320.
Thánh đường là nơi qui tụ dân Chúa, là nơi các tín hữu tới cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Thánh đường là nơi Chúa ngự, là nơi Mình Máu Thánh Chúa luôn hiện diện, là nơi dân Chúa lãnh nhận muôn vàn ơn huệ, muôn vàn hồng ân của Chúa.
Ðền thờ Latêranô là nhà thờ chánh tòa của Ðức Giáo Hoàng. Ðức Thánh Cha với tư cách là Giám mục Rôma, cũng đặt ngai tòa của mình tại nhà thờ chánh tòa. Ðền thờ này được xây dựng vào năm 320 khi Giáo hội Chúa Kitô, tượng trưng cho Tòa Thánh Rôma vừa thoát qua khỏi một thời kỳ cấm cách, bắt bớ khủng khiếp. Ðền thờ này do công của hoàng đế Constantinô xây dựng để tôn vinh danh Chúa và để dân Chúa có nơi tụ tập, đọc kinh cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích.
Ðền thờ này đã được cung hiến vào khoảng thời gian nói trên. Lịch sử thuật lại rằng khi hoàn tất ngôi thánh đường này, nhiều đoàn người khắp trong thành phố Rôma đã tuôn đến để dự lễ khánh thành và hiệp ý trong nghi lễ cung hiến ngôi thánh đường dùng đặt ngai tòa của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Giám mục Rôma. Ngôi đền thờ Latêranô đã trải qua biết bao nhiêu biến cố, biết bao nhiêu thăng trầm của đạo giáo, biết bao nhiêu thử thách, khó khăn của các thờihHoàng đế Rôma trị vì. Biết bao nhiêu người đã tới thánh đường Latêranô để xin rửa tội, gia nhập dân thánh Chúa trong những đêm Phục sinh và mừng lễ Vượt Qua tại đây.
Ngày nay, đền thờ Latêranô vẫn vút cao, vẫn đứng sững như muốn nói với mọi người Thiên Chúa luôn yêu thương dân người. Ngày nay, vẫn có đoàn đoàn lớp người tới dự Thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Hàng năm, ngày thứ năm Tuần Thánh Ðức Thánh Cha vẫn tới cử hành lễ với hàng linh mục Rôma, với các Hồng y, Giám mục và ngài diễn tả lại hành động, cử chỉ của Chúa Giêsu xưa nơi nhà tiệc ly là Rửa chân cho các Tông đồ.
Mỗi khi mừng kính lễ cung hiến đến thờ Latêranô, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhớ đến thừa tác vụ Phêrô nơi Đức Giáo Hoàng. Chính ngài là người thay mặt Chúa để lãnh đạo dân của Người trong toàn Giáo Hội. Đồng thời, thấy được vị đại diện Chúa chính là nguyên lý của sự hiệp nhất tín hữu khắp nơi trên trần gian này.
Từ đó, Giáo Hội hướng chúng ta về việc tôn phục trong lòng mến đối với Đức Giáo Hoàng là mục tử tối cao của Giáo Hội, đồng thời cũng trải rộng tâm tình ấy với Đức Giám Mục Giáo Phận và các linh mục là những người được cắt đặt để hướng dẫn, dạy dỗ chúng ta trong đời sống đức tin.
Ngoài tinh thần siêu nhiên, Giáo Hội cũng mời gọi con cái của mình hãy để tâm chăm sóc nhà thờ là nơi dành riêng để tôn thờ Thiên Chúa. Là nơi Dân Chúa tụ họp mỗi khi dâng thánh lễ và cử hành các Bí tích Kitô giáo. Đây cũng là nơi để mọi người có thể đến đó mà cầu nguyện với Thiên Chúa trong tâm tình con thảo….
Nhưng thiết nghĩ, vấn đề quan trọng hơn cả, đó là: mỗi khi mừng kính kỷ niệm cung hiến đền thờ Latêranô, hơn bao giờ hết, Phụng vụ Giáo Hội mời gọi chúng ta hướng về chính mình để ý thức rằng: mỗi người chúng ta chính là những viên đá sống động để xây nên đền thờ Thiên Chúa. Mỗi người cũng chính là đền thờ cho Thiên Chúa ngự.
Mỗi một tín hữu Kitô và mỗi một thụ tạo đều phải được cung hiến để trở thành đền thờ cho Thiên Chúa. Ðây chính là ý nghĩa đích thực mà Giáo Hội muốn gợi lại trong ngày lễ hôm nay và đây cũng chính là ý nghĩa mà Chúa Giêsu đã nêu bật khi đuổi những người buôn bán và bọn đổi tiền ra khỏi đền thờ. Chúa Giêsu không chỉ thanh tẩy một nơi phụng tự, Ngài đến để khử trừ các thần tượng giả trá ra khỏi tâm hồn con người. Ngài đã từng tuyên bố: "Không ai có thể làm tôi hai chủ một lúc" (Mt 6, 24).
Nơi nào tiền bạc ngự trị thì nơi đó không còn chỗ cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu biết trước rằng, người ta sẽ xua đuổi Ngài ra khỏi đền thờ và treo Ngài trên thập giá. Ngài liền thách thức họ: "Hãy phá hủy ngôi đền thờ này và trong 3 ngày Ta sẽ xây lại" (Ga 2, 19). Lúc ấy không ai hiểu được ngôn ngữ của Chúa Giêsu, về sau, sau khi Chúa Giêsu sống lại. Thánh Gioan tẩy giả đã nhớ lại câu nói của Chúa Giêsu và hiểu rằng: Ngài muốn nói đến ngôi đền thờ là thân xác của Ngài.
Nhờ Thánh Thần mà Chúa Giêsu thông ban qua Phép Rửa tất cả mọi tín hữu Kitô cũng trở thành đền thờ của Thiên Chúa, Thánh Phaolô đã tuyên bố: "Anh em không biết rằng, anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần ngự trị trong anh em sao" (1Cr 3, 16). Nói như thế không có nghĩa là chối bỏ những ngôi nhà thờ bằng gỗ đá. Niềm tin chỉ được thể hiện cách trọn vẹn khi các tín hữu được quy tụ và thờ phượng một cách công khai. Ðây vốn là nhu cầu thiết yếu của niềm tin Công Giáo. Các tín hữu Kitô Việt Nam chúng ta luôn thấy được nhu cầu cần thiết ấy, cho nên dù có vất vả lầm than và nghèo đói đến đâu, người ta vẫn quảng đại đóng góp để xây cất Thánh Ðường.
Tuy vậy, điều quan trọng hơn mà có lẽ ngày lễ hôm nay nhắc nhở chúng ta chính là xây cất những Ngôi Thánh Ðường sống động, những Ngôi Thánh Ðường không nhất thiết phải xây bằng gỗ đá mà phải bằng cả cuộc sống của người tín hữu Kitô chúng ta.
Với tất cả tâm tình và trong ý nghĩa thiêng liêng ấy thì Giáo Hội phải được xây dựng trước tiên trong gia đình, nơi công sở, ngoài phố chợ, trong bất cứ nơi nào có sự gặp gỡ và trao đổi giữa người với người. Có như thế thì Giáo Ðường mới thực sự là nơi gặp gỡ để thờ phụng Chúa và có như thế thì con đường nào cũng sẽ dẫn về Giáo Ðường.
