Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa Nhật V Phục Sinh, Năm A-2020

 

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH, NĂM A-2020

Ga 14, 1-12

CHÚC THƯ CỦA THẦY

            Tin Mừng hôm nay được thánh Gioan ghi lại những lời của Chúa Giêsu trước khi Ngài đi chịu chết, có thể nói đó là những lời cuối cùng của Chúa Giêsu, hay còn gọi là "Chúc Thư" của Ngài để lại cho các tông đồ. Qua đó Chúa Giêsu cũng tiên báo về cuộc sống sau này mà các tông đồ phải làm chứng cho Chúa.

            Phần mở đầu của bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã khuyên các tông đồ như sau: "Các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy". Sự lo lắng, xao xuyến, mất lòng tin vào Thiên Chúa, mất lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô phải chăng đó là đặc điểm của con người trong xã hội ngày nay.

            Chính vì thế, khi khởi đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã lên tiếng mời gọi mọi người: "Đừng sợ! Đừng sợ! Hãy mở cửa tâm hồn đón nhận Chúa Kitô, đón nhận Thiên Chúa”.

            Lời "Đừng sợ" này đã được Đức Thánh Cha luôn luôn nhắc đi nhắc lại trong các dịp khác nhau để kêu gọi tất cả mọi đồ đệ của Chúa và tất cả mọi người có thành tâm thiện chí đang đứng trước những khó khăn thử thách "Đừng sợ, đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy", Đó là những lời trấn an của Chúa Giêsu đối với các tông đồ.

            Thật thế, trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa Giêsu, các tông đồ không thể nào tránh khỏi những khó khăn thử thách xảy đến trong cuộc sống. Bởi vì, Chúa Giêsu không còn hiện diện bên cạnh một cách hữu hình với các ngài, có thể nói được là để giúp đỡ các ngài vượt qua được những thử thách, những khó khăn.

            Chúa dặn dò ta đừng xao xuyến, sợ hãi khi phải chịu đau khổ, chịu chết vì theo Ngài. Vì đó là con đường đưa ta về nhà Cha hằng sống. Con đường Giêsu dẫn ta về trời, là con đường thập tự, những người đi trên đó mang trong mình trái tim yêu thương . Những người chọn đường Giêsu, phải sống tâm tình bao dung quảng đại với anh em. Những người chọn đường Giêsu là sống theo giáo huấn của Ngài. Vì "Không ai có thể đến với Chúa Cha là không qua Thầy”. Không ai có thể sáng chế một lối nào khác để về tới nhà Cha, hãy can đảm theo Chúa Giêsu.

            Về phần Chúa Giêsu, sau khi Phục Sinh, Ngài phải trở về cùng Thiên Chúa Cha. Do đó, tất cả các tông đồ cũng như tất cả các đồ đệ của Chúa, trong đó có cả chúng ta ngày nay nữa, chỉ còn bằng lòng với sự hiện diện thiêng liêng của Chúa, sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể, sự hiện diện này không thể kiểm chứng được bằng giác quan.

            Ta thấy Chúa Giêsu thấy trước hoàn cảnh này, nên Ngài đã kêu gọi các tông đồ cũng như mỗi người chúng ta hôm nay: "Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy". Vì thế người Kitô hữu phải là người can đảm nhất, không sợ một chướng ngại gì, vì có Chúa ở cùng. Bởi thế, đức tin mạnh mẽ sẽ giúp chúng ta vượt qua những khó khăn thử thách, giúp chúng ta đi tới cùng và luôn giữ vững niềm vui không những trong tâm hồn mà được thể hiện ra bên ngoài.

            Vậy vận mệnh cuối cùng của cuộc đời chúng ta là ở nơi nhà Cha, cho nên chúng ta không còn phải lo sợ trước những thử thách, trước những gian nan xảy đến, vì chúng ta biết rằng tất cả những thử thách ấy đều giúp cho mỗi người có dịp thuận tiện để hành trình trở về nhà Cha. Do đó, người Kitô hữu phải là người luôn vui vẻ, vì Thiên Chúa là Chủ Tể mọi vật trong vũ trụ luôn ở với chúng ta và đứng về phía chúng ta. Hơn nữa, Ngài có thể dùng quyền năng của Ngài để biến đổi những thử thách, những nỗi buồn của chúng ta trở thành niềm vui và là niềm vui đời đời.

