Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa Nhật Phục Sinh, Năm A
x
14/4/2023 Thứ Sáu trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 4:1-12; Tv 118:1-2,4,22-24,25-27; Ga 21:1-14
Mẻ Cá lạ lùng
Phép lạ hôm nay được thánh Gioan kể lại và cũng là phép lạ cuối cùng của Chúa Giêsu nơi trần thế. Phép lạ này xảy ra sau khi Chúa Giêsu sống lại nghĩa là trong khoảng thời gian 40 ngày trước khi về trời. Nơi xảy ra phép lạ thì gần biển Tibêria, có lẽ gần thành Betsaida là quê hương cùng thánh Phêrô và Gioan là hai vai chính trong câu chuyện hôm nay.
Thánh Gioan cho chúng ta biết đây là lần thứ ba Chúa hiện ra sau khi từ kẻ chết sống lại. Ngay sau khi sống lại, Chúa đến gặp các Tông Đồ, và sau nầy nhiều lần Chúa lại hiện ra và tiếp tục huấn luyện các ông: Chúa đặt cộng đoàn các Tông Đồ làm nền tảng Hội Thánh.
Sau một đêm lênh đênh ngoai khơi, các môn đệ không bắt được con cá nào cả! Khi trời đã sáng, họ cho thuyền vào bờ để giặt lưới. Chúa bảo họ thả lưới xuống bên phải mạm thuyền thì sẽ có cá. Vô lý quá, các môn đệ là dân chài lưới, họ biết rõ gần bờ làm gì có cá. Và đâu có cá đi chăng nữa thì trời đã sáng, nước biển lại trong vắt, cá thấy lưới và sẽ bỏ chạy ngay, làm gì mà bắt được chúng?
Thế mà Tin Mừng kể, khi nghe Chúa nói, họ đã thả lưới. Và kết quả thật lạ lùng: không sao kéo nổi, vì lưới đầy cá! Các môn đệ đã làm theo lòng tin chứ không theo kinh nghiệm nghề nghiệp.
Cái nhìn của trái tim người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến liền nói với Phêrô: Thầy đó!l Các môn đệ trên thuyền chưa ai nhận ra Chúa, người môn đệ được Chúa thương mến đã nhận ra Ngài. Chính tình yêu đã làm cho trái tim Gioan nhạy bén, nhận ra Chúa ngay.
Chỉ sau khi được Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra, các môn đệ của Ngài mới hiệu được cái nghịch lý vĩ đại ấy của Kitô giáo. Khi Thầy mình bị treo lên thập giá, giấc mộng công hầu khanh tướng của các môn đệ cũng tan thành mây khói. Trong nỗi thất vọng ê chề, họ đã buồn bã quay về với nghề cũ để rồi vất vả thâu đêm mà không bắt được con cá nào. Ðó là hình ảnh của một cuộc sống trống rỗng chán chường mà nhiều người vẫn tiếp tục lao mình vào. Có tất cả trong tay mà vẫn thấy thiếu thốn, hưởng mọi sự mà vẫn không thỏa mãn, được bảo đảm trong mọi sự mà vẫn không có được bình an. Hiện ra với các môn đệ sau khi các ông đã vất vả thâu đêm mà không bắt được con cá nào và cho các ông được mẻ cá lạ lùng, Chúa Giêsu muốn cho các ông thấy rằng không có Ngài, các ông không thể làm được gì và một cuộc sống thiếu vắng Ngài là thiếu tất cả.
Lần đầu tiên những người chài lưới đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa Giêsu, lần này họ không những bỏ mọi sự mà còn bỏ chính bản thân mình. Họ hiểu rằng chỉ khi trút bỏ cuộc sống con người của mình, họ mới thực sự được lấp đầy bởi chính Ðấng là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống. Với Ngài, họ tìm lại được bản thân và có được điều mà không một của cải nào trên trần gian này có thể mua sắm được, đó là sự bình an trong tâm hồn. “Bình an cho các con”, đó là điều mà Chúa Kitô Phục Sinh luôn chào chúc cho các môn đệ mỗi lần hiện ra cho các ông.
Chúa Ki tô Phục Sinh đã đến với các môn đệ giữa những sinh hoạt thường ngày của họ, và Ngài đã tỏ mình ra bằng cử chỉ quen thuộc nhất của Ngài là bẻ bánh và trao ban. Ngày nay, Đấng Phục Sinh vẫn tiếp tục đến với chúng ta trong cùng một thể thức ấy: Ngài đến trong những sinh hoạt âm thầm hoặc vô danh nhất trong cuộc sống mỗi ngày chúng ta. Ngài đến trong niềm vui nỗi khổ của chúng ta, Ngài đến như một người xa lạ.vô đanh, Ngài đến trong từng người chúng ta gặp gỡ Ngài đến trong những kẻ bé mọn nghèo hèn, và ngay cả trong kẻ thù của chúng ta, Ngài tỏ mình bằng cử chỉ bẻ bánh và trao ban.
Đấng Phục Sinh tỏ mình qua những cử chỉ trao ban của con người, cho nên càng mở rộng tâm hồn và đôi tay để san sẻ, con người càng cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài.Ngài vẫn luôn có đó trong cuộc sống từng ngày và không ngừng mời gọi chúng ta đón nhận Ngài. Ngài vẫn luôn có đó và chúng ta có thể cảm nhận được sự hiện diện của Ngài mỗi khi chúng ta làm một cử chỉ quảng đại, yêu thương và tha thứ. Ước gì chúng ta luôn tỉnh thức để nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh, và sống như thế nào để trở thành dấu chứng sự hiện diện của Ngài cho mọi người.
Chúa Kitô Phục Sinh động hiện diện trong từng phút giây cuộc sống chúng ta. Đó phải là niềm xác tín của người Kitô hữu chúng ta: Hãy để cho Ngài có mặt và đồng hành với chúng ta, nhờ đó những gặp gỡ thường ngày, những công việc vô danh nhất trong cuộc sống sẽ biến thành niềm vui bất tận.
CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM A-2020
Ga 20, 1-9
NIỀM VUI PHỤC SINH
Thánh Phaolô đã thể hiện niềm tin tuyệt đối và niềm hy vọng chắc chắn của ngài vào Đức Kitô Phục Sinh, ngài nói: “... nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15,14); “Mà nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Ðức Kitô cũng bị tiêu vong.
Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Ðức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1Cr 15,17-19). Đúng thế, nếu cả cuộc đời của mỗi chúng ta, sự hy sinh dài lâu cho một con người mà chính người đó lại kết thúc cuộc đời của họ qua cái chết thì quả là một điều vô lý, hão huyền, thua thiệt và dại dột.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu, Đấng mà các môn đệ tin; nhiều người Do Thái tin; Giáo Hội tin; và chúng ta tin, Ngài đã chết thật, nhưng Ngài cũng đã sống lại thật.
Chúa đã sống lại, đã hiện ra cho Maria Mácđala (Ga 20, 11- 18); với các phụ nữ đi ra viếng mồ Ngài (Mt 28,9-10; Mc 16,9; Ga 20,11-18); hiện ra với 2 môn đệ trên đường về Emmau (Mc 16,12-13; Lc 24,13-35); hiện ra với các môn đệ khi các ông đang họp kín, trong đó có Tôma (Ga 20,19-29); bên bờ hồ Giênêdarét (Ga 21); phép lạ đánh cá (x. Ga 21, 1- 14).v.v; và hiện ra tại Galilê, sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng (Mt 28,16-20; Mc 16: 14 -18; Lc 24: 36 -49; Ga 20: 19 -23; Cv 1:6-8).
Chúa Giêsu Phục Sinh hiện đến mang lại cho các môn đệ sự bình an và niềm vui. Sau đó Người sai các ông đi, giống như Chúa Cha đã sai Người. Cuối cùng, để giúp các ông chu toàn sứ mạng, Người đã thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông, nhờ quyền năng Thánh Thần, các ông sẽ tha hay cầm giữ tội của người ta tùy theo họ tin hay không tin lời rao giảng của các ông.