Thứ Hai tuần XXXII TN
Lc 17, 1-6
ĐỪNG XỬ HẸP HÒI VỚI THA NHÂN
Mở đầu trang Tin Mừng, thánh sử giới thiệu vị thầy dạy là Chúa Giêsu và các học trò là môn đệ của Ngài. Đối tượng bây giờ là các môn đệ, là cộng đoàn của các ông chứ không phải dân chúng.
Chúa Giêsu khẳng định : đành rằng có những cớ làm cho người ta vấp ngã, nhưng Ngài lại chúc dữ cho kẻ làm điều ấy “ khốn cho kẻ làm cớ...” ( c1) và Ngài đưa ra hình phạt ngay : “ Cột cối đá vào cổ nó và xô xuống biển thì có lợi cho nó hơn...” ( c2). Một câu nói tưởng chừng như một hình phạt nhưng lại là công phúc, đem lại lợi ích cho kẻ gây ra và nhất là không gây tác hại cho kẻ khác, làm cớ cho người khác vấp ngã còn do những lời giảng dạy sai lầm, khiến người nghe, hiểu và có những hành động sai lạc.
Đây cũng là lời cảnh tỉnh cho những người có trách nhiệm chăm sóc dạy dỗ linh hồn người khác như : Linh mục, tu sĩ, các giáo lý viên và ngay cả mỗi người Kitô hữu... Khi chúng ta sống trái với đạo lý, ngược với Tin Mừng. Chúng ta cần phải làm chứng về Đức Kitô cho những anh em tân tòng, các anh em thuộc các tôn giáo bạn bằng cách sống hằng ngày của chúng ta.
Xin người khác tha lỗi cho ta không phải là chuyện dễ, bởi vì phải khiêm nhường nhận biết lỗi mình và hứa sửa lại; phải thú tội trước bản thân và trước tha nhân.
Nhưng bằng lòng tha thứ cho người khác lại khó hơn nữa. Để vượt lên trên sự bất công đã chịu đòi hỏi ta phải có lòng quảng đại: không chỉ tha thứ trong một lúc mà là mọi lúc; không được giữ lại trong tim mối hiềm thù sâu kín, và cũng không được ấp ủ trong lòng ý định báo thù trả đũa, dù cho cơ hội đã sẵn sàng.
Hãy đặt mình trước nhan Thiên Chúa và hãy nghĩ đến thân phận của mình chỉ là thụ tạo, một thụ tạo đầy tội lỗi, thì lúc đó ta sẽ hiểu rằng mình không phải là người tha thứ mà là kẻ được thứ tha. Chắc chắn đã hơn một lần ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa và nguồn hy vọng cuối cùng của ta là không ngừng xin Thiên Chúa thứ tha cho ta. Và ta cũng nghiệm được rằng: lòng nhân ái và nguồn ơn tha thứ của Thiên Chúa không có giới hạn.
Thế thì tại sao ta lại không muốn tha thứ cho những người đã xúc phạm đến ta và cố giữ trong lòng những uất ức và cay đắng? Điều đó chỉ tổ làm cho lòng ta mất đi sự thanh thản và thêm nặng nề; đồng thời, ơn tha thứ đã từng nhận được từ nơi Thiên Chúa có thể bị rút lại.
Kế đó, Chúa Giêsu còn chỉ dạy chúng ta cách sửa lỗi nhau : “Nếu người anh em của anh xúc phạm đến anh, hãy khiển trách nó” ( c.3). Chúa không muốn chúng ta phủ nhận hay xem thường lỗi của người anh em, nhưng là lấy tình bác ái mà sửa dạy lẫn nhau. Ngài muốn chúng ta chỉ rõ lỗi của anh em, nói thẳng những điều xấu của họ trong tình bác ái. Không phải để la mắng, vùi dập, tố cáo... nhưng là nâng đỡ, vạch ra hướng đi, và giúp người anh em chỗi dậy và bước tiếp : “ nếu nó hối hận, hãy tha cho nó” Tha thứ là hành vi bác ái mà luật Chúa Kitô đòi hỏi: “Dù nó xúc phạm một ngày 7 lần và 7 lần trở lại nói : Tôi hối hận; thì cũng phải tha cho nó” (c.4).
Tha thứ không giới hạn, không kể đến vì lỗi lầm người kia cứ xúc phạm, nhưng nếu không tha thứ cho người anh em là chúng ta phủ nhận Tình Yêu của Chúa đối với ta qua bí tích Hòa giải. Thiên Chúa đã tha thứ cho ta và tha thứ cho người anh em, vậy sao ta lại cố chấp nhận không tha thứ ?. Sự tha thứ cần thiết vì con người quá yếu đuối, mỏng giòn. Tha thứ còn là cảm thông với những yếu đuối của họ và truyền sinh lực cho họ bước tiếp quãng đường.
Ý thứ ba mà bài Tin Mừng đề cập tới trùng với Năm Đức Tin. Lần này người khởi xướng đề tài là các môn đệ. Có lẽ sau khi nghe bài giảng về việc “ làm cớ” và “ sửa lỗi”, các ông nhận ra giới hạn của bản thân, nên cùng nhau thưa với Chúa rằng “ Xin thêm lòng tin cho chúng con” ( c.5). Một lời cầu đích đáng và thích hợp cho mọi người trong mọi thời. Đây là dịp Chúa Giêsu dạy các ông về sức mạnh của lòng tin “ Nếu lòng tin bằng hạt cải, cây dâu sẽ vâng lời anh em” ( x. c. 6).
Lòng tin làm được mọi sự. Nhiều khi chúng ta yếu đức tin, vì chưa phó thác vào Tình Yêu Thiên Chúa, vì còn nương tựa vào bản thân hay sức con người. Lòng tin còn là sự đáp trả của con người trước những phép lạ hoặc những điều kỳ diệu Chúa làm như trong Tin Mừng chúng ta thường thấy.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra hai trường hợp cụ thể về trách nhiệm đối với tha nhân: một là phải tránh làm gương mù cho anh em, hai là phải tha thứ cho anh em.
Với mệnh lệnh của Chúa Giêsu làm cho chúng ta nhớ lại câu hỏi mà Thiên Chúa đã đặt ra cho Cain sau khi Cain đã sát hại em mình là Aben: "Cain, em của ngươi đâu?" Cain đã trả lời: "Tôi có phải là người đã giữ em tôi đâu". Câu trả lời của Cain là lời thú nhận về một trách nhiệm mà ông muốn chối bỏ. Thái độ của Cain vẫn thường được lập lại trong cuộc sống hàng ngày của các Kitô hữu chúng ta. Làm thiệt hại người anh em bằng nhiều cách khác nhau đã đành, đối xử với người anh em như một phương tiện đã đành, chúng ta cũng thiếu trách nhiệm đối với người anh em bằng thái độ dửng dưng. Mặc ai sống chết, chúng ta chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng chúng ta.
Cuộc sống thường ngày không tránh khỏi những va chạm buồn vui. Sự tha thứ trở nên rất cần thiết và là vấn đề con người đáng quan tâm. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tha thứ cho người khác dù một ngày người đó xúc phạm đến ta 7 lần. Đức Giêsu không nhắm đến số lượng mà phải tha thứ mãi mãi. Vì con số 7 là con số hòan chỉnh đối với người Do Thái. Do đó, Ngài muốn con người phải mặc lấy tâm hồn luôn sẵn sàng tha thứ như Chúa đã tha. " Nếu Chúa chấp tội ai nào đứng vững được chăng " . Hay mỗi khi anh em vấp phạm đến mình thì hãy nhớ lại những điều mình đã cam kết khi đọc kinh Lạy Cha " Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con " .
