Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 33 thường niên, năm A
KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
CHÚA NHẬT 33 MÙA TN.
Cn 31,10-13,19-20,30-31; 1 Tx 5,1-6; Mt 25,14-30.
Được kính trọng thể CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TẠI VIỆT NAM (Đ)
(Hội đồng Giám mục Việt Nam, khóa họp tháng 04-1991).
Phụng vụ Lời Chúa: chọn trong số lễ chung kính các thánh tử đạo.
CAN ĐẢM NHƯ CHA ÔNG
Giáo hội Việt mừng những cái chết của những người đã từ giã trần gian nầy, mừng những cái chết hào hùng, đã để lại cho biết bao người tấm gương anh hùng trong đời sống, những người này dám dùng cái chết của mình để làm cho mình và nhiều người được sống, họ dám hiên ngang từ bỏ những gì không cần thiết nên giờ đây họ được sống mạnh mẽ cùng với hạnh phúc Thiên Đàng.
Nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy ở mọi nơi và trong mọi lúc, người môn đệ của Chúa vẫn phải chịu chung một số phận với Thầy mình, nghĩa là bị bắt bớ và bị cấm cách, bị ghét bỏ và bị giết chết. Thời nào cũng có những vị tử đạo.
Hôm nay là ngày giỗ tổ, ngày Giáo Hội Việt Nam chúng ta long trọng mừng kính các Thánh Tử Đạo, những vị anh hùng đã bỏ mình vì Chúa, đã đổ máu đào để làm chứng cho đức tin, cũng như để xây dựng Giáo Hội.
Các ngài dám bước di trên con đường thập giá, dám hy sinh mạng sống, các ngài đã để lại cho con cháu, cho chúng ta gương anh hùng, để lại con đường sống, con đường theo Chúa.
Chúng ta là con cháu các ngài, nhưng giờ này cuộc sống của chúng ta có là cuộc sống anh hùng mà các ngài đã nêu gương và để lại cho chúng ta, hay chúng ta vẫn sống bình thản, như không hay biết gì về sự hy sinh của các ngài. Lời Chúa mà các ngài đã thực hiện, chúng ta cũng đã nghe, đã biết, nhưng không thể thi hành được như các ngài.
Chúng ta còn quá nhiều ước mơ chưa thực hiện được, nên đang tìm mọi cách để thực hiện cho được những gì là ước mơ, không cần biết nó có chính đáng hay không. Chúng ta sợ mất đi những gì mình có, nên cố gắng bảo vệ nó. Chúng ta bảo vệ những gì mà một ngày nào đó nó cũng sẽ phản bội và từ bỏ, khi chúng ta bước vào sự chết. Chúng ta đang cố lừa dối mình, không nói đến cái chết, để không chuẩn bị gì hết, cố bám lấy điều mà chúng ta gọi là sự sống và cố gắng một cách vô vọng. Như thế chúng ta đang run sợ trước cái chết vì không biết chuẩn bị, cũng không biết mình đi đâu. Chúng ta cũng đang bị bất ngờ trước cái chết vì đang tìm sự sống cho chính mình, sự sống của trần gian này.
Nếu chúng nhìn thấy được gương anh hùng mà các thánh tử đạo đã thực hiện, nếu chúng ta nhận ra được tình yêu thương mà các ngài đã cảm nhận và đã sống, nếu chúng ta nhận ra được con đường mà các ngài đã đi, để biết noi gương các ngài thì thật là hạnh phúc cho chúng ta. Nếu chúng ta can đảm chu toàn những gì mà mình phải làm trong trách nhiệm với tất cả ý thức, đó là một hình thức tử đạo, không phải một lần, nhưng từng giây từng phút của cuộc đời. Nếu trước những gian khó mà không lùi bước, sẵn sàng thực hiện thánh ý Chúa, để biết yêu thương giúp đỡ người khác khi cần thiết. Đó là chúng ta đang đi trên con đường can đảm mà các ngài đã đi.
Theo bước chân Chúa Giêsu, các thánh tử đạo đã vui lòng chấp nhận thân phận hạt lúa bị ném xuống bùn. Các ngài chấp nhận từ bỏ vinh hoa phú quý người đời hứa hẹn, từ bỏ nhà cửa ruộng vườn, xa lìa cha mẹ vợ con gia đình thân thuộc, chấp nhận xiềng xích, gông cùm, tù ngục, đòn vọt và sẵn sàng hy sinh mạng sống, sẵn sàng đổ máu đào làm chứng cho Đức Ki-tô… Người đời tưởng rằng các ngài bị thua thiệt, bị mất mát, bị diệt vong… nhưng họ có ngờ đâu, các ngài đang khải hoàn chiến thắng và sống mãi trong hạnh phúc vinh quang. Nhờ dòng máu các ngài đổ ra, đời sống Đức tin ngày càng tiến triển, Giáo Hội được lan rộng đến khắp mọi miền đất trên thế giới. Đó là điều Chúa Giêsu đã tiên báo từ xưa: “nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”
Các thánh tử đạo Việt Nam đã rất anh dũng bước theo đường lối Chúa Giêsu, theo đạo yêu thương của Chúa Giêsu. Dù ngục tù, gươm đao, dù bị róc xương xẻ thịt cũng vẫn không làm cho các ngài từ bỏ đạo Chúa. Chúng ta là con cháu các ngài, mang dòng máu bất khuất anh dũng của các ngài trong huyết quản mình, thì chúng ta cũng kiên quyết đi theo đạo yêu thương của Chúa như các ngài, để mai ngày đáng được hưởng triều thiên vinh hiển với các ngài trên thiên quốc.
Ngày nay chúng ta không còn những bạo chúa bách đạo bằng gươm đao súng đạn, nhưng đề sống niềm tin đòi hỏi chúng ta phải chiến thắng chính mình. Không ai bắt chúng ta bỏ đạo nhưng vẫn còn đó những người bỏ đạo vì chức vụ trần gian, vì lười biếng ham chơi, vì đam mê truỵ lạc. Không ai ngăn cản chúng ta thực hành đạo nhưng vẫn còn đó những người luôn nuôi dưỡng hận thù, luôn bất mãn với tha nhân nên đã sống thiếu yêu thương trong lời nói và việc làm. Không ai dụ dỗ chúng ta bỏ đạo nhưng nhiều người đã lao vào những con đường tội lỗi, những quan hệ bất chính nên đã không còn xứng đáng mang danh là ky-tô hữu.
Quả thực, ngày nay không cần những cuộc bắt đạo những vẫn có hàng ngàn người bỏ đạo vì những danh lợi thú trần gian. Ngày nay không ai bắt chúng ta bước qua thập giá nhưng vẫn còn đó nhiều người vì danh lợi thú đã tự tháo bỏ thập giá khỏi bàn thờ gia đình, khỏi cuộc sống của mình. Họ đích thực là loại người mà nhân loại kết án “tin đạo chứ không tin người có đạo”, vì lẽ họ không còn sống niềm tin của mình.
Thứ Hai tuần 33 Mùa TN.
Thánh Magarita Tô Cách Lan. Thánh Gertrude, Đt (Tr).
