Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa Nhật III Phục Sinh, Năm A-2020

 

 

Chúa nhật III Phục Sinh

Lc 24, 13-35

ĐƯỜNG TÌNH EMMAU

            Hai môn đệ trên đường Emmaus, đã từng có một thời bước theo Chúa. Các ông tin rằng Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến để thiết lập vương quốc. Thế nhưng, những giờ phút bão táp đã xảy đến. Mọi hy vọng, mọi mơ ước đã tan theo mây khói.

            Sau cái chết trên thập giá vào chiều ngày thứ Sáu tuần thánh, các ông đã bỏ mặc Ngài nơi nấm mồ cô quạnh và trở về với nếp sống trước kia. Chính trong bối cảnh này, các ông đã gặp người khách lạ trên đường đi Emmau. Các ông lắng nghe vị khách ấy, chăm chú nhìn vị khách ấy bẻ bánh và rồi một điều gì đó đã xảy ra khiến các ông xúc động: Vị khách ấy chính là Chúa Giêsu đang sống động trước mặt các ông.

            Đường Emmaus thật lạ kỳ. Cùng một con đường, cùng một buổi chiều mà hai môn đệ đi lại hai lần, mỗi lần lại mỗi dáng vẻ hoàn toàn khác nhau. Khi đi thì đường xa vời vợi, mãi không thấy đến. Lúc về thì sao chóng vánh, chưa đi đã đến. Khi đi thì ảo não u sầu. Lúc về lại phấn khởi hân hoan. Khi đi trời còn sáng mà tưởng như đi trong đêm đen. Lúc về trời đã tối mịt mà tưởng đi giữa ban ngày. Khi đi tuyệt vọng chán chường. Lúc về tràn đầy hi vọng. Chắc hẳn ai cũng hiểu, lúc về có kết quả tốt đẹp như thế là vì hai môn đệ đã gặp được Chúa Kitô Phục Sinh. Chính Chúa Kitô Phục Sinh làm nên khác biệt. Gặp Chúa Kitô Phục Sinh là bí quyết giúp thay đổi cuộc đời, giúp cuộc đời có ý nghĩa, có niềm vui, có hi vọng và có lẽ sống.

            Các ông đã không nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài cắt nghĩa Kinh Thánh, nhưng các ông đã nhận ra Ngài khi mời Ngài lưu lại với mình nơi quán trọ. Chính vì thế, mỗi người chúng ta cần phải chăm sóc cho tình thương và cần phải cố gắng thực hiện những hành động bác ái. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ chúng ta: Hãy kiên trì trong đức ái. Thánh Phêrô thì nói với chúng ta: Hãy rộng lượng đón nhận người khác chứ đừng lẩm bẩm kêu trách. Còn Chúa Giêsu trong hoạt cảnh phán xét, cũng đã phán: Vì khi Ta đói các con đã cho Ta ăn, khi, Ta khát các con đã cho Ta uống, khi Ta mình trần các con đã cho Ta mặc, khi Ta đau yếu và bị tù đày, các con đã viếng thăm, khi Ta là khách, các con đã cho Ta ở trọ.

            Chúa Giêsu dùng Thánh Kinh và lịch sử loài người để thắp sáng lên vấn đề mà khiến cho hai người bạn này sầu khổ, và công bố tình trạng mà họ đang sống. Ngài cũng sử dụng nó để đặt họ vào toàn thể công trình của Thiên Chúa đến từ Mô-sê và các ngôn sứ. Vì thế, Ngài chỉ ra rằng lịch sử không thoát khỏi bàn tay của Thiên Chúa. Chúa Giêsu dùng Thánh Kinh không phải như một vị bác sĩ biết mọi sự, nhưng như một người bạn đồng hành đến để giúp những người bạn và gợi nhớ họ những điều họ đã lãng quên. Chúa Giêsu không đặt ra cho các môn đệ sự phức tạp của sự ngu tối, nhưng cố để thức tỉnh lòng trí của họ: "Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?"

            Cả hai người họ, cách can đảm, trở lại con đường về Giêrusalem, nơi mà lực lượng của sự chết, đã giết Chúa Giêsu và, đã giết hy vọng của họ, sẽ tiếp tục hoạt động. Nhưng, giờ đây tất cả đã thay đổi. Nếu Chúa Giêsu còn sống, thì trong Ngài và cùng với Ngài có một năng quyền mạnh hơn cả điều đã giết Ngài. Kinh nghiệm này giúp họ phục sinh!

            Thật vậy, tất cả đều thay đổi. Đó là sự trở về chứ không phải sự trốn chạy! Tin tưởng chứ không phải kém tin! Hy vọng chứ không phải thất vọng! Ý thức hiểu biết chứ không phải thuyết định mệnh trong sự đối mặt với quyền lực! Tự do chứ không phải sự áp bức! Tóm lại một lời: sự sống chứ không phải cái chết! Thay vì tin buồn về sự chết của Chúa Giêsu, thì Tin Mừng của Sự Phục Sinh của Ngài! Cả hai kinh nghiệm sự sống và sống dồi dào! (Ga 10, 10). Đây là dấu chỉ cho thấy Thần Khí của Chúa Giêsu hoạt động trong họ!

            Cảm nghiệm về Đấng Phục Sinh của hai người môn đệ đang trên đường đi về làng Emmaus cũng có thể diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người tín hữu Kitô. Đấng Phục Sinh luôn là người đồng hành với chúng ta. Trên mọi nẻo đường của cuộc sống chúng ta, Ngài luôn đi bên cạnh kể chuyện, hỏi han, tra vấn và tham dự vào mọi sinh hoạt của chúng ta.

            Và ta thấy cuộc sống của mỗi ngày chính là nơi Ngài đến để gặp gỡ con người. Cuộc sống mỗi ngày mới là nơi hẹn hò của Đấng Phục Sinh với con người, là bởi vì cuộc sống ấy không bao giờ có thể làm cho con người thỏa mãn. Bên kia niềm vui và nỗi khổ, bên kia thành công và thất bại, con người vẫn nhận ra sự vong thân và thân phận nghèo hèn của mình. Nỗi khao khát về tuyệt đối con người không thể thỏa mãn được trong cuộc sống này, hoặc nếu có tìm cách xoa dịu thì lại tuyệt đối hóa những giá trị chóng qua của cuộc sống, để rồi cuối cùng vẫn thấy mình bị vong thân và bất lực. Bất lực trước cảnh khốn cùng, bất lực trước chiến tranh nghèo khổ, bệnh tật, bất lực trước hận thù, ích kỷ và nhất là bất lực trước cái chết.