Trong ngày sau hết, mỗi người chúng ta sẽ chỉ bị xét xử dựa trên cách cư xử của chúng ta đối với người anh chị em của chúng ta mà thôi. Chúa Giêsu đồng hóa với mỗi tha nhân. Nguyện xin Chúa cho chúng ta luôn được tỉnh thức để nhận ra Ngài trong mỗi một tha nhân và đối xử với người ấy như với chính Ngài.
Huệ Minh
Thứ Ba tuần 32 Mùa TN.
Thánh Lêo Cả, Ghtsht. Lễ nhớ.
Tt 2,1-8.11-14; Lc 17,7-10
PHỤC VỤ
Thánh Giáo Hoàng Lêô có lẽ qua đời ngày 10 tháng 11 năm 461, và lễ nhớ ngài đã được chứng thực trong sách Tử đạo của thánh Giêrônimô. Ở phương Đông, ngay từ xa xưa, lễ này được mừng vào ngày 18 tháng 1 tại thánh đường Sainte Sophie ở Constantinopoli. Còn tước hiệu Tiến sĩ Hội Thánh chỉ có từ 1754. Lăng mộ của ngài được đặt dưới hành lang của thánh đường thánh Phêrô ở Rôma.
Thánh Lêô sinh vào cuối thế kỷ IV, có lẽ là người gốc Toscana có thủ phủ là thành phố Florence, nước Ý, nhưng hấp thụ nền giáo dục Rôma. Là tổng phó tế [nhân vật số 2 của Giáo hội Rôma] thời các Đức Giáo Hoàng Celestin I và Sixte III, ngài nổi bật về sự nhiệt tình phục vụ Hội Thánh. Trong số những hoạt động của ngài, chúng ta chỉ kể ra đây một số quan trọng :
Năm 430, vì lo lắng cho giáo lý chính truyền, ngài đã nhờ tới tu sĩ Jean Cassien người Marseille: “Xin giúp chúng tôi chống lại Nestorius, là người chủ trương Đức Kitô có hai ngôi vị…” Vị tu sĩ này trả lời bằng một khảo luận vững chắc về Nhập Thể, đề tặng cho tổng phó tế Lêô, “điểm son của Hội Thánh và của thừa tác vụ thánh”;
Năm 439, nhờ tổng phó tế Lêô, đức Sixte III lật tẩy được lạc thuyết của Julien dÉclane, Giám mục ở Benevent, là người bênh vực thuyết Pêlagiô [loại bỏ sự cần thiết của ơn sủng để giúp con người nên công chính và được thánh hóa], và ông này bị truất ngôi sau đó;
Năm 440, trong khi đang ở tại triều đình xứ Gaule [Nước Pháp], trong sứ mạng hòa giải cuộc xung đột giữa tướng Rôma Aetius và tướng Gaulois Albitius của nước Pháp, ngài được hàng giáo sĩ và giáo dân Rôma kêu gọi kế vị đức Sixte III.
Hai mươi mốt năm Giáo Hoàng của ngài (440-461) có thể chia thành 2 thời kỳ, với những biến cố quan trọng nhất sau đây:
Năm 443, Đức Giáo Hoàng Lêô triệu tập ở Rôma một hội nghị để tố giác những lạc thuyết của phái Manikê [kết hợp hai quyền lực ngang sức nhau là “thiện” và “ác”] từng bị Đức Giáo Hoàng Innocentê I kết án năm 416: Tất cả tác phẩm của họ bị đốt hết. Ngài cũng làm như thế đối với phái Pêlagiô [phái phủ nhận quyền lực và sự cần thiết của ơn sủng] mà Công Đồng Êphêsô đã kết án cùng với phái Nestoriô [chủ trương chối bỏ thiên tính của Chúa Giêsu] vào năm 431; năm 437, ngài cũng chống lại phái Priscilla [phái do ông Motanô chủ trương, nở rộ tại Phrysy, thuộc Phi châu ; ông Môntanô thường đi với hai người phụ nữ là Priscilla và Maximilla là những người tự nhận là hiện thân của Thần khí. Họ kêu gọi dân chúng ăn chay và cầu nguyện để có được những mặc khải cao cả, siêu phàm], đức Lêô Cả đã kêu gọi một Công Đồng cấp quốc gia kết án phái này. Đức Giáo Hoàng cũng can thiệp trong lãnh vực kỷ luật tại châu Phi, để tạo điều kiện cho việc phong chức các Giám mục.
Về cuộc tranh cãi giữa ngài với đức Hilaire, Giám mục thành phố Arles và là đại diện giáo chủ Rôma tại Gaule, ngài kêu gọi vị Giám mục này trở về với trật tự và ra hình phạt đối với vị này. Như thế đức Lêô có ý khẳng định uy quyền toàn cầu của Giám mục Rôma. Ngài tuyên bố trong một lá thư viết năm 446: “Rôma đề ra những giải pháp trong trường hợp được người ta yêu cầu; những giải pháp này có giá trị sắc lệnh. Trong tương lai, Rôma sẽ ra những hình phạt theo luật.”
Trong thời kỳ thứ hai của đời Giáo Hoàng, ngài chủ yếu quan tâm tới việc bảo vệ tín lý về Nhập Thể chống lại Eutychès, với tất cả những bước thăng trầm gắn liền với Công Đồng Chalcédoiniô là Công Đồng định tín về Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Kitô (451).
Chúng ta nhắc lại những sáng kiến rất dồi dào của ngài. Trên bình diện giáo lý có bức thư nổi tiếng là lá thư gửi đức Flavien. Trên bình diện phụng vụ: Rất nhiều bản văn của sách Bí tích Vêrona cũng được gọi là “của đức Lêô”. Trên bình diện chính trị, các sáng kiến cá nhân của ngài, như việc chống lại Attila, vua người Huns, ở Mantoue (452), hay chống lại Senséric, vua của người Mandi Vandalê, ở Rôma (455), xứng đáng với vai trò bảo vệ hòa bình. Trên bình diện văn chương hay tu từ: 96 thiên khảo luận hay bài giảng liên quan tới 5 năm thi hành thừa tác vụ đầu tiên của ngài, và 173 lá thư.
Khi Đế quốc Rôma tới ngày suy tàn, và khi những đạo lý mới lạ ngày càng lôi cuốn người ta và các lạc giáo xưa kia nổi dậy trở lại, Đức Giáo Hoàng Lêô ý thức vai trò kế vị thánh Phêrô của mình, đã có những hành động quyết định đối với vận mệnh của Hội Thánh và của Đế quốc.
Trang Tin Mừng mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay mời gọi chúng ta nhìn nhận những thiếu sót của chúng ta: có lẽ dung mạo của một Chúa Kitô phục vụ và phục vụ cho đến chết chưa được phản ảnh trên gương mặt của các Kitô hữu; tinh thần phục vụ đích thực của Kitô giáo vẫn chưa được sáng tỏ và thể hiện qua cách sống của các Kitô hữu. Chúa Giêsu đã khẳng định: "Khi làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ làm những việc bổn phận mà thôi".
Ðầy tớ là người làm tất cả những mọi sự vì chủ, đầy tớ là người hoàn toàn sống cho chủ. Dĩ nhiên, ở đây, Chúa Giêsu không có ý đề cao quan hệ chủ tớ trong xã hội. Ngài đã xem quan hệ trong xã hội con người và Thiên Chúa như một quan hệ chủ tớ; Ngài đã chẳng mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như một người Cha và mời gọi chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha đó sao?