Kh 1,1-4.2,1-5a; Lc 18,35-43
SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN
Trang Tin Mừng hôm nay, ta thấy thánh Luca cho chúng ta thấy sức mạnh của lòng tin như thế nào khi nó được đặt vào một giá trị cao nhất là chính Đức Giêsu.
Đức Giêsu : Nhân vật chính trong trình thuật phép lạ này. Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa Tình Yêu, cúi xuống xoa dịu những đau khổ của con người nghèo hèn. Tuy vậy, khi thực hiên phép lạ, Ngài vẫn đòi hỏi lời tuyên tín của anh mù vào Thiên Chúa, nghĩa là anh mù có xem Ngài như một nhà phép thuật, có tài biến hoá, hay là một Thiên Chúa đầy quyền năng trên sự dữ, bệnh tật ? Ngài cứu vớt con người vì Tình Yêu. Ngài đến để cho họ được sống và sống sung mãn trong sự hiệp thông với Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa.
Một người ăn xin bị mù ở Giêrikhô đã hô vang khi nghe người dân nói Đức Giêsu đi ngang qua: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Lc 18,38). Dù bị người dân la mắng nhưng ông ta vẫn hô vang thêm một lần nữa. Qua đây, chúng ta thấy được sự khao khát được đón nhận tình thương của Chúa mạnh mẽ như thế nào nơi người đàn ông này. Ông ta đã tin tưởng hoàn toàn vào quyền năng của Chúa Giê-su.
Vì ông tin rằng chỉ có tình thương của Chúa mới đem lại cho ông cuộc sống mới là không còn sống trong bóng tôi nữa. Chính sự can đảm bày tỏ lòng tin của mình, ông đã được Chúa cứu: “Anh nhìn thấy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh!” (Lc 18, 42).
Người mù thành Giêrikhô muốn gặp được Đức Giêsu thật khó lắm thay! Anh ta muốn đến trước mặt Chúa để nói lên điều làm anh khao khát đến điên cuồng: “Lạy Ngài, xin cho tôi được thấy.” Thế nhưng những người chung quanh lại trở thành hàng rào ngăn cản anh đến với Đức Giêsu vì cho rằng anh ta không có “tiêu chuẩn” đó.
Cũng may cho anh, Chúa đích thân can thiệp, và anh được toại nguyện: anh được dẫn đến gặp Chúa để bày tỏ ước nguyện và Ngài đáp ứng nguyện vọng của anh ngay lập tức. Điều tốt lành suýt nữa đã không xảy ra cho anh chỉ vì sự cản trở vô ý thức của những người chúng quanh. Cuối cùng phép lạ cũng vẫn xảy ra nhờ cặp mắt đầy quan tâm của Chúa luôn nhận ra và cảm thông nỗi thống khổ của người khác, và nhờ lòng cậy trông đầy kiên nhẫn của anh mù nữa.
Anh bị mù về thể xác nhưng con mắt tâm hồn rất sáng. Anh nhạy bén và khao khát đi tiềm chân lý. Nghe tiếng ồn ào lạ thường của đám đông hôm nay, anh đoán có chuyện lạ xảy ra. Lòng ước muốn của anh được đáp trả bằng lời của một người nào đó về con người Giêsu, một vị Thầy mà có lẽ anh đã nghe nói tới hơn một lần. Khi vừa nghe tin đó, anh liền kêu lên : “ Lạy Ông Giêsu, con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi. Một lời cầu xin hòa trong lời tuyên xưng về danh phận Mêsi-a của Chúa Giêsu “ Con Vua Đavít”. Mặc dầu bị quát nạt, bị che lấp bởi tiếng ồn của quần chúng, anh cố kêu to hơn. Tiếng kêu của anh nói lên lòng xác tín và đụng chạm tới lòng thương xót của Thiên Chúa.
Cuối cùng, lòng tin của anh đã được tưởng thưởng, được sáng con mắt thân xác, nhờ ánh sáng của con mắt đức tin. Anh bị xã hội con người loại bỏ, nhưng Thiên Chúa đã giơ tay cứu vớt anh và đưa anh trở về với xã hội của con Thiên Chúa “ Anh nhìn thấy, theo Người, vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa đã thực hiện cho chính mình chỉ vì Tình Yêu, chứ không do công trạng. Lòng tin của anh đã khiến cho toàn dân cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa và Thiên Chúa được tôn vinh.
Anh là chứng nhân của Tình Yêu Thiên Chúa và sẵn sàng làm chứng cho Tình Yêu ấy bằng chính đời sống của mình. Có lẽ trong đời sống Kitô hữu, chúng ta cần học đòi gương này nơi anh. Niềm tin kéo theo niềm tin. Anh đã khao khát, thao thức chạy kiếm Thiên Chúa trong đức tin, là hình ảnh mà ngày nay con người đang chối từ, loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời sống của họ.
Anh mù tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu trước mặt mọi người bằng cách lớn tiếng kêu cầu, bất chấp mọi cấm cản của những người chung quanh. Anh được sáng mắt nhờ đức tin như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Hãy nhìn xem, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi”, đối tượng đức tin duy nhất là Đức Giêsu Nadarét con vua Đavít mà anh đã đặt hết niềm tin vào. Nhờ đức tin sống động ấy, anh mù đã sáng mắt.
Thật vậy, nơi mỗi người chúng ta ai cũng bị mù. Chúng ta không bị mù về thể xác nhưng chúng ta lại bị mù về tinh thần, mù về phần linh hồn. Chúng ta đã để cho tiền tài, danh vọng. lạc thú… làm mù limh hồn chúng ta. Từ đây nó cũng kéo theo thân xác chúng ta luôn dẫn thân vào cái gì là khoái lạc, nhục dục, những gì là trụy lạc. Hơn thế nữa, chúng ta còn dày xéo tha nhân, sống ích kỷ và chỉ biết thu góp cho chính mình. Chúng ta đã đánh mất đi phẩm giá của mình và người khác. Cái mù này thật sự còn ghê gớm hơn cái mù thể lý.
Vậy chúng ta có dám như người Giêrikhô trong tin mừng đã đặt trọn vẹn lòng tin của mình nơi Chúa Giêsu để xin Ngài chữa lành? Chúng ta sẽ phải làm gì để chữa trị sự mù lòa của linh hồn chúng ta? Chúng ta hay năng chạy đến với Chúa Giêsu nơi bí tích Hòa giải để đón nhận sự chữa lành của Ngài. Chúng ta hãy năng chạy đến với Thánh lễ để lãnh nhận chính mình máu Chúa Giêsu để Ngài luôn đồng hành cùng với ta trong cuộc sống đầy cạm bẫy tội lỗi của thế gian và cũng để lắng nghe lời Chúa dạy mà sống mổi ngày một tốt, một vui và hạnh phúc hơn. Chúng ta hãy đặt trọn lòng tin của mình vào Chúa hơn là của cải của thế gian để từ đây ta được Ngài chữa lành và tăng sức mạnh cho ta trong cuộc sống này. Vì Chúa Giê-su đã từng nói, chỉ cần anh em có lòng tin bằng hạt cải thôi, anh em bảo cây cải này xuống biển mà mọc thì nó cũng sẽ làm.