Sự phục sinh của Chúa giúp các tông đồ kiên vững lòng tin vào Thày mình. Trường hợp hai môn đệ trên đường Emmaus là một chứng minh. Trước khi gặp Chúa, các ông mệt mỏi, thất vọng và đang tính bỏ cuộc, nhưng sau khi nhận ra Thày mình, họ tìm lại nghị lực, vui tươi, phấn khởi và lên đường về Giêrusalem ngay trong đêm ấy. Biến cố phục sinh cũng giúp cho họ hiểu hơn về giáo huấn của Chúa Giêsu. Quan niệm của họ về Chúa Giêsu được nhìn với nhãn giới "hậu-phục-sinh" và nhờ đó, họ có một chân dung xác thực về Đấng Thiên Sai.
Nếu việc Chúa Giêsu sống lại chỉ là chuyện bịa đặt thì làm gì các ông lại dại dột mà đi phỉnh lừa người khác, trong khi mình còn biết bao chuyện phải lo... và các ông cũng đều biết rằng việc các ông rao giảng về Đức Giêsu, thì đồng nghĩa với việc lãnh nhận sự liên lụy và sẽ có nguy bị giết chết.
Khi mừng lễ Phục sinh, ta được mời gọi trở thành chứng nhân của sự kiện Chúa sống lại. Tuy vậy, để có thể làm chứng về Đấng Phục Sinh, tôi phải biết Người, phải gặp Người và cảm nhận được sự hiện diện của Người trong đời tôi. Ta không thể làm chứng về một người hay một sự việc mà tôi không biết chắc. Làm chứng nhân cho Đấng Phục Sinh hôm nay đôi khi phải chấp nhận là kẻ "ngược dòng" trong một xã hội xô bồ, phức tạp. Các tông đồ và các thánh tử đạo sau này đã những người dám đem mạng sống mình để "đặt cược" cho lời chứng về Chúa Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại.
Một chứng từ được cam kết bằng mạng sống sẽ có tính thuyết phục mạnh mẽ và làm cho người khác tin. Xác tín nơi Đấng Phục Sinh, các tông đồ khi bị đánh đòn và bạc đãi, lại "hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu" (Cv 5, 41).
Mừng lễ Chúa Kitô Phục sinh là dịp để người kitô chúng ta vui mừng hân hoan và tràn trề niềm hy vọng vào một tương lai huy hoàng sáng lạng trong nước Thiên Chúa sau khi đã hoàn tất cuộc đời lữ thứ trần gian. Chúa Kitô Phục sinh khải hoàn, đó là niềm tin và lẽ sống của người Kitô.
Hôm nay chúng ta hân hoan vui mừng với tinh thần mà thánh Phaolô nói : "Vì Chiên Vượt Qua của ta, là Đức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật" (1Cr 5,7-8).
Từ nay chúng ta quả quyết mà không sợ sai lầm rằng, cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng nữa, bởi vì ngày chúng ta chịu phép rửa tội, "nhờ thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết, ngõ hầu như Ðức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, mà được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới" (Rm 6, 4).
Khi Chúa Phục Sinh. Giáo hội muốn nhắn gửi mỗi người chúng ta rằng: hãy lên đường, để sự hiện diện của ta là lời chứng rao giảng hùng hồn về Đức Kitô đã chết đi, loan tin Người đã sống lại, trong vinh quang mai Người lại đến đón chúng ta, những người tin vào Đức Kitô lên trời về với Chúa Cha. Vì quê hương chúng ta là quê Trời, nước chúng ta là Nước Trời. Thánh Phao lô khuyên chúng ta "hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa" (Cl 3, 3).
Ước mong niềm tin vào Đấng Phục sinh luôn đem đến cho Giáo hội, cho thế giới và mọi người trên trái đất này sự bình an, ơn hiệp nhất để cùng hướng về mục đích đệ nhất của kiếp người là được hưởng sự sống vĩnh hằng trong ngày sau hết.
THỨ HAI TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Mt 28, 8-15
PHÉP LẠ PHỤC SINH
Với trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Mátthêu là tác giả duy nhất đã so sánh thái độ của hai dạng chứng nhân về việc Chúa phục sinh: một bên là những phụ nữ đã từng theo Chúa Giêsu, và một bên là những lính canh mồ do các thượng tế và biệt phái sắp đặt. Cả hai bên đều nhận lãnh một sứ điệp: những phụ nữ được các thiên thần cổ võ đã lên đường loan báo sứ điệp Phục Sinh cho các tông đồ; những lính canh mồ thoạt tiên cũng nhận lãnh các sứ điệp như thế: họ đã chứng kiến một phép lạ, nhưng thay vì tuân phục với đức tin, họ đã bóp méo và chối bỏ sự thật.
Một sự kiện nhưng hai phản ứng: với sự tuân phục của đức tin, các phụ nữ đã đón nhận phép lạ và trở thành sứ giả của Tin Mừng Phục Sinh; trong khi đó, với thái độ mù quáng và khước từ, những lính canh mồ đem biến sự kiện thành một bôi nhọ phỉ báng.
Các phụ nữ bị coi là thua kém trong xã hội Do Thái lại đóng vai trò quan trọng trong việc loan báo Chúa Giêsu sống lại. Họ được chính Đấng Phục Sinh hiện ra và trao sứ mệnh loan Tin Vui phục sinh cho các tông đồ; họ trở thành tông đồ của các tông đồ. Trong khi những người đàn ông như lính canh mồ, giới lãnh đạo ra sức đánh tráo dư luận, các môn đệ thân tín tỏ ra bị động, nghi ngờ thì các ba lại lên tiếng.
Việc Đấng Phục Sinh ưu ái hiện ra và trao sứ vụ cho các bà là phần thưởng Ngài dành cho những tâm hồn yêu mến Ngài. Tin Mừng Phục Sinh không là của riêng ai mà là của mọi người, nam lẫn nữ, biết thao thức tìm kiếm, tin tưởng và sống niềm tin này.
Số phụ nữ được diễm phúc Chúa hiện ra này là những người trước đây đã từng theo giúp Chúa, đã từng chứng kiến việc mai táng Chúa (Mt 2, 61). Nhờ biết rõ địa điểm chôn táng nên họ ra đi gặp Chúa Phục sinh hiện đến. Theo truyền thống, họ đến mộ để khóc thương và để xức dầu trên xác Ngài (Mc 16,1; Lc 23, 56 - 24, 1). Nhưng khi tới mộ, thì chỉ còn là nấm mộ trống trơn và chỉ có thiên thần ở đó. Thiên thần báo tin Chúa sống lại (c. 5) và mời các bà vào trong mộ để kiểm chứng sự kiện đó (c. 6).
Các phụ nữ đây vừa hốt hoảng vừa hân hoan vui mừng. Nỗi sợ hãi đã xâm chiếm lính canh, cũng làm các bà lo lắng. Nhưng lời thiên sứ trấn an họ yên trí bình an vui mừng như các đạo sĩ nhìn thấy ngôi sao (Mt 2, 10), như các mục đồng gặp Đấng Hài Nhi (Lc 2, 10).
Cùng một sự kiện sống lại đã làm cho lính sợ hãi ngã dập dụi, nhưng lại trở thành niềm tin can đảm vui mừng cho các bà. Lúc nhận ra Chúa các bà sụp lạy và ôm chân Người. Cử chỉ sụp lạy thường thấy trong Kinh Thánh (Mt 8, 2.9, 18.14, 33). Đó là thái độ trang trọng dành riêng cho Thiên Chúa. Các bà đã được diễm phúc thấy Chúa và kiểm chứng bằng ôm chân Chúa (c.9).
