Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa Nhật II Phục Sinh, Năm A-2023

 

Chúa Nhật II Phục Sinh - Kính Lòng Thương Xót Chúa 2023

St 2:42-47; Tv 118:2-4,13-15,22-24; 1 Pr 1:3-9; Ga 20:19-31

PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN

          Chúng ta vừa tưởng niệm cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu. Cái chết và sự phục sinh của Người là nguồn mạch ơn cứu độ cho trần gian. Chúa Giêsu cũng là vị Lương Y thần thiêng. Trong lúc rảo khắp xứ Galilêa để rao giảng Tin Mừng, Người đã chữa lành biết bao người đau ốm đủ mọi chứng bệnh khác nhau, thậm chí một vào trường hợp đã chết, Chúa đã cho sống lại. Chính Người đã sống lại vinh quang, ra khỏi nấm mồ tối để chiếu ánh sáng hy vọng cho con người.

          Dưới cái nhìn trần gian, người ta nghĩ rằng Chúa đã chết là hết mọi chuyện. Nói đến một người đã chết mà sống lại, người ta coi như chuyện tầm phào. Điều này chẳng có gì mới, vì ngay như ông Tôma, một trong Mười hai tông đồ, cũng chẳng tin Thày mình đã sống lại. Vì vậy, ông thách thức và tìm những bằng cớ cụ thể nhãn tiền thì ông mới tin. Nếu trước đây Tôma đã ra điều kiện để tin, thì nay Chúa chấp nhận những điều kiện thách thức ấy. Khi Đấng Phục sinh hiện đến, ông Tôma chẳng còn lòng dạ nào mà xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Đúng hơn, ông chẳng cần làm những điều đó, vì Chúa đang ở trước mặt ông bằng xương bằng thịt và đang nói với ông: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.

          Chúa Giêsu an nghỉ trong mồ. Đó là thời gian đặc biệt ý thức thời gian nếu Chúa vắng mặt, sự dữ, bóng tối lộng hành. Các tông đồ về căn phòng đóng kín, sợ hãi. Sự vắng thiếu Thiên Chúa trong thời đại của chúng ta cũng gây nên những điều khiếp sợ. Không có Thiên Chúa, con người chỉ có sự chết gieo vào trong mọi mặt đời sống, chiến tranh sinh học, virus, không cần nhiều bom đạn, sự chết cũng tràn lan, nền kinh tế đi vào suy thoái. Văn minh mặt nạ, khoảng cách giao tiếp,  và máy thở phát triển. Trong thời gian đặc biệt này, nhiều người, nhiều quốc gia ý thức về đời sống cầu nguyện, xin Chúa nghiêng trời ngự xuống cứu giúp, thương xót nhân loại cần có Chúa hiện diện, phá tan âm mưu đen tối của con người ác hại.

          Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với các môn đệ khi các ông sợ người Do Thái truy lùng, bắt bớ, nên tất cả cửa nẻo nơi các ông ở đều đóng kín, khóa chặt (x. Ga 20,19). Các ông đang rất sợ: sợ mọi người, sợ bất cứ chuyện gì, vì các ông vừa qua một cơn giông bão dữ dội, khủng khiếp, ở đó toàn bộ giáo lý của lòng thương xót đã bị xóa bỏ, toàn bộ công cuộc của lòng thương xót đã bị phá hủy, tiêu tan, và Chúa Giêsu, Thầy của các ông, Thiên Chúa của lòng thương xót đã bị giết chết thảm thương, ô nhục. Bao nhiêu cố gắng rao giảng lòng thương xót, bao nhiêu phép lạ làm chứng Thiên Chúa là Đấng xót thương, bao nhiêu con người đã được lòng thương xót chở che, chữa lành, ủi an, nâng đỡ nay không còn gì, không còn một ai. Chính cái trống vắng phũ phàng, phản bội của đám đông hôm nào hoan hô, ủng hộ đã làm các ông sợ ; chính cái tiêu điều trở mặt của nhiều người đã nhận lòng thương xót từ bàn tay Chúa Giêsu đã làm các ông ngao ngán tình đời, và muốn tránh xa mọi người; chính cái băng giá dửng dưng, hờ hững, làm mặt không quen, ra điều không biết của những người  trước đây đã  phủ phê hạnh phúc với lòng thương xót của Chúa Giêsu đã khiến các ông rùng mình, không còn muốn giao lưu, gặp gỡ người nào.

          Con người giết chết Thiên Chúa để làm chủ theo ý riêng mình, nhưng thực tại là ngõ cụt, sự chết của chính mình. Giáo Hội cổ xưa đã dùng cụm từ này như thánh thi dành cho những người tân tòng khi chịu phép rửa: “Ta không dựng nên người cho ngục tối. Hãy chỗi dậy, và Đức Kitô sẽ ban cho người ánh sáng”. Đấng Phục Sinh bước ra từ ngục tối, đã mang lấy bóng tối của Adam xưa, cùng một dòng dõi con người để sống lại trong Adam mới. Đấng đã mang lấy tất cả để trở nên tất cả cho mọi người, như lời tiên tri Isaia đã loan báo: “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi mang ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is, 49,6).

          Chúa bước ra khỏi mồ là một hành trình mới, Người về cùng với Chúa Cha. Con người cũng được ở trong Chúa Giêsu Kitô phục sinh, sẽ bước ra từ ngục tối trần gian của mình để bước tới phía trước, phía bình minh chiếu rạng, về cùng với Thiên Chúa. Từ nay, con người của phục sinh là con người đi tìm “sự công chính và Nước Thiên Chúa”. Tìm gặp Chúa cũng là tìm gặp lại anh chị em của mình là những con người cùng chung sống trong hạnh phúc và yêu thương.

          Như Tôma phủ phục thưa với Chúa Giêsu: “Lay Chúa của con, lậy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28), sau khi ông hiểu ra: Đức Giêsu chính là Thiên Chúa của lòng thương xót, Thiên Chúa đang mang trên mình thương tích của lòng thương xót mà ông đã được sờ tận tay, thấy tận mắt, chúng ta cùng nài xin Chúa ban cho chúng ta đức tin để dám tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa của lòng thương xót, dám đón nhận và sống ơn gọi Kitô hữu là “nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48), bằng  thương xót như Chúa Cha là Đấng giầu lòng thương xót, bởi tin là tin Thiên Chúa của lòng thương xót, tin Thiên Chúa luôn rộng lượng xót thương, tin Thiên Chúa  xót thương  ai có lòng thương xót, tin duy nhất Lòng Thương Xót mới ban ơn Bình An, và chúng ta sẽ là những người được Thiên Chúa chúc phúc, vì  đã “không thấy mà tin”.

           “Phúc cho ai không thấy mà tin!”. Vâng, giữa thảm họa của cuộc sống kinh tế khó khăn , càng cần hơn nữa Đức tin để chúng ta đáng được Chúa xót thương, can thiệp cứu vớt. Trong ngày Đại lễ Kính Lòng Thương xót của Chúa, chúng ta hãy cùng đồng thanh kêu xin: Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới! 

Huệ Minh 2023

 

Chúa nhật II Phục Sinh 2020

CHÚA NHẬT LÒNG CHÚA TxHƯƠNG XÓT

SỐNG LÒNG XÓT THƯƠNG

            Lời Thánh vịnh 117 vang lên trong suốt tuần bát Nhật Phục Sinh: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 117, 1). Trong suốt dòng lịch sử, dân Israel luôn nghiệm thấy Thiên Chúa là Đấng nhân từ, giàu lòng xót thương. Và trong suốt dòng lịch sử, tội lỗi loài người tràn lan, chồng chất, nhưng vì yêu thương, Thiên Chúa đã sẵn sàng tha thứ khi con người hối cải. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong thế giới chính là sự hiện diện của Thiên Chúa Tình Yêu và Giàu Lòng Thương Xót.

            Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa, Giáo hội lặp lại câu Thánh Vịnh mà suốt cả tuần Bát Nhật Phục Sinh toàn thế giới ca vang: "Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở" (Tv 117, 1). Lòng từ bi mạnh hơn tội lỗi và sự chết, ngày nay, nhân loại vẫn đang tiếp tục thừa hưởng lòng từ bi tuôn trào từ những vết thương vinh hiển và từ Trái Tim của Chúa, nguồn mạch không bao giờ cạn.

            Nhân dịp phong thánh cho nữ tu Maria Faustina Kowalska, ngày 30/4 năm 2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đặt tên cho Chúa nhật tiếp liền sau Đại Lễ Phục Sinh là Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa, kính nhớ việc Chúa Kitô tỏ cho thánh Tôma thấy cạnh sườn, nơi trào ra nước và máu, suối nguồn ân sủng. Truyền thống Giáo hội đã coi đây như là nguồn gốc của bí tích hòa giải, nơi mà con người cảm nhận được sự tha thứ do lòng thương xót Chúa.

            Cử chỉ trao ban bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh cho các môn đệ, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông: " Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" (Ga 20, 21- 23).

            Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân "tha thứ các tội lỗi" diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi phục sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa. Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới.

            Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi, tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng. Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới ngày nay đầy những thương tích về thể lý, tâm lý và luân lý cần thiết biết bao lòng thương xót của Thiên Chúa!

            Khi sống lại, Chúa đã ban cho các tông đồ sự bình an: "Bình an cho các con". Sự bình an này làm cho các tông đồ thực sự được vui mừng. Các tông đồ được vui vì thấy Chúa, rồi Chúa trao ban cho các tông đồ Chúa Thánh Thần, quyền năng tha tội và sai các ông ra đi làm chứng cho Chúa. Các tông đồ có thể nói được trong giai đoạn này - trong phần thứ nhất của đoạn Tin Mừng - đã tin phần nào và đã chia sẻ cho Toma: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa", nhưng Toma không tin và đòi kiểm chứng một cách cụ thể. Có thể nói, đây là giai đoạn thứ hai của cộng đoàn. Thái độ cứng lòng tin của Toma đã gây chia rẽ hay làm yếu kém đi sức mạnh làm chứng của cộng đoàn cho Chúa Phục Sinh. Một cộng đoàn chia rẽ như vậy thì chắc chắn không thể nào có sự bình an, không thể nào có niềm vui để làm chứng cho Chúa Phục Sinh.

            Qua Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan tường thuật lại sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với các Tông đồ. Khi hiện ra, Ngài trao ban cho các Tông đồ bình an của Chúa, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” (Ga 20, 21-23).

            Chúa Phục Sinh hiện diện ở giữa chúng ta, Ngài là trung tâm liên kết và nâng đỡ sự hiệp nhất của cộng đoàn chúng ta, Ngài là nguồn mạch của sự bình an và niềm vui của cộng đoàn chúng ta. Chúa Phục Sinh ban cho cộng đoàn các đồ đệ đầu tiên sự bình an, Chúa Thánh Thần và sức mạnh làm chứng cho Chúa. Đó là một cộng đoàn lý tưởng cho tất cả mọi cộng đoàn Kitô khác rải rác khắp nơi trên thế giới, qua muôn thế hệ. Đó là một cộng đoàn lý tưởng, trong đó niềm vui và sự bình an đã thay thế cho sự u buồn thất vọng: thấy Chúa các tông đồ đều vui mừng.

            Và niềm vui, sự bình an này luôn luôn là dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa. Nhưng vì là những con người cụ thể, như chúng ta đây, mỗi người đều có những giới hạn của mình và cộng đoàn của chúng ta, cộng đoàn của các môn đệ Chúa chắc chắn phải trải qua những thử thách, những trở ngại.

            Chúa Giêsu trao phó cho các Tông đồ hồng ân “tha thứ” diễn tả Lòng Xót Thương vô bờ của Thiên Chúa, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và từ cạnh sườn bị đâm thâu. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, và sau khi Phục Sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau. Thật không thể nào hiểu hết được Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

            Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi. Tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải và tái tạo tâm hồn, mang lại cho ta niềm hy vọng. Đó là Tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới ngày nay đang rất cần Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

            Vâng! “Tình thương Chúa tồn tại muôn đời”. Cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô đã thay đổi tận căn số phận của nhân loại và mỗi người chúng ta. Đây là điều kỳ diệu thể hiện trọn vẹn Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Cha, một Tình yêu không ai hiểu thấu, Đấng vì phần rỗi chúng ta, và để cứu chúng ta, Chúa đã ban Con Một Yêu Dấu của Ngài cho chúng ta.

            Chúng ta đang sống trong niềm vui Phục Sinh. Chúng ta hãy giữ sao cho tâm hồn chúng ta luôn bình an trong Chúa. Chúng ta cũng đang nếm cảm Lòng Thương Xót Chúa thì chúng cũng cần sống Lòng Thương Xót Chúa: biết cảm thông và chia sẻ những nhu cầu của tha nhân; là đem yêu thương vào nơi tranh chấp và hận thù; là cùng chia sẻ cơm áo gạo tiền cho người đói khổ; là sống thứ tha và quảng đại với hết mọi người.

Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mùa Phục Sinh

Cv 4:23-31; Tv 2:1-3,4-6,7-9; Ga 3:1-8

TÁI SINH

          Mầu nhiệm Phục sinh gắn liền với cuộc thanh tẩy trong Thần khí. Bí tích Thánh Tẩy  liên kết chặt chẽ với Đức Kitô Phục sinh. Chính vì thế Phụng vụ cho ta suy niệm biến cố Đức Giêsu gặp gỡ Nicođêmô trong Tin mừng Gioan.
Trang Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô về ơn tái sinh. Nhờ cuộc tái sinh này, con người được gia nhập vào Nước Thiên Chúa.

          Chúa Giêsu khẳng định rằng: "Thật, Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai được thấy Nước Chúa".

          Ông Nicôđêmô chưa hiểu lắm về ý nghĩa của hai chữ “tái sinh”. Ông chỉ hiểu như là hai từ đó như phải sinh lại một lần nữa theo con đường tự nhiên, giống như người mẹ sinh con cái. Tuy nhiên, ở đây, Chúa muốn hướng ông đến một cuộc tái sinh thiêng liêng, thuộc tinh thần, hơn là một sự sinh hạ thể lý tự nhiên. Đó là sự sinh lại “bởi trời”, một sự tái sinh mới bởi “nước và Thánh Thần”, thì mới được vào Nước Thiên Chúa.

          Qua những lời dạy của Chúa Giêsu về ơn tái sinh, Chúa dạy chúng ta nhớ đến Bí tích Thánh tẩy mà chúng ta lãnh nhận từ khi còn thơ bé.
Bí tích Thánh Tẩy làm cho người tín hữu chúng ta được tái tạo và được phục hồi phẩm giá của mình, từ tình trạng tội lỗi, nô lệ ma quỉ, và phải chết đời đời, sang tình trạng của ơn sủng. Nay, nhờ được tái sinh trong Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, được tham dự vào đời sống vĩnh cửu của Thiên Chúa Ba Ngôi, được hưởng ơn cứu độ của Chúa Giêsu qua mầu nhiệm chịu chết và sống lại, được đón nhận sự sống của Chúa Thánh Thần, và đặc biệt, được trở thành con cái của Thiên Chúa, và được gia nhập vào Hội Thánh Chúa.

          Ơn tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy, giúp chúng ta được sống một đời sống mới. Bởi thế, chúng ta phải triệt để sống xứng đáng với ơn làm con cái Chúa, phải xa lánh tội lỗi, từ bỏ nết xấu, chiều theo những đam mê bất chính; vì những điều đó dễ làm chúng ta đánh mất ơn làm con cái Chúa. Hãy luôn sống như con cái của sự sáng.
Chúa Giêsu đã từ cõi chết sống lại, Ngài chiến thắng bóng tối, sự chết và đem đến cho nhân loại ánh sáng, sự sống. Hôm nay, qua Tin Mừng theo thánh Gioan, Nicôđêmô (một thủ lãnh người Do Thái) đã đến đàm thoại với Chúa Giêsu giữa ban đêm; qua cuộc gặp gỡ chân thành này, Nicôđêmô được Đức Giêsu tỏ cho biết Ngài chính là Sự Sống thật mà mỗi người phải tìm kiếm.

          Đời sống của Chúa Giêsu gây nhiều thắc mắc cho dân chúng. Riêng đối với Nicôđêmô, ông trực giác nhận ra mối liên hệ rất gần giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa: “Thưa thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến.
Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy”. Nicôđêmô không bằng lòng nếu chỉ có được trực giác, ông muốn vượt qua mọi rào cản để gặp gỡ Chúa Giêsu. Cách hành động của Nicôđêmô phản ánh nhu cầu chính đáng của bản tính con người; như Thánh Augustinô từng nói: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa, và lòng con hằng khắc khoải cho tới khi được yên nghỉ trong Chúa”.

          Thật vậy, cũng như Nicôđêmô, chúng ta không chỉ muốn nhận biết Đức Kitô đến từ Thiên Chúa, mà còn muốn gắn kết đời mình với Đấng Cứu Độ, để được chia sẻ sự sống thật của Thiên Chúa.

          Chúa đã mở lối cho Nicôđêmô biết rằng: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí”. Tin Mừng đòi hỏi một hành động nhập cuộc, một cuộc sinh ra mới, đối với những ai muốn bước vào sự Phục Sinh mà Đức Kitô đem lại.

          Sống đạo hằng ngày, quan trọng nhất chính là sống tình hiếu thảo đối Cha trên trời, bằng tâm tình thờ phượng Thiên Chúa, đặt Chúa lên trên hết, tin tưởng, yêu mến và vâng phục Thiên Chúa cách tuyệt đối. Thiên Chúa yêu thương, nhân từ, khoan dung, độ lượng và chỉ làm mọi điều tốt đẹp cho con người. Vì thế, ta còn phải sống tâm tình cảm tạ, tri ân Thiên Chúa trong suốt cuộc sống chúng ta.
Sống đạo là đi theo Đức Kitô và trở nên giống Người. Muốn thế, chúng ta hãy siêng năng đọc và sống Lời Chúa dạy, để trong cuộc sống của ta, ta luôn nói, suy nghĩ, làm những điều phù hợp với Tin Mừng.