            Câu chuyện hai môn đệ đi Emmaus phải chăng cũng là câu chuyện của mỗi người chúng ta, bởi vì trong cuộc sống, chúng ta cũng đã từng gặp phải những giờ phút bão táp, khủng hoảng về đức tin. Thế rồi một ngày nào đó, chúng ta đã gặp được một người, có thể là một vĩ khách lạ, nhưng qua người này, chúng ta tìm lại được Chúa giữa lòng Giáo Hội trong nghi thức bẻ bánh.

             Dường như những tế bào đã trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đã trở nên rộn rã nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời còn sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường đi về lúc trời đã tối đen mà sao thấy tươi vui gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà vì con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa vẫn an tâm vì con mắt đức tin đã mở ra, vì vẫn biết có Chúa ở bên. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.

            Ngày nay, trong từng biến cố của cuộc sống chúng ta, Chúa Kitô Phục Sinh cũng đang đến và đồng hành với chúng ta trong từng sinh hoạt và gặp gỡ của chúng ta. Ngài có mặt trong từng niềm vui và nỗi khổ của chúng ta. Nếu chúng ta đón nhận Ngài như người bạn đồng hành, chuyện vãn và chia sẻ với chúng ta, đôi mắt đức tin của chúng ta sẽ mở ra, và lúc đó, trong ánh sáng Phục Sinh của Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.

            Cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đã mãn nguyện. Chúa Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhập vào những xác thân mệt mỏi rã rời. Dường như dòng máu đã trở nên đỏ thắm.

            Để kết, ta hãy cầu nguyện: Lạy Chúa, xin Chúa hãy cùng đi với chúng con trên vạn nẻo đường đời, như xưa Chúa đã cùng đi với hai môn đệ trên đường Emmaus, nhờ đó đức tin của chúng con sẽ được nâng đỡ và bản thân chúng con sẽ trở thành chứng nhân cho Tin Mừng của Chúa.

Huệ Minh 2020

 

Thứ Hai tuần III PS

Ga 6, 22-29

ĐỪNG VÌ CỦA ĂN TẠM BỢ

            Trang Tin Mừng về bánh hằng sống trong hội đường Ca-phác-na-um sau ngày phép lạ bánh hóa nhiều có lẽ là một tổng hợp các bài giảng ở nhiều nơi. Dân chúng ngạc nhiên khi thấy các môn đệ và Chúa Giêsu ở Ca-phác-na-um vì họ không thấy Người xuống thuyền đi sang Ca-phác-na-um với các môn đệ, mà bây giờ lại thấy Người ở đây. Còn “Đức Giêsu khi thấy họ sắp bắt mình đem đi tôn làm vua, thì Người lánh mặt, đi lên núi một mình”, mãi tới đêm, biển động vì gió thổi mạnh, các ông thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển hồ đến gần thuyền … Ngay lúc đó thuyền đã tới bờ của miền Ca-phác-na-um.

            Vì tình thương nên ta thấy Chúa Giêsu  đã làm phép hóa bánh ra nhiều chứ không phải vì muốn nổi danh! Nhưng đối với người Dothái, họ có lối suy nghĩ khác! Thay vì họ tạ ơn Chúa vì lòng thương xót của Ngài, thì ngược lại, họ chỉ nghĩ đến cái bụng và khao khát được thỏa cơm đói. Vì thế, dân chúng nghĩ rằng: có Chúa Giêsu hiện diện ở giữa họ thì có lẽ sẽ không phải đói khát và có khi chẳng cần làm lụng vất vả cũng có ăn! Thế nên, họ tìm cách để tôn vinh Ngài lên làm vua. Thấy vậy, Chúa Giêsu đã lánh đi để sang bờ bên kia trước họ.

            Và ta thấy như thói quen, thánh Gio-an sắp nối kết sự kiện phép lạ cụ thể này với ý nghĩa thần học: Họ tìm … họ ngạc nhiên vì không biết Người đến đây bằng cách nào? Người đã đến đây bằng cách lạ lùng là đi trên mặt biển giữa đêm khuya gió to sóng lớn. Cũng thế, Chúa Giêsu đã đến với họ không phải từ làng Na-gia-rét, như người ta biết, nhưng là từ trời mà người ta không biết, cũng như Người từ bờ hồ phía đông nơi bánh hóa nhiều, đi qua biển tới bờ hồ phía tây nơi miền Ca-phác-na-um.

            Với cái nhìn thiển cận hay còn gọi là óc ngắn nên người Do Thái cố gắng tìm Chúa Giêsu vì của nuôi xác chứ không tìm đến vì của ăn đời đời.

            Khi gặp Ngài, họ cất tiếng hỏi: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?", Chúa Giêsu thừa biết mục đích của họ, vì thế Ngài nói ngay: "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6, 26 ). Khi nói như thế, Chúa Giêsu mời gọi họ hướng tới một cuộc "vượt qua" khác, sâu xa hơn, đó là cuộc vượt qua từ bánh hóa nhiều đến với Đấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Đấng chính là Bánh Trường Sinh (Ga 6, 27 ).

            Ta thấy dân chúng vẫn tiếp tục đòi của vật chất, họ chú trọng đến man-na nuôi sống cha ông họ hằng ngày trong sa-mạc và so sánh với phép lạ hóa bánh ra nhiều để cầu mong Chúa Giêsu cho họ được ăn như vậy. Còn Chúa Giêsu, Người nhấn mạnh đến sự đói khát tinh thần, đến của ăn hằng sống cho linh hồn. Đó mới chính là sứ mệnh quan trọng của Người. Người đã hết sức nhẫn nại như đã nhẫn nại giải thích cho ông Ni-cô-đê-mô về sự tái sinh, cho bà ở Sa-ma-ri về nước trường sinh.

            Chúa Giêsu không đến thế gian để mang lại một cây đũa thần cho những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của con người. Ngài đến để cho con người được sống và hạnh phúc thực sự. Sự sống và hạnh phúc ấy chính là nhận biết và yêu mến Ngài trên hết mọi sự. Chỉ có Thiên Chúa mới thoả mãn mọi khát vọng trong tâm hồn con người, chỉ có Ngài mới đem lại cho con người hạnh phúc trọn hảo.

            Ta thấy rằng vì mưu cầu cuộc sống tạm bợ nhưng người tín hữu luôn hướng về trời cao: bôn ba về của cải vật chất, nhưng không quên gắn bó với những giá trị Nước Trời như công lý, hoà bình, tình huynh đệ, lòng bác ái. Trong mọi sự, họ phải luôn nhớ lời khuyên của thánh Phaolô: “Anh em hãy tưởng nghĩ đến những sự trên trời.”