Việc này diễn tả lòng yêu thương tột bực kèm thêm niềm vui kính phục, được tái ngộ với Thầy mình đã chết nay sống lại. Gặp họ, Chúa Giêsu trấn an ngay: “đừng sợ, hãy đi báo tin cho anh em ta...” (c.8). Mệnh lệnh “Hãy đi” hối thúc các bà đừng quyến luyến bên Chúa cho riêng mình. Chúa dùng chữ “anh em” thay vì “môn đệ” là dấu sẵn lòng tha thứ mọi yếu đuối lầm lỡ mà trước đây các tông đồ đã lỡ phạm vào giờ Chúa tử nạn.
Cuộc phục sinh được loan báo cho các bà đầu tiên hẳn cũng có một ý nghĩa là trong suốt cuộc khổ nạn, các bà đã gần gũi Chúa nhất. Một thiếu phụ phung phí dầu thơm ở Bêtania (Mt 26, 7-13), vợ của Philatô can ngăn (27, 19), các phụ nữ đứng bên thập giá (27, 55-56) và bên nấm mộ (27, 61). Họ là những người có công và đã được thưởng bằng việc Chúa hiện ra. Đây cũng là một bài học cho thấy các bà đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền giáo cũng như họ đã từng làm việc đó là báo tin Chúa sống lại cho các tông đồ. Nếu như các bà ích kỷ chỉ đòi ở bên Chúa mà không chịu đi đưa tin thì hẳn là các môn đệ vẫn cứ ở trong căn phòng kín cửa then cài.
Và điều này muốn nói với chúng ta rằng: nếu chúng ta là những người đã nhận được đức tin của Chúa, nhận được sự sống mới của Chúa, chúng ta không có quyền sống ích kỷ, như con rùa thụt lui sau lớp vỏ của mình. Chúng ta phải phân phát, phải đi như những phụ nữ hôm nay để “loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại...” (1C 11, 26).
Sau khi củng cố niềm tin, Chúa đã sai các bà ra đi loan báo tin cho các tông đồ ”những anh em của Thầy”, và tiếp theo, Chúa cũng sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cho khắp thế giới. Ngày nay, chúng ta cũng là những người đối diện với Tin Mừng Phục Sinh, nên chúng ta cũng sẽ là những người được sai đi làm nhiệm vụ loan báo. Vì thế mà mọi cử chỉ, lời nói và việc làm của chúng ta luôn mang giá trị của một chứng từ.
Hai ngàn năm qua và mãi mãi về sau, sứ điệp Phục Sinh vẫn tiếp tục được loan báo. Phép lạ Phục Sinh vẫn mãi mãi tiếp diễn. Các Tông Ðồ và những phụ nữ được Chúa hiện ra có lẽ diễm phúc hơn chúng ta. Thế nhưng, các ngài cũng không được trang bị hơn chúng ta khi đứng trước việc Chúa sống lại và hiện ra. Những lính canh mồ cũng chứng kiến các điều lạ lùng, nhưng với họ, những điều đó chưa phải là phép lạ.
Phép lạ thiết yếu không phải là một việc phi thường, nhưng trước tiên là một gặp gỡ trong đức tin. Chỉ trong đức tin, con người mới tin nhận phép lạ. Có phép lạ khi con người thực thi thánh ý Chúa. Thiên Chúa vẫn tiếp tục thể hiện tình yêu của Ngài. Thiên Chúa vẫn tiếp tục hiện diện và tác động trong lịch sử nhân loại. Nhưng chỉ khi nào con người tin nhận và sống theo thánh ý Thiên Chúa, con người mới nhận ra sự hiện diện và tình yêu của Ngài. Chúa Giêsu đã tuyên bố: "Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa". Có tâm hồn trong sạch chính là để cho Chúa ngự, chính là chiều theo tư tưởng và ý muốn của Ngài.
Và rồi người Kitô hữu trong mọi thời, việc loan báo Tin Mừng vẫn là một tiếng gọi tồn tại trong sâu thẳm của con người hay chính nội tâm mỗi người là một ơn gọi riêng cho từng người, từ đó mỗi người mạnh dạn ra đi phục vụ và hãy cho đi nhưng không đến với biết bao hoàn cảnh cơ nhỡ, khốn cùng, họ đang cần biết bao tấm lòng từ tâm nâng đỡ từ vật chất tới tinh thần.
Bổn phận người tín hữu là chúng ta đi tìm cuộc sống vĩnh hằng, đồng thời cùng với mọi người cùng nhau tìm cuộc sống đời đời mai sau. Cuộc sống hàng ngày diễn ra, với mọi biến cố vui buồn, sầu khổ v.v… nếu mỗi người luôn có niềm tin tuyệt đối vào Chúa Phục Sinh, chắc chắn sẽ gặp Chúa đồng hành, quan phòng chúng ta trên muôn nẻo đường dù hiểm nguy, gian nan, trắc trở, thì Chúa gìn giữ chúng ta tới bến bờ hạnh phúc.
THỨ BA TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Ga 20, 11-18
YÊU AI GỌI TÊN NGƯỜI ĐÓ
Suy nghĩ về trang Tin Mừng hôm nay, ta sẽ thấy sự tuyệt vọng của Maria Madalena lúc này đến mức nào. Theo Chúa Giêsu và các môn đệ trên đường rao giảng Tin Mừng, chắc chắn bà đã nghe nói, đã chứng kiến biết bao phép lạ Chúa Giêsu đã làm, từ việc chữa lành bệnh tật cho đến việc làm cho kẻ chết sống lại, từ việc khiến gió biển im lặng cho đến chuyện hóa bánh ra nhiều.
Thế nhưng, tất cả đều sụp đổ khi bà đếm từng vết máu và mồ hôi loang vãi trên đường tử nạn, khi theo dõi từng hơi thở thoi thóp của Chúa Giêsu trên Thập Giá, hay khi xác Ngài được mai táng trong mồ, và hôm nay cả đến thân xác cũng bị đánh cắp mất, chẳng còn gì hy vọng nữa.
Như vậy, tất cả chỉ là tuyệt vọng, Nhưng chính trong tận cùng của sự tuyệt vọng ấy, chính trong thử thách mịt mù ấy, bà đã được tặng ban một món quà không phải trên đôi tay, nhưng món quà ấy được trao tặng vào chính con tim của bà. Ðó là bà được thấy Chúa Kitô Phục Sinh và Ngài đã gọi tên bà một cách thân mật, ngọt ngào.
Không còn hy vọng gặp lại Chúa, tất cả xem như đã chấm dứt… Bà gặp Chúa nhưng không nhận ra Người. Nhưng khi Chúa cất tiếng gọi: “Maria !” thì bà đã nhận ra Người, qua giọng nói yêu thương ngày nào. Thật là một biến cố trọng đại, một tin vui mừng ngất ngây sung sướng. Đúng là con chiên thì nghe ra và nhận biết tiếng chủ chiên của mình vậy ! (Ga 10, 27) Thế là từ nay thay vì đau buồn cho cái chết của Thầy Giêsu, thì đã được bù đắp bằng niềm vui khôn tả vì Thầy Giêsu vẫn sống, vẫn nói chuyện, vẫn cùng đồng hành với mình… Bà Maria đã mau mắn chia sẻ tin vui mừng này, bằng cách kể lại và chứng thực cho các môn đệ rằng: “Tôi đã thấy Chúa”
"Gọi tên" đó là một dấu chỉ thân mật giữa Chúa Giêsu và các môn đệ, giữa những người mục tử tốt lành và đoàn chiên. Người mục tử tốt lành nhận biết từng con chiên của mình, và Ngài gọi tên từng con chiên một và cho chúng vào hưởng niềm no thỏa trong đồng cỏ xanh tươi. Không chỉ riêng Madalena, nhưng mỗi người Kitô hữu đều được tặng ban món quà này. Lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy là họ đã được gọi tên, được đổi mới, được nâng lên hàng con cái dấu yêu của Thiên Chúa, được thông phần vào sức sống Phục Sinh trong nhiệm thể Ðức Kitô.