          Vì được tái sinh bởi “nước và Thánh Thần”, nghĩa là trong chúng ta luôn có Chúa Thánh Thần hoạt động. Vì thế, chúng ta luôn luôn giữ vững ơn nghĩa của Chúa, biết vâng phục ơn Chúa Thánh Thần soi sáng qua tiếng nói của lương tâm ngay thẳng, sống theo chân lý, sống theo sự thật.

          Thiên Chúa luôn chờ mong và mời gọi mỗi người chúng ta biến đổi qua từng ngày sống của mình. Không chỉ là sự biến đổi nơi thân xác yếu hèn mà Ngài cần nơi chúng ta có một sự quyết tâm căn tân đổi mới tâm hồn của mình. Hãy bỏ đi những thói quen xấu, những kiến thức làm ta xa Chúa qua sách báo xấu, mạng internet và phim ảnh xấu. Và hằng ngày chúng ta cũng phải cầu xin Thần Khí của Chúa làm việc nơi tâm hồn ta bằng việc tham dự thánh lễ và thực hành Lời Ngài dạy.

          Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đi qua một cuộc tái sinh để hoàn thiện mình hơn. Sự tái sinh trong quyền lực của Thánh Thần. Chúa nói rõ với Nicođêmô “Phải tái sinh lại bởi nước và Chúa Thánh Thần” . Chúa Giê-su ám chỉ tới bí tích Rửa tội. Nước để thanh tẩy, để làm cho sạch, cho mới. Chịu thanh tẩy bởi nước và Thánh Thần sẽ tái tạo chúng ta thành con cái Thiên Chúa.

          Xin cho các gia đình chúng ta cũng được dòng nước ân sủng tái tạo thành con người mới, con người nói không với tội lỗi, nói không với đam mê bất chính để sống xứng đáng là con cái Chúa. 

Thứ Sáu tuần 2 Mùa Phục Sinh

Cv 5:34-42; Tv 27:1,4,13-14; Ga 6:1-15

Lòng quảng đại

          Hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. Khởi đi từ lòng thương xót của Ngài: “Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philípphê: ‘Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?’"(Ga 6, 5).

          Tiếp theo là tấm lòng quảng đại của một em bé: “Có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá”, và, Đức Giêsu đã tiếp nhận tấm lòng nhỏ bé nhưng tinh thần lớn lao của em để kết hợp với lòng thương xót của Ngài, Ngài làm nên chuyện phi thường là làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi dân chúng (x. Ga 6, 11).

          Ai nấy đềuđược no nê nhờ vào tấm lòng của vị Mục Tử Giêsu và sự quảng đại của em nhỏ.

          Sự dư thừa dồi dào còn được đối chiếu với câu chuyện Cựu ước trong sách Các Vua từ tám thế kỷ trước Đức Giê-su : Ngôn sứ Ê-li-sê đã làm cho hai mươi tấm bánh hóa ra nhiều cho một trăm người ăn, Chúa cũng đã nói với ngôn sứ : "Họ ăn và còn dư '. Cùng đề tài dồi dào dư thừa do lòng quảng đại của Chúa đã được thể hiện lại trong Tin mừng thánh Gio-an ở tiệc cưới Ca-na: Phép lạ nước biến thành rượu, dồi dào đầy những chum nước lớn chứ không chỉ đầy các chai trên bàn tiệc.

          Chắc hẳn, việc Đức Giê-su ban dồi dào dư thừa đó không chỉ là rượu, bánh, của ăn vật chất, nhưng chính là Người nữa, vì Người đã nói : "Ta là cây nho thật" và “Ta là bánh ban sự sống". Tất nhiên chúng ta phải nghĩ đến phép Thánh Thể. Toàn thể mầu nhiệm về Đức Ki-tô hàm chứa trong nhưng câu: “Ta là" đã được Tin mừng thánh Gio-an ghi lại : "Ta là... ánh sáng thế gian, là mục tử tột lành, là cửa chuồng chiên, là sự sống lại và sự sống, là đường, là sự thật và sự sống". Phải là tất cả những gì chúng ta cần : bánh, rượu, ánh sáng, sự sống, che chở, hướng dẫn, Đức Giê-su là tất cả thứ đó. Thánh Gio-an thêm một định nghĩa nữa đức Giê-su là Ngôi Lời, nghĩa là Lời Hằng Sống. Với Gio-an, Đức Giê-su chính là Thiên Chúa, Đấng nói với chính Gio-an và với thế nhân, Đấng đã tự nói ra qua các tín hữu của mình... Như thánh Phao-lô đã gọi : Đức Ki-tô toàn diện, Đức Ki-tô phục sinh đã nhập thể vào tất cả các kẻ tin nhờ Thánh Thần.

          Chúng ta cần phải sống với Đức Giê-su, Đấng đã nuôi dưỡng và tái tạo chúng ta trong Thánh Thần, Đấng đã ban Thánh Thần cho chúng ta, đổi mới chúng ta luôn mãi, Đấng là nguồn mạch sự sống không ngừng, đó là nguồn suối trường sinh khôn lường. Con người mới mà thánh Phao-lô nói với chúng ta, phải thanh tẩy không ngừng, làm việc không ngừng để phụng sụ Thiên Chúa. Đang là nguồn suối chặn đứng mọi cơn khát và mọi già nua, suy thoái của chúng ta.

          Phép lạ bánh và cá được hóa ra nhiều là phép lạ duy nhất được tường thuật trong cả bốn Tin Mừng. Ðiều này chứng minh cho chúng ta biết tầm quan trọng của dấu lạ này trong toàn bộ giáo huấn của Chúa Giêsu, cũng như trong sinh hoạt của cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các tông đồ. Những người Kitô đầu tiên thường dùng dấu hiệu bánh và cá để nói lên niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Ðấng cứu rỗi thế gian, và là của ăn ban sự sống đời đời. Chúa Giêsu sẽ giải thích điểm này rộng rãi hơn trong bài giảng tiếp sau biến cố phép lạ bánh và cá được hóa ra nhiều. Chúng ta sẽ lần lượt suy niệm về những lời giảng dạy này trong những ngày tới.

          Trong những phút suy niệm hôm nay, chúng ta hãy chú ý đến thái độ của dân chúng đối với dấu lạ Chúa thực hiện. Có thể nói rằng dân chúng đã hiểu lầm ý định của Chúa Giêsu. Nói cách khác, chúng ta có thể nói rằng dân chúng đã trần tục hóa biến cố, họ hiểu biến cố trong lăng kính vụ lợi vật chất cho bản thân. Phúc Âm theo thánh Gioan ghi lại chi tiết này: "Sau biến cố, dân chúng muốn bắt Chúa đi mà tôn lên làm vua", có lẽ để tiếp tục phục vụ cho những lợi lộc vật chất, cho những tham vọng của họ.

          Thay vì biến đổi con người mình trở nên sẵn sàng hơn để lắng nghe sứ điệp của Chúa muốn nói với họ. Hãy cố gắng để được ăn của ăn không hư nát, để được sống đời đời, thì dân chúng lại giới hạn dấu lạ trong chiều kích trần tục của cơm bánh để nuôi sống thể xác mà thôi. Ðây có thể nói là một trong những cám dỗ thường hằng của con người qua mọi thời đại, cám dỗ bắt buộc Thiên Chúa phải và chỉ phục vụ cho những nhu cầu vật chất trần tục mà thôi.

          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết chia cơm sẻ bánh cho nhau, tức là sống với nhau trong tinh thần liên đới, trách nhiệm. Đạo Công Giáo không bao giờ chấp nhận chuyện mạnh ai nấy sống. Sống như thế là ích kỷ, là chỉ biết đến cái bụng mà không hề làm cho trái tim lớn lên trong tình yêu. 

          Bên cạnh đó, chúng ta còn học được bài học tin tưởng, phó thác nơi Chúa, vì có Chúa là có tất cả, không chỉ vậy, mà còn dồi dào. Hình ảnh các môn đệ “thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng” có ý muốn nói và củng cố cho chúng ta về lòng tín thác nơi Thiên Chúa. 

Thứ Hai tuần 2 PS

Ga 3, 1-8

ƠN TÁI SINH

            Trang Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh đến sự sinh lại bởi ơn trên nghĩa là sinh lại bởi Nước và Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần sẽ đến với chúng ta và biến cải đời sống chúng ta theo ân sủng của Ngài.

            Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô. Qua cuộc đối thoại này, Chúa giải thích cho ông Nicôđêmô hiểu được ý nghĩa của việc “tái sinh”; đồng thời Chúa Giêsu cũng cho ông ta biết giá trị và mục đích của việc “tái sinh”  là được làm con Chúa và được vào nước trời.