            Mọi người chúng ta đều muốn bình an. Tất cả chúng ta đều cố gắng tìm một hòn đảo an bình, một giải pháp lâu dài để thoát khỏi khó khăn và giống như các tông đồ: chúng ta buồn bã, sợ hãi, bất lực trước cuộc sống. 

            Tuy nhiên, theo chân Chúa Giêsu và các tông đồ, vấn đề không phải là từ chối mọi khoảnh khắc bình an, mọi hòn đảo an bình, mà là nhận ra rằng những hòn đảo nhỏ khó có thể đứng vững trong cơn bão. Điều quan trọng, đó là việc tìm kiếm sự đảm bảo trong đức tin vào lời hứa mà Chúa Giêsu đưa ra cho chúng ta: "Thầy sẽ ban cho anh em một Đấng Phù Trợ.”.. Dù có chuyện gì xảy ra... Hãy tin! Hãy tin rằng Thầy Giêsu sẽ luôn cung cấp cho chúng ta đủ nguồn lực để đương đầu với cuộc sống!

            “Bình an” là điều mà mọi người đều mong muốn. Tuy nhiên, mỗi người hiểu về bình an dưới những lăng kính khác nhau. Các tôn giáo cũng mặc cho nó một ý nghĩa riêng biệt theo giáo lý của tôn phái mình. Bình an mà Chúa Giêsu trao ban cho các môn đệ không phải là thứ bình an như người đời vẫn hiểu: “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con bình an của Thầy, Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27).

            Đừng xao xuyến lo âu vì những bất ổn của địa cầu, của tình anh em hữu nghị đổi thay, hay con người thay lòng đổi dạ. Hãy phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa, như trẻ thơ trong vòng tay của mẹ. Vì thế giới này là tạm bợ, con người là thay đổi, không phải là chổ nương thân. Chỉ trong Thiên Chúa chúng ta mới tìm được nguồn vui tột đỉnh của tâm hồn.

            Nếu con người cố bám vào bình an hời hợt của thế gian, thì khó mà cảm nhận được sự bình an của Chúa. Trong sự bình an đích thực của Thiên Chúa, chính Chúa đã trải qua cuộc tử nạn, tự hiến và trao ban vì tình yêu, cho đến ngày phục sinh khải hoàn. Ngày nay bước theo Chúa giữa thế trần này, ta cũng phải đương đầu với những giằng co tranh chấp trong tâm hồn và bên ngoài cuộc sống. Với cái nhìn thế gian, ta đã lãnh nhận những thua thiệt, nhưng như Chúa trên thập giá, ta nhận được sự bình an.

            Những ước mong sao lời chào chúc bình an trong mỗi thánh lễ: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em” luôn ngự trị trong tâm hồn mỗi chúng ta, để tâm hồn chúng ta luôn được bình an và được hưởng ơn cứu độ.

            Chúa dạy: "Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”. Nếu phải bỏ mái nhà tranh vách đất đi, thì chúng ta có một nhà mới, được xây bằng gạch đá sang trọng, chẳng có ai lại xao xuyến khi bị phá bỏ. Nhưng trong lãnh vực Đức Tin, không dễ gì chúng ta chấp nhận phá bỏ mái nhà là "của cải trần gian, cái tôi xác thể mau qua”, để có được nhà mới trong nước Chúa. Không dễ chút nào. Nếu không có một xác tín thâm sâu về cuộc sống bên kia sự chết, từ bỏ là gian nan. Xin Chúa Giêsu ban thêm đức tin cho mỗi người chúng ta, để dám từ bỏ mọi sự đời này, mà chọn lấy sự sống đời đời trong nhà Cha.

 

Thứ Hai tuần 5 Phục Sinh 2023

Cv 14:5-18; Tv 115:1-2,3-4,15-16; Ga 14:21-26

Ở trong tay Chúa

          Chúa Giêsu khai mạc một kỷ nguyên mới và Ngài mời gọi con người tham dự vào kinh nghiệm thiêng liêng làm nên vận tống của họ, đó là sống đời sống Chúa Cha qua Chúa Con linh nghiện này chỉ có thể trung thực khi nó bén rễ sâu đong việc tuân giữ lời Chúa.