Rất dễ thấy, Chúa Giêsu chỉ muốn dùng hình ảnh người đầy tớ vốn có trước mắt người Do thái, để nói lên tương quan đích thực giữa con người và Thiên Chúa, đó là con người chỉ sống thực sự khi nó sống cho Thiên Chúa mà thôi.
Cái nghịch lý lớn nhất mà Kitô giáo đề ra là càng tìm kiếm bản thân, càng sống cho riêng mình, con người càng đánh mất chính mình; trái lại, càng sống cho Thiên Chúa, càng tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa, nghĩa là càng phục vụ vô vị lợi, con người càng lớn lên và càng tìm lại được bản thân; giá trị đích thực của con người như Chúa Giêsu đã dạy và đã sống chính là phục vụ một cách vô vị lợi. Công Ðồng Vaticanô II trong Hiến Chế "Vui Mừng và Hy Vọng" đã để lại một châm ngôn đáng được chúng ta suy niệm và đem ra thực hành: "Con người chỉ tìm gặp lại bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi mà thôi".
Ước gì qua lời Chúa hôm nay, xin cho mỗi chúng con biết nghe Lời Chúa, noi gương Chúa trở nên những người phục vụ giáo xứ, gia đình và những người xung quanh với tinh thần khiêm tốn vô vị lợi. Chúng con tin rằng Chúa sẽ trả công bội hậu theo lòng quảng đại của Ngài, nhất là sẽ ban thưởng nước trời cho chúng con nếu chúng con phục vụ anh chị em một cách cần mẫn, với tinh thần khiêm tốn và trung thành.
Thứ Tư tuần XXXII TN
Lc 17, 11-19
HÃY TẠ ƠN THIÊN CHÚA TRONG MỌI HOÀN CẢNH
Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Thánh sử Luca đã đề cao một hành vi nhỏ bé ấy, vốn xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.
Người Việt nam thường nói: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. “Uống nước nhớ nguồn”. “Hòn đất ném đi hòn chì nám lại”. Lời “cám ơn” rất đơn sơ bé nhỏ, nhưng đem lại cho người làm ơn một sự vui thỏa, ấm áp. Đó là phép lịch sự, tế nhị tối thiểu, bình thường, và phải cư xử như vậy mới là người biết điều. Việt Nam cũng có những câu nói diễn tả người vô ơn: “Ăn cháo đá bát”. “Vắt chanh bỏ vỏ”. “Có trăng phụ đèn”. “Ăn mật trả gừng, ăn sung trả ngải”. Kẻ muốn được ơn thì nhiều, kẻ biết ơn thì quá ít. Câu chuyện Phúc âm hôm nay có tỷ số là một phần mười mà thôi.
Chúa Giêsu đang trên đường đi lên Giêrusalem. Có mười người bệnh phong đón chờ gặp Chúa để xin Ngài chữa lành chứng bệnh nan y của mình. Chắc họ đã từng được nghe về Chúa Giêsu. Khi nhìn thấy Chúa Giêsu từ xa, với hết nỗi đau do căn bệnh và do sự xa tránh của người khác, họ kêu gào lên cùng Chúa: “Lạy Thầy Giêsu, xin rủ lòng thương chúng tôi”. Chúa Giêsu nhận thấy rõ những đau khổ của họ. Ngài đã đáp lời và chữa lành họ bằng một lệnh truyền đi trình diện các tư tế. Đang khi đi, họ được chữa lành.
Từ xa, họ lớn tiếng kêu xin: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương xót chúng tôi”. Lời van xin nức nở của những người đang đau khổ đến cực độ, nỗi đau chẳng biết kêu xin ai, vì mọi người đều bất lực, mà còn trốn tránh trách nhiệm, đuổi người phong cùi ra khỏi đời sống cộng đồng, ra khỏi lề cuộc sống, những người này như không được làm người nữa, nỗi đau tâm lý còn nặng nề gấp bội phần nỗi đau thể lý
Nhóm này gồm mười người, họ sống trong một ngôi làng riêng lẻ vì bị coi là nhơ uế. Khi thấy Chúa Giêsu vào làng, họ ra đón gặp Người. Nhưng "họ chỉ dừng lại ở đàng xa và kêu lớn tiếng: Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi" (c.13). Họ không dám đến gần Chúa Giêsu để nài nỉ, để chạm vào gấu áo Người như những bệnh nhân khác, vì đó là luật cấm của Do Thái. Họ biết Chúa Giêsu là vị lương y tài giỏi chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền, nên cố kêu lớn tiếng cầu xin lòng thương xót của Người.
Chạnh lòng thương", Chúa Giêsu bảo: Hãy đi trình diện tư tế (14a). Một lệnh truyền được ban ra và họ đã thi hành. Chúa Giêsu bảo họ đi đến với các tư tế là những người theo luật (Lv 14, 2tt) có nhiệm vụ cứu xét về việc lành bệnh, để họ được gia nhập cộng đồng. Chúa Giêsu đã không làm một cử chỉ "giơ tay" hay "chạm vào", vì thế việc chữa lành không xảy ra ngay tức khắc: "đang khi đi, họ được sạch" (14b). Như thế, chỉ với một lệnh truyền mà mười người này đã tuân lệnh, chứng tỏ họ có lòng tin tưởng mạnh mẽ vào Lời của Đức Giêsu- Lời của Người có sức mạnh và uy quyền chữa lành.
"Một người trong bọn họ thấy mình được sạch, liền quay trở lại, tôn vinh Thiên Chúa" (15). Chúng ta chú ý về thái độ của anh: khi vừa thấy ơn lành xảy ra với mình, anh ý thức điều ấy ngay tức khắc trong thái độ: "liền quay trở lại" tìm gặp Chúa Giêsu và tôn vinh Thiên Chúa đã thực hiện nơi anh việc lạ lùng qua Lời của Người. "Anh sấp mình.dưới chân Chúa Giêsu mà tạ ơn".
Một thái độ tôn thờ, tin tưởng và suy tôn uy quyền của Thiên Chúa; thái độ của một thụ tạo trước Đấng tác tạo muôn loài, trước Tình Yêu nhưng không của Ngài chỉ còn biết: Tạ ơn; như thái độ của Đức Maria trong kinh Magnificat vậy. Anh ý thức mình chỉ là một tạo vật nhỏ bé tầm thường nhưng được Thiên Chúa ưu ái đặc biệt. Thánh Luca nói tiếp: Anh là người Samari. Trong ba câu 17 – 18, Chúa Giêsu lên tiếng trách cứ chín người phong hủi Do Thái, không thấy trở lại để tôn vinh Thiên Chúa. Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh tương phản giữa lòng biết ơn của Người dân ngoại và sự vô ơn của những người mệnh danh là "dân Thiên Chúa". Và Ngài còn đẩy xa hơn, cao hơn là "lòng tin của anh đã cứu anh" (19).
Mười người phong được chữa lành, nhưng chỉ có người Samari biết ơn mới được tuyên bố là: được cứu độ. Như vậy ơn cứu độ thì cao cả hơn việc chữa bệnh thể xác và niềm tin trọn vẹn của kẻ quay trở lại thì cao quí hơn sự tin tưởng đã thúc đẩy cả mười người đi trình diện tư tế trước khi được chữa lành.
Chúa Giêsu chữa bệnh cho người Do thái và cả người Samari, Chúa mời gọi ta khi phục vụ cần nêu cao tinh thần phổ quát, không phân biệt đối tượng trong việc đối xử, kể cả người làm hại mình. Chúa Giêsu chữa bệnh phần xác và cả phần hồn, nên khi ta được ơn phần xác thì cũng nhớ biến đổi phần linh hồn nữa, là sống theo tinh thần của Chúa Giêsu.