            Nicôđêmô, thủ lãnh người Do Thái, có địa vị, có học thức cao và là thành phần trong công nghị, được mọi người kính nể. Nghe những lời giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Chúa Giêsu làm, ông cảm phục, tin nhận Chúa Giêsu là tôn sư đến từ Thiên Chúa. Tuy nhiên vì có nhiều điều làm ông thắc mắc nên không ngại đêm khuya, kín đáo tìm đến Chúa Giêsu, trong khiêm tốn xin Chúa giải đáp.

            Nghe những lời giảng hay, chứng kiến nhiều phép lạ nếu để vui tai, thích mắt thì chẳng ích lợi gì nếu bản thân chúng ta không thay đổi trở nên tốt hơn. Giảng dạy và phép lạ chỉ là phương tiện, nước trời mới là đích điểm. Nhưng làm thế nào để đạt được nước trời?

            Để là người, chúng ta phải được sinh ra bởi cha mẹ. Các ngài đã truyền cho chúng ta sự sống tự nhiên. Để trở nên người, chúng ta phải được hướng dẫn giáo dục nhờ gia đình và xã hội. Nhưng để trở thành người con Chúa, chúng ta phải được sinh lại trong Chúa Thánh Thần nhờ bí tích rửa tội. Qua bí tích rửa tội Chúng ta được Chúa ban cho sự sống siêu nhiên.

            Như thế, để làm người và nên người, chúng ta phải được sinh ra theo lối tự nhiên bởi cha mẹ. Nhưng để là người con Chúa, chúng ta phải được sinh ra theo lối siêu nhiên bởi nước và Thánh Thần qua bí tích rửa tội. Nhờ tái sinh qua bí tích rửa tội, chúng ta được Chúa tha thứ tội lỗi, được làm Con Chúa, được gia nhập vào Hội Thánh, được trở nên tạo vật mới mặc lấy Đức Kitô và được kêu mời trở nên ánh sáng giữa trần đời.

            Chúa Giêsu đã chết để tiêu diệt sự chết và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng ta. Vì thế chúng ta được Chúa kêu mời chết đi cho con người cũ bất tòan, tội lỗi để sống con người mới hoàn hảo nhờ được tái sinh trong Chúa.

            Trong cuộc đàm đạo với Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã chỉ cho ông cách thức rất cụ thể để vào nước trời đó là phải “tái sinh”. Nicôđimô, chỉ hiểu tái sinh theo nghĩa xác thịt, theo cách thức tự nhiên nên ngây ngô thốt lên: “Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?”. Chứng tỏ ông không hiểu việc tái sinh theo nghĩa siêu nhiên mà Chúa Giêsu đề cập đến :“Tái sinh bởi nước và Thần Khí”.

            Vậy chúng ta cần phải làm gì? Hãy để Thần Khí được hoạt động. Bí tích Rửa Tội đã sinh lại chúng ta làm con Thiên Chúa, nhưng nếu cứ mãi làm một đứa trẻ mà không chịu lớn lên, thật chúng ta đã khởi sự trong Thần Khí nhưng lại kết thúc trong xác thịt.

            Tuy nhiên, nếu mỗi người để Thần Khí hoạt động trong cuộc sống của mình, nếu chúng ta trung thành đáp trả lại sự hiện diện của Thần Khí ở trong ta, khi đó, ta sẽ có thể mở ra một cánh cửa sổ trên những tình cảm, cảm xúc, những đam mê, và để Thần Khí chỉ cho ta cách đưa những tình cảm ấy vào việc phục vụ cuộc hành trình dài đi vào trong cõi lòng Thiên Chúa.

            Nhờ thế, một cộng đoàn thiêng liêng mới sẽ được hình thành, không phải là cái gì đặc biệt, áp đặt hay thuyết phục thế giới, mà trái lại, là một cái gì đó nhỏ bé, mai ẩn và rất khiêm tốn, hiếm khi bị thế giới phát triển nhanh này phát hiện. Đó là quà tặng lớn nhất con người có thể lãnh nhận, một quà tặng phải được nâng niu, gìn giữ cẩn thận và kiên trì đưa tới sự trưởng thành viên mãn.

            Mỗi Kitô hữu đều đã được tái sinh bởi Nước và Thánh Thần qua Bí Tích Rửa Tội. Chúng ta hãy để ân sủng Chúa Thánh Thần làm cho đức tin và đời sống đạo đức của chúng ta lớn lên và trưởng thành. Hoa trái của ân sủng được thể hiện qua đức công bình, bác ái và niềm vui.

            Qua những lời dạy của Chúa Giêsu về ơn tái sinh, Chúa dạy chúng ta nhớ đến Bí tích Thánh tẩy mà chúng ta lãnh nhận từ khi còn thơ bé.

            Bí tích Thánh Tẩy làm cho người tín hữu chúng ta được tái tạo và được phục hồi phẩm giá của mình, từ tình trạng tội lỗi, nô lệ ma quỉ, và phải chết đời đời, sang tình trạng của ơn sủng. Nay, nhờ được tái sinh trong Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, được tham dự vào đời sống vĩnh cửu của Thiên Chúa Ba Ngôi, được hưởng ơn cứu độ của Chúa Giêsu qua mầu nhiệm chịu chết và sống lại, được đón nhận sự sống của Chúa Thánh Thần, và đặc biệt, được trở thành con cái của Thiên Chúa, và được gia nhập vào Hội Thánh Chúa.

            Ơn tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy, giúp chúng ta được sống một đời sống mới. Bởi thế, chúng ta phải triệt để sống xứng đáng với ơn làm con cái Chúa, phải xa lánh tội lỗi, từ bỏ nết xấu, chiều theo những đam mê bất chính; vì những điều đó dễ làm chúng ta đánh mất ơn làm con cái Chúa. Hãy luôn sống như con cái của sự sáng.

            Vì được tái sinh bởi “nước và Thánh Thần”, nghĩa là trong chúng ta luôn có Chúa Thánh Thần hoạt động. Vì thế, chúng ta luôn luôn giữ vững ơn nghĩa của Chúa, biết vâng phục ơn Chúa Thánh Thần soi sáng qua tiếng nói của lương tâm ngay thẳng, sống theo chân lý, sống theo sự thật.

            Xin Chúa cho ta biết quý trọng những ơn ích Chúa ban trong ngày lãnh nhận bí tích rửa tội. Cho chúng ta biết từ bỏ tội lỗi, tính hư nết xấu, gìn gữ tâm hồn trong trắng, sống xứng đáng là con Chúa.

 

Thứ Ba tuần 2 PS

TIN VÀO ĐỨC KITÔ

Ga 3, 7-15

            Ông Nicôđêmô, trong trình thuật Tin mừng hôm nay, đã tìm đến với Chúa Giêsu với một tâm hồn đơn sơ, khiêm nhượng và khao khát chân lý. Chúa Giêsu đã không phụ tấm lòng chân thành của ông khi Ngài hé mở cho ông thấy một phần những thực tại Nước Trời. Có đặt mình vào vị trí của Nicôđêmô, ta mới thấy rõ tâm hồn ông đẹp như thế nào! Đường đường là một bậc thầy trong dân, ông lén lút đến gặp Chúa Giêsu – một người thua kém ông xa về địa vị xã hội - để được “thụ giáo”.

            Đã vậy, Người này trong khi giảng giải lại hay thêm vào những câu khó nghe đại loại như: “Ông là bậc thầy trong dân Israel mà ông không biết điều ấy sao?” (Ga 3,10) Đó là chưa kể những hệ luỵ tồi tệ sẽ xảy đến nếu như cuộc gặp gỡ này bị phanh phui.

            Ngày xưa, dân Israel trong sa mạc khi bị rắn độc cắn họ chẳng thể tìm ra phương cách nào để chữa trị. Chính Đức Chúa đã cứu chữa họ, Ngài truyền cho Môsê đúc một con rắn đồng và treo lên để ai bị rắn cắn nhìn lên con rắn đồng ấy sẽ được cứu sống. Ngày nay, mỗi người sau khi sa ngã phạm tội, chẳng thể nào tự mình đứng lên được nếu không có ơn Chúa nâng đỡ. Thiên Chúa giàu lòng xót thương, luôn mời gọi chúng ta nhìn lên Thánh Giá để cảm nhận được tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, từ đó, Ngài kêu gọi những ai đang sống trong tội lỗi, hãy ăn năn sám hối trở về để được hưởng ơn cứu độ.

            Qua cuộc đối thoại với Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh Môsê treo con rắn đồng trong sa mạc (Ds 21, 4-9), để mạc khải Người là Đấng Cứu Độ trần gian cũng phải được gương cao trên cây thập giá, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

            Quả thế, sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội, con người bị cắt đứt sự hiệp thông với Thiên Chúa và phải chết. Nhưng vì yêu thương con người, Thiên Chúa Cha đã sai Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người chịu khổ nạn, chịu chết trên thập giá và phục sinh để đưa con người trở lại hiệp thông với Thiên Chúa và được sống hạnh phúc muôn đời.