            Sống giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian đó là chỗ đứng của người tín hữu trong trần thế này. Mưu cầu cuộc sống tạm bợ nhưng người tín hữu luôn hướng về trời cao; bôn ba về của cải vật chất, nhưng không quên gắn bó với những giá trị Nước Trời như công lý, hoà bình, tình huynh đệ, lòng bác ái. Trong mọi sự, họ phải luôn nhớ lời khuyên của thánh Phaolô: “Anh em hãy tưởng nghĩ đến những sự trên trời”. Một cách cụ thể, người tín hữu tìm kiếm và xây dựng Nước Trời ngay giữa những thực tại trần thế, bằng cách không bán rẻ lương tâm vì một chút lợi lộc chóng qua, không chối bỏ hình anh cao quí của Thiên Chúa nơi bản thân, không cha đạp nhân phẩm của người anh em. Trong mọi sự họ tìm kiếm Chúa như gia nghiệp duy nhất của cuộc đời.

            Một cách cụ thể, người tín hữu tìm kiếm và xây dựng Nước Trời ngay giữa những thực tại trần thế, bằng cách không bán rẻ lương tâm vì một chút lợi lộc chóng qua, không chối bỏ hình ảnh cao quí của Thiên Chúa nơi bản thân, không chà đạp nhân phẩm của người anh em. Trong mọi sự họ tìm kiếm Chúa như gia nghiệp duy nhất của cuộc đời.

            Tìm đến bên Chúa, tin vào Chúa, Chúa không bảo người tin là biếng nhác làm việc, là ngồi chờ sung rụng, là chi trông chờ phép lạ... Ngài mời gọi người tin, làm việc không ngừng, làm việc hết mình để có thể tìm kiếm sự bền vững trong đời: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh” (Ga 6, 27).

            Thật thế, khi tìm Chúa và tin theo Lời Chúa là dẫn bước đi tìm nước Trời, không chỉ được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau mà còn được lòng yêu thương chăm sóc của Thiên Chúa cưu mang ngay ở đời này như Ngài đã nói: “Các ngươi hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời, rồi mọi sự đó sẽ được cho thêm” (Lc 12,31).

            Ngày nay, trong đời sống đạo, nhiều người vẫn còn thói quen tin Chúa như những người Dothái. Tức là tin Chúa khi vui, lúc thành công, nhất là tin khi được lợi. Vì thế, chúng ta vẫn thấy có chuyện như: thích thì đi lễ, đi chầu, đọc kinh... không thích thì thôi! Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta đừng tìm Chúa vì của ăn hay hư nát mà tìm Chúa vì là Bánh hằng sống và sự sống trường tồn.

 

thứ hai tuần 3 PS - Ga 6, 30-35

LƯƠNG THỰC TRƯỜNG TỒN

            Thiên Chúa hằng yêu thương chăm sóc dân Người. Hành trình dân Israel tiến về Đất Hứa là thời gian đầy thử thách nhưng cũng là chuỗi ngày ân phúc. Nơi hoang mạc khắc nghiệt và thiếu thốn, Thiên Chúa quan phòng ban cho dân thức ăn là manna và chim cút; nuôi dân bằng nước từ tảng đá chảy ra (Xh 16-17); cho cột mây dẫn đường ban ngày và cột lửa soi sáng ban đêm (Xh 13, 21).

            Tình thương của Thiên Chúa với Dân Ngài đạt đến đỉnh cao nơi Chúa Giêsu - Con Thiên Chúa. Chúa Giêsu chạnh thương đoàn dân đang kiệt sức, đói lả vì đi theo Người. Ngài đã hóa bánh ra nhiều cho dân chúng ăn no nê (Ga 6, 1-15). Chúa Giêsu thêm sức cho họ không chỉ về thể xác mà còn tinh thần, khi Ngài khẳng định: Ngài là Bánh Hằng Sống và đem lại sự sống cho thế gian (Ga 6, 33). Hôm nay, Đức Kitô cũng đang yêu thương, săn sóc từng người chúng ta khi trao ban chính Mình Máu Ngài cho nhân loại.

            Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy qua những nhu cầu vật chất đời thường, Chúa Giêsu mời gọi con người tin và đón nhận Ngài như thần lương nuôi sống linh hồn để đạt được sự sống đời đời, sự sống vĩnh cửu không bao giờ hư mất.

            Trên thế giới, hàng triệu người vẫn đang sống trong cảnh nghèo khổ. Người ta không chỉ túng thiếu cơm bánh mà còn thiếu thốn tình thương, chân lý. Những đói khát tinh thần nhiều khi còn khắc khoải hơn cơn đói thể lý. Do đó, lời xác quyết của Đức Giêsu: "chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ" (Ga 6, 35) mang lại cho chúng ta niềm an ủi và sự bảo đảm vững chắc. Thánh Thể - Bánh Hằng Sống là món quà vô giá Thiên Chúa ban tặng cho con người.

            Chúa Giê-su cho người Do Thái biết không phải ông Môsê cho họ bánh bởi trời mà chính Thiên Chúa ban cho họ; Bánh manna thực sự chỉ là một tiên báo về Chúa Giêsu – bánh đích thực Thiên Chúa sẽ ban cho con người. Con người nhắm vào vật chất, nhưng Chúa Giêsu muốn đưa người ta lên cao hơn, đó là đời sống đức tin. Thánh Phaolô thường khẳng định: “Nhờ tin mà anh em được cứu độ” (Ep 2, 8). Từ lương thực chóng hư, Chúa Giêsu hứa ban lương thực không bao giờ hư nát là chính mình Người (c.35).

            Tuy nhiên với đầu óc u mê, cặp mắt thiển cận, người ta chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không nhìn thấy cái lợi trăm vạn lần hơn, đó là được chính Thiên Chúa. Người ta chỉ quan tâm đến nhu cầu của thân xác hay chết mà ít quan tâm đến nhu cầu tinh thần, nhu cầu đem đến sự sống muôn đời cho con người.

            Chúa Giêsu chính là bánh hằng sống từ trời xuống, ai tin và đón nhận Ngài sẽ không hề phải đói khát bao giờ (c.35). Đến với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ có lương thực nuôi sống linh hồn; Ngài sẵn sàng ban cho chúng ta Lời của Ngài, như kim chỉ nam dẫn lối và thân thể Ngài như của ăn để chúng ta tiến bước về quê hương đích thật. Có Ngài cùng đồng hành trong cuộc sống chúng ta chẳng còn phải lo lạc lối hay đói khát tinh thần.