          Tin mừng hôm nay, khi tông đồ Giuđa Thađêô đặt câu hỏi: Tại sao Thầy tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ ra cho thế gian ? Chúa Giêsu trả lời bằng cách nhắc đến tình yêu mà con người phải có đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa không giới hạn hành động cứu rỗi của Ngài, nhưng chỉ có con người mới là kẻ ngăn cản và chống lại sự thật của Chúa, không yêu mến Chúa và không tuân giữ các giới răn của Ngài. Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy . Đây là một thực tại cao cả đối với con người khi chấp nhận yêu mến Thiên Chúa, hay đúng hơn đểcho Thiên Chúa yêu thương mình.

          Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Sự quyết tâm bước theo Chúa được đo lường bằng sự trung ưu với lời Ngài. Ai yêu mến Chúa và được Ngài yêu mến sẽ liên kết với Ngài một cách mật thiết, lời Chúa sẽ thám nhập và đi vào tận lâm hồn họ, biến đổi họ và làm cho họ trở thành những người góp phần làm sáng tỏ khuôn mặt Thiên Chúa cho thế giới.

          Để được ở trong tay Chúa, để được ở với Chúa, để được Chúa cư ngụ trong tâm hồn, đó là mục đích của cuộc sống đức tin mà người Kitô hữu phải không ngừng theo đuổi. Đó cũng là một trong những ý tưởng nổi bật trong Tin mừng Gioan. Những môn đệ đầu tiên đã đến xem nơi Chúa Giêsu cư ngụ và đã ở lại với Ngài. Chúa Giêsu đã kêu gọi họ trước tiên là đến và ở với Ngài. 

          Tin mừng hôm nay cũng muốn đào sâu ý tưởng ấy: “Ai yêu mến Ta, Ta sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ minh ra cho nó”. Trong Cựu ước Đền thờ vốn được quan niệm  như nơi cư ngụ của Thiên Chúa. Nhưng với Chúa Giêsu, Đền thờ Thiên Chúa từ nay sẽ là tâm hồn con người; từ nay nhờ phép rửa: người Kitô hữu thờ thành đền thờ của Chúa. Nhưng sự hiện diện ấy của Thiên Chúa, người Kitô hữu chỉ cảm nhận được khi họ yêu mến Chúa Giêsu và tuân giữ giới răn của Ngài. Sự hiện diện ấy, người Kitô hữu chỉ có thể làm lan tỏa chung quanh bằng việc tuân giữ giới răn của Chúa Giêsu, nghĩa là sống theo Ngài, sống bằng chính sức sống của Ngài.

          Lời Chúa hôm nay nhắc nhở người Kitô hữu về sứ mệnh làm chứng cho sự hiện diện của Chúa trong trần thế. Người ta không thể cho đi điều mình không có. Nguyên tắc này càng đúng hơn trong đời sống đức tin: người Kitô hữu sẽ không là chứng nhân sự hiện diện của Chúa nếu cuộc sống của họ không có sức tỏa lan sự hiện diện ấy. Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta cách làm chứng cho sự hiện diện ấy, đó là tuân giữ các giới răn của Ngài. Khi những người ngoài nhìn vào cộng đoàn Kitô tiên khởi, họ đã phải thốt lên: “Kìa xem họ yêu thương nhau dường nào! Đó cũng là thách đố đang được đặt ra cho người tín hữu chúng ta: chúng ta phải sống thế nào để sự hiện diện của Chúa không chỉ giới hạn trong nơi thờ phượng hay trong những sinh hoạt tôn giáo, mà phải được thể hiện bằng cả cuộc sống chúng ta nữa. 

          Chúng tôi không cầu nguyện để thoát khỏi tay các ông, mà để được ở trong tay Chúa ước gì, qua cuộc sống mỗi ngày, chúng ta luôn cảm nhận được sự hiện diện yêu thương của Chúa, và đáp trả tình yêu ấy bằng những cố gắng sống yêu thương, quảng đại để sự hiện diện về tình yêu của Chúa cũng được người khác cảm nhận.