            Chúa Giêsu nhắc nhớ ta về sự sống trên cao và đòi buộc ta phải được tái sinh vào đời sống ấy. Một trong dấu chỉ cho thấy ta thuộc về cộng đoàn những con người được tái sinh vào đời sống mới đó là ta biết quảng đại chia sẻ vật chất với những người nghèo và tâm hồn không quá nặng nề về vật chất mà phải biết để mọi sự làm của chung như cộng đoàn Ki tô hữu tiên khởi đã làm, chứ không giành giật tất cả vào lòng mình (Cv 4, 32-37).

            Sự chân thành của Nicôđêmô làm ta nhớ lại trình thuật truyền tin cho Đức Maria. Đứng trước một tin động trời là mình sẽ có thai, Đức Maria đã đơn sơ hỏi sứ thần Gabriel rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” (Lc 1, 34) Và với tâm hồn chân thành đó, sứ thần đã giảng giải cho Đức Maria biết mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa. Cũng vậy, nếu lòng ta thực sự khát khao chân lý, Chúa sẽ chẳng để ta phải thất vọng bao giờ.

            Đức Kitô phục sinh là nền tảng của niềm tin Kitô giáo, là nguyên lý sống còncủa Giáo hội Chúa Kitô. Phủ nhận sự kiện Đức Kitô phục sinh không những sẽ làm cho tòa nhà Giáo hội lung lay, mà còn phá hủy tận gốc đức tin và niềm hy vọng được sống đời đời của người Công giáo và Kitô giáo. Nếu Đức Kitô không sống lại thì toàn bộ giáo lý của Ngài, những lời Ngài nói, những việc Ngài làm, những phép lạ Ngài thực hiện, nói chung tất cả cuộc đời của Ngài, công cuộc nhập thể và cứu chuộc của Ngài đều trở thành vô nghĩa và dối trá!

            Trong thư thứ nhất của ngài, thánh Phêrô viết : “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại, để được hưởng gia tài không thể hư hại, không thể vẩn đục và tàn phai” (1 Pr 1, 3-4).

            Tin vào Chúa Giêsu là gì nếu không phải là thực hành những điều Ngài truyền dạy trong cuộc sống yêu thương vô vị lợi, chấp nhận hy hiến bản thân mình vì tình yêu, nhờ Thần Khí hướng dẫn. Bởi vì không có tình yêu đích thực nếu không có hy sinh. Ai mong muốn hưởng hoa thơm trái ngọt của tình yêu mà không chấp nhận hy sinh, thì đó chỉ là sự mong muốn ảo tưởng và hão huyền của lòng ích kỷ. Và Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã dạy: “Không có tình yêu nào cao quí bằng tình yêu của kẻ hiến mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 13)

Vâng, để được tái sinh con người cần phải tin vào Đức Kitô, chấp nhận hy hiến bản thân, từ bỏ chính mình, chết đi cho tội lỗi và những thói hư tật xấu; như hạt giống gieo vào lòng đất, chấp nhận sự mục nát , thối rữa để làm phát sinh mầm sống mới, sống một cuộc đời mới, đơm hoa thơm, kết trái ngọt làm phong phú đất trời đem lại sự sống cho cuộc đời. (Ga 12, 24)

            “Tin vào Đức Giêsu”, không đơn giản chỉ là một lời khuyên, nhưng là một sự cần thiết để có được “sự sống đời đời”. Thế nên, chúng ta có thể hiểu được tại sao điệp khúc: “Ai tin vào người Con thì được sống” cứ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Gioan, nhất là từ chương III trở đi. Vì quả thật, đó là điều quan trọng nhất của Tin Mừng, như lời ngài viết: “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).

            Hành trình đức tin chúng ta luôn là như vậy. Chúng ta cũng vượt qua bóng tối của sự chết đến ánh sáng.  Nhưng khi đã có ánh sáng rồi, liệu chúng ta có đức tin không? Thánh Bernard de Clairvaux nói rằng “đó vẫn là một cái bóng nhưng nó có lợi”. Đối với con mắt chúng ta, một ánh sáng quá chói sẽ làm chúng ta có thể bị mù như thể chúng ta đột ngột đi từ một nơi rất tối đến một nơi khác quá sáng. 

            Như Đức Kitô đã chết và đã sống lại, Thiên Chúa mời gọi chúng ta cùng chết với Đức Kitô để được cùng sống lại với Người. Xin Thần Khí tình yêu và sự bình an của Đức Kitô Phục sinh ở cùng mỗi người chúng ta, dẫn dắt chúng ta trong cuộc sống mới của người con cái Chúa.

 

Thứ Tư tuần 2 PS

Ga 3, 16-21

THIÊN CHÚA YÊU CHỨ KHÔNG LUẬN PHẠT THẾ GIAN

            Chúa Kitô đến để cứu độ thế gian chứ không phải để luận phạt, kết án thế gian. Người đến để đem lại sự sống, và là sự sống muôn đời, viên mãn. Để thực hiện điều đó, Chúa đã hy sinh mạng sống mình, chịu lấy cái chết và là cái chết ô nhục, đau thương thảm khốc.

            Chính Chúa Giêsu Kitô là quà tặng của Chúa Cha ban cho nhân loại. Đức Giêsu là Con Một của Chúa Cha, Ngài cũng là Thiên Chúa và là Chúa chúng ta. Ngài đã tự từ bỏ chức vị và vinh quang của một Thiên Chúa, xuống thế làm Người mang lấy thân phận con người, phục vụ con người, giảng dạy làm phép lạ cứu giúp mọi người trong 33 năm, và sau cùng thí mạng sống mình chịu khổ hình chịu tử nạn trên cây thập giá, để cứu chuộc loài người khỏi án phạt tội lỗi, để họ được sống đời đời. Quà tặng ấy quý hóa và lớn lao chừng nào, thì chúng ta rõ biết tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta quý hóa và lớn lao như vậy.

            Mở đầu trang Tin Mừng, thánh Gioan đã khẳng định: "Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nổi đã ban Con Một Ngài. Nếu ai tin vào Con Một Ngài thì không phải hư mất, nhưng được cứu độ". Người Con đã cứu thoát thế gian bằng cách hiến mạng sống mình làm giá chuộc nhân loại. Cái chết trên Thập Giá là bộc lộ tận cùng của tình yêu.

            Tuy nhiên, nếu Ngài chết đi mà không sống lại thì vẫn chưa diễn tả trọn vẹn khuôn mặt của Thiên Chúa trong tình yêu. Sự Phục Sinh của Ðức Kitô nói lên quyền năng của Thiên Chúa, đồng thời tô điểm thêm ý nghĩa cái chết của Ngài.

            Một Thiên Chúa quyền năng có thể cứu thế gian không cần phải làm người hoặc chết trên Thập Giá. Thế nhưng, Ngài đã chọn phương thế này vì muốn cho con người có cảm nghiệm sâu xa về tình yêu của Ngài theo cách thức loài người.

            Giáo Hội mời gọi chúng ta hướng lòng trí, tâm hồn của chúng ta về tình yêu của Thiên Chúa, để hiểu biết và cảm nghiệm sâu xa rằng: Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta thật lạ lùng khôn tả, Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ, được sống và được hạnh phúc đời đời. Vì thế, Ngài đã hi sinh ban Con Một của Ngài cho chúng ta. Nói đến con một chúng ta nhớ đến Isaac, con một của Ápraham, chúng ta nhớ đến câu chuyện Thiên Chúa truyền dạy Ápraham sát tế Isaac, nhưng cuối cùng Ngài ngăn cản công việc ấy, Ngài chỉ dành riêng công việc sát tế cho Con Một của Ngài, để làm giá cứu chuộc nhân loại, là tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa, tình yêu ấy tràn ra trên hết mọi người.

            Ta thấy Thiên Chúa muốn nói với chúng ta, là tất cả những ai phải chọn lựa “ tin hay không tin” đứng về phía ánh sáng hay bước đi trong bóng tối. Phiên tòa lộ ra trong Tin Mừng hôm nay không phải xét xử người Dothái, nhưng là xét xử mọi người trong thế gian: “Ai tin vào Người Con của Ngài thì không phải hư mất”.

            Tin vào Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, là điều kiện cần thiết để được cứu rỗi và được sống đời đời. Tin là chấp nhận Ngài, sống theo Ngài, sống như Ngài, điều ấy đòi hỏi chúng ta tuân giữ lời Tin Mừng Chúa Giêsu rao giảng, từ bỏ tội lỗi, thói hư tật xấu để sống lại với Ngài, mặc lấy con người mới, con người của sự sáng, sống trong sự thật, sống tốt lành thánh thiện. “Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi”. Ai cố ý không chịu chấp nhận Ngôi Lời Nhập Thể, tức là không tin vào danh Con Một Thiên Chúa, là tự loại mình ra khỏi hồng ân của Thiên Chúa, và như thế họ tự kết án chính mình. “Vì Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian không phải để lên án, nhưng là đề thế gian nhờ Con của Ngài mà được ơn cứu độ”.