            Trong cuộc sống lắm khi những nỗi vất vả và lo toan làm chúng ta quên Chúa; nhưng Chúa Giêsu, Ngài đã nói: “Hỡi những ai vất vả gồng gánh nặng nề, hãy đến với ta, ta sẽ nâng đỡ và  bổ sức cho các ngươi”. Con người đói khát thể lý đã bi thảm, nhưng con người đói khát tinh thần càng vạn lần bi thảm hơn. Hầu hết những đau khổ của con người từ vật chất đến tinh thần đều có nguyên nhân từ việc đói khát tinh thần mà ra. Thế giới ‘vắng bóng’ Thiên Chúa, thì trở thành tranh dành, hận thù, ích kỷ, huynh đệ tương tàn, con người không có Thiên Chúa, trống vắng tâm linh thì dầu cho có lắm của cải vật chất, địa vị, danh vọng… cũng không bao giờ thỏa mãn được.

            Chúa Giêsu bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh, ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ”. Đôi khi nhóm bạn chúng tôi cảm thấy chán nản vì cuộc sống tẻ nhạt, nhịp điệu đời sống cứ đều đều quay vòng: Học, ăn, ngủ, lo cho túi tiền có đủ xài đến cuối tháng…Sinh viên xa nhà thiếu thốn đủ thứ, thiếu vật chất, thiếu tinh thần, thèm xem phim, đói truyện báo, khát những buổi ca nhạc…tai hại hơn, những bạn là Kitô hữu phần lớn là đói Tin Mừng, khát Lời Chúa vì những lý do không tên, để rồi đức tin mờ nhạt mà không hay biết.

            Tưởng nghĩ nếu chúng ta chỉ chăm lo đến cuộc sống tạm bợ, nay còn mai mất mà không quan tâm đến cuộc sống vĩnh cửu thì còn gì ngu dại bằng. Xin Thiên Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta, để trong mọi hoàn cảnh cuộc sống chúng ta biết chạy đến với Ngài, cậy dựa vào Ngài. Xin cho chúng ta biết quí trọng, yêu mến, và năng lãnh nhận Thánh Thể Chúa, để chúng ta có thêm sức mạnh vượt qua những cam go thử thách trong hành trình tiến về quê hương đích thật là nước trời.

            Quả thế nhờ Thánh Thể, những khát vọng sâu thẳm nhất, thiêng liêng nhất của con người sẽ được thỏa mãn, bởi Đức Kitô là suối nguồn bình an và hạnh phúc. Nơi Thánh Thể, con người học được bài học yêu thương, phục vụ và sẻ chia. Lúc này, Chúa Giêsu cũng đang mời gọi ta chia sẻ bánh tình yêu Giêsu cho anh chị em kém may mắn hơn; nhờ đó cuộc sống này sẽ ngày một tươi đẹp hơn.

 

Thứ Tư tuần 3 PS

Ga 6, 35-40
LƯƠNG THỰC TRƯỜNG SINH

            Dân Do Thái thường hoài niệm, thường suy nghĩ và nhớ tới manna ngày xưa. Họ chỉ nghĩ rằng đó là thứ bánh vật chất nhưng ngon hơn thứ bánh ngày thường, cho nên họ cầu xin với Chúa Giêsu cho họ thứ lương thực vật chất đó để giúp họ no lâu hơn. Nhiều khi chúng ta đến với Chúa cũng chỉ để xin những nhu cầu thoả mãn cho cuộc sống vật chất như thế.

            Lời Chúa hôm nay là một phần trong diễn từ về “bánh hằng sống”. Trong hội đường Caphácnaum, cùng với lời mạc khải “Ta là bánh trường sinh”, Chúa Giêsu cũng mời gọi dân Do Thái đến và tin vào Người để không phải đói, phải khát (Ga 6, 35). Chúa Giêsu Kitô là sự sống mà Thiên Chúa ban cho nhân loại, là tình yêu mà Thiên Chúa ban cho thế gian. Niềm tin vào Chúa Giêsu chính là điều kiện trước tiên và cần thiết nhất để được cứu độ. Phần thưởng cho niềm tin vào Chúa chính là sự sống đời đời, là việc được sống lại trong ngày sau hết.

            Bánh Chúa nói không đến từ đồ ăn và thức uống tự nhiên, nhưng đến từ Ngài: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ.” Ngài nói điều này với người Do Thái sau khi đã làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng. Chỉ có 5 chiếc bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ, Ngài đã cho 5 ngàn người đàn ông không kể đàn bà và con trẻ ăn uống no nê, và người ta thu lại được 12 thúng bánh vụn.

            Thật ra, phép lạ này là dấu chỉ của phép lạ lớn hơn là phép lạ Thánh Thể, thứ bánh được ban trào tràn cho những ai đặt niềm tin vào Ngài.

            "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” Trải qua hơn hai ngàn năm, Chúa Giêsu đã là lương thực nuôi dưỡng nhân loại qua Lời hằng sống của Người. Lời của người ảnh hưởng trực tiếp trên những kẻ tin yêu và lắng nghe, đồng thời dán tiếp ảnh hưởng đến tất cả mọi môi trường có chứng nhân của Lời hiện diện. Lời của người là Lời tình yêu Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại; là Lời có khả năng thỏa mãn cơn đói khát tình yêu của con người; một cơn đói khát quyết định sự sống còn của nhân loại.

            Chối bỏ Lời, con người ngày nay đắm chìm trong một nền văn hóa chết chóc, có xu hướng đề cao chủ nghĩa cá nhân, hưởng thụ ích kỷ, chạy theo vật chất, bành trướng cái tôi… là một lối sống làm sói mòn tâm linh và ý nghĩa thiêng liêng cao cả của cuộc sống con người. Chỉ khi nghe và thực hành Lời người – như ‘ăn’ và ‘tiêu hóa’ – thì cuộc sống thế giới mới trở nên phong phú, cuộc đời con người mới có hạnh phúc thật.

            “Chính tôi là bánh trường sinh.” Yêu ai thì khát khao muốn nên một với người mình yêu. Tình yêu làm phát sinh sáng kiến – Chúa Giêsu vì quá yêu thương con người nên đã tự nguyện trở nên bánh để ở với con người, nên máu thịt của con người, dưỡng nuôi tâm linh và ban cho họ sự sống bất diệt: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. Vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống” (Ga 6, 54-55). Bởi chính thế mà Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể để ở lại với con người, dưỡng nuôi và đồng hành với con người trên đường tiến về quê hương đích thật trên trời.

            Ngày hôm nay, như những người Do Thái năm xưa, chúng ta cũng được mời gọi xác tín Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là ơn cứu độ của mỗi người. Tin vào Chúa Giêsu chính là niềm tin căn bản và cần thiết của cuộc đời mỗi người. Từng ngày, niềm tin ấy được mỗi người hình thành, nuôi dưỡng và phát triển trong tương quan tình yêu với Chúa Giêsu. Tương quan với Chúa được ta xây nên từ những lời cầu nguyện thiết tha và chân thành. Mỗi ngày, nhờ tham dự Thánh lễ, viếng Chúa, đọc kinh, ta được thêm cảm nghiệm, tin tưởng và xác tín vào Chúa Giêsu, Đấng là hạnh phúc và sự sống của cuộc đời mỗi người.

            Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiến mình cho nhân loại qua thánh lễ mà Giáo hội cử hành mỗi ngày khắp nơi trên thế giới. Cảm nhận hồng ân cao cả Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại, Giáo hội trung thành, hân hoan thiết đãi và mời gọi con cái mình đến dự bàn tiệc Lời Hằng sống và Thánh Thể Chúa Giêsu qua thánh lễ hằng ngày.

            Vì thế Kitô hữu chúng ta cần ý thức và siêng năng tham dự thánh lễ với lòng vui mừng và biết ơn Chúa, biết ơn Giáo hội. Chúng ta cần tham dự hy lễ tạ ơn này cách sinh động với lòng thành, không câu nệ, không máy móc. Đừng làm người khờ dại chỉ đi dự tiệc cho có mặt mà không ăn tiệc (không chú tâm nghe Lời Chúa, không lãnh nhận Thánh Thể Chúa), chúng ta cần biết lắng nghe Lời hằng sống của Chúa Giêsu và đón rước mình Thánh của người làm của ăn nuôi dưỡng tâm hồn; để đời sống của Chúa Giêsu, tinh thần của Người thấm nhập vào trong con người và cuộc đời của mỗi người chúng ta, hầu chúng ta trở nên cánh tay nối dài của Người trong công cuộc dựng xây vương quốc nước trời nơi trần gian và được sống hạnh phúc muôn đời bên Chúa.

            Nói về bánh trường sinh cho người Do Thái năm xưa hay nói về bánh hằng sống cho người thì nay đều khó cả bởi thực tế cuộc sống cho thấy chẳng ai sống mãi trong cuộc đời này. Dù có ăn uống điều độ, chọn thức ăn và đồ uống sạch, dùng đủ thứ thuốc, sự sống tự nhiên vẫn phải qua đi ở một thời điểm nào đó.

            Vì thế, để tin vào bánh hằng sống và mở lòng ra đón nhận thứ bánh ấy, con người cần phải có ơn Chúa và lòng khao khát. Chính Chúa soi sáng, mở lòng, và đi vào tâm hồn mỗi người; còn con người thì khao khát tìm kiếm và khi gặp thì khiêm tốn đón nhận.

            Lời nói của Chúa Giêsu không phải người Do Thái nào cũng đón nhận. Chỉ những ai được Chúa Cha trao cho Ngài mới đến với Ngài, mới tin vào Ngài, và mới can đảm bước đi theo Ngài. Những người này sẽ không phải chết đời đời, sẽ được Ngài cho sống lại vào ngày tận thế bởi Ngài đến trần gian để thực thi thánh ý của Chúa Cha: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại ngày sau hết.”

            Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời được ban xuống để lôi kéo con người lên với Chúa Cha. Người tín hữu Kitô tiếp nhận Thánh Thể để được lãnh nhận tình yêu Chúa và từ đó mới trào sang cho tha nhân, đưa mọi người về với Thiên Chúa. Chia sẻ bàn tiệc với Chúa Giêsu trong Thánh Thể, người tín hữu cũng chia sẻ cơm bánh cho tha nhân hằng ngày. Thật kỳ diệu thay, chính khi chia sẻ tình yêu cho tha nhân, họ lãnh nhận được sự sống trường sinh của Chúa Kitô tràn ngập tâm hồn.

            Chúa Giêsu đã ví Người là ‘Bánh’ – Bánh trường sinh – Bánh ban sự sống đời đời –  cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của Ngài trong cuộc sống chúng ta. Cũng như sự sống thể lý con người cần cơm bánh, thì trong lãnh vực đời sống tâm linh chỉ Chúa Giêsu mới thỏa mãn được cơn đói khát của con người; và chính đời sống tâm linh là yếu tố chi phối toàn bộ đời sống con người - nếu đời sống tâm linh sung mãn thì cuộc sống con người mới thực sung mãn.

 

Thứ năm tuần 3 PS

Ga 6, 44-51

BÁNH TRƯỜNG SINH

Cuộc sống trần gian này chỉ là sự sống của thân xác mong manh, mau qua chóng tàn như hơi thở thoáng bay. Vậy đâu là sự sống đích thực viên mãn mà con người hằng khát khao mong đợi? Đâu là lương thực bất tử có thể đáp ứng nhu cầu sự sống vĩnh cửu cho con người?

Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho chúng ta về chân lý đích thực của sự sống: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (c.51ab). Lời xác quyết của Chúa Giêsu đã thực sự làm thỏa mãn cơn khát sự sống hằng ấp ủ từ sâu thẳm nội tâm con người qua bao thời đại.

            Tại hội đường Capharnaum năm xưa, Chúa Giêsu tuyên bố: “Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời. Ta là bánh ban sự sống” (Ga 6, 47).

            Quả thế, Chúa Giêsu là Đấng Messia mà muôn dân trông đợi. Ngài là Đấng Cứu Độ mà Thiên Chúa hứa ban cho con người sau khi nguyên tổ phạm tội (St 3, 15). Ai tin Chúa Giêsu thì được Thiên Chúa cưu mang trong đời sống mới và được cứu độ. Đồng thời, đức tin ấy cũng sẽ được nuôi dưỡng bằng chính Thịt và Máu của Chúa Giêsu.

            Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho chúng ta về chân lý đích thực của sự sống: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (c.51ab). Lời xác quyết của Chúa Giêsu đã thực sự làm thỏa mãn cơn khát sự sống hằng ấp ủ từ sâu thẳm nội tâm con người qua bao thời đại. Nhưng làm cách nào chúng ta có thể đón nhận được sự sống đích thực do chính Chúa Giêsu mang đến?

            Thiên Chúa đã yêu thương tạo dựng nên chúng ta để được tận hưởng sự sống vĩnh cửu trong vương quốc yêu thương của Ngài. Vì thế, Thiên Chúa Cha luôn không ngừng dẫn dắt con người đi vào trong quỹ đạo yêu thương bằng sự nhận biết về Ngài qua con người Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã quả quyết: “Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đã sai Ta không lôi kéo nó” (c. 44). Thiên Chúa luôn có nhiều cách thức để giúp chúng ta nhận biết tình yêu của Ngài.