Những người phong cùi Do thái vụ luật trình diện không trở lại tạ ơn và tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta cũng được rất nhiều ơn Chúa, nhưng vì bổn phận, các sinh hoạt của đời sống thường ngày, nên không đến với Chúa trong giờ đạo đức, chúng ta không vượt thắng trở ngại vì chúng ta quên mất nguồn gốc của các ơn ta được là chính Thiên Chúa, chúng ta quý ơn Chúa mà không quý Chúa, là Đấng đã làm nên tất cả, chúng ta thường vô ơn với Chúa.
Với tâm tình hân hoan khi được chữa lành, một người trong nhóm đã quay trở lại để tạ ơn Chúa Giêsu. Chắc chắn, lời cám ơn ấy là lời cám ơn chân thành xuất phát tự đáy tâm hồn của người bị bệnh phong.
Cuộc đời của mỗi người kitô hữu chúng ta được dệt nên từ biết bao ân huệ Chúa đã thương ban. Ân huệ này nối tiếp ân huệ khác. Chính vì thế, chúng ta hãy sống tâm tình tạ ơn như Thánh Phaolô: “Anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, vì đó là điều Thiên Chúa muốn” (Tx 5, 18).
Huệ Minh
Thứ Tư tuần 32 Mùa TN.
Thánh Martinô, Gm. Lễ nhớ.
Tt 3,1-7; Lc 17,11-19
LÒNG BIẾT ƠN
Trong phép lịch sự xã giao của xã hội, mà ngay từ khi một đứa trẻ bập bẹ biết nói, người ta đã dạy chúng hai từ căn bản, đó là: xin lỗi và cám ơn. Đây là thái độ của một con người được đánh giá là lịch sự, là có giá trị. Giá trị ở chỗ nhận ra những gì xảy đến trong cuộc đời là do ân ban do tình thương của người khác. Hôm nay, trong bài Tin Mừng, Thánh sử Luca đã đề cao một hành vi nhỏ bé ấy, vốn xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.
Trên đường đi Giêrusalem mừng lễ vượt qua và chịu chết ( Lc18, 35), khi Ngài đi tới một làng ở giữa ranh giới Samari và Galilê, Đức Giêsu gặp mười người phong cùi đón gặp Ngài. Từ xa, họ lớn tiếng kêu xin: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương xót chúng tôi”. Lời van xin nức nở của những người đang đau khổ đến cực độ, nỗi đau chẳng biết kêu xin ai, vì mọi người đều bất lực, mà còn trốn tránh trách nhiệm, đuổi người phong cùi ra khỏi đời sống cộng đồng, ra khỏi lề cuộc sống, những người này như không được làm người nữa, nỗi đau tâm lý còn nặng nề gấp bội phần nỗi đau thể lý.
Những người phong cùi sống trong nỗi thất vọng như tuyệt đối, thì may thay, họ gặp được một vị cứu tinh để cậy trông, van nài, đó là Đức Giêsu: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi”. Chúa Giêsu đáp lại lời kêu xin không phải chữa lành ngay, nhưng Ngài bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Họ đi với lòng tin cách can đảm, không sợ phá luật Môsê, vì họ còn bị phong cùi.
Ý Chúa Giêsu thì muốn nói với Giáo Hội và xã hội: phải chịu trách nhiệm với các bệnh nhân này, không được xua trừ và phủi tay trước nỗi đau của đồng loại, và xóa tan mặc cảm trong tâm hồn của bệnh nhân, và đồng thời Chúa cũng thử luyện lòng tin của họ, để giúp cho đức tin của họ được lớn mạnh. Những người phong cùi đi trình diện cũng là một hành vi biểu lộ lòng tin của họ, tin vào lời Chúa dạy, đang khi đi thì họ được sạch, đây là hiệu năng của đức tin. Một người trong họ, là người Samari, thấy mình được khỏi bệnh cùi cách lạ lùng, anh tin chính Đức Giêsu đã chữa anh, anh vượt khỏi luật trình diện, anh quay trở lại gặp Chúa Giêsu, phủ phục trước dưới chân Ngài để cám ơn Ngài và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, anh tỏ lòng biết ơn cách chân thật và nhìn nhận Đức Giêsu là một con người vượt trên mọi người, là Đấng cứu thế, qua thái độ phủ phục và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?” Chúa Giêsu có ý xác nhận mười người đều được lành, và là lời thầm trách chín người Do thái kia, vì vụ luật trình diện mà không đến tạ ơn Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng dùng kiểu nói: “tôn vinh Thiên Chúa” mà mạc khải Ngài là Đấng Cứu Thế đến để giải thoát con người khỏi ách của tội lỗi và sự chết. Sau cùng Chúa Giêsu nói với anh Samari: “Đứng dậy về đi lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Chúa Giêsu muốn xác nhận hiệu quả của đức tin, đức tin đem lại sự sống: thể xác được khỏi bệnh, linh hồn được thanh tẩy.
Chúa Giêsu chữa bệnh cho người Do thái và cả người Samari, Chúa mời gọi ta khi phục vụ cần nêu cao tinh thần phổ quát, không phân biệt đối tượng trong việc đối xử, kể cả người làm hại mình. Chúa Giêsu chữa bệnh phần xác và cả phần hồn, nên khi ta được ơn phần xác thì cũng nhớ biến đổi phần linh hồn nữa, là sống theo tinh thần của Chúa Giêsu. Những người phong cùi Do thái vụ luật trình diện không trở lại tạ ơn và tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta cũng được rất nhiều ơn Chúa, nhưng vì bổn phận, các sinh hoạt của đời sống thường ngày, nên không đến với Chúa trong giờ đạo đức, chúng ta không vượt thắng trở ngại vì chúng ta quên mất nguồn gốc của các ơn ta được là chính Thiên Chúa, chúng ta quý ơn Chúa mà không quý Chúa, là Đấng đã làm nên tất cả, chúng ta thường vô ơn với Chúa.
Nhiều lúc chúng ta tỏ lòng biết ơn và cảm mến đối với một người nào đó đã làm ơn cho mình, dù là một việc nhỏ nhoi, nhưng chúng ta lại quên đi những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho chúng ta lớn lao biết nhường nào. Nhiều người không quan tâm đến việc bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa qua việc thờ phượng Người và đã không cảm tạ Người mỗi khi được nhìn thấy một ngày mới tươi đệp. Lại có người không dám nói cho người khác về Thiên Chúa và về ơn mà Người ban cho chúng ta. Cũng có người biết ơn sự giúp đỡ tận tình của bạn bè hay một ai đó, mà lại không hề biết cảm động và bày tỏ lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ hay anh chị em mình. Thật là những nghịch lý không đẹp lòng Chúa.
Lòng biết ơn có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta. Hạnh phúc và thành công đều tạo dựng từ lòng biết ơn. Cho nên từ xưa đến nay, cha ông ta vẫn luôn căn dặn thế hệ mai sau “uống nước nhớ nguồn”, phải luôn khắc ghi công ơn của những người đã cho ta cuộc sống này. Như thế, lòng biết ơn luôn hiện diện xung quanh cuộc đời ta, chỉ là chúng ta không để ýnhận ra thôi. Đừng bao giờ quá bận rộn đến quên nói lời “làm ơn” hay “cảm ơn”. Sống mà không có lòng biết ơn là một cuộc sống vô nghĩa. Nếu đời chỉ là chuỗi những lời oán than về bất công và thua thiệt mà ta đã gặp phải, mà không nhớ đến những may mắn đã từng đến với ta, thì chắc chắn là chúng ta sẽ bị trầm cảm, một căn bệnh thường gặp trong xã hội ngày nay.