Anh mù chính là mẫu gương cho mỗi người chúng ta: anh ý thức mình cần Chúa, anh cố gắng hết sức để được đến gần Chúa, bất chấp mọi ngăn cản. Kết quả là anh đã được Chúa đổi mới hoàn toàn; anh còn thay đổi được những tấm lòng hẹp hòi của những người chung quanh. Nếu chúng ta làm như anh mù này thì mặc dù mọi người ngăn cản chúng ta và mặc dù ban đầu xem ra Chúa không nghe tiếng chúng ta, nhưng cuối cùng Ngài sẽ dừng lại, ưu ái gọi chúng ta đến và biến đổi đời sống chúng ta.
Chúng ta cũng duyệt lại đời sống của mình, có còn ở trong bóng tối, như anh mù ở thành. Chúng ta tín thác vào Thầy Giêsu, Đấng sẽ kéo chúng ta về sự sáng trong lời cầu: Xin Chúa chữa niềm tin còn u tối… U tối của tội lỗi, của bất toàn và của yếu đuối thân phận của con người… U tối của những suy nghĩ, u tối trong cách hành xử với nhau.
Thứ Ba tuần 33 Mùa TN.
Thánh Elizabeth Hungari, Ts. Lễ nhớ.
Kh 3,1-6.14-22; Lc 19,1-10
TÌNH ĐÁP TÌNH
Cuộc đời của thánh Elizabeth thật ngắn ngủi, nhưng lòng thương yêu ngài dành cho người nghèo và người đau khổ thật lớn lao đến nỗi ngài được Giáo hội đặt làm quan thầy của các tổ chức bác ái Công giáo và của dòng Ba Phanxicô. Là con gái của vua Hung Gia Lợi, thay vì chọn một đời sống xa hoa nhàn hạ, thánh Elizabeth đã đi theo con đường khổ hạnh và hãm mình. Quyết định đó đã để lại trong tâm khảm của bao người dân Âu châu niềm cảm mến sâu xa.
Khi lên 14 tuổi, ngài kết hôn với ông Louis ở Thuringia (một quận chúa của Ðức), là người mà ngài rất yêu mến, và có được ba mặt con. Dưới sự linh hướng của các tu sĩ Phanxicô, ngài sống đời cầu nguyện, hy sinh và phục vụ người nghèo cũng như người đau yếu. Không những thế, ngài còn muốn trở nên một người nghèo thực sự qua cách ăn mặc thật đơn sơ. Mỗi ngày, ngài phân phát thực phẩm cho hàng trăm người nghèo trong vùng mà lúc nào cũng đầy nghẹt trước cửa nhà.
Sau sáu năm thành hôn, ngài thật đau khổ khi nghe tin chồng tử trận trong cuộc Thập tự Chinh. Buồn hơn nữa, gia đình nhà chồng lại coi ngài là người hoang phí tiền bạc của hoàng gia nên đã đối xử với ngài thật thậm tệ, và sau cùng họ đã tống ngài ra khỏi hoàng cung. Nhưng sau cuộc Thập tự Chinh, những người thân thuộc bên chồng trở về đã phục hồi quyền lợi cho ngài, vì con trai của ngài là người thừa kế chính thức.
Vào năm 1229, ngài gia nhập dòng Ba Phanxicô, và dùng quãng đời còn lại để chăm sóc người nghèo trong một bệnh viện mà ngài đã thiết lập để vinh danh thánh Phanxicô. Sức khỏe của ngài ngày càng sa sút, và sau cùng ngài đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày sinh nhật thứ 24, năm 1231. Vì sự nổi tiếng về nhân đức của ngài nên chỉ bốn năm sau ngài đã được phong Thánh.
“Tình yêu đáp đền tình yêu, ân tình đền đáp ân tình”, câu chuyện Tin mừng hôm nay là câu chuyện hoán cải tận căn của một con người – một con người đã được đụng chạm tới tình yêu Giê-su. Cũng như muôn ngàn định nghĩa về tình yêu thì “tình cho không biếu không” vẫn là định nghĩa triệt để nhất. Tình vốn dĩ là cho không biếu không - bất chấp cả dư luận, bất chấp của cải, bất chấp danh dự, bất chấp tội lỗi, bất chấp xấu xa, khiếm khuyết…bất chấp tất cả. Câu chuyện Tin mừng hôm nay là câu chuyện tình yêu tuyệt vời; người tung, kẻ hứng thật đồng điệu và đã mang lại kết quả tốt đẹp.
Tình yêu luôn có sáng kiến và đi bước trước: Trong trình thuật Tin mừng, chúng ta thấy lòng mộ mến một Rabbi Giê-su lý tưởng đã khiến Ông Dakêu, một quan chức đứng đầu thuế vụ, giàu có, chạy lên trước đám đông và trèo lên cây sung để được thấy Người. Ông trèo lên cây, nấp trong đám lá, không biết ông đang đắc ý về diệu kế cho vóc người thấp bé của ông hay đang hồi hộp sợ có ai phát hiện, nhưng có lẽ là cả hai. Ông ngồi trên cao và nhìn xuống.
Về hình thức, tưởng chừng như Ông là người đi bước trước, nhưng nội dung câu chuyện đã cho thấy người đi bước trước là Đức Giêsu - Người đã biết Dakêu từ trước. Người đã biết những mặc cảm cũng như những khát khao trong lòng Dakêu. Tình yêu và lòng thương xót đã khiến Đức Giêsu ngước lên nhìn Ông đang trốn mình trong tán lá – Hai thái độ - hai nội dung trái ngược: Dakêu tìm Chúa: thay vì ngước mắt lên trời, Ông lại ở ‘vị trí của mình trên cao’ nhìn xuống.
Đức Giêsu tìm Dakêu: Ngài ở dưới ngước nhìn lên; Thực ra, tình yêu và lòng thương xót của Người đã cúi xuống, chiếu cố đến Dakêu – con người thấp bé về hình vóc, nghèo nàn về phẩm hạnh trong mắt người Do-thái.
Tuy nhiên, xuyên suốt qua cái gì là bề ngoài giới hạn ấy, Đức Giêsu đã nhìn thấy giá trị đích thực với những phẩm chất cao quí của con người – một con người mang hình ảnh của Đấng Tạo hóa. Đức Giêsu đã đi bước trước trong việc cởi bỏ những mặc cảm tự tôn, tự ti trong lòng Dakêu để Ông mở rộng lòng mình đón nhận Chúa trong tình yêu chân chất. Ngài gọi Ông xuống, trở lại vị trị để sẵn sàng làm một cuộc hoán cải.
Tình yêu luôn cảm thông, bất chấp dư luận: Dakêu có thể bất chấp dư luận chê cười, khi ông - một quan chức có thế giá – lại leo lên một cây sung để nhìn trộm như một đứa trẻ. Có lẽ Đức Giêsu cũng rất thú vị với chất trẻ thơ nơi ông (Chúa đã chẳng hứa nước trời cho những ai nên giống trẻ thơ là gì!).