Chỉ khi Chúa gọi đích danh tên của bà và lôi kéo bà ra khỏi nỗi buồn quá khứ để bà sống cuộc sống hiện tại với sự hiện diện của Chúa Phục Sinh, thì bấy giờ bà mới có thể vui mừng và nhận ra Ngài.
Tình cảm của Maria Mađalêna với Chúa Giêsu hết sức sâu đậm. Bà là một trong những người đã ở lại dưới chân Thánh Giá khi Chúa Giêsu tử nạn. Khi Chúa sống lại, bà là người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh.
Qua Tin Mừng hôm nay, Maria Mađalêna đã khóc khi không thấy xác Chúa Giêsu. Thiên thần hiện ra tước mắt, bà cũng coi như không. Chính Chúa ở trước mặt mà bà cũng tưởng là người giữ vườn. Nhưng rồi khi Chúa giúp bà nhận ra Chúa, bà đã hớn hở chạy đi báo tin cho mọi người ngay. Đối với Maria Mađalêna, Chúa Giêsu là tất cả. Không có Chúa, cuộc đời bà vô nghĩa. Gặp lại Chúa là có lại tất cả.
Lý do khóc của bà xem ra thật đơn giản! Nỗi buồn về cái chết của Chúa đã chết xâm chiếm trọn vẹn tâm hồn bà và bà đi tìm Chúa nơi kẻ chết. Mà Chúa thì đã phục sinh, Chúa không còn ở trong quá khứ của sự chết nữa. Bởi vậy, bà không thể nhận ra được Chúa Phục Sinh khi tâm hồn bà vẫn trĩu nặng với nỗi buồn về một biến cố trong quá khứ.
Được thấy và gặp lại người mình yêu mến sau một thời gian xa cách, có thể nói, là nỗi vui mừng ai cũng mong ước. Nếu thế thì được gặp lại Chúa Giêsu, người Thầy kính yêu, vì yêu thương con người, chấp nhận hy sinh chết trên thập giá để đem lại ơn cứu độ, chắc hẳn phải là một niềm hân hoan khôn tả. Quả đúng như vậy! Niềm vui sướng vô bờ đã tràn ngập nơi Maria Mácđala, khi bà được Chúa Giêsu Phục Sinh gọi đúng tên mình, cho bà nhận ra vị Thầy thân thương ngày nào. Tuy vậy, niềm vui được gặp Chúa Phục Sinh không phải để giữ riêng cho mình, nhưng phải ra đi để loan báo. Maria Mácđala đã vội chạy đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa và Người đã nói với tôi.”
Trong cuộc sống, có lắm phen ta trải qua những thất bại đau đớn ê chề, chán nản, mất phương hướng, cảm thấy cuộc đời không còn ý nghĩa. Bản thân muốn buông xuôi tất cả, giống như ngôi mộ đã được một tảng đá niêm phong, chắn lại, chẳng còn gì để hy vọng. Tất cả đã chấm dứt, ngoài tâm trạng buồn chán, thổn thức khôn nguôi.
Nhiều khi ta buồn về chuyện này chuyện kia trong cuộc sống thường nhật xâm chiếm trọn vẹn tâm hồn chúng ta khiến cho chúng ta không tìm được niềm vui đích thực của người Kitô hữu, niềm vui của những con người đã được Chúa Phục Sinh mang đến một sự sống vi diệu, mới mẻ nơi thiên giới. Với một tâm trạng suốt ngày chỉ biết quanh quẩn trong nỗi lo lắng, u sầu với cuộc sống tình cảm, vật chất ở mặt đất này, thì chẳng bao giờ ta nhận ra được Chúa Phục Sinh, chẳng bao giờ ta cảm thấy đời mình bình an, thư thái với thực tại vĩnh cửu nơi thiên quốc mà Chúa Phục Sinh mang lại cho ta.
Mệnh lệnh cuối cùng Chúa Giêsu truyền lại cho các tông đồ của người là: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.” Ngày nay, Tin Mừng của Chúa đã lan rộng trên thế giới, nhưng vẫn còn nhiều nơi và nhiều người chưa biết đến Chúa Giêsu và sự phục sinh của Người. Vì thế lời mời gọi của Chúa năm nào giờ đây cũng hết sức tha thiết đối với người theo chân Chúa. Để Tin Mừng thực sự là tin mừng thì mầu nhiệm Phục Sinh không chỉ dừng lại ở cái biết, nhưng phải thực sự đi vào kinh nghiệm, vào tâm hồn của mỗi người.
Sư sống Phục Sinh này không phải chỉ là một đóa hồng tạm bợ, chỉ hồi sinh con người trong thời gian ngắn ngủi, nhưng là đóa hồng vĩnh cửu có thể cho con người sống đúng địa vị làm người, làm con Thiên Chúa đến muôn đời. Con người chỉ trở nên buồn thảm, câm nín là vô hồn khi họ không biết nâng niu, quí chuộng mà bỏ xa sự sống Phục Sinh của Ðức Kitô.
Ngày ôm nay, với ta, Chúa Giêsu phục sinh luôn hiện ra qua các biến cố trong cuộc đời ta, qua các công việc thường ngày của ta. Nhưng ta lại không nhận ra Người, không thấy Người vì đức tin của ta vẫn còn kém cỏi.
Cuộc sống hôm nay luôn ồn ào, tất bật, vội vã. Tâm hồn luôn ta bị cuốn hút vào biết bao thú vui trần thế, và những ham muốn tầm thường. Ta không biết khóc thương cho chân lý, cho niềm tin vào Thiên Chúa qua những biến cố Chúa vẫn đang gửi đến trong cuộc đời của mình.
THỨ TƯ TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Lc 24, 13-35
CHÚA ĐANG HIỆN DIỆN GIỮA ĐỜI TA
Tin Mừng hôm nay ghi lại cảm nghiệm về Ðấng Phục Sinh của hai người môn đệ đang trên đường đi về lành Emmaus. Cuộc gặp gỡ của họ với Chúa Kitô Phục Sinh đã diễn ra trong lúc họ đang trên đường trở về làng cũ trong tâm trạng chán nản, buồn bã. Chúa Giêsu đã xuất hiện, không phải để mang lại giải đáp cho những câu hỏi được đặt ra, mà trái lại, Người gây nên thắc mắc và dẫn họ đi cho đến cùng sự tìm kiếm của mình.
Giữa những tuyệt vọng đang giày xé tâm hồn hai môn đệ trên đường Emmaus, một người lạ mặt tiến đến và trao đổi thân tình với các ông. Hai ông hăng say trình bày về những búc xúc, buồn sầu trong lòng của mình. Tâm hồn của các ông được ấm áp hơn khi có ai đó cùng sẻ chia, lắng nghe nỗi niềm của mình. Chúa Giêsu giải thích dần dần Kinh Thánh cho các ông, làm cho tâm hồn các con được hâm nóng lại và nhận ra Người trong lúc “bẻ bánh”.
Niềm hy vọng của các ông lại được thắp sáng và càng mạnh mẽ hơn trước. Các ông hân hoan lên đường trở lại Giêrusalem. Cuộc hành trình trở về làng đầy trĩu nặng ưu tư, phiền muộn đã trở thành hành trình chan chứa niềm vui và hy vọng vì được gặp Chúa Phục sinh.
Giữa những tuyệt vọng, đau khổ của cuộc đời, người tín hữu được mời gọi sống niềm hy vọng và loan truyền niềm hy vọng ấy. Cuộc sống của người tín hữu không chỉ là những giây phút tuyệt vọng, đau khổ của chiều thứ Sáu u buồn, mà còn là những phút giây ngập tràn niềm vui của ngày Chúa Nhật Phục Sinh vì có Đấng Phục Sinh luôn đồng hành trên mọi nẻo đường đời.