Biết ơn là xứng đáng để tiếp tục được Thiên Chúa ban ơn. Còn biết bao nhiêu ơn lớn lao và trọng thể Chúa dành sẵn cho những người biết ơn. Người đời thường phê phán những kẻ “ăn cháo đá bát”, “có mới nới cũ”, lừa thầy phản bạn, bất hiếu với mẹ cha. Vô ơn là tự đào hố để vùi chôn cuộc đời mình, là đứng vào hàng ngũ của ma quỉ.
Thứ Năm tuần 32 Mùa TN.
Thánh Josaphat, Gmtđ. Lễ nhớ
Plm 1,7-20; Lc 17,20-25
SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI
Thánh Giosaphat, vị Giám mục theo lễ điển Ðông phương, được coi là vị tử đạo cho sự hợp nhất Giáo hội vì ngài cố gắng đưa Chính Thống giáo về hợp nhất với Rôma.
Vào năm 1054, một sự chia cắt chính thức được gọi là đại ly giáo đã xảy ra giữa Giáo hội Ðông phương ở Constantinople và Giáo hội Tây phương ở Rôma vì những bất đồng về thần học và đời sống độc thân của giáo sĩ. Cho đến năm thế kỷ sau, một giáo chủ Chính Thống giáo ở Kiev và năm Giám mục Chính Thống giáo quyết định đưa hàng triệu người Chính Thống giáo dưới quyền về hợp nhất với Rôma. Khi thượng Hội đồng ở Brest Litovsk khai mạc vào năm 1595 thì thánh Josaphat Kunsevich lúc ấy chỉ là một cậu bé trai, nhưng đã được chứng kiến các kết quả tích cực cũng như tiêu cực của thượng Hội đồng.
Hàng triệu Kitô hữu đã không đồng ý với các Giám mục về sự hiệp thông với Công giáo, và cả đôi bên đều tìm cách giải quyết sự bất đồng, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng vũ lực. Do đó cả hai phía đều có nhiều người đã tử đạo. Giữa những xáo trộn ấy, thánh Josaphat là một tiếng nói hòa bình.
Khi còn niên thiếu, nhờ sự khuyến khích của hai vị linh mục dòng Tên nên ngài đã gia nhập tu viện ở Vilna năm 1604. Trong thời gian này, ngài quen thân với Joseph Benjamin Rutsky, là người trở lại Kitô giáo sau một thời gian theo phái Calvin. Cả hai đều muốn sự hợp nhất trong Giáo hội và cải tổ đời sống tu trì.
Sau đó, Josaphat được gửi đi trông coi một cơ sở ở Rôma, còn Rutsky được làm tu viện trưởng ở Vilna. Khi Rutsky được làm giáo chủ của Kiev, thì Josaphat lại được thế chỗ Rutsky làm tu viện trưởng. Nhân cơ hội này, Josaphat thi hành kế hoạch cải tổ, nhưng đường hướng cải tổ phản ảnh một đời sống nghiêm nhặt và khắc khổ của ngài, nên không mấy ai hưởng ứng. Ngay cả một Tu hội còn dọa ném ngài xuống sông!
Khi là vị Giám mục đầu tiên ở Vitebsk và sau đó ở Polotsk vào năm 1617, đức Giám mục Josaphat phải đối diện với nhiều khó khăn. Có thể nói Giáo hội lúc ấy thật thối nát, giáo sĩ tái hôn đến hai ba lần, và họ không lo lắng gì đến việc mục vụ hoặc đời sống gương mẫu. Trong vòng ba năm, đức Giám mục Josaphat phải chấn chỉnh lại Giáo hội qua các thượng Hội đồng, phân phát sách giáo lý khắp nơi, và áp đặt những quy luật cho hàng giáo sĩ. Nhưng đáng kể hơn cả là chính đời sống của ngài mà hầu như lúc nào cũng đi rao giảng, giáo dục đức tin, thăm viếng những kẻ đau ốm.
Bất kể công việc và tiếng tăm của đức Giám mục Josaphat, những người Chính Thống giáo ly khai đã bầu một Tổng Giám mục của họ ngay ở cùng một thành phố. Thật đau lòng cho đức Giám mục Josaphat khi thấy những người ngài phục vụ bị phân ly trong những cuộc bạo loạn. Ngay cả giáo phận cũ của ngài ở Vitebsk cũng chống đối sự hợp nhất và chống chính ngài. Ðau khổ hơn cả, là chính người Công giáo mà ngài tìm cách hợp nhất cũng chống đối ngài, chỉ vì họ không thích lễ điển Byzantine mà ngài chủ trương thay vì lễ điển Rôma. Vì sợ hãi hoặc vì ngu dốt, vị trưởng ấn của Lithuania, tin lời đồn đãi rằng ngài xúi giục dân chúng nổi loạn, nên thay vì giúp đỡ thì lại lên án đức Giám mục Josaphat. Thực sự ngài chỉ dùng đến quyền lực khi các người ly khai chiếm nhà thờ Mogilev và ngài xin nhà cầm quyền giúp phục hồi lại quyền bính.
Vào tháng mười 1623, đức Giám mục Josaphat quyết định trở về Vitebsk để đích thân lắng dịu vấn đề. Ngài biết rất nguy hiểm nhưng cho biết, “Nếu tôi xứng đáng được phúc tử đạo, thì tôi không sợ chết.”
Những người ly khai coi đây là cơ hội để trừ khử Josaphat và làm ngài mất uy tín nếu họ xúi giục được phe của ngài nổi loạn trước và coi đó là cái cớ để chống lại. Sự đe dọa tính mạng của ngài quá lộ liễu đến nỗi ngài phải lên tiếng, “Quý vị muốn giết tôi sao. Quý vị phục kích tôi trên đường phố, trên cầu cống, trong chợ búa, ở khắp mọi nơi. Chính tôi đây. Tôi đến với quý vị như một mục tử. Quý vị biết là tôi rất vui mừng để hy sinh cho quý vị. Tôi sẵn sàng chết cho sự hợp nhất của Giáo hội dưới quyền thánh Phêrô và các Giáo Hoàng kế vị.”
Khi người ly khai thấy kế hoạch thất bại, họ lập mưu bằng cách đưa một linh mục tên Elias đến nơi tụ họp của phe đức Giám mục để lên tiếng sỉ vả bất cứ ai đi ngang qua, nhất là vu khống đức Giám mục Josaphat và Giáo hội Công giáo, cốt để chọc tức.
Biết được thâm ý của họ, đức Giám mục Josaphat giữ im lặng và cầu nguyện nguyên ngày. Qua ngày hôm sau, Elias lại đến nữa và các người phục dịch của đức Giám mục đã bắt nhốt Elias trong một căn phòng khi ngài đi vắng. Trở về nhà, thấy vậy ngài đã mở cửa phòng cho Elias trốn đi. Nhưng đã quá trễ. Ðám ly khai chỉ chờ có thế để báo động cả thành phố đến bao vây với gậy gộc trên tay.