Tuy nhiên, cao cả hơn thế, Đức Giêsu đã bất chấp dư luận, không kể gì đến thân phận cao quí của một Rabbi nổi tiếng để kết giao với Dakêu – một kẻ tội lỗi, bị gạt ra bên lề trong xã hội Do-thái. Người đến trọ trong nhà Dakêu, ngôi nhà mà người Do-thái không dám bước vào vì sợ ‘ô uế’, để viếng thăm, đồng bàn và ăn uống với ông. Bởi vì mục đích của Ngài đến không phải để kiếm tìm người công chính mà là kẻ tội lỗi. Ngài là thầy thuốc không phải tìm chữa những kẻ khỏe mạnh mà là những người đau yếu. (Mt 2,17)
Tình yêu kết tráí: Dakêu khát khao được nhìn thấy Đức Giê-su có lẽ vì những tiếng tăm tốt lành của Người khiến lòng Ông mộ mến và mong đợi một điều gì đó(?) Đức Giêsu tìm Daêu như “người chăn chiên đi tìm một con chiên lạc” (Mt 18,12 - 14), như người đàn bà đi tìm đồng bạc đã mất” (Lc 15, 8 -10), như “người cha nhân hậu chờ đợi người con đi hoang trở về” ( Lc 15, 11 - 32). Tuy đã được nghe nhiều về Đức Giêsu, nhưng Dakêu không ngờ ông lại được vinh dự và yêu thương như vậy. Và từ trái tim đã đụng chạm đến trái tim. Tình yêu được đáp đền bằng tình yêu đã nảy sinh hoa trái tốt đẹp: “8Ông Dakêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Thật là niềm vui tràn vỡ vì “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham.10 Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” Cũng như Phao-lô, ông Dakêu đã cảm nghiệm được món lời hậu hĩ vì được biết Đức Giêsu (Pl 3, 8 - 9).
Vì thế, của cải đối với ông bây giờ không còn quan trọng nữa. Trước đây ông ra tay bóc lột, tích góp bao nhiêu, thì bây giờ ông sẵn sàng cho đi tất cả. Thật là một cuộc gặp gỡ tuyệt vời! Một bước hoán cải tuyệt diệu!
Điểm son của Da-kêu là biết quý trọng điều khôn ngoan, là muốn tiếp cận với những nhà hiền triết. Yếu tố này đã khiến ông tạm gác lợi nhuận sang bên, gác bỏ rượu chè nhậu nhẹt… và háo hức tìm đến với Chúa Giêsu. Có như thế, Dakêu mới cải thiện cuộc sống thật tuyệt vời!
Hình ảnh Dakêu nói lên sự cố gắng và tấm lòng khao khát gặp Chúa của ông Giakêu. Và rồi, lòng khao khát và cố gắng của ông đã có kết quả. Không những ông thấy Chúa Giêsu, mà hơn thế nữa, Chúa Giêsu còn đến nhà ông. Sau đó, đời sống của ông đã thay đổi. Trước đây ông áp bức vơ vét thì giờ đây ông đền bù và bố thí.
Dakêu cũng là hình ảnh mỗi người chúng ta: Chúng ta thường nghĩ mình chẳng làm gì nên tội: không giết người, không gian dâm, không trộm cắp… Tuy nhiên hãy coi chừng! Tội vì làm điều ác thì có thể chúng ta không mắc phải. Nhưng tội vì bỏ không làm điều tốt giúp đỡ tha nhân thì chẳng ai dám nghĩ mình không phạm. Vậy thì chúng ta cũng hãy noi gương Dakêu đi tìm Chúa để nhận được ơn Chúa giúp hoán cải.
Thứ Tư tuần 33 Mùa TN.
Kh 4,1-11; Lc 19,11-28
Cung hiến thánh đường thánh Phêrô và thánh Phaolô.
Cv 28,11-16.30-31; Mt 14,22-33
LỜI TUYÊN TÍN
Hai ngôi đền thờ vĩ đại Thánh Phero và Thánh Phaolo ở Roma không chỉ to lớn bề thế về công trình lối kiến trúc đồ sộ vững chắc, và những trang hoàng ấn tượng mang dấu ấn rất nghệ thuật thời trung cổ có một không hai từ xưa nay. Nhưng hai ngôi đền thờ còn là hình ảnh nói lên dấu chỉ về Thiên Chúa vô hình đang hiện diện giữa con người, với những hàng cột cao trong ngoài thán đường, những vòm chỏm tháp vươn cao lên không trung giữa thiên nhiên, những mầu sắc hài hoà của những tảng đá cẩm thạch cùng đường vân thiên nhiên hòa hợp với ánh sáng chiếu tỏa sự trong sáng nét đẹp của thiên nhiên.
Có thể nói được những ý tưởng mà các vị Kỹ sư và các vị danh Họa điêu khắc đã khắc ghi vào công trình gỗ đá xây dựng hai ngôi đền thờ này, bắt nguồn như thức ăn gợi hứng cho họ là con người, là người có lòng tin vào Chúa, là kỹ sư kiến trúc, là nhà danh hoạ chuyên môn, từ ba cuốn sách về thiên nhiên, cuốn sách Kinh Thánh và cuốn sách về Phụng vụ.
Vì thế, hai ngôi đền thờ kết hợp được cả ba mặt kiến trúc trong thời đại trần gian, về lịch sử ơn cứu độ của Chúa phần thiêng liêng, như Kinh thánh thuật lại, và về phụng vụ, nơi con người trần thế cử hành lễ nghi thờ phượng Thiên Chúa.
Hai ngôi đền thờ được xây dựng để kính hai Thánh tông đồ Phero và Phaolo, nhưng họ không phải là nền tảng cho hai đền thờ này. Chính Chúa Giesu Kitô mới là đá nền tảng niềm tin cho đền thờ ( 1 cor 3,10-11). Vì nơi hai đền thờ này mỗi khi mọi tín hữu Chúa Kitô tụ họp đọc kinh cầu nguyện, cử hành nghi lễ phụng vụ , là tưởng niệm sự sinh ra, chịu chết và sống lại của Chúa Kitô. Đó là nền tảng đức tin của Kitô giáo.
Chúa Giêsu Kito là đá tảng nâng đỡ cho ngôi đền thờ đức tin của Giáo Hội được vững chắc. Nơi Chúa Giêsu chúng ta học và đọc được Lời của Chúa, cũng như từ nơi Ngài Giáo Hội nhận được sức sống, giáo lý và sự sai đi đến với con người.
Hai ngôi đền thờ này như hình ảnh biểu tượng cho Giáo Hội Công Giáo Roma, cũng đã trải qua những lần bị hư hại xuống cấp, bị hỏa hoạn cháy thiêu rụi, và được sửa chữa lại, xây dựng mới lại. Hai ngôi đền thờ kiến trúc công trình nghệ thuật đứng vững từ hàng bao thế kỷ nay là do luôn được quyét dọn, tân trang bảo trì sửa chữa liếp tục.
Đời sống trong Giáo Hội cũng vậy, có những giai đoạn thoái hóa lên xuống về mặt tinh thần đạo giáo cũng như tổ chức điều hành quản lý. Những khúc ngoặt hay bóng tối đó gây ra những tiếng tăm không tốt, hậu qủa tiêu cực.