            Ơn cứu độ chính là ơn tha thứ tội lỗi và được tái sinh, được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn ban ơn cứu độ cho mọi người, nhưng còn tùy thuộc lời đáp trả của mỗi người, đó là một nguy hiểm của sự chọn lựa, chọn lựa giữa đức tin và sự từ chối, giữa ánh sáng và bóng tối. Sự chọn lựa được đặt ra cho hết mọi người, và đức tin không phải là một điều dễ dàng: “Ai làm điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng để các việc họ làm khỏi phải bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật thì đến cùng ánh sáng để thiên hạ thấy rõ các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa”.

            Khi yêu, Thiên Chúa không muốn gì hơn là sự đáp trả. Tình yêu nào mà chẳng cần đáp trả, chính do thái độ đáp trả hay chối từ mà con người bị luật phạt hay không, vì Thiên Chúa không sai Con người đến để xử án thế gian nhưng nhờ Ngài mà được cứu rỗi. Ðức Kitô là mặt trời công chính, Ngài đến với hết mọi người, đặc biệt là những người đang bị vây hãm trong bóng tối tội lỗi. Ngài không kết án họ, nhưng luôn giang rộng đôi tay đón mời họ trở về.

            Rất nhiều khi chúng ta không tin vào tư của Thiên Chúa, tâm tư ấy được thể hiện trong mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Kitô. Nhiều người mang trong tâm trí mình hình ảnh méo mó về Thiên Chúa, coi Người như là một vị thần ưa trừng phạt, dễ bị tổn thương, thích trả thù và hình như chỉ có một việc duy nhất là để ý xem con người sai lỗi thế nào… Nhưng Chúa Giêsu không nới với chúng ta về một vị thần như vậy. Người nói về một Thiên Chúa yêu con người đến mức độ trao ban cho họ tất cả những gì quý giá nhất, và đã hy sinh Con Một của Người vì chúng ta.

            Rất nhiều khi chúng ta tin vào Thiên Chúa đầy lòng thương xót, nhưng không mang nơi mình cái tâm hiếu sinh của chính Người. Chúng ta có khuynh hướng sát sinh, do bởi sự đổ vỡ tương quan với Thiên Chúa trong tội lụy, từ khởi thủy… Nhưng Chúa Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Người có đủ quyền năng biến đổi con tim chúng ta. Vấn đề là chúng ta phải cộng tác với Người và ơn thánh Người ban.

            Ta được mời gọi đền đáp tình yêu của Chúa bằng cách sống tốt lành thánh thiện, sống trong sự thật, hết lòng tin tưởng vào Đức Giêsu Kitô, tuân phục lời Ngài và thánh ý của Thiên Chúa mà thực thi trong cuộc sống. Đồng thời Chúa mời gọi ta biết yêu thương người khác như Thiên Chúa đã yêu thương ta, sẵn sàng trao ban cho người khác những gì quý hóa nhất của ta vì hạnh phúc của họ; như tài năng sức khỏe, thì giờ, sở thích nhu cầu quyền lợi. Nhất là biết cầu nguyện cho mọi người tin Chúa Giêsu, sống theo lời Ngài để họ được ơn cứu độ mà Thiên Chúa muốn ban cho họ.

            Có như vậy, ta đã chứng thực niềm tin của mình vào Thiên Chúa, và Đức Kitô và ơn cứu độ mà Ngài đã ban cho chúng ta nhờ cuộc tử nạn của Ngài. Sống như thế chúng ta làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa và đang ở trong Thiên Chúa.

 

Thứ Năm tuần 2 PS-

Ga 3, 31-36

CẢM NGHIỆM BẰNG CON MẮT ĐỨC TIN

            Trang Tin Mừng hôm nay là một trích đoạn nói về cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô. Khi Chúa Giêsu lên Giêrusalem mừng Lễ Vượt Qua, có đám đông dân chúng đi theo hò reo chào đón và chen chúc nhau để nghe Người giảng dạy.

            Thấy vậy, các tư tế Đền Thờ, nhóm Pharisêu và các quan chức Dothái tỏ ý ghen ghét chống đối. Thế nhưng trong số họ có ông Nicôđêmô một người Pharisêu là thành viên của Thượng Hội Đồng đã âm thầm tìm đến gặp gỡ Chúa Giêsu vào ban đêm. Ông yêu thích giáo lý và cách giảng dạy của Chúa Giêsu nên đã gọi Người là “Thầy” và trân trọng tuyên xưng niềm tin của mình rằng: “Tôi biết Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả thế, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy” (Ga 3, 2).

            Là một thủ lãnh Dothái, chắc hẳn ông Nicôđêmô ít nhiều cũng am tường lề luật phong tục Dothái và những mặc khải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh, thế nhưng ông cảm thấy rất khó hiểu với việc sinh ra trong Thần Khí vì ông đang sống trong tình trạng “đêm tối đức tin”.Chúa Giêsu tiếp tục dùng Kinh Thánh gợi mở khơi sáng niềm tin cho ông biết vì yêu thương loài người nên Thiên Chúa đã sai sứ giả đến nói cho họ biết có một Đấng dẫn họ tới nguồn sống hạnh phúc: “Đấng được sai đi thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời” (c. 34-36a).

            Ta thấy Thánh Gioan là người theo Chúa Giêsu ngay từ buổi đầu. Chính thánh nhân đã mắt thấy, tai nghe những phép lạ Thầy mình đã làm và những điều Người giảng dạy. Bên bàn tiệc ly, Thánh Gioan là người tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu.

            Trong cuộc thương khó của Chúa, thánh Gioan luôn có mặt và đồng hành với Chúa cho đến dưới chân thập giá và khi an táng Chúa trong mồ đá. Sau đó, kể từ buổi sớm ngày thứ nhất trong tuần khi chứng kiến ngôi mộ trống cho đến mãi về sau, thánh Gioan đã chứng nghiệm mầu nhiệm Phục Sinh vốn vượt xa hiểu biết và trí khôn con người.

            Trải qua tất cả những kinh nghiệm hiện sinh ấy, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, lời chứng của Gioan về Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, trở nên sống động hơn bao giờ hết. Mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh là căn cốt cho niềm tin và là lẽ sống cho vị tông đồ mà Chúa Giêsu thương mến.

             Mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh là trung tâm và nền tảng của đời sống kitô hữu. Chính trong mầu nhiệm ấy mà chúng ta được sinh ra và lớn lên trong đức tin và sự sống đời đời. Như thánh Gioan, chúng ta được mời gọi bước vào, cảm nếm và xây dựng một tương cá vị, sâu đậm nơi Đức Kitô Phục Sinh.

            Theo giáo lý của Giáo Hội, để nhận biết Thiên Chúa đòi hỏi con người phải có lòng tin. Mà đức tin là một ân ban đến từ Thiên Chúa chứ không do con người thủ đắc. Đức tin dẫn chúng ta bước vào cuộc sống mới thông phần với sự sống của Thiên Chúa. Tự thân chúng ta không thể làm được điều đó, chính Chúa Giêsu đưa chúng ta vào sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con qua sự tác động của Thánh Thần.

            Nhân loại thì cũng có người này người kia, có người từ chối thì cũng có người đón nhận. Điều quan trọng đối với cá nhân đang gặp gỡ Đấng từ cõi trên qua những giòng chữ của tác giả Tin mừng này thì mình đang đứng ở chỗ nào: ‘Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật.

            Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn.’ Nếu chúng ta tin và chấp nhận mọi điều Chúa Giêsu đã dạy thì chúng ta được bảo chứng nơi Thiên Chúa là Đấng Chân Thật và nơi Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý.

            Bởi vì: ‘Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người.’ Con người chúng ta có tự do, tin hay không tin, chấp nhận hay từ chối mạc khải của Thiên Chúa. Dĩ nhiên hậu vận đời mình là do chính mình đã có hành vi chọn lựa ngay từ hôm nay: ‘Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy’. Lời cầu nguyện thích hợp chỗ này chính là lời của ông bố có đứa con bị quỷ ám mà các Tông đồ không trừ được (Mc 9,13-28): ‘thưa Thầy con tin, nhưng xin Thầy trợ giúp lòng tin yếu kém của con’.

            Mỗi người chúng ta chỉ là hạt bụi vô thường nhỏ bé, nhờ tình thương, Thiên Chúa đã biến chúng ta thành vì sao lấp lánh. Nếu Thiên Chúa không yêu thương, mãi mãi chúng ta chỉ là “cô bé lọ lem” chốn quê mùa.