            Đặc biệt qua trung gian Chúa Giêsu, Con Một yêu dấu của Ngài. Trong mỗi biến cố cuộc sống, với sự tĩnh lặng của lương tâm, hay nhờ những trung gian của Giáo hội, Thiên Chúa lôi kéo chúng ta đến nhận biết Chúa Giêsu và tin vào Ngài, vì chính Ngài cũng là Thiên Chúa yêu thương và quyền năng. Ngài đã đến giữa lòng nhân loại với kiếp sống con người. Ngài yêu thương hiến thân phục vụ và cuối cùng đã chịu đau khổ và chết vì tội lỗi nhân loại. Nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài phục sinh vinh hiển, chính nhờ sự phục sinh của Ngài mà chúng ta hy vọng được trả lại sự sống vĩnh cửu mà Ađam đã đánh mất xưa kia. Thiên Chúa vẫn âm thầm hiện diện trong cuộc sống chúng ta để lôi kéo chúng ta đến với Chúa Giêsu lãnh nhận sự sống vĩnh cửu. Nhưng đấy lại là tự do của mỗi chúng ta! Chúng ta có quyền đón nhận hay từ chối?

            Cuộc sống hôm nay có quá nhiều hấp dẫn, với những lời mời gọi đầy thu hút dẫn chúng ta đi vào một sự sống giả tạo, bấp bênh, không định hướng qua tiền bạc, danh vọng, thú vui, hưởng thụ. Chúng ta dễ bị cuốn hút vào vòng xoáy của muôn ngàn cạm bẫy giăng mắc tứ phương. Làm sao chúng ta có thể chân nhận ra sự sống đích thực cần phải vươn tới?

            Chúa Giêsu đang thì thầm bên tai chúng ta: “Ta là bánh trường sinh!” (c. 48). Chính Chúa chứ không phải là những tấm bánh “manna” dưới muôn vàn hình thức tốt đẹp, nhưng chỉ đem lại sự chết muôn đời. Chúng ta có muốn đến với Ngài để ăn chính Ngài và để được sống đời đời không? Quả thật không đơn giản chút nào, vì nhiều khi chúng ta đã bị nhận chìm dưới vũng lầy của muôn ngàn “manna” trá hình. Lời Chúa hôm nay đang thức tỉnh chúng ta hãy đứng lên quay trở về bên Ngài để lãnh nhận sự sống, tình yêu và hạnh phúc “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (c. 51b).

             Bí tích Thánh Thể mà chúng ta lãnh nhận là bí tích của đức tin. Vì chỉ có đức tin là con đường duy nhất đưa ta đến với mầu nhiệm cực trọng này. Nơi bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hằng chờ đợi chúng ta đến với Ngài. Trong hình bánh bé nhỏ, Chúa Giêsu chờ đợi ta rước lấy Ngài; nhờ vậy, chúng ta sẽ được bao bọc trong ân sủng và được củng cố trong tình yêu của Ngài. Nhờ rước Thánh Thể, chúng ta sẽ thoát khỏi tình trạng dửng dưng, nguội lạnh; giúp chúng ta tránh được các tội nguy tử và chống lại các tội nhẹ một cách hữu hiệu. Hơn thế nữa, Thánh Thể gia tăng sự sống siêu nhiên, làm cho sự sống ấy lớn mạnh và triển nở, gợi lên trong linh hồn lòng khát khao những thực tại vĩnh cửu: “Ai đến với Ta sẽ không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Ga 6, 35).

            Ăn để sống, không phải sống để ăn đã trở thành chân lý trong văn hoá ứng xử của con người. Trong đời sống thiêng liêng việc “ăn và uống” Mình và Máu Thánh Chúa cũng là nhu cầu cần thiết để người tín hữu sống đời đời ngay khi ở đời này và còn đạt đến sự sống ở đời sau nữa.

            Ta cần can đảm và dứt khoát từ bỏ những quyến rũ của nhiều tấm bánh “manna” trong cuộc sống hiện tại, để tâm hồn nhẹ nhàng thanh thoát tiến đến Bàn tiệc Thánh Thể lãnh nhận Bánh hằng sống. Chính Đấng phục sinh có sức biến đổi và cảm hóa chúng ta mỗi khi chúng ta lãnh nhận Mình Máu Ngài. Chính Ngài thông ban cho chúng ta sự sống thần linh ngay từ đời này bằng một cuộc sống an bình, yêu thương và tràn đầy hạnh phúc. Dẫu rằng cuộc đời còn lắm gian nan và thách đố, nhưng với tình yêu của Đấng phục sinh, chúng ta đủ sức mạnh để vượt thắng tất cả.

 

 

THỨ SÁU TUẦN 4 PS

Ga 10, 11-18

MỤC TỬ NHÂN LÀNH

            Gương mặt của Đức Kitô,vị mục tử đích thực đi ngược lại mọi hình thức quyền hành của con người chỉ biết tìm “xén lông” các kẻ khác vì lòng ích kỷ của mình hay vì trách nhiệm sứ vụ mà không quan niệm được như là tận hiến chính mình để phục vụ anh em. Chúa Giêsu tự nhận mình là người mục tử nhân lành, vì người biết các kẻ thuộc về mình và họ cũng biết Người.

            Chúa Giêsu là mục tử đích thực và nhân lành, chỉ vì đời sống của Người hội nhập sự nhân lành và chân lý của Thiên Chúa Giao ước. Chỉ có Người muốn điều tốt lành và thánh thiện cho con người. Người đến chỉ vì điều này: ban cho họ sự sống tràn đầy. Thật vậy, đặc tính duy nhất của vị mục tử nhân lành - mà thánh Gioan lập lại 5 lần - là “ban sự sống mình cho đàn chiên”. Người nhân lành vì ban sự sống và “không có gì cao quí hơn để làm chứng cho tình yêu cho bằng trao ban sự sống cho người mình yêu.”

            Chúa Giêsu là mục tử chăn dắt và yêu thương đàn chiên của mình.  Có một mối tương giao giữa chủ chăn và đàn chiên. Chiên nghe tiếng chủ, và chủ chăn biết con chiên nào sót ngoài đồng. Mênh lệnh của Chúa Cha được Chúa Giêsu thực hành là hiến mạng sống vì đàn chiên, và Chúa Giêsu đã vâng lời đến chết trên thập giá.

            Mục tử và đàn chiên trên đồng cỏ là một hình ảnh quen thuộc đối với người Paléttin. Giữa người và chiên có một mối tương quan mật thiết. Ở đây Chúa Giêsu tự ví mình như người mục tử. Mục tử nhân lành khác với người chăn thuê, vì dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, chứ không bỏ chiên mà chạy khi gặp sói dữ. Hội Thánh là đoàn chiên của Ðức Giêsu Kitô. Giữa Ngài và từng con chiên, có mối dây gắn bó. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Cha biết tôi và tôi biết Cha. Ðây là cái biết sâu thẳm, cái biết hai chiều. Chiên không phải là một con vật ngờ nghệch, thụ động.