Nhưng đồng thời đó cũng là dịp tốt để Giáo Hội nhìn ra biết mình mà điều chỉnh sửa chữa làm mới lại cho tốt lành đúng như ý Chúa muốn, cùng là nhân chứng cho Chúa giữa lòng xã hội con người trần thế. Có thế ngôi nhà đức tin Giáo Hội mới đứng vững được.
Tin Mừng hôm nay cũng bàn về an toàn cho sự sống con người trên biển cả. Đối với các môn đệ của Chúa Giêsu cũng như đối với dân Do Thái nói chung, biển cả tượng trưng cho sức mạnh của sự dữ. Sức mạnh ấy chính Thiên Chúa đặt dưới quyền năng vô song của Ngài (Tv 88,9-11). Và quyền năng vô song này cũng được tỏ hiện nơi Đức Giêsu, khi Ngài dẹp yên biển động hay khi Ngài đi trên biển sóng gió đến với các môn đệ đang hoảng sợ.
Riêng với biến cố Đức Giêsu đi trên mặt biển, điều được nhấn mạnh là: muốn được an toàn, các môn đệ phải hoàn toàn tin tưởng vào Thầy Giêsu. Nhưng trong Nhóm 12, người được chú ý hơn cả là Phêrô. Phêrô không những phải đặt niềm tin hoàn toàn nơi Thầy Giêsu mà còn phải duy trì niềm tin đó, không nao núng, không nghi ngờ. Thiếu niềm tin mạnh mẽ hơn sóng gió để đối phó với thử thách, thì cả đến Phêrô là người sốt sắng nhiệt thành đối với Thầy hơn mọi người trong Nhóm, cũng không thể đứng vững được, mà phải bị đắm chìm. Trái lại, bao lâu Phêrô vững vàng trong niềm tin, ông được tham dự vào quyền năng siêu việt của Thầy Giêsu.
Đức tin còn phải được những khó khăn, thử thách rèn luyện mới lớn mạnh trưởng thành. Đức tin nằm yên một chỗ, không phải đương đầu, đối chọi với sóng gió của cuộc đời, đức tin ấy sẽ luôn yếu mềm, ấu trĩ. Tin là phải như Phêrô, nhảy vào khoảng trống, phải bước ngay xuống nước để đến với Chúa. Con người không thể đi trên nước, và niềm tin cũng không tiêu diệt được sóng gió. Nhưng có Chúa đứng đó, cũng trên mặt nước và sóng gió, nên ông không ngần ngại nhảy ngay xuống nước để đến với Ngài. Tin là một sự liều lĩnh, nhưng không phải là sự liều lĩnh tuyệt vọng: nhảy xuống nước để tự tử! Trái lại, tin là một liều lĩnh tràn đầy hy vọng, vì nắm chắc sẽ gặp được Chúa đang đứng ở bên kia bờ tuyệt vọng: Ngài là Đấng Cứu Độ, là sự sống.
Bấy giờ, "những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: "Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!" (c.33). "Những kẻ ở trong thuyền" tức là cộng đoàn Kitô hữu ở trong Hội Thánh. Cộng đoàn ấy bây giờ tin thật Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và tuyên xưng lòng tin ấy.
Lời tuyên xưng này được đặt ở cuối trình thuật, tức là sau khi Đức Giêsu đã lướt đi trên mặt biển đồng thời tự mặc khải về mình bằng cách sử dụng chính biểu thức mà Thiên Chúa tự nói về Người trong Cựu Ước ("Ta là"), và sau khi Đức Giêsu đã can thiệp để cứu ông Phêrô khỏi tình trạng bị chìm xuống biển. Vì thế tước hiệu "Con Thiên Chúa" được áp dụng cho Chúa Giêsu ở đây vừa mang giá trị Kitô học, vừa mang ý nghĩa cứu độ học. Đồng một trật, Đức Giêsu chứng tỏ Người có quyền lực thần linh tuyệt đối và quyền lực ấy được thi thố để cứu các môn đệ.
Đó chính là xác tín đức tin vĩ đại mà Hội Thánh muốn công bố với chúng ta hôm nay, và đồng thời cũng là xác tín đức tin làm nền tảng cho cuộc sống của mỗi tín hữu và của tất cả Hội Thánh trong hiện tại.
Qua biến cố này, chúng ta thấy điểm chủ yếu là lòng tin. Lòng tin từ tình trạng yếu đuối tiến đến việc tuyên xưng mạnh mẽ, nhờ cảm nghiệm được sự hiện diện đầy quyền năng của Chúa Giêsu trong chính hoàn cảnh thách đố lòng tin của các môn đệ. Điều này gợi lên cho chúng ta vài suy nghĩ về lòng tin của chúng ta và sự dấn thân với lòng tin trong những hoàn cảnh sống khó khăn, thử thách. Lòng tin của chúng ta là gì, nếu không phải là tin vào Thiên Chúa toàn năng và ơn cứu độ của Ngài.
Thứ Năm tuần 33 Mùa TN.
Kh 5,1-10; Lc 19,41-44
TÍN THÁC
Trang Tin Mừng hôm nay nằm ngay sau biến cố Chúa Giêsu lên Giêrusalem lần cuối. Giữa bầu khí tung hô nồng nhiệt của dân chúng, Chúa Giêsu lại tỏ ra sầu buồn, thương khóc cho thành Giêrusalem.
Thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu khóc thương họ vì hai lý do: một là vì họ đã “không nhận ra những gì đem lại bình an” cho họ ; hai là vì họ đã “không nhận biết thời giờ họ được Thiên Chúa viếng thăm”. Quả vậy, việc nhận ra được hồng ân và bình an của Thiên Chúa tuôn đổ trên cuộc đời từng người và việc nhận biết ơn Cứu Độ của Thiên Chúa đó là một hồng ân lớn về đức tin.
Điều xảy ra cho thành Giêrusalem cũng có thể xảy đến cho mỗi người ở mọi thời: mỗi người đều có những giây phút hồng phúc được Chúa viếng thăm đem lại ơn lành. Theo quan niệm Kinh thánh, giây phút Thiên Chúa viếng thăm là giây phút Ngài thực hiện lòng nhân từ. Thánh Luca đã nhấn mạnh ý nghĩa này trong hai bài thánh ca ở đầu sách Tin mừng của Ngài, đó là bài ca của ông Dacaria và của Đức Maria.
Thiên Chúa quyền năng không đầu hàng trước sự khước từ của con người, bởi vì cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá đã trở thành nguồn ơn cứu thoát cho nhân loại. Chúng ta có thể nhận thấy bàn tay quan phòng ấy của Chúa trong sự sụp đổ của Yêrusalem vào năm 70. Do biến cố này, các tín hữu tiên khởi tản mác đi khắp nơi và nhờ thế Tin mừng được loan báo cho mọi dân tộc khác. Nhìn lại sự sụp đổ của Yêrusalêm và Tin mừng được loan đi khắp nơi, chúng ta lại càng xác tín hơn vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương con người đến độ ngay cả sự khước từ của con người cũng có thể biến thành khởi điểm cho một hồng ân cao cả hơn.