Cảm nghiệm về Ðấng Phục Sinh của hai người môn đệ đang trên đường đi về làng Emmaus cũng có thể diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người tín hữu Kitô. Ðấng Phục Sinh luôn là người đồng hành với chúng ta. Trên mọi nẻo đường của cuộc sống chúng ta, Ngài luôn đi bên cạnh kể chuyện, hỏi han, tra vấn và tham dự vào mọi sinh hoạt của chúng ta. Cuộc sống của mỗi ngày chính là nơi Ngài đến để gặp gỡ con người.
Cuộc sống mỗi ngày mới là nơi hẹn hò của Ðấng Phục Sinh với con người, là bởi vì cuộc sống ấy không bao giờ có thể làm cho con người thỏa mãn. Bên kia niềm vui và nỗi khổ, bên kia thành công và thất bại, con người vẫn nhận ra sự vong thân và thân phận nghèo hèn của mình. Nỗi khao khát về tuyệt đối con người không thể thỏa mãn được trong cuộc sống này, hoặc nếu có tìm cách xoa dịu thì lại tuyệt đối hóa những giá trị chóng qua của cuộc sống, để rồi cuối cùng vẫn thấy mình bị vong thân và bất lực. Bất lực trước cảnh khốn cùng, bất lực trước chiến tranh nghèo khổ, bệnh tật, bất lực trước hận thù, ích kỷ và nhất là bất lực trước cái chết. Sống trong thân phận ấy, con người không khỏi nêu lên câu hỏi: "Ðâu là ý nghĩa của tất cả những điều đó? Ðâu là ý nghĩa của thân phận con người?"
Chính lúc ấy, Chúa Kitô Phục Sinh xuất hiện, Ngài đến không phải để mang lại câu giải đáp, mà trước hết, như một con người giữa chúng ta, một con người cũng từng nêu lên những câu hỏi ấy, và cũng đã từng nổi loạn trước những nghiệt ngã của thân phận con người. Ngài đã từng mơ ước về một nhân loại tốt đẹp hơn. Ngài đã nói tất cả và đã làm hết sức có thể để xây dựng nhân loại ấy. Và cuối cùng, với cái chết đau thương trên thập giá, xem ra Ngài cũng đành bó tay bỏ cuộc. Nhưng chính lúc ấy, vì đã vâng phục Chúa Cha một cách tuyệt đối để sống tận kiếp người và sống trọn vẹn cho con người, Ngài đã mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.
Chúa đã đến cùng đồng hành với họ, nhưng họ không nhận ra Chúa Giêsu. Ngài bắt chuyện và hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau chuyện gì vậy?”. Một người trong họ đáp: “Chắc ông là người duy nhất ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện xảy đã ra trong thành mấy bữa nay”. Chúa Giêsu hỏi “chuyện gì vậy?”.
Sau khi nghe Chúa hỏi, họ trình bày về ông Giêsu là một ngôn sứ người Nazareth, đầy uy thế trong việc làm và lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân, thế mà các thượng tế và thủ lãnh Israel đã nộp Người, để Người bị án tử hình và đóng đinh vào thập giá. Có mấy phụ nữ ra mồ không thấy xác Ngài và họ nói có Thiên Thần hiện ra bảo họ “ Ngài vẫn sống” một vài anh trong chúng tôi cũng ra mộ và thấy mọi sự như các phụ nữ đã nói, nhưng họ không thấy Ngài. Chúa Giêsu nhắc lại lời Người đã loan báo trước đây về số phận Đấng Cứu Thế “Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, sẽ bị các trưởng lão và các văn sĩ chê chối, sẽ bị giết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại” ( Lc 9, 22; Lc 17, 25 ).
Hơn thế nữa, Chúa Giêsu Phục Sinh còn nhắc đến ông Môsê và lời các tiên tri làm thành những phần chính yếu trong kinh thánh thường được đọc ở Hội đường, đặc biệt là ( Is 53 ) nói về người tôi tớ đau khổ để làm chứng cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Ngài dần dần soi lòng mở trí cho hai ông, để hai ông ngộ được các biến cố, giúp hai ông khám phá Mầu Nhiệm Vượt Qua. Ánh sáng dần dần tỏ rạng trong tâm trí của hai ông và một ngọn lửa nội tâm sưởi ấm tâm hồn hai ông , như họ đã xác nhận “lòng họ rạo rực lên”. Đức Giêsu đã thắp sáng lại niềm tin của họ.
Có một nét đẹp mà ta thấy là Chúa Giêsu ở lại với họ khi Ngài giả vờ Ngài còn đi xa hơn nữa. Đây là cử chỉ có tính cách đề nghị và mời gọi hai môn đệ đón nhận Ngài. Chúa Giêsu đáp lại lời mời gọi của họ bằng việc bẻ bánh ra và mạc khải con người của Ngài “Ngài cầm lấy bánh dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ” Chúa Giêsu diễn lại bữa tiệc ly, thiếp lập bàn tiệc Thánh Thể. Đoạn Ngài biến mất và họ đã nhận ra Ngài, ngay lúc đó họ được biến đổi từ thất vọng đến hi vọng, họ chỗi dậy trở về Giêrusalem với anh em để báo tin cho họ: Chúa Giêsu đã sống lại thật rồi, và các tông đồ cùng thuật chuyện Chúa đã hiện ra với Phêrô, vị thủ lãnh các tông đồ.
Ðây chính là kinh nghiệm mà người bạn đồng hành, Chúa Giêsu Phục Sinh, đã chia sẻ cho hai người môn đệ trên đường Emmaus. Tâm hồn họ nóng bừng lên khi Ngài chia sẻ kinh nghiệm của Ngài, và nhất là khi Ngài nói lên ý nghĩa về cái chết của Ngài qua cử chỉ bẻ bánh và trao ban. Mắt của hai người môn đệ đã mở ra để nhận biết Ngài, hiểu được các biến cố vừa xảy ra, và dĩ nhiên thấy được ý nghĩa của chính cuộc sống của họ.
Ngày nay, trong từng biến cố của cuộc sống chúng ta, Chúa Kitô Phục Sinh cũng đang đến và đồng hành với chúng ta trong từng sinh hoạt và gặp gỡ của chúng ta. Ngài có mặt trong từng niềm vui và nỗi khổ của chúng ta. Nếu chúng ta đón nhận Ngài như người bạn đồng hành, chuyện vãn và chia sẻ với chúng ta, đôi mắt đức tin của chúng ta sẽ mở ra, và lúc đó, trong ánh sáng Phục Sinh của Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.
Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện của Chúa trong Thánh Kinh và Thánh Thể. Ngài hiện diện cách vô hình chúng ta chỉ nhận ra Ngài bằng đức tin. Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta trong cuộc lữ hành về quê trời, chúng ta phải biết lắng nghe lời Chúa, học hỏi, suy niệm Kinh Thánh, để lòng chúng ta được sưởi ấm, mắt đức tin chúng ta mở ra để nhận ra Chúa Giêsu trong Thánh Thể, và thể hiện niềm tin bằng việc đi đến với anh chị em của mình.
Điều cần đó là chúng ta cần tin tưởng vào Chúa, cả lúc chúng ta thất vọng chán nản. Chúng ta cũng có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa để đón nhận giáo huấn của Ngài qua các dấu chỉ nơi những người cùng đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Chúng ta siêng năng học hỏi, đọc và suy niệm lời Chúa, để củng cố đức tin và sưởi ấm tâm hồn chúng ta thêm sốt sắng đạo đức, thêm lòng khao khát gặp gỡ Chúa trong các việc đạo đức, và chúng ta trở nên những tông đồ loan báo tin mừng phục sinh cho người khác.