Khi bước ra sau vườn, ngài thấy đám du côn đánh đập các người phục dịch và các linh mục khác, ngài lớn tiếng kêu: “Này các con, các con làm gì những người đó vậy? Nếu các con muốn chống đối cha, thì có cha đây, đừng đụng đến những người ấy!” Sau tiếng hô to, “Hãy giết tên theo Giáo Hoàng,” bọn họ đánh đập đức Giám mục Josaphat với gậy gộc, sau đó họ dùng rìu và cuối cùng bắn vào đầu ngài. Thi thể đầy máu của ngài bị họ kéo lê ra sông và quăng xuống đó cùng với xác con chó của ngài.
Những anh hùng vô danh trong thảm kịch này là các người Do Thái ở Vitebsk. Họ đã liều mạng xông vào tòa Giám mục để can gián và cứu những người trong tòa Giám mục khỏi bị sát hại. Nhờ sự can đảm của họ, nhiều người đã được cứu sống. Cũng chính những người Do Thái này đã công khai lên án các tên sát nhân và thương tiếc đức Giám mục Josaphat, trong khi người Công giáo ở thành phố lại trốn chui trốn nhủi vì sợ hãi.
Lẽ thường ta vẫn thấy sự bạo động luôn luôn có hậu quả trái ngược. Vì hối hận và kinh hoàng về cuộc bạo động khiến họ mất đi một vị Giám mục thánh thiện nên công chúng lại hướng về sự hợp nhất với Rôma. Và sau cùng, đức Tổng Giám mục mà phe ly khai dựng lên là Meletius Smotritsky cũng đã hoà giải với Rôma.
Vào năm 1867, đức Giám mục Josaphat là vị Thánh đầu tiên của Giáo hội Ðông phương được Rôma tuyên phong Hiển thánh.
Tin vào ngày thế mạt, tức ngày Chúa lại đến trong vinh quang cũng là một trong những điểm nòng cốt của Kitô giáo. Hàng ngày, trong Thánh Lễ, Giáo Hội không ngừng nhắc nhở các tín hữu khi tuyên xưng: "Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến". "Chúa lại đến", đó là niềm xác tín của người Kitô hữu. Tuy nhiên, ngày đó có phải là năm 2000, năm 3000 hay một thời điểm nhất định nào không? Cái bí ẩn ấy không bao giờ được vén mở. Chúa Giêsu loan báo Ngài sẽ trở lại, nhưng không cho biết ngày giờ nào.
Chính vì tính cách bất ngờ của Ngày Chúa Ðến, các tín hữu phải luôn tỉnh thức. Tỉnh thức có nghĩa là dấn thân tích cực trong giây phút hiện tại, chứ không phải là ăn không ngồi rồi mà chờ đợi.
Và ta tháy đó cũng là giáo huấn của Chúa Giêsu mỗi khi Ngài nói đến Nước Thiên Chúa thời cánh chung: Nước Thiên Chúa sẽ thành tựu ở một thời điểm mà không ai biết trước được vào ngày Con Người sẽ quang lâm. Một trong những nét cao cả của con người chính là khả năng vượt qua thời gian, chỉ con người mới có thể hồi tưởng quá khứ và dự phóng tương lai, chỉ con người mới có khát vọng được trường sinh bất tử. Thiên Chúa quả thực đã đặt để trong lòng con người hạt giống của sự sống vĩnh cửu, hạt giống ấy chỉ có thể nẩy mầm trên thửa đất của hiện tại mà thôi: không thể đi vào vĩnh cửu mà không bước qua hiện tại, không thể yêu mến vĩnh cửu mà lại khước từ hiện tại.
Qua cuộc sống của Ngài, Chúa Giêsu đã vạch ra cho con người đường đi vào vĩnh cửu, đó là sống sung mãn trong từng giây phút hiện tại. Chính trong cuộc sống mỗi ngày mà con người phải tìm kiếm và xây dựng những giá trị vĩnh cửu.
Và khi ai nào đó sống như thế là sống tỉnh thức theo tinh thần mà Chúa Giêsu hằng nhắc nhở trong Tin Mừng của Ngài; sống như thế, con người mới có thể nhận ra ý nghĩa của cuộc sống. Một cuộc sống có đáng sống và có ý nghĩa hay không, là tùy ở thái độ trân trọng và tích cực của con người đối với mỗi giây phút hiện tại.
Thứ Sáu tuần 32 Mùa TN.
2 Ga 1,4-9; Lc 17,26-37
CHỜ NGÀY CÁNH CHUNG
Chúa Giêsu mô tả ngày chấm dứt cuộc sống trần thế của cuộc sống con người bằng câu chuyện thời ông Noe với trận lụt hồng thủy, hoặc câu chuyện lửa đỏ diêm sinh thiêu rụi tất cả thành Sôđôma vào thời ông Lót trong Cựu Ước…thật bất ngờ, ghê gớm và đáng sợ vào ngày Chúa tái lâm để xét xử con người trên trái đất.
Sự việc xảy ra thật bất ngờ đến độ người ta đang vui chơi, ăn uống, cưới vợ gả chồng,…thì lũ lụt xảy đến, mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống.
Sự việc thật bất ngờ khi mà hai người đàn bà đang xay cùng một cối bột, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hoặc hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, thì một người sẽ được đem đi, còn người kia bị bỏ lại.
Những điều đó sẽ xảy ra trong ngày Chúa quang lâm, hầu cảnh giác con người hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Và số phận của con người tùy thuộc vào chính cuộc sống của họ trên trần gian : kẻ lành được chọn, kẻ dữ sẽ bị loại trong ngày quang lâm.
Ngày cánh chung sẽ đến, nhưng bao giờ xảy đến không ai biết. Nhưng Chúa cho sự việc xảy ra như thế nhằm đốc thúc con người đừng quá chăm lo cho cuộc sống hiện tại, đừng quá chểnh mảng, lơ là trong công việc chuẩn bị cho ngày cánh chung, mà cần phải biết chăm lo cho cuộc sống mai sau bằng thái độ chuẩn bị và sẵn sàng.
Chúa Giêsu đã dùng rất nhiều hình ảnh vốn quen thuộc với người Do thái, nhưng tựu trung chính cái bất ngờ vượt khỏi mọi phạm trù và trí tưởng tượng của con người vẫn là những nét chính của thực tại cánh chung ấy. Tất cả những hình ảnh và thí dụ được Chúa Giêsu sử dụng trong Tin Mừng hôm nay cho thấy rằng thực tại cánh chung, ngày tận thế, ngày của Chúa, vốn là một thực tại mà không ai biết trước được. Bằng nhiều hình ảnh và cách diễn tả khác nhau, Kinh Thánh luôn khẳng định tính bất ngờ của ngày thế mạt; do tính bất ngờ này, các Kitô hữu luôn được mời gọi để sống tỉnh thức.
Thật ra, ngày của Chúa hay thời cánh chung đã thực sự khởi đầu với chính cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta đang thực sự đi vào trong ngày ấy, nếu chúng ta sống kết hiệp với Ngài và trở thành nhân chứng của Ngài trong lịch sử. Chúa Giêsu đã đến để đổi mới mọi sự như thánh Gioan Tông đồ đã viết trong sách Khải huyền, hoặc như thánh Phaolô đã viết trong thư 2Cr: "Ai ở trong Chúa Kitô cũng đều trở thành một tạo vật mới, cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi".
Thời cánh chung đã thực sự khởi đầu với chính cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta đang thực sự đi vào trong ngày ấy, nếu chúng ta sống kết hiệp với Ngài và trở thành nhân chứng của Ngài trong lịch sử. Chúa Giêsu đã đến để đổi mới mọi sự như thánh Gioan Tông đồ đã viết trong sách Khải huyền, hoặc như thánh Phaolô đã viết trong thư 2Cor: "Ai ở trong Chúa Kitô cũng đều trở thành một tạo vật mới, cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi".