Giáo Hội đã chẳng gọi tội nguyên tổ là tội hồng phúc sao ? Đó phải là xác tin của chúng ta khi nhìn vào các biến cố lịch sử. Gặp thời thuận tiện hay không thuận tiện, cùng với thánh Phaolô, chúng ta hãy kiên vững trong sứ mệnh loan báo Tin mừng vì xác tín rằng không một sức mạnh trần thế nào có thể tiêu diệt được Giáo Hội.
Trong bài ca chúc tụng của mình, Dacaria đã nêu bật lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa: chính vì lòng nhân nghĩa mà “Thái dương từ cao xanh khấng viếng thăm ta”. Còn về phần mình, ý thức giờ Thiên Chúa viếng thăm đang xảy ra không những cho bản thân, mà còn cho cả dân tộc và toàn thể nhân loại, Đức Maria đã nhận định về ý nghĩa sâu xa của việc Thiên Chúa viếng thăm: “Lòng nhân nghĩa của Người suốt đời nọ đến đời kia, trên những kẻ kính sợ Người”. Chỉ có một lý do cho cuộc viếng thăm của Thiên Chúa, đó là thể hiện lòng nhân nghĩa đối với những người được Ngài viếng thăm. Do đó, nếu không đón nhận giờ Chúa viếng thăm, con người không những gây thiệt hại cho chính mình, mà còn cho cả người khác nữa.
Chúng ta có dám tin Thiên Chúa điều khiển cuộc đời chúng ta không? chúng ta có dám tin Thiên Chúa đem lại suối nguồn bình an cho cuộc đời chúng ta không? Chúa vẫn viếng thăm và hiện diện nơi mỗi hoàn cảnh sống, nơi mỗi người chúng ta gặp gỡ nhưng chúng ta có nhận ra Ngài hay không? Chúng ta có sẵn sàng mở lòng đón nhận thời giờ ân sủng mà Thiên Chúa vẫn hằng tuôn đổ trên cuộc đời mỗi người chúng ta hay không? Làm sao mỗi chúng ta nhận ra thời điểm Thiên Chúa đến thăm mình?
Thế giới hôm nay đang có khuynh hướng loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của họ. Họ nhân danh tự do tôn giáo để loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống xã hội. Nhưng thử hỏi không có Thiên Chúa thì ai ở được với ai ! Nhân loại sẽ bị kéo vào những cuộc chiến tranh, thù hận không lối thoát.
Và rồi nhìn lại mỗi người, ta thấy ta đang sống trong một thế giới đầy hận thù, chiến tranh sắc tộc, chiến tranh tôn giáo nổ ra khắp nơi. Cũng bởi vì con người chưa nhận ra Thiên Chúa tình thương, chưa nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu trong mỗi người cũng như trong lịch sử thế giới hôm nay.
Sẽ tới ngày quân thù ngươi . . sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở trong ngươi, và sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào nữa vì ngươi đã không nhận biết thời giờ Thiên Chúa đến viếng thăm người.
Chúa báo trước cảnh Giêrusalem sụp đổ bình dịa xảy ra vào năm 70 dưới gót giày của quân Rôma. Sự sụp đổ của Giêrusalem báo trước ngày phán xét. Giêrusalem và con cái thành nầy được Chúa chọn nhưng đã bất trung, không nhận biết Chúa nên phải chịu một hình phạt ghê gớm.
Hãy để Thiên Chúa đi vào đời chúng ta và Ngài sẽ chi phối những chọn lựa của chúng ta. Chỉ trong Thiên Chúa mọi sự mới có nền tảng vững bền. Nếu không, như Giêrusalem, chúng ta chỉ còn là những bức tường than khóc. Nếu không thì nước mắt của Chúa Giêsu vẫn còn rơi trước sự cứng lòng tin của nhân loại hôm nay. Và nước mắt tình yêu, tha thứ của Chúa vẫn còn nhỏ xuống trên sự phản bội, bất trung của con người.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy mau mắn đón nhận lời giáo huấn của Chúa và ra sức thi hành để được cứu độ. Cần loại bỏ sự tự kiêu, ích kỷ và thay vào đó là thái độ khiêm nhường để nhận ra vai trò, trách nhiệm của mình. Có thế, chúng ta mới mong được ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Thứ Sáu tuần 33 Mùa TN.
Kh 10,8-11; Lc 19,45-48
THANH TẨY TÂM HỒN
Theo Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh: đền thờ là nơi thánh, là chốn thần linh hiện diện và là nơi con người có thể giao tiếp với thế giới thần linh. Trong Do Thái giáo, đền thờ Giêrusalem là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người. Cũng như các ngôn sứ khác, Chúa Giêsu tỏ lòng tôn kính sâu đậm đối với đền thờ. Nơi đó Người đã được dâng hiến (Lc 2, 22-39), đã gặp gỡ Chúa Cha (Lc 2, 41-50). Đối với Người, đền thờ là nhà Thiên Chúa, nhà để cầu nguyện, nhà Cha của Người. Vì người ta đã biến nó thành nơi buôn bán, gian lận, nên Người đã có những bức xúc và thái độ bùng nổ cơn nóng giận như trong bài Tin Mừng hôm nay.
“Chúa Giê su vào đền thờ. Người bắt đầu đuổi những kẻ đang buôn bán…” (45). Ngôn sứ Malaki đã nói trong chương 3 về hành vi này như sau: “Đấng mà các người tìm kiếm thình lình tiến vào đền thờ của Người, để thanh tẩy” hàng tư tế và dân chúng, để việc phụng tự đi đúng bổn phận của nó là cử hành theo ý Thiên Chúa và làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chúa Giê su không đến để quan sát đền thờ, nhưng Người có hành vi thanh tẩy tức khắc đi kèm. Một hành vi mang tính tiên tri “đuổi những kẻ buôn bán”, vì đền thờ là nơi giảng dạy (47) và để nghe lời Chúa. Như vậy, Đấng đến nhân danh Chúa sẽ đòi lại và chiếm hữu nhà Cha Người, đưa nhà Cha Người về đúng chức năng là nơi thờ phượng và ca ngợi Thiên Chúa.
Chúa Giêsu hạch tội những người buôn bán đã bày biện ở sân đền thờ những con vật dùng làm của lễ hiến tế. Chúa Giêsu không phủ nhận việc hiến tế lễ vật dâng lên Thiên Chúa theo tập tục Môsê, vì chắc hẳn gần đền thờ sẽ có những phố, những cửa tiệm cung ứng mọi vật dụng cần thiết cho việc lễ tế. Còn trong sân đền thờ chỉ có những gia đình có liên hệ với các tư tế hoặc chính thân nhân của các tư tế mới được buôn bán. Như vậy, họ lợi dụng chức vụ để thực hiện việc mưu sinh kiếm lợi cho bản thân và gia đình, chứ không để phục vụ Thiên Chúa và dân Ngài.
Thấy thế, Chúa Giêsu nổi nóng và xua đuổi họ với câu trích dẫn sách ngôn sứ Isaia 56, 7 và Giêrêmia 7, 11 “Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp”. Người tố cáo các nhà cầm quyền tôn giáo đã làm băng hoại, làm biến chất mục đích của nhà Cha Người và họ quên rằng : Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được (16, 13). Vì thế, qua việc buôn bán này, họ đã phạm hai điều bất trung với sứ vụ tư tế của họ, đó là: xao lãng việc phụng thờ Thiên Chúa cho đúng mức và ơ hờ việc dưỡng nuôi dân Chúa.