THỨ NĂM TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Lc 24, 35-48
GẶP GỠ ĐẤNG PHỤC SINH
Thiên Chúa tỏ mình cho nhân loại qua nhiều giai đoạn trong lịch sử dân Do Thái, nhưng cuối cùng, Thiên Chúa tỏ bày cho nhân loại qua chính Con của Ngài khi sai Chúa Con xuống làm người, như sách Do thái viết: “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1, 1-2).
Chúa Giêsu là tột đỉnh mặc khải của Thiên Chúa cho con người. Qua Chúa Giêsu, con người biết hơn về Thiên Chúa và cũng biết hơn về chính con người. Các tạo vật đều mặc khải Thiên Chúa ở một mức độ nào đó. Những nhân vật đáng kính trong lịch sử dân tộc Do Thái cũng như trong lịch sử những dân tộc khác, và nhất là trong những tôn giáo khác, cũng là chứng nhân của Thiên Chúa ở một mức độ nào đó, nhưng Chúa Giêsu là một con người đặc biệt, phản ánh Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa một cách tuyệt vời, bởi vì Ngài là chính Lời Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.
Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, trong lúc rao giảng Nước Trời cũng như sau khi sống lại, Người đã dụng ý chọn gọi một số người nên môn đệ, Tông đồ của Người để họ trở nên các chứng nhân của Người. Những người này không chỉ là những người đã thấy các biến cố đời sống, mà còn là những người đã hiểu và đã sống ý nghĩa ẩn khuất của các biến cố ấy, họ được mời gọi “là những chứng nhân về điều ấy” (Lc 14, 48).
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ là cuộc gặp gỡ trong tình yêu. Tình yêu là tâm điểm của mầu nhiệm Phục sinh mà thánh Phêrô đã lớn tiếng rao giảng ngoài công trường. Ta thấy thánh Gioan tông đồ cũng khuyến mời chúng ta cách thức sống ơn gọi tình yêu. Ngài viết : “Những ai tuân giữ những lời dạy bảo của Chúa Giêsu, nơi người ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự trở nên trọn hảo (1 Ga 2, 5). Tình yêu là tên gọi và cũng là thuộc tính của Thiên Chúa, đồng thời tình yêu cũng là thẻ căn cước để chứng minh chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu.
Trong tình yêu, con người sẽ trở thành bất tử, bởi lẽ tình yêu mạnh hơn sự chết. Trong những tuần lễ sau Phục sinh, Giáo hội mời gọi chúng ta đi sâu hơn vào quỹ đạo tình yêu của Thiên Chúa. Vì thế, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã chọn Chúa Nhật ngay sau lễ Phục sinh để tôn vinh Lòng Thương xót Chúa. Như Ngài đã từng cắt nghiã, lòng thương xót là tên gọi thứ hai của Thiên Chúa, và dưới một khiá cạnh nào đó, lòng thương xót cũng chính là cách thức bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa một cách tròn đầy.
Từ nay, các ông sẽ là những chứng nhân cho Đấng cùng đồng hành với các ông, chia sẽ vui buồn, dẫn dắt tâm hồn, thắp sáng niềm tin, đốt nóng niềm hăng say cũng như sẽ đồng bàn và trao sự sống mới trong cử chỉ thân quen.
Từ nay các ông sẽ là người loan báo Đấng Phục sinh cho anh chị em của mình bằng chứng từ của một đời sống dấn thân phục vụ. Không có rào cản nào chắn được bước chân của các Ngài nữa vì Đấng Phục sinh đang cùng họ đồng hành trên khắp mọi nẻo đường trần thế.
Chúa Giêsu đã sai các Tông đồ ra đi làm nhân chứng và truyền rao ơn cứu độ. Các Tông đồ đã xả thân mình vì đức tin. Với một sức mạnh thúc đẩy nội tâm, các ông không còn rụt rè, sợ hãi nhưng kiên vững xác tín rao giảng về cuộc đời của Chúa. Chính Chúa là lẽ sống, là đá tảng và sức mạnh. Tất cả mọi quyền lực thế gian, áp đặt của kẻ thù, bắt bớ, tù tội, gươm giáo và chết chóc không làm lung lạc niềm tin. Các tông đồ vững mạnh tuyên bố rằng: “Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Israel biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giêsu Kitô, người Nazareth, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị” (Cv 4, 10).
Nhìn vào cuộc sống của người Kitô hữu, chúng ta phải chân nhận rằng đã có quá nhiều lần chúng ta phân rẽ chi thể mầu nhiệm của Chúa. Chúng ta dựa vào niềm tin để đả phá, ghen ghét và xa tránh nhau. Lời của Thánh Phaolô nhắc nhở: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau” (1 Cr 1, 10). Sống tinh thần của Chúa Kitô Phục Sinh là sống tinh thần yêu thương trong an bình. Nhân danh Chúa Kitô, chúng ta là sứ giả của hoà bình, là nhân chứng của tình yêu và là môn đệ của sự khiêm nhường phục vụ
Mỗi Kitô hữu được sáp nhập vào Giáo Hội nhờ Bí tích Thánh Tẩy, đều được mời gọi làm chứng nhân bằng đời sống chứng tá Tin Mừng giữa đời, làm chứng cho Chúa Kitô bằng đời sống yêu thương, bác ái, công bình, cụ thể trong gia đình, ngoài xã hội. Đón nhận Tin mừng Chúa Phục sinh cũng đồng thời đón nhận sứ vụ rao giảng hoán cải và đón nhận ơn tha thứ cho mọi người. Đó là sự ủy nhiệm rõ ràng của Chúa Kitô.
Trong hành trình theo Chúa, người tín hữu có lúc phải đối diện với vô vàn khó khăn phức tạp của đời sống muôn mặt. Có những thất bại, có những chống đối làm choáng váng, ngỡ ngàng hoang mang vì Chúa Giêsu như không còn hiện diện và can thiệp. Ngài dường như bỏ mặc cho thế gian hoành hành.
Chính trong những lúc thất vọng hay bị bách hại thì Đức Kitô lại tỏ bày dấu chỉ để người tín hữu nhận ra Ngài đang hiện diện, đang đồng hành khơi lên niềm hy vọng tràn đầy. Hãy biết nhận ra Ngài qua các dấu chỉ như hai môn đệ Emmau. Hãy biết nhận ra Ngài qua từng biến cố đau đớn như Phaolô té ngựa trên đường Đamas.
Nguyện xin Chúa Kitô Phục Sinh xưa đã đồng hành với hai môn đệ trên đường trở về Emmaus, hiện ra ban bình an cho các Tông đồ, và trao ban sứ vụ chứng nhân của Đấng phục sinh. Xin Người cũng ban ơn bình an và đồng hành với mỗi người chúng ta trên bước hành trình làm chứng tá cho Tin Mừng Chúa đã sống lại. Aleluia!.
THỨ SÁU TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Ga 21, 1-14
TÌNH YÊU CHÚA DÀNH CHO PHÊRÔ - TÌNH YÊU CHÚA DÀNH CHO CHÚNG TA
Sau biến cố Phục sinh, các tông đồ trở về đời sống thuyền chài. Phêrô vẫn là người quyết định: "Tôi đi đánh cá đây". Các môn đệ khác cũng đồng tình: "Chúng tôi cùng đi với anh". Đêm ấy, không bắt được con cá nào. Trời sáng, theo lời người khách lạ, thả lưới bên phải mạn thuyền, một mẻ cá bất ngờ. Khi vừa nghe Gioan nói: "Chúa đó!"Phêrô liền nhảy xuống biển, đến với Người. Ông rất nồng nhiệt, năng nổ, hăng hái.
Qua trang Tin Mừng vừa nghe, chúng ta nhận thấy câu chuyện đã xảy ra trên bờ hồ Tibêriade, xứ Galiêa, nơi các môn đệ đã quen thuộc với nghề đánh cá. Đây cũng là nơi các ông đã được Chúa báo trước rằng: Các ông sẽ gặp Ngài tại Galilêa.