           Chúng ta không đếm xuể những lần chúng ta bất trung với Chúa. Những lần chúng ta phạm luật, phạm giới răn của Người. Ngược lại, có một sư trung thành đối với Chúa mà chỉ là bề mặt thôi: ta có thể chỉ trung thành với Người thông qua lề luật. Luật đạy như thế, thì tôi làm thế. Luật cấm làm thế, thì tôi không làm, nếu không tôi sẽ phạm một tội nặng. 

          Nếu chúng ta trở về với cốt lõi của Phúc âm, chúng ta sẽ thấy xuất hiện một chiều kích khác, chiều kích đầu tiên của quan hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa và với giới răn Người: “Ai yêu mến Thầy, thì giữ lời Thầy”. Tình yêu ở Chúa trở nên sai lệch: Người sẽ là một Thiên Chúa hay trả thù, khát máu và thích xử phạt.

          Rất nhiều Kitô hữu vẫn còn sợ Chúa; họ giữ lời Người vì sợ bị phạt chứ không phải vì yêu thương. Thiếu tình yêu, những đòi hỏi của việc nên thánh trở nên khổ cực: đấy là một cái ách quá nặng nề, một gánh nặng quá sức vác. Trong lòng mình âm ỷ ngòi nổi loạn.

          Ngược lại, nếu quan hệ với Chúa được thiết lập trong tình yêu, thì tình yêu đòi hỏi phải có lòng trung thành. Thiên Chúa sẽ đáp lại lòng trung thành này bằng cách đến cư ngụ trong người ấy. “Cha Thầy sẽ yêu thương người ấy và Chúng Ta sẽ đến cư ngụ trong lòng” 

          Thiên Chúa không cưỡng bách con người chấp nhận sự hiện diện của Người. Người không hành động như thể đến viếng một nhà nghỉ trong những ngày cuối tuần. Người đến trong một tâm hồn dành chỗ cho Người, nơi mà tình yêu và lòng trung thành gặp nhau.

          Trong gia đình, người ta cảm thấy mình bị cưỡng bách phải nhận một đứa con nếu đứa con ấy không được đón nhận trong yêu thương. Trước khi đến, Thiên Chúa chờ đợi chúng ta một câu trả lời được biểu hiện qua những hành động cụ thể.

          Chúng ta khó nhận ra sự hiện diện này. Chúng ta muốn cảm thấy ấm lòng. Tuy nhiên, nếu chúng ta tin, nếu chúng ta yêu mến, nếu chúng ta cậy trông, thì Thiên Chúa đã ở trong chúng ta rồi. Thật vậy, đức tin, đức cậy và đức mến, ba nhân đức đối thần, chính là những phẩm chất của Thiên Chúa, đấy là một cái gì của Người mà Người ban cho chúng ta, những phẩm chất làm cho chúng ta nên giống hình ảnh Người, vì Người trông cậy vào mỗi người chúng ta, Người tin tưởng vào khả năng chúng ta, và yêu mến chúng ta bất chấp những yếu đuối của mình. 2023

 

Thứ Ba tuần 5 Phục Sinh 2023

Cv 14:19-28; Tv 145:10-11,12-13,21; Ga 14:27-31

Hiệp nhất và bình an

          Ai trong chúng ta cũng thấy cần được bình an yên ổn hơn cả cơm ăn, áo mặc. Bình an còn có nghĩa là một tình trạng mạnh khỏe cả xác lẫn hồn. Cho nên chúc bình an là một tình trạng mạnh khỏe cả xác lẫn hồn. Cho nên chúc bình an là chúc cho được khang an đôi phần như thế. Bình an còn có nghĩa là sự sung mãn đầy đủ như ý muốn (St 43,25. Bình an đối với dân Do thái cũng có nghĩa là yên ổn làm ăn, vì dân Do thái là dân hay giao tranh, nên bình an được coi là bổng lộc Giavê thưởng cho lòng trung tín (Lv 26,6).

          Nhưng sự bình an lớn lao nhất đó là sự bình an của Chúa Thánh Thần, là sự bình an tương quan đến Thiên Chúa. Chúa Giêsu gọi những người gây bình an là con cái nước trời (Mt 5, 9). Chúa chúc bình an cho người có lòng ngay lành dưới thế (Lc 2, 14). Sau nữa sự bình an Chúa Thánh Thần mang đến là chính ơn cứu rỗi (Ga 14, 27. Cl 1 ,20. Eph 4, 14). Phúc âm hay lời Chúa cũng được gọi là “Tin Mừng bình an” (Cv 10, 36). Đấy là bình an của Chúa.