            Nhờ tình thương Thiên Chúa, đời chúng ta có một cuộc thay đổi kỳ diệu là được vinh phúc sánh duyên cùng Thiên Tử. Ân sủng và tình thương của Thiên Chúa phủ lấp muôn vàn tội lỗi, cho chúng ta bước ra khỏi vũng lầy nhơ uế để vào miền linh thánh sạch trong. Một nhà tâm lý học thật có lý khi nhận xét ‘con người là con vật tâm thần suốt đời thèm khát sự trìu mến, thèm khát tình yêu và hạnh phúc’. Chúng ta chỉ có được tình yêu và hạnh phúc đích thực khi đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa.

            Bằng con mắt đức tin, chúng ta biết được rằng chỉ cần một hơi thở của Thiên Chúa là muôn vật muôn loài được hiện hữu. Chúng ta say sưa chiêm ngắm vẻ đẹp của Thiên Chúa qua công cuộc sáng tạo kỳ diệu với điệu nhịp nhàng của thời tiết bốn mùa thay đổi. Vinh quang của Thiên Chúa trải dài trên từng vạt nắng, thênh thang trên đồng cỏ xanh và nồng nàn trong mỗi ước mơ của con người. Thiên Chúa vừa là Đấng tự khải lại vừa kín nhiệm, vừa hiển hiện lại vừa ẩn giấu, vừa gần gũi lại vừa vô biên tuyệt đối.

            Vẻ đẹp của Thiên Chúa được mặc khải trọn vẹn nơi Chúa Giêsu là Đấng từ bi nhân hậu, quyền năng thánh thiện khôn sánh, Đấng đã hiến thân mình cho tình yêu mãi lung linh ngời sáng. Cảm nhận được vẻ đẹp sâu thẳm của Thiên Chúa, thánh Augustinô đã phải thốt lên rằng: “Con yêu Chúa quá muộn, lạy Chúa là vẻ đẹp vừa rất xưa vừa mới mãi, con yêu Chúa quá muộn! Này Chúa vẫn ở trong con mà con cứ tìm Chúa ở bên ngoài. Con thật xấu khi mải chạy theo vẻ đẹp nơi các thụ tạo”.

 

thứ sáu tuần 2 PS

Ga 6, 1-15

SẺ CHIA CHO NGƯỜI KHÁC

            Giống như Môsê xưa đã được Đức Chúa ban man-na nuôi dân Ít-ra-en trong cuộc hành trình vượt qua sa mạc 40 năm về miền Đất Hứa, Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy Chúa Giêsu nhân bánh ra nhiều, ám chỉ việc Người sẽ Manna Mới là bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng đức tin của Israel Mới là Hội Thánh trên bước đường vượt qua sa mạc trần gian để về Đất Hứa Nước Trời đời sau. 

            Chắc chắn rằng, phép lạ “hóa bánh ra nhiều” là một sự kiện lịch sử. Bởi vì đây là sự kiện không chỉ được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại, mà Tin Mừng thứ IV cũng đã tường thuật một cách rất chi tiết về địa danh, thời gian và những nhân vật cụ thể trong phép lạ này. Câu chuyện được xảy ra trên núi, gần bờ biển hồ Galilêa, nơi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng và chọn gọi bốn môn đệ đầu tiên.

            Thời gian của sự kiện là gần dịp lễ vượt qua của người Do Thái, và đối tượng là dân chúng đi theo người rất đông chừng hơn năm ngàn người đàn ông. Hai môn đệ được nhắc đến trong sự kiện này là Philípphê và Anrê: một vị được Chúa Giêsu hỏi thử về việc lấy đâu đủ bánh cho dân ăn, một vị phát hiện ra một em bé mang mấy cái bánh và báo cáo với Chúa Giêsu.

            Hành động của Chúa Giêsu trong sự kiện hóa bánh ra nhiều hôm nay, bao gồm cùng lúc hai công việc của Đấng Cứu Thế, là chữa lành và nuôi dưỡng dân Người. Cả hai đều nói lên lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa đối với con người, nhất là những người đau khổ, vì họ vừa mang lấy bệnh tật thể lý vừa mang nặng bệnh tật tâm linh, vừa đói khát của ăn vật chất vừa đói khát của nuôi linh hồn. Hành động yêu thương của Chúa được cụ thể qua việc ra tay chữa lành các bệnh tật cho dân, và đặc biệt chạnh lòng thương hoá bánh ra nhiều để nuôi dưỡng họ.

            Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đông đảo dân chúng đến với mình… Chúa Giêsu chạnh lòng thương (cái đói vật chất cũng như tinh thần của con người). Chúng ta cũng được mời gọi “ngước mắt lên” để nhìn thấy hoàn cảnh của mọi người mà cảm thông với họ, chứ không phải ru rú cho mình mà bất biết với mọi người xung quanh đang cần đến chúng ta.

            Chúa Giêsu không dùng quyền năng để hô biến đem của ăn từ đâu tới, nhưng Người muốn con người cộng tác dâng lên của ăn từ bàn tay lao động của con người (nghề trồng trọt – bánh; nghề đánh lưới – cá). Phép lạ xảy ra khi biết đem chia sẻ cho nhau và cùng ngồi xuống ăn chung với nhau, chứ phép lạ không thể xảy ra khi chúng ta giữ khư khư năm chiếc bánh và hai con cá để ăn một mình.

            Mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Lễ, tất cả cùng chia nhau một Tấm Bánh là Mình Chúa Kitô để chúng ta trở nên một thân thể với Người. Tất cả cùng tuyên xưng chung một niềm tin vào Thiên Chúa là Cha, bởi chúng ta cùng chịu một Phép Rửa bằng nước và Thánh Thần. Tất cả cùng là con Thiên Chúa, cùng được đón nhận một Tình Yêu Thương, cùng được hướng dẫn bằng Lời Chúa và cùng được chung hưởng niềm vui, hạnh phúc từ một Giao ước vĩnh cửu mà Thiên Chúa là Cha đã hứa ban cho tất cả chúng ta. Muốn có được sự hiệp nhất trong Giáo xứ - Cộng đoàn, mỗi người phải ra sức chu toàn trách nhiệm mà Thiên Chúa đã trao phó: ra sức củng cố Đức Tin cho nhau.

            Đó là, chúng ta phải biết khuyến khích nhau học hỏi Lời Chúa, tìm hiểu về Chúa, để nhận ra Tình Thương của Ngài. Đồng thời, chúng ta cũng phải khuyên nhủ nhau làm theo Lời Chúa dạy: làm lành lánh dữ ; biết bảo ban nhau siêng năng lãnh nhận Ơn Chúa ban qua các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, vì đó là Bí tích Tình Yêu, Bí tích qui tụ tất cả chúng ta trong Tình Yêu của Chúa, Bí tích củng cố Đức Tin cho mỗi chúng ta. Nếu mỗi người chúng ta cố gắng làm như vậy, chắc chắn Đức Tin của Giáo xứ-Cộng đoàn sẽ được củng cố, sẽ vững mạnh hơn.

            Ngày nay, chúng ta được chia sẻ từ một tấm bánh là Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể ; Chúa Giêsu nuôi dưỡng chúng ta không chỉ bằng Mình Người mà con bằng Lời Người, mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Lễ. Đức Tin của chúng ta được củng cố nhờ của ăn mà Thiên Chúa ban cho là chính Con Một Ngài, để chúng ta sống xứng đáng là Con Thiên Chúa hơn. Điều này có nghĩa, chúng ta phải thể hiện Niềm Tin của mình bằng chính đời sống luôn hết sức làm theo Lời Chúa dạy, cố gắng chia sẻ, chăm lo cho những người khác.

            Phép lạ vẫn đang diễn ra hằng ngày, nhưng để phép lạ có thể xảy ra, Chúa cần chúng ta đóng góp vào đó tấm lòng quảng đại, sẵn sàng sẻ chia một miếng bánh nhỏ dù mình đang túng đói, hay một lời nói thứ tha dù cơn giận đang bùng lên. Bạn hãy sẻ chia một chút vật chất cho một người nghèo túng hơn bạn, vì “một miếng khi đói bằng một gói khi no.” Hãy chia sẻ một chút tha thứ, thì gia đình, cộng đoàn sẽ được hiệp nhất yêu thương bền lâu. Hãy sẻ chia tấm bánh cuộc đời bạn để muôn người được ấm no và đầy tình người.

            Nếu chúng ta làm như vậy, chúng ta cũng đang trở nên tấm bánh cho người khác. Vì chúng ta đã được chia sẻ từ một tấm bánh; vì chúng ta đã được chia sẻ từ một Đức Tin. Chính khi chúng ta biết chia sẻ cho nhau niềm Tin, chính khi chúng ta đến đón nhận sự chia sẻ từ một Tấm Bánh, Đức Tin của chúng ta lại càng vững mạnh, lòng yêu mến của chúng ta lại càng được mạnh mẽ hơn và chúng ta cũng được trở nên một với nhau.