Trong khi người Do Thái chỉ chú trọng đến đền thờ vật chất, còn Chúa muốn nói đến đền thờ trong tâm hồn. Chúa Giêsu không phủ nhận việc xây dựng và gìn giữ đền thờ dành để tôn vinh Thiên Chúa nhưng Người nhấn mạnh phải xây dựng đền thờ tâm hồn trong sạch dành riêng cho Thiên Chúa.Trong đời sống thiêng liêng, thân xác và linh hồn chúng ta cũng là đền thờ, nơi Chúa ngự trị.
Ý thức điều đó, chúng ta phải dọn dẹp, giữ gìn sạch tội, hãm dẹp các đam mê xấu, canh phòng ngũ quan, sống tiết độ, luyện nhân đức…Chúng ta đừng biến tâm hồn mình thành nơi chợ búa, bày bán tham sân si, tích chứa thù hận ghen ghét và nhất là tội lỗi. Chỉ khi chúng ta tin và sống mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của Chúa chúng ta mới thực sự xây dựng ngôi đền thờ vững chắc.
Lời Chúa hôm nay cũng cảnh tỉnh thái độ sống đạo hình thức của chúng ta. Đôi lúc chúng ta cũng thờ kính Chúa trên môi trên miệng. Chúng ta đến với Chúa với một tâm hồn tham lam ích kỷ, chất chứa trong lòng sự ghen ghét, hận thù. Chúng ta chưa đủ can đảm “dọn dẹp đền thờ tâm hồn mình” bằng các bí tích và ân sủng của Chúa. Chúng ta ưa thích diện trên mình những bộ quần áo hàng hiệu, dùng trang sức xa xỉ đắt tiền nhưng lại để tâm hồn lem nhem, hoen ố bởi danh vọng lạc thú và những đam mê thấp hèn. Chúng ta sẵn sàng bán rẻ lương tâm nhân phẩm để đổi lấy sự nổi tiếng, để được tiếng khen của người đời.
Với khát vọng xây dựng tâm hồn mình thành nơi xứng đáng cho Thiên Chúa ngự trị, đồng thời dành nhiều giờ để cầu nguyện, Mẹ Têrêsa Calcutta khuyên chúng ta; “Bạn sẽ không gặp được Thiên Chúa nơi ồn ào, bạn chỉ thấy được Người nơi thinh lặng của tâm hồn”. Vì thế bao lâu chúng ta giữ tâm hồn mình trong sự tĩnh lặng, chúng ta sẽ gặp gỡ được Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể khám phá ra kho tàng sự sống đích thực khi biết để lòng trí mình hướng về Thiên Chúa trong cầu nguyện và sống yêu thương.Khi chúng ta chỉ lo tìm kiếm những của cải vật chất trần gian, Thiên Chúa sẽ bị gạt ra bên ngoài.
Hàng ngày, Người giảng dạy trong đền thờ (47a). Đây chính là việc dưỡng nuôi dân mà Chúa Giêsu thực hiện mỗi khi Người lên đền thờ. Và vì sự nhiệt tâm này mà Người phải thiệt thân “Các thượng tế, kinh sư và các thân hào trong dân tìm cách giết Người”. Lúc này, họ không còn che giấu manh tâm độc ác nữa vì Người đụng đến túi tiền của họ. Họ sẵn sàng loại trừ Người để ứng nghiệm lời thày Thượng Tế nói : Thà một người chết thay cho toàn dân… “Nhưng họ không biết phải làm sao vì toàn dân say mê Người” (48).
Vì Chúa Giê su có ảnh hưởng lớn trên dân chúng, nên người Pharisieu chưa ra tay thực hiện mưu đồ được, nói đúng hơn theo Tin Mừng Gioan thì “Giờ của Người chưa đến”. Hình ảnh của người Pharisiêu hoàn tòan đối lập với dân chúng. Dân thì say mê nghe lời Người, còn họ đã không muốn nghe, lại còn ngăn cản Lời đến với người khác. Họ không những không muốn hoán cải, không muốn vào Nước Trời, mà còn xúi giục, làm gương xấu cho người khác, để người khác cũng chẳng vào được Nước Trời.
Ngày nay, tâm hồn mỗi Kitô hữu là một đền thờ, đền thờ thiêng liêng nối dài thân thể Chúa Kitô “Giáo Hội là đền thờ Thiên Chúa được thiết lập trên nền tảng là Đức Kitô. Người là Đầu và là Đá Góc Tường” (1Cr 3,10-17). Trong đền thờ này, chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa mà không phân biệt người Do Thái hay dân ngoại như trong đền thờ Giêrusalem xưa. Mỗi Kitô hữu là đền thờ Thiên Chúa với tư cách là chi thể của Chúa Kitô và thân xác chúng ta là đền thờ Chúa Thánh Thần.
Thật vậy mỗi người chúng ta phải cộng tác vào việc phát triển đền thờ ấy trong đức tin và đức ái. Nhưng nhiều khi chúng ta đã khiến đền thờ tâm hồn của mình ra ô uế vì những lợi lộc gian tham nơi trần thế, vì những hành vi xảo quyệt lừa gạt anh em, đôi khi còn có ý định đánh lừa cả Thiên Chúa. Có những khi chúng ta tán tận lương tâm, từ chối Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình mỗi khi ta phạm tội, làm mất lòng Chúa. Lúc đó, chúng ta đã trao nộp đền thờ tâm hồn cho ma quỷ, thế gian và xác thịt cùng những thú vui, đam mê của nó.
Thứ Bảy tuần 33 Mùa TN.
Lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền Thờ.
Lễ nhớ. Kh 11,4-12; Lc 20,27-40
DÂNG MÌNH CHO CHÚA NHƯ MẸ
Hôm nay Hội thánh mừng ngày kỷ niệm Đức Mẹ dâng mình đó. Lễ này mới được Hội thánh công nhận và phổ biến rộng khắp vào thế kỷ 14. Việc Đức Mẹ dâng mình chắc chắn rất đẹp lòng Chúa, vì ngài đã được Vô nhiễm nguyên tội ngay từ buổi đầu thai, vì Chúa đã định chọn Mẹ cưu mang và sinh Con của Ngài. Và Mẹ đã dâng mình cách trọn vẹn, trọn hảo.