Suốt đêm hôm ấy các ông đã vất vả và cực nhọc mà chẳng đánh bắt được gì. Sáng đến, theo sự chỉ dẫn của một người lạ mặt trên bờ hồ, các ông đã đánh được một mẻ cá lớn. Mẻ cá lạ lùng này đã giúp các ông nhận ra Chúa Giêsu, Thầy của các ông. Người nhận ra Chúa đầu tiên cũng chính là Gioan, vị môn đệ được Ngài yêu thương.
Theo nhiều nhà chú giải thì mẻ cá lạ lùng này chính là một hình ảnh tượng trưng cho Giáo Hội. Thực vậy, các môn đệ theo lời Chúa chỉ dạy đã hoạt động và ngay khi không có chút hy vọng gì thì cũng vẫn có thể quy tụ mọi người từ mọi nơi thành một cộng đoàn duy nhất, vì các ông đã làm theo lời Đấng đã sống lại. Con số 153 con cá được đưa ra ở đây cũng có thể góp phần làm nổi bật ý tưởng trên. Theo thánh Hiêrônimô thì các nhà động vật học hồi xưa phân biệt được 153 loại cá.
Do đó con số này tượng trưng cho tất cả mọi thứ cá trong biển. Và như thế, dưới cái nhìn của các nhà chú giải thì mẻ lưới của các tông đồ sẽ quy tụ toàn thể gia đình nhân loại để làm thành một cộng đoàn duy nhất.
Sau khi Thầy trò đã ăn điểm tâm xong, Người bắt đầu phỏng vấn thủ lãnh Phêrô để trao cho ông sứ vụ mới: "Này anh Simon, con ông Giona, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?". Thật tình, ông rất ngượng ngùng vì ông mới chối Thầy tới ba lần, mà giờ đây Người lại hỏi ông có yêu mến Thầy không? Mới phản bội mà giờ lại nói yêu thương, quả là rất khó khăn; hơn nữa. Người lại hỏi tới ba lần! Có lẽ Phêrô đang nhớ lại lời Chúa nói trước đây: "Kẻ nào được tha nhiều thì sẽ yêu nhiều hơn". Vâng, Chúa đã tha thứ cho Phêrô ngay lúc Người quay xuống nhìn ông từ trên dinh thượng tế, khiến nước mắt ông tuôn trào.
Mẻ lưới thần kỳ nầy là để mở đường cho một giây phút gặp gỡ thân tình giữa Thầy và trò, giữa Đấng Phục Sinh và các tông đồ. Đối với Phêrô và các bạn ông thì đây không phải là gặp Chúa lần đầu. Đã có hai lần trước rồi. Và sau hai lần đó, họ vẫn tiếp tục nghề cũ. Phêrô nói: "Tôi đi lưới cá đây". Mấy người kia nói: "Thì cùng đi". Thế là họ lên thuyền ra đi, nhưng suốt đêm hôm ấy họ chẳng bắt được con cá nào! Vất vả mà chẳng được gì! Ngay lúc đó có ai đứng chờ trên bờ biển và cất tiếng gọi. Gioan, người môn đệ Chúa yêu đã nhận ra trước tiên và mách cho Phêrô: "Chúa đó!". Rồi, ùm một cái, Phêrô đã lao xuống nước, đi đến với người đang chờ mình, gọi mình.
Phêrô lại được Chúa Giêsu yêu thương một cách đặc biệt và chính tình yêu Giêsu đã cảm hoá được Phêrô cách lạ lùng. Con người bất trị đó cuối cùng đã phải thốt lên: "Thầy biết mọi sự mà, Thầy biết con yêu mến Thầy mà!" Đúng là "lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình". Một lần bị nguyền rủa là Satan, ba lần chối Chúa – chán nản, bỏ cuộc, về hưu đánh cá, coi như lòng đã chết. Giờ đây lại chỗi dậy bằng ba lần cam kết yêu thương.
Ba lần chối Chúa thì ba lần Người cho ông cơ hội để nói lời yêu thương, để tuyên xưng lại niềm tin. Ông đã không bỏ lỡ cơ hội: "Thưa Thầy có, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy". Và cũng ba lần, Người trao cho ông sứ mạng cai quản Hội thánh của Người: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy".
Sau khi đã cắt đặt Phêrô đứng đầu Giáo Hội, Chúa Giêsu cũng đã nói trước cho Phêrô được biết: Một tương lai không mấy sáng sủa đang chờ đón ông. Tương lai ấy đòi hỏi Phêrô phải dám hy sinh cả mạng sống như một chủ chăn nhân lành. Ngài nói: Khi còn trẻ, con muốn đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, con sẽ giơ tay ra và người ta sẽ dẫn con tới nơi con không muốn. Thánh Gioan đã xác nhận: Chúa Giêsu nói những lời ấy để chỉ cho Phêrô biết sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa.
Chúa Phục sinh hiện đến và cho Phêrô một cơ hội chuộc lại lỗi lầm. Sau khi đã cho các ông một mẻ lưới đầy cá và cùng ngồi ăn uống với các ông, Chúa đòi Phêrô phải công khai nói lên tình yêu của mình với Thầy Chí Thánh trước mặt các môn đệ khác. Chúa hỏi Phêrô con ông Giona, "con có yêu mến Thầy không?". Câu hỏi được lập lại ba lần như cơ hội cho Phêrô chuộc lại lỗi lầm vì tội ba lần chối Chúa. Chúa đã cho Phêrô cơ hội để nói lên lòng mình yêu mến Chúa. Chúa còn trao trọng trách cho Phêrô chăn dắt đàn chiên của Chúa, như dấu chỉ sự tín nhiệm mà Chúa đã ưu ái dành cho ông.
Cuộc đời của chúng ta đôi khi cũng giống như Phêrô năm nào. Đã nhiều lần chúng ta chối Chúa, bỏ Chúa để chạy theo danh lợi thú trần gian. Đã nhiều lần chúng ta xúc phạm tới tha nhân trong lời nói và hành động.
Và chắc chắn cũng có nhiều lần chúng ta bị mặc cảm vì những hành động tội lỗi của mình. Chúa vẫn tha thứ cho chúng ta. Chúa vẫn tạo cho chúng ta rất nhiều cơ hội để chuộc lại lỗi lầm. Chúa vẫn muốn trao cho chúng ta rất nhiều trọng trách trong việc hướng dẫn anh em. Dù rằng chúng ta không xứng đáng. Dù rằng chúng ta vẫn còn đó bản tính xác thịt yếu đuối. Chúa không muốn chúng ta mãi mãi sống trong mặc cảm tội lỗi, nhưng hãy chuộc lại lỗi lầm, hãy hết mình phục vụ cho danh Chúa được cả sáng trên trần gian.
Hình ảnh về một Giáo Hội có nền tảng là yêu thương. Chúa Giêsu không thiết lập một cơ chế, nhưng thiết lập một gia đình. Người đứng đầu Giáo Hội không phải là người chỉ huy ra lệnh, nhưng là người chăm sóc. Sức mạnh của Giáo Hội vì thế không phải ở kỷ luật, uy quyền, nhưng ở tình yêu thương. Mọi người yêu thương nhau vì lẽ là anh chị em trong một gia đình.
Để duy trì tình yêu thương, người đứng đầu phải là người yêu thương nhiều nhất. Chính vì thế, trước khi tuyển chọn thánh Phêrô làm Giáo hoàng. Chúa Giêsu đã 3 lần hỏi: "Phêrô, con có mến Thầy không?". Có yêu mến Chúa thì mới biết yêu mến anh chị em mình. Tình yêu mến là nền tảng của Giáo Hội. Bao lâu tình yêu mến còn, Giáo Hội còn vững vàng. Khi nào tình yêu mến suy giảm, Giáo Hội sẽ suy yếu.