 

Lễ Thánh Marcô

KHIÊM NHƯỜNG VÀ DŨNG CẢM NHƯ THÁNH MÁCCÔ

            Chúa Giêsu khi muốn chọn ai, Ngài đã cầu nguyện lâu giờ vì việc tuyển chọn con người là một công việc hết sức quan trọng. Chúa chọn ai là do quyết địnnh hoàn toàn tự do của Ngài. Ơn gọi của một con người nói lên tình thương và sự nhưng không của Chúa Giêsu. Vì yêu con người, Chúa đến trần gian và cũng vì yêu con người, Ngài tuyển chọn, cất nhắc con người với tất cả sự tự do của Ngài. Thánh Máccô là người Do Thái, thuộc dòng họ Lêvi. Sau khi Chúa lên trời, thámh nhân theo thánh Phêrô, vị tông đồ trưởng sang La mã.

            Thánh nhân được thánh Phêrô trìu mến và yêu thương, nâng đỡ cách đặc biệt. Thánh Máccô hăng say giảng đạo và nhờ lòng nhiệt thành, hăng say loan báo Tin Mừng cho Chúa Giêsu, nhiều người đã quay trở về với Chúa và Giáo Hội. Số người trở lại càng ngày càng đông, nhưng không có một tài liệu nào để giúp giáo dân học hỏi và tham khảo. Nhiều người ao ước có một bản viết về cuộc đời của Chúa Cứu Thế.

            Dựa vào bút pháp của Máccô, chúng ta cố gắng tìm hiểu tính khí của ngài. Tính chất sống động của Phúc âm thứ II biểu lộ rõ chứng tích mục kiến của Phêrô, chứ không phải của Marcô, dầu có thể là Marcô đã chứng kiến việc bắt bớ Chúa Giêsu vì các nhà chú giải đồng hóa ngài với người thanh niên vô danh bỏ chạy mình trần (Mc 14,50-52). Dầu vậy, thánh Máccô không phải là một máy ghi âm diễn lại lời của Phêrô, ngài là tác giả ghi lại ký ức của Phêrô với bút pháp riêng. Ngài là người ít lời (673 câu so với 1068 câu nơi Matthêu) và có giọng văn không chải chuốt.

            Với những yêu cầu và khao khát của nhiều người. Thánh Máccô đã viết lại cuộc đời của Chúa Giêsu một cách mạch lạc và rõ ràng theo chương mục dựa theo lời giảng dạy của thánh Phêrô. Thánh Phêrô đã cho phép phổ biến và dùng trong giáo đoàn. Thánh Mác-cô sau đó đã được thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng tiên khởi sai đi truyền giáo ở Ai Cập. Với lòng nhiệt thành, đạo đức, tài hùng biện và lợi khẩu, thánh nhân đã đưa rất nhiều linh hồn về với Chúa. Thánh Máccô là vị sáng lập và là Giám Mục đầu tiên của giáo đoàn Alexandria.

            Được Chúa mời gọi, thánh Máccô đã đáp trả lại lời gọi mời yêu thương của Chúa. Với lòng đạo đức, trí thông minh, sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, thánh Mác-cô đã đem muôn vàn người trở về với Chúa. Vì ghen tức, ích kỷ, những lương dân đã quyết tâm hãm hại Người. Họ đã bắt thánh nhân với mục đích lăng mạ, bêu xấu Ngài và lôi kéo Ngài trên đường đá ghồ ghề, lởm chởm cho tới khi Ngài trút hơi thở cuối cùng vào ngày 25 tháng 4 năm 67.

            Với những công đức to lớn, với cuốn Tin Mừng thánh Máccô để lại, danh của thánh nhân mãi mãi ngời sáng trong Giáo Hội và triều thiên vinh hiển Thiên Chúa trao cho Ngài muôn đời sẽ rực sáng trên nước trời. Mãi mãi nhân loại và đặc biệt Giáo Hội sẽ tôn vinh thánh nhân vì lòng nhiệt thành, sự thánh thiện và gương sáng thánh nhân để lại cho dân Chúa.

            Hãy đi khắp thế gian và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo. 

            Hôm nay, chúng ta đọc những lời này trong Ca Nhập Lễ.  Đây là sứ vụ tông đồ Chúa đã ban và thánh Máccô đã ghi lại.  Về sau, được ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, thánh nhân đã minh chứng lệnh truyền ấy đã được thực hiện khi ngài chép Tin Mừng: Các tông đồ ra đi và rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố tin mừng bằng những phép lạ kèm theo.  Đó là những lời thánh Máccô kết thúc Tin Mừng của ngài. 

            Thánh Máccô đã trung thành với sứ vụ tông đồ mà ngài đã nghe qua lời giảng của thánh Phêrô : Hãy đi khắp thế gian.  Chính thánh Máccô và Tin Mừng của Ngài đã là một thứ men hiệu quả cho thời đại ngài. Chúng ta cũng phải trở nên một thứ men tốt cho thời đại chúng ta.  Nếu sau lần nhát đảm, thánh nhân đã không khiêm nhượng và dũng cảm làm lại, có lẽ giờ đây chúng ta không có những kho tàng lời giảng và việc làm của Chúa Giêsu để thường xuyên suy gẫm, và nhiều người, nếu không nhờ ngài, chắc cũng chẳng bao giờ biết được Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của nhân loại.

            Sứ mạng của thánh Máccô - cũng như của các Tông Đồ, của các nhà truyền giáo, của các tín hữu tốt lành luôn ra sức sống đúng với ơn gọi của mình - chắc chắn không phải là một sứ mạng dễ dàng.  Chúng ta biết ngài đã chịu tử đạo. Ắt hẳn thánh nhân đã trải qua kinh nghiệm chịu bách hại, mệt mỏi, và hiểm nguy trong việc theo bước Chúa.

            Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa, cũng như các tín hữu thời các Tông Đồ, vì sức mạnh và niềm vui Chúa Kitô đã được truyền lại đến ngày nay cho chúng ta.  Mọi thế hệ Kitô hữu, mọi cá nhân đều được mời gọi lãnh nhận sứ điệp Phúc Âm và truyền thụ lại cho người khác.  Ơn Chúa không bao giờ thiếu: Cánh tay Chúa không bị thu ngắn. Người tín hữu biết Chúa đã thực hiện các phép lạ từ nhiều thế kỷ trước kia, và hiện nay Người vẫn đang thực hiện. Với ơn Chúa giúp, mỗi người chúng ta cũng sẽ thực hiện những phép lạ nơi tâm hồn thân nhân, bạn bè, và những người quen biết, nếu chúng ta sống trong mối kết hợp với Chúa Kitô qua lời cầu nguyện.

            Giáo Hội hôm nay nêu lên mẫu gương thánh Máccô. Thật là một hy vọng và ủi an khi chiêm ngưỡng đời sống vị sử gia thánh thiện này. Mặc dù có những yếu đuối, nhưng chúng ta vẫn có thể như ngài, tin tưởng vào ơn Chúa và sự phù trợ của Mẹ Giáo Hội. Những thất bại và những hành vi nhát đảm của chúng ta, dù lớn hoặc nhỏ, phải làm chúng ta khiêm tốn hơn, liên kết chúng ta mật thiết hơn với Chúa Giêsu, và kín múc từ nơi Chúa nguồn sức mạnh mà chúng ta đang thiếu thốn.

            Tin Mừng là của Thánh Máccô, một Tin Mừng có một có một sức mạnh rất cụ thể sống động chống lại sức mạnh của quỉ dữ muốn làm hại Chúa Giêsu. Ngày nay người ta khá coi thường một thứ Tin Mừng có nhiều phép lạ, nó lôi kéo chú ý về những kỳ lạ hơn về sứ điệp thứ tha và giải tháot của Tin Mừng; may thay bản văn vẫn ưu tiên dành cho lời Chúa. Hãy suy nghĩ đến sức mạnh tâm hồn của các vị truyền giáo, đến những ân huệ các Ngài đã mang đến cho một thế giới trong lầm than được nghe loan báo về Đấng Cứu Thế đã toàn thắng, đã đoạt được vinh quang của ngai tòa Thiên Chúa. Như Máccô, khiêm tốn nhưng hăng say, chính Ngài đã tiếp tục theo chân những người nghèo khó nói những lời định mệnh cho đến tận thế để nối đất của chúng ta với trời.

            Và ta thấy Thánh Máccô thực hiện mệnh lệnh ra đi loan báo Tin Mừng của Chúa bằng cách đi truyền giáo với Thánh Phaolô. Ngài đi truyền giáo với Banaba. Ngài đi theo và làm phụ  tá cho Thánh Phêrô. Ngài làm giám mục phục vụ cộng đoàn Alexadre. Cuối cùng, Ngài đã viết và lưu truyền cho hậu thế cuốn Tin Mừng mang tên Ngài, Tin mừng theo Thánh Máccô.

            Mỗi người chúng ta mừng lễ Thánh Máccô hôm nay, hãy noi gương bắt chước Ngài, bằng cách đóng góp phần mình cho việc loan báo Tin mừng. Bởi vì, loan báo Tin mừng là lệnh truyền của Chúa, là bổn phận của Giáo hội và của mỗi người kitô hữu chúng ta. 

 

 

 

May 15, 2023