            Chiên là hình ảnh của một ngôi vị tự do. Vị Mục Tử gọi tên từng con bằng giọng quen thuộc. Chiên nghe tiếng của Ngài và đi theo. Như thế giữa Mục Tử và đoàn chiên có sự hiểu biết nhau sâu xa, nhận ra nhau dễ dàng, và một sự trân trọng quý mến nhau đặc biệt.

            Sau Phục Sinh, Chúa Giêsu đã giao cho Phêrô sứ mạng chăn dắt và chăm sóc đoàn chiên của Ngài. Sứ mạng này bắt nguồn từ một tình yêu. Yêu mến Ngài dẫn đến yêu mến đoàn chiên Ngài. Chúa Giêsu là Mục Tử tối cao và gương mẫu. Mọi mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Mọi mục tử phải noi gương Ngài, dám chết để cho chiên được sống.

            Hình ảnh Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành là một trong những hình ảnh lâu đời nhất của Kitô giáo. Hình ảnh này được tìm thấy trong các hang toại đạo, người ta khắc vẽ Chúa Giêsu với vẻ dịu dàng và trìu mến của người chăn chiên, vác chiên trên vai, tìm kiếm con chiên lạc, đưa chiên về với đàn của chúng để cùng chia sẻ một đồng cỏ xanh tươi.

            Khi lấy lại hình ảnh người mục tử và tự ví mình như thế, Chúa Giêsu đưa chúng ta về với hình ảnh cổ xưa trong Kinh Thánh, chứng tỏ Thiên Chúa không chỉ là Đấng dẫn dắt dân, hơn thế nữa còn là Đấng trao ban sự sống cho dân, sự sống ấy bắt nguồn từ tình yêu hỗ tương giữa Chúa Cha và Chúa Con, vì trong Người, mệnh lệnh và tự do đồng nhất với nhau : "Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta "(Ga 10, 18).

            Chúa Giêsu yêu thương con người bằng một tình yêu thí mạng khi tự ví mình là "mục tử tốt lành"sẵn sàng thí mạng vì đoàn chiên. Người nói thẳng : "Ta là mục tử tốt lành" (Ga 10, 11). Đối với Chúa Giêsu, tất cả là hiện tại, không có gì là quá khứ hay tương lai hết. Điều này đã được nói trong sách Khải Huyền : "Ta là Alpha và Ômêga chính là Ta, Chúa, Thiên Chúa phán, Đấng đang có, đã có, và sẽ đến, Đấng toàn năng!" (Kh 1, 8). Và trong sách Xuất Hành : "Ngươi sẽ nói với con cái Israel thế này: "Ta có" đã sai tôi đến với các người!" (Xh 3, 14).

            "Ta là mục tử tốt lành". Từ "mục tử" có nguồn gốc từ động từ "chăn nuôi". Chúa Giêsu Kitô nuôi dưỡng chúng ta bằng chính thịt máu mình hằng ngày trong bí tích Mình Thánh. Khi Samuen hỏi Giêsê, cha của Đavít : "Các cậu này tất cả là con trai của ông sao?" Ông đáp: "Còn đứa nhỏ nhất nữa; này nó đang phải chăn cừu!" (1S 16,11). Đavít, một con người bé nhỏ và khiêm nhu, đã chăn sóc đoàn chiên mình như một người mục tử.

            Như vậy, mục tử thật thì luôn hết mình vì đàn chiên. Kẻ chăn thuê chỉ lo vun vén cho bản thân. Mục tử thật không nói mà không làm, nhưng đi bước trước để chiên noi theo, hy sinh cho đàn chiên. Kẻ chăn thuê chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử thật luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Kẻ chăn thuê chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình. Họ sống hưởng thụ, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.

            Chúa Giêsu đưa ra khuôn mẫu mục tử nhân lành là chính Chúa. Cả cuộc đời không tìm an nhàn cho bản thân. Người rong ruổi gió bụi để tìm từng con chiên lạc đưa về ràn. Vì sự sống của đàn chiên, Người sẵn sàng đối phó với sự dữ để bảo vệ đàn chiên. Người đã chấp nhận cái chết để đàn chiên được sống, bởi như Người từng nói: “Ta đến để chúng được sống và được sống một cách dồi dào”. Thực hiện mục đích ấy, Người đã phải trả bằng một giá rất đắt, bằng chính mạng sống của mình.

            Người “mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”. Những lời này tố cáo chúng ta ngày nay có không ít những mục tử giả hiệu,những kẻ bỏ rơi đàn chiên để chỉ lo cho bản thân. Như vậy họ là những mục tử dối trá họ đem tình yêu Thiên Chúa ra làm bức bình phong để lừa gạt, họ đã đẩy những con chiên hiền lành xuống vực thẳm khôn lường.

            Qua hình ảnh này, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng, chỉ có một cung cách phục vụ duy nhất đó là phục vụ như Người đã phục vụ, nghĩa là sẵn sàng hiến thân cho và vì tha nhân mà thôi. Ai sống và phục vụ như Chúa Giêsu thì kẻ ấy thuộc về Người, còn ai sống ngược lại cung cách phục vụ của Người thì kẻ ấy chỉ là quân trộm cướp mà thôi.

 

Thứ Bảy tuần III PS

Ga 6, 52-59

BÁNH HẰNG SỐNG

            Trang Tin mừng hôm nay nằm cuối trình thuật Bánh Hằng Sống, trong đó Chúa Giêsu tuyên bố Ngài chính là manna mới và đích thực, mang lại sự sống đời đời cho những ai “ăn thịt và uống máu” Ngài. Chúa Giêsu cố gắng thuyết phục người Do thái tin và đón nhận Ngài vì lợi ích của chính họ, nhưng thất bại. Lý do chủ yếu có lẽ nằm ở chỗ họ không thể vượt qua cách hiểu thông thường, vật chất về việc ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu, và cho đó là việc man rợ, mất nhân tính.

            Tuy nhiên, ta cũng có thể nghĩ đến một lý do khác, đó là từ chỗ bất ngờ, họ đi đến chỗ nghi ngờ lòng yêu thương, nhân từ của Chúa Giêsu, Đấng tuyên bố hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của người khác.

            Diễn từ về “Bánh Hằng Sống – Bánh Trường Sinh – Bánh Từ Trời...”  khá dài nhưng nó đánh dấu một bước quan trọng trong cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu. Ở đây, Chúa Giêsu mạc khải căn tính của Người, đúng hơn là Người vén màn cho nhân loại thấy thiên tính của Người. Người chính là Ngôi Hai Thiên Chúa – Một chân lý mà sau này Giáo Hội phải mất một thời gian dài, mở các công đồng để xác định và chống lại các bè rối phủ nhận Chúa Giêsu có hai bản tính và Chúa Giêsu là Thiên Chúa.