Giáo Hội thật là một mầu nhiệm vì xét theo bề ngoài chỉ gồm những con người hữu hình, nhưng thật sự bên trong có sự hiện diện của Thiên Chúa vô hình. Sự vững mạnh của Giáo Hội không nhờ luật lệ, quân đội, hay vũ khí, nhưng nhờ tình yêu thương. Càng yêu thương, càng tha thứ thì Giáo Hội càng mạnh mẽ. Hiệu quả của Giáo Hội không ở tại việc ổn định, yên vị, nhưng ở tại mạo hiểm ra đi. Chính khi ra đi, Giáo Hội thâu lượm được nhiều kết quả. Càng gặp khó khăn, Giáo Hội càng vững mạnh vì Chúa hằng ở với Giáo Hội luôn mãi.
Thứ bảy tuần bát nhật phục sinh
Mc 16, 9-15
LOAN TIN MỪNG PHỤC SINH
Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu trao cho các Tông Đồ lệnh truyền ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Được ơn biến đổi, các Tông Đồ đã xác tín trọn vẹn vào Chúa Phục Sinh và đã lên đường truyền giáo. Các ngài đã dâng hiến mạng sống mình để chu toàn mệnh lệnh Thầy đã ban.
Những người được diễm phúc thấy Chúa Giêsu phục sinh thuộc ba nhóm khác nhau: Maria Mácđala và các phụ nữ theo Chúa, nhóm 12 tông đồ và hai môn đệ thuộc nhóm 72 môn đệ. Nhưng họ cũng có một điểm chung: tất cả đã theo Chúa, đã ở với Ngài, đã nghe lời Ngài giảng, thấy các việc kỳ diệu Ngài làm, đặt nhiều hy vọng nơi Ngài cũng như đã từng thất vọng trước cái chết của Ngài. Chúa Kitô phục sinh hiện đến để cho họ thấy rằng Đấng phục sinh hôm nay cũng chính là vị Thầy của họ hôm qua, Ngài không phải là một Đức Kitô khác, nhưng là một Đức Kitô đã đổi khác.
Chúa Giêsu hiện ra với nhóm Mười Một môn đệ và khiển trách các ông bởi vì họ đã không tin lời của những kẻ đã thấy Người sống lại. Lần nữa, Máccô đề cập đến việc cứng lòng của các môn đệ trong việc tin vào lời chứng của những kẻ đã có kinh qua với sự Phục Sinh của Chúa Giêsu.
Tại sao vậy? Có lẽ để giáo huấn ba điều. Trước nhất, đức tin vào Chúa Giêsu thì đi qua lòng tin tưởng vào những người làm chứng. Thứ hai, không ai phải nản lòng, khi mà có sự nghi ngại hoặc không tin tưởng dấy lên trong lòng. Thứ ba, để bác bỏ lời chỉ trích của những kẻ nói rằng người Kitô hữu thì ngây thơ và cả tin với bất kỳ điều gì, bởi vì nhóm Mười Một môn đệ đã rất khó khăn để chấp nhận sự thật về Chúa Phục Sinh!
Trang Tin Mừng hôm nay là một tóm kết về những lần hiện ra của Chúa Giêsu khi Ngài sống lại. Thánh Marcô nhấn mạnh đến sự cứng lòng tin của các môn đệ để làm nổi bật chứng từ của Chúa Giêsu hiện ra và mệnh lệnh phải ra đi làm chứng cho Ðấng Phục Sinh. Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn mãi mãi là một, nhưng khi hiện ra, Ngài luôn đến với hình dạng của một người xa lạ. Với bà Maria Madalena, Ngài hiện ra như một người làm vườn; với hai môn đệ đi về làng Emmaus, Ngài đồng hành như một lữ khách xa lạ; với các môn đệ chài lưới, Ngài xuất hiện như một người mà họ cũng không nhận ra ngay tức khắc.
Niềm tin vào Ðấng Phục Sinh luôn đòi hỏi các môn đệ phải làm một bước nhảy vọt để từ một người xa lạ, nhận ra dung mạo của Thầy mình. Từ hai ngàn năm qua, chứng từ về Ðấng Phục Sinh cũng luôn diễn ra như thế, từ cuộc sống của cộng đồng tín hữu tiên khởi, qua cái chết của các vị tông đồ đến cuộc tử đạo, của không biết bao nhiêu các tín hữu ở mọi thời đại, cuộc sống tin cậy mến ở mọi nơi là một chứng từ sống động và liên lỉ về Ðấng Phục Sinh.
Niềm tin vào Ðấng PhụcSinh và chứng từ về Ngài luôn được diễn tả bằng một cách sống mới trong cộng đồng. Sách Tông Ðồ Công Vụ ghi lại một bức tranh vô cùng sống động về cuộc sống mới trong Ðấng Phục Sinh ấy. Sự bình an được Ðấng ban tặng đã tạo ra một cộng đồng hòa giải, nghĩa là một nhóm tín hữu sống trong hài hòa hiệp nhất và chia sẻ của cải cho nhau.
Nét nổi bật của cộng đồng này không hẳn là nghèo khó, bởi vì trong đó, không ai phải thiếu thốn điều gì, mà chính là tình yêu thương của mọi người. Của cải vật chất, thay vì là đối tượng của sự chiếm hữu ích kỷ và do đó là nguyên nhân của tranh chấp chia rẽ, đã trở thành bí tích của tình bạn và huynh đệ. Tựu trung, mối Phúc Thật mà Chúa Giêsu tuyên bố khi hiện ra với thánh Toma "Phúc cho những ai không thấy mà tin" không loại trừ đòi hỏi phải được thấy một cách cụ thể chứng từ về Ðấng Phục Sinh trong Giáo Hội, và chứng từ ấy thiết yếu là chứng từ về tình yêu huynh đệ.
Tin Mừng hôm nay kết thúc với lời sai đi: “Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài!” Chúa Giêsu trao cho các môn đệ sứ vụ đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.
Lệnh truyền ra đi rao giảng Tin Mừng không chỉ dành riêng cho các Tông Đồ xưa, nhưng cho cả Giáo hội và cho mỗi người chúng ta. Đó là căn tín của Giáo Hội và suốt chiều dài lịch sử, Giáo Hội không ngừng rao truyền Tin Mừng cứu độ cho muôn dân dù luôn ý thức thân phận mỏng dòn của con người. Chúa cũng trao phó sứ mạng quan trọng này cho mỗi người chúng ta, mặc dù Chúa thấu hiểu chúng ta yếu đuối bất toàn. Chúng ta đã ý thức và thực thi sứ mạng này thế nào?
Giáo Hội là thân thể mầu nhiệm của Ðấng Phục Sinh, Ngài chỉ thực sự được nhận diện trong thân thể ấy qua cử chỉ trao ban mà thôi. Chính vì thế mà trọng tâm và cao điểm của Giáo Hội chính là cử hành Thánh Thể. Giáo Hội lập lại cử chỉ trao ban của Chúa Giêsu, nhưng cử chỉ ấy sẽ không diễn tả trọn vẹn dung mạo của Ðấng Phục Sinh, nếu nó không được nối dài và diễn tả cùng cuộc sống trao ban cụ thể của Giáo Hội và của các tín hữu Kitô. Cuộc đời của người tín hữu Kitô phải là một thánh lễ nối dài để mãi mãi mô tả dung mạo của Ðấng Phục Sinh.
Tin Chúa Giêsu Phục Sinh cũng không dễ đối với chúng ta hôm nay. Lòng cứng tin của các Tông đồ lại là may mắn cho chúng ta. Nếu các ông dễ tin, ngày nay chúng ta có thể nghi ngờ các ông lầm vì cuồng tín. Nhưng vì các ông khó tin là chứng chắc chắn để chúng ta tin Chúa Giêsu Phục Sinh.
April 13, 2023