Không phải vô duyên vô cớ mà Hội Thánh tôn vinh sự kiện Đức Trinh Nữ rất thánh dâng mình trong Đền thờ bằng một ngày lễ. Bởi vì chính trong ngày nầy mà Đức Trinh Nữ đã dâng mình cho Thiên Chúa, để hoàn toàn thuộc về Người suốt đời, ngõ hầu không chỉ xa lánh sự đồi trụy của thế gian, Trinh Nữ còn loại bỏ khỏi tâm trí người mọi lo toan với những tư tưởng vô ích của thế gian, và loại khỏi lòng người cảm tình đối với tạo vật, vì lòng người được dựng nên chỉ để yêu Chúa và dâng trọn cho Chúa mà thôi. Vì thế, trong ngày thánh nầy, được Thiên Chúa ban cho không những ân sủng mà còn cả trí hiểu biết, cho nên dù tuổi còn rất trẻ, Trinh Nữ đã khấn sống khiết tịnh suốt đời, theo niềm tin truyền thống dựa trên tường trình của một tác giả đạo đức thời xưa. Theo lời thánh Gioan Damascène, (Trinh Nữ đã khấn như thế) để gìn giữ linh hồn mình trong sự thanh khiết, một khi thân xác người thoát khỏi mọi lạc thú của đời sống nầy.
Theo truyền thống của Giáo Hội, khi còn thanh xuân, Đức Ma-ri-a đã có ý hướng dâng trọn cả cuộc đời mình để phụng sự Thiên Chúa đặc biệt trong bậc sống độc thân và đồng trinh. Nghĩa là Mẹ muốn dâng trọn cả hồn và xác cho Thiên Chúa, để hoàn toàn tự do hầu tuân hành thánh ý Chúa một cách trọn vẹn. Mẹ muốn trở nên dụng cụ ngoan ngùy trong tay Thiên Chúa, để Ngài muốn sử dụng mình thế nào tùy ý Ngài. Như thế Mẹ Ma-ri-a đã chọn Thiên Chúa làm lẽ sống, làm chủ cuộc đời mình, dâng trọn tình yêu và trái tim cho Ngài. Chính trong ý hướng đó, Thiên Chúa chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.
Trước hết, theo truyền thuyết thì năm lên ba, Mẹ đã theo cha mẹ lên đền thờ, rồi ở lại đó một thời gian. Trong thời gian này, Mẹ đã học hỏi Kinh thánh, tập luyện các nhân đức và khấn giữ mình đồng trinh, một nhân đức rất hiếm người Do thái hiểu và giữ lúc bấy giờ. Mẹ đã dâng hiến trọn vẹn tâm hồn và thể xác cho Thiên Chúa.
Tiếp đến trong hoạt cảnh truyền tin, Mẹ đã dâng hiến cõi lòng của Mẹ, làm thành như một chiếc nôi hồng cho Ngôi Lời giáng thế. Và hôm nay, Mẹ đã dâng hiến người con yêu dấu của Mẹ cho Thiên Chúa theo như lề luật qui định, để rồi sự dâng hiến này đạt tới cao điểm của nó trên đỉnh đồi Canvê, khi Mẹ đứng dưới chân cây thập giá nhìn Chúa chịu sát tế làm của lễ đền tội cho nhân loại.
Mẹ Maria đã được thánh Gioankim và thánh Anna đem dâng cho Thiên Chúa trong đền thánh Giêrusalem, để cuộc đời của Người được thánh hiến. Chính giây phút cha mẹ của Đức Trinh Nữ Maria đem con mình là Maria vào đền thánh Giêrusalem để được Thiên Chúa thánh hiến. Maria đã hoàn toàn thuộc trọn về Chúa. Mẹ đã được Thiên chúa chuẩn bị để lãnh nhận sứ mạng hết sức cao cả là trở thành Mẹ Đức Giêsu Kitô. Giây phút ấy trở thành hồng phúc vì chính Thiên Chúa đã biến cuộc đời của mẹ trở nên tinh ròng, vẹn tuyền khiến cung lòng của mẹ là đền thờ cho Đức Giêsu Kitô ngự trị.
Nơi đền thánh Giêrusalem, mẹ Maria đã thực hành biết bao hy sinh, biết bao cố gắng, biết bao gian khổ với một tâm hồn quảng đại, với con tim nhạy cảm, với con mắt yêu thương. Một quá trình xuyên suốt sống trong đền thánh, mẹ Maria đã thực hành biết bao nhiêu nhân đức, những nhân đức anh hùng trổi vượt nhất đã biến mẹ nên con người hoàn hảo nhất để dọn đường, dọn chức vụ mẹ Thiên Chúa của Đức trinh nữ Maria. Mẹ âm thầm cầu nguyện, kết hiệp với Chúa, làm việc nội trợ, chân tay, rồi cầu nguyện, suy gẫm lời Chúa. Đó là chương trình sống của mẹ trong ngày. Sự hy sinh, từ bỏ, kiên nhẫn đã thanh luyện mẹ và nhờ được thanh luyện mẹ trở nên ngôi đền thiêng liêng, xứng đáng cho con một Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô đến cư ngụ.
Nhìn vào mẫu gương của Mẹ, chúng ta rút ra được một kết luận như sau: Dâng hiến và đau khổ luôn đi liền với nhau. Thực vậy, không một sự dâng hiến nào mà lại không có khổ đau. Và hơn thế nữa, chính những khổ đau này sẽ làm cho việc dâng hiến trở nên cao cả và có giá trị trước mặt Thiên Chúa.
Chính trong đền thờ, Mẹ chuẩn bị sứ mạng làm Mẹ Thiên Chúa. Mười hai năm trời Mẹ suy niệm, cầu nguyện, sống gần gũi thân mật với Chúa. Theo thánh Giêrônimô, chương trình sống một ngày của Mẹ ở trong đền thờ gồm có kinh nguyện, suy gẫm, học hỏi Lời Chúa, hát thánh vịnh. Mẹ làm các việc thiêng liêng đạo đức đó với cả lòng sốt sắng nhiệt thành, nêu gương cho mọi người khác.
Mẹ Maria được dâng hiến trong đền thánh là bước đầu khai mở cuộc đời tận hiến, dẫn tới đức khiết tịnh Kitô giáo. Mẹ Maria đã biến cuộc đời mình, đã biến cái tinh hoa cao quí nhất của cuộc đời mình làm cái phúc. Chính cái phúc là con đường hướng mẹ Maria tới việc vâng phục ý Thiên Chúa. Mẹ chấp nhận tất cả với tâm hồn rộng mở, tâm hồn quảng đại, quả cảm. Mẹ là mẫu gương tuyệt vời để nhiều người noi theo.
Tình yêu của mẹ đã biến đổi cái nhìn của con người. Nhờ tình yêu thanh luyện của mẹ đã có nhiều trinh nữ hiến trọn cuộc đời mình cho Thiên chúa trong cuộc đời tận hiến. Chính tình yêu mẫu tử của mẹ đã xóa nhòa mọi nỗi cay đắng khổ đau, để muôn đời mẹ vẫn là mẫu gương sáng chói, là Đấng bảo trợ nhiệt thành và là Đấng hướng dẫn con người, Đấng soi chiếu mọi người trên con đường tận hiến.
Mẹ luôn lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa, đó chính là điểm đặc sắc nhất của đời sống Mẹ. Theo thánh Augustinô: “Thánh Mẫu Maria đã thực hiện hoàn toàn ý định Chúa Cha, và vì thế, việc ngài được làm môn đệ Đức Kitô thì có giá trị hơn là việc được làm Mẹ Đức Kitô. Do đó, Đức Maria thật diễm phúc vì đã mang Chúa trong lòng trước khi sinh ra Người”.
November 22, 2020