            Chúa Giêsu nói và nhấn mạnh “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống” (c. 53). Hậu quả của việc không đón nhận, không chấp nhận Người làm của ăn của uống nuôi dưỡng thân xác, thì kẻ ấy ắt phải chết. Có lẽ người Do Thái cảm thấy gớm ghiếc khi nói đến ăn thịt và uống máu một con người, huống chi đây lại khẳng định có vẻ ngạo mạn là : Nếu không ăn uống máu thịt Con Người ấy, thì sẽ chết.

            Khi nghe Chúa nói như vậy, họ chỉ nghĩ về cái chết thể lý, nên họ cứng lòng. Họ chỉ quan tâm đến việc ăn thịt và uống máu con người Giêsu Nagiaret, nên họ không chịu tin. Họ không đào sâu tìm hiểu về Đấng Mêsia, về một vị Thiên Chúa đã làm người, về tình yêu Thiên Chúa đang tuôn tràn Ơn Cứu Độ, nên họ đã từ chối và có những lời lẽ, tư tưởng, hành vi xúc phạm đến Người.

            Và ta thấy dù sao đi chăng nữa thì lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn bền vững. Chúac Giêsu vẫn kiên trì giải thích và dạy dỗ họ “Ai ăn thịt và uống máu tôi, sẽ được sống muôn đời và kẻ ấy sẽ sống lại trong ngày sau hết” (c. 54). Chúa Giêsu đưa ra một chân lý mới. Chân lý này không khác chân lý trước, nhưng chỉ nói lên điều tích cực, nói lên niềm vui ơn cứu độ cho những ai tin vào Người. Ơn cứu độ này chính là cuộc sống muôn đời. Vì con người ai cũng “ham sống, sợ chết” và Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống sẽ thực hiện điều ấy cho những ai mở lòng đón nhận Ngài. Thiên Chúa là Đấng Trung Thành, Ngài không lừa dối ai bao giờ “Thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống” (c. 55).            

            Ta thấy chỉ có của ăn, của uống này mới nuôi sống con ngươì mà thôi. Của ăn của uống này mới thanh tẩy vết nhơ tội lỗi nơi con người do ông bà nguyên tổ gây nên và chính của ăn của uống ấy mới đưa con người tháp nhập vào đời sống vĩnh cửu của Ba Ngôi. Của ăn của uống này là “hàng thật”, đưa đến sự sống”thật”, vì đó chính là Thịt Máu của một con người đã nói “Tôi làm chứng cho Sự Thật. Ai nghe Sự Thật đứng về phía tôi”(Ga 18, 37), “Tôi là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống”(Ga 14, 6).

            Hơn nữa, “nếu ai ăn thịt và uống máu, kẻ ấy sẽ ở lại trong Người và Người sẽ ở lại trong kẻ ấy”(c. 56). Như vậy, nếu chúng ta ăn và uống máu Chúa Giêsu, thì Chúa Giêsu sẽ sống trong ta và ta sống trong Chúa Giêsu. Lúc đó, ta và Chúa Giêsu sẽ nên một, như Đức Lang Quân kết hiệp với Hiền Thê. Thiên Chúa kết hiệp với con người. Khi đó, Chúa sẽ biến máu tội lỗi của ta sẽ trở thành máu công chính, thịt con người trở thành thịt của Con Thiên Chúa. Thân xác nhơ bẩn của ta sẽ nên sáng láng như thân xác phục sinh của Người. Trong chúng ta sẽ có giòng máu và sự sống của chính Thiên Chúa.

            “Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai tôi và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà sống như vậy” (c. 57). Chúa Giêsu so sánh giữa việc kết hợp giữa Người với kẻ ăn thịt và uống máu Người như việc kết hợp giữa Chúa Con và Chúa Cha vậy. Nếu ta ăn thịt và uống máu Người, ta sẽ sống nhờ người như Người đã sống nhờ Cha. Từ đó, ta đi vào tương quan với Ba ngôi Thiên Chúa, được thông phần sự sống và hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Ba Ngôi. Vậy, khi ăn thịt và uống máu Chúa, ta không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là “ Đức Kitô sống trong ta” (Gal 2, 20).  

            Thế giới mà chúng ta đang sống vẫn bị đánh giá là ngày càng ích kỷ. Con người ngày càng thu mình lại, nhiều lúc vì lợi ích của mình mà bất chấp mọi điều khác. Sống trong một xã hội như thế, có nguy cơ con người không những không làm điều tốt cho người khác, nhưng tệ hơn, còn tỏ ra nghi ngờ, dè chừng trước những việc tốt của người khác, vì cho rằng nó trái “tự nhiên” và chỉ là vỏ bọc bên ngoài.

            Như vậy, nhân loại sẽ không còn là cộng đồng hiệp thông, nhưng biến mình thành ốc đảo, thành “kẻ thù” của nhau. Người môn đệ Chúa Giêsu được mời gọi đem tinh thần yêu thương của Tin Mừng thấm nhập vào mọi thực tại của thế giới này, giới thiệu và giúp mọi người tiến tới Chúa Giêsu, Tình Yêu tự hiến và là khuôn mẫu của mọi tình yêu. Để làm được điều đó, người môn đệ trước hết phải cảm nhận cách sâu xa tình yêu trao ban của Chúa Giêsu qua việc siêng năng lãnh nhận Thánh Thể, và lấy đó làm khuôn mẫu cho mình.

            Kết thúc trang Tin Mừng, Chúa Giêsu nhắc lại một lần nữa về chân lý mà người Do Thái không chịu tin nhận “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (c. 58).

            Và rồi ta nhận ra lòng thương xót của Chúa Cha qua Chúa Giêsu “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một” (3, 16), nhưng chúng ta vẫn dửng dưng và từ chối “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (1, 11).

            Thực tế, nếu chúng ta đón nhận Con của Ngài, chúng ta sẽ được cứu độ (3, 17). Như người cha hằng mong đứa con đi hoang trở về, như người mục tử đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất, như bà goá soi đèn, quét nhà tìm thấy đồng bạc bị mất (Lc 15). Thiên Chúa cũng khắc khoải đi tìm con người và Ngài bao dung, rộng lượng đón nhận chúng ta trở về với Ngài. Thật vậy, Thiên Chúa đã đi bước trước trong công cuộc hoà giải chúng ta với Ngài bằng giá máu của chính Con Một yêu dấu của Ngài. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, vì chúng con là kẻ có tội.

 

 

 

May 3, 2020