Chúa Kitô Phục sinh đang có mặt và tác động trong lịch sử loài người; chính Ngài đang phơi bày sức mạnh của tội lỗi là hận thù, ích kỷ, bạo động, và khơi dậy cũng như nâng đỡ những sức mạnh của chân lý, công bằng, liên đới, yêu thương. Bất cứ ai sống theo Ngài, người đó sẽ cảm thấy mình là tạo vật mới có sức thắng vượt quyền lực của sự dữ và tăm tối.
Giáo Hội đang làm chứng cho thế giới thấy rằng Giáo Hội đang làm chứng cho thời cánh chung, nghĩa là sống trong ngày của Chúa. Dấu chứng ấy khả tín hay không là tùy ở cuộc sống có khả tín hay không của các Kitô hữu. Cuộc sống lương thiện, công bằng, yêu thương, phục vụ, quảng đại của các Kitô hữu chắc chắn sẽ tạo một dấu cho mọi người thấy rằng họ là những tạo vật mới, rằng Chúa Kitô Phục sinh đang sống trong họ.
Chúa Kitô Phục sinh đang có mặt và tác động trong lịch sử loài người; chính Ngài đang phơi bày sức mạnh của tội lỗi là hận thù, ích kỷ, bạo động, và khơi dậy cũng như nâng đỡ những sức mạnh của chân lý, công bằng, liên đới, yêu thương. Bất cứ ai sống theo Ngài, người đó sẽ cảm thấy mình là tạo vật mới có sức thắng vượt quyền lực của sự dữ và tăm tối.
Và ta thấy Chúa cũng nhắc nhở chúng ta, dừng quá bám víu vào thế gian, hoặc vun quén cho sự sống thế tục của mình, nhưng phải lo đến cuộc sống đời đời của mình bằng việc sống đẹp lòng Chúa hơn.
Số phận của chúng ta được định đoạt trong ngày phán xét : được chọn hay bị loại. Tất cả tùy thuộc vào thái độ sống hiện tại của chúng ta : tin hay từ chối đức tin, yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân hay khước từ tình yêu với Chúa và với tha nhân.
Thứ Bảy tuần 32 Mùa TN.
3 Ga 1,5-8; Lc 18,1-8
NIỀM TINkc tầm quan trọng của việc kiên trì cầu nguyện. Bà goá trong câu chuyện đã đuợc ông quan toà đáp lời vì sự kiên nhẫn van xin của bà, mặc dù ông là người đuợc coi là bất chính, là kẻ không kính sợ Thiên Chúa, cũng chẳng kính nể người ta. Thế mà ông ta cũng đã phải đáp lại lời kêu xin kiên nhẫn của bà goá.
Chúa Giêsu muốn cho thấy một sự thật này là, đối với một quan toà bất chính như thế mà còn biết đáp lời cho một bà goá biết kiên trì kêu xin ông, thì huống chi là Thiên Chúa, Đấng tốt lành, thánh thiện, luôn yêu thương và luôn thấu hiểu mọi nhu cầu của mỗi người chúng ta, như người cha nhân hiền hiểu rõ mọi nhu cầu của con cái mình, của từng đứa con là mỗi người chúng ta, không lẽ Người lại không sẵn sàng đáp lại lời kêu xin chân thành của chúng ta hay sao?
Từ sự so sánh đó và đi xa hơn nữa, Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ của Ngài và mỗi người chúng ta rằng: lời cầu nguyện kiên trì phải được gắn chặt với lòng tin tưởng tuyệt đối mà chúng ta đặt nơi Ngài và song hành với chúng ta trong suốt cuộc đời. Chính vì thế, kết thúc câu chuyện, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”. Phải chăng là Ngài muốn nói rằng, liệu khi Ngài đến lần thứ 2 trong vinh quang thì con nguời chúng ta, có còn ai trung thành với Ngài, có còn ai tin tưởng và biểu lộ lòng tin tưởng ngài qua việc hằng ngày cầu nguyện và gắn bó mật thiết với Ngài không?
Nhìn vào đời sống hiện tại của mỗi người chúng ta. Lời của Chúa Giêsu như là một lời chất vấn đời sống đức tin của chúng ta. Mỗi ngày trong từng giây phút của cuộc sống, mỗi người chúng ta có bao nhiêu thời gian để sống gắn bó với Chúa? Tâm tình và lời cầu nguyện của chúng ta có thật sự là những biểu lộ của một lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chúa không?
Lòng tin tưởng vào Chúa có đưa chúng ta đến một thái độ luôn vững lòng và kiên nhẫn kêu xin Chúa trong mọi biến cố của đời sống hằng ngày của mình không; hay là chúng ta chỉ đến với Chúa mà chẳng có một chút lòng tin tưởng nào; đến với Chúa chỉ vì thói quen, đến với Chúa vì luật buộc, đến với Chúa vì tính toán vụ lợi… ? Đến với Chúa với một tâm tình như thế, sẽ dần dần làm cho chúng ta không còn cảm nhận đuợc sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình, dù là trên thực tế chúng ta là những người có đạo, nhưng Thiên Chúa thì dường như ở cách xa chúng ta?
Mỗi người chúng ta được gọi là những Kitô hữu, nghĩa là chúng ta là những người môn đệ của Chúa Giêsu và là những người mang danh của Chúa Giêsu. Và còn hơn thế nữa, khi chúng ta lãnh nhận các bí tích, chúng ta được ân sủng Chúa Thánh Thần thánh hoá, và nhờ vào niềm tin mà chúng ta đặt nơi Ngài, chúng ta trở nên những người gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, không chỉ mang danh của Ngài thôi, mà còn mặc lấy chính Chúa Giêsu Kitô trong con nguời và cuộc đời của mỗi chúng ta; và chúng ta chính là những người có Chúa Giêsu Kitô trong mình, rồi chúng ta được mời gọi để đem Chúa đến cho tha nhân, những người chúng ta gặp gỡ.
Đời sống của mỗi người Kitô hữu chúng ta có thể kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Cha, với Chúa Giêsu Kitô là nhờ qua bởi đức tin. Chính nhờ đức tin vào Chúa mà chúng ta đuợc đón nhận ơn cứu độ và được thánh hóa trở nên con cái của Thiên Chúa.
Như chính Chúa Giêsu đã từng nói mỗi khi Ngài cứu chữa những nguời bệnh hoạn, tật nguyền. Ngài nói rằng: “lòng tin của con đã cứu con”. Hay truớc khi Ngài thực hiện một phép lạ nào đó, Ngài đều đòi hỏi những ai muốn đón nhận ơn sủng của ngài phải có lòng tin. Đối với Chúa Giêsu, đức tin là yếu tố trước tiên và căn bản để đưa dẫn chúng ta đến với Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Ngài.
Đức tin là một điều rất cần thiết trong đời sống. Nhờ tin, con người có thể sống và tín thác cho nhau, cùng giúp nhau phát triển. Nếu thiếu niềm tin, con người sẽ trở nên nghi ngờ, sống đề phòng nhau… Đối với con người, tin tưởng nhau cũng đã là điều quan trọng và cần thiết thì đối với Thiên Chúa, niềm tin còn quan trọng biết là chừng nào. Chỉ khi thực sự tin, chúng ta mới dám phó thác trọn vẹn đời mình cho sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa.
November 22, 2020