          Trong quá khứ  có lẽ chúng ta đã đi tìm bình an như bảo hiểm xe cộ, nhà cửa, nhân mạng. Giới ca sĩ bảo hiểm giọng hát, nghệ sĩ bảo hiểm đôi tay, cầu thủ bảo hiểm đôi chân, rồi có tiền thì gửi gắm chỗ nào chắc chắn nhất. Nhưng rồi chỗ chắc chắn nhất lại trở thành chỗ bất an nhất. Chúa không muốn ban thứ bình an tạm bợ mong manh ấy “Ta không ban như kiểu thế gian thường ban tặng” (c.27). Chúa không ban một thứ bình an để hưởng thụ, ngồi chơi xơi nước không chịu làm việc.

          Bình an của Chúa là gì ? Thưa là thứ bình an bắt nguồn từ chính Ngài. Bình an trước hết là bình an với Chúa, là sống công chính trước mặt Ngài, là sống giới luật của Ngài, có Ngài trong đời sống của mình các Ngài làm chủ đời mình. Bình an đối với Chúa chính là hoà với Ngài và sống một đời sống vâng ý Ngài.

          Bình an đây còn hiểu là bình an với anh em mình làm hòa với nhau. Hơn bao giờ hết người ta mong bình an, người ta kêu gọi sự hoà thuận giữa người và người mà căn bản vẫn là từ lòng mình. Mình có bình an thì mới có thể đem biếu, đem chia chác được. Sự bình an bắt đầu từ lòng mình rồi mới ra tới xã tắc nhân quần.

          Như vậy liệu chúng ta đã có sự bình an như thế chưa ? Liệu chúng ta có được sự bình an của Chúa Giêsu, Đấng đã hoàn toàn tin thác vào Thiên Chúa trong giây phút hấp hối “Lạy Cha con phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46) ? Liệu chúng ta có được sự bình an của cụ già Simêon trong cảnh tuổi đời gần đất xa trời vừa ẳm bế hài Nhi vừa xin “cho tôi tớ ra đi bình an”. Tv 22 nói: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì... dầu qua thung lũng âm u tôi chẳng sợ nguy hiểm vì có Chúa ở cùng tôi” 

          Các môn đệ ngày xưa đã được nghe Chúa Giêsu chia sẻ tâm tình của Ngài khi Ngài cùng với các ông ngồi bên cạnh nhau trong bữa tiệc ly. Chúng ta cũng đã nghe lại những lời thân thương đó mỗi khi chúng ta cùng với Ngài và với nhau dâng Thánh Lễ. Giáo Hội đặt để những lời thân thương ấy sau kinh Lạy Cha và trước khi chúng ta đón nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Chúng ta chứng minh được bao bọc trong bình an của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhất là chúng ta đã dọn lòng mình đủ để có Chúa ngự trong lòng chúng ta.

          Dĩ nhiên, Chúa Giêsu thực sự tin rằng Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô không chấp nhất gì tội lỗi của chúng ta mà dựa trên đức tin của Giáo Hội, của cộng đoàn dân Chúa đã ban cho chúng ta, cho Giáo Hội được ơn hiệp nhất và bình an. Chắc chắn là Giáo Hội rất rõ điều Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng". Và chúng ta cũng phải hiểu được điều đó để hân hoan với bình an mà Chúa ban cho chúng ta. Thế gian là gì trong nhãn quan của thánh Gioan.

          Thế gian là ma quỉ, là mãnh lực của ma quỉ, là thế giới của ma quỉ, là tất cả những con người và những sinh hoạt đồng lõa với ma quỉ. Bình an của thế gian này ban tặng là bình an có được do vũ lực, do đàn áp, do chiến tranh, do mưu mô xảo quyệt, do tội ác, do chiếm đoạt và đe dọa, mong manh biết bao sự bình an tạm bợ này, chỉ cần một vài thay đổi rất ư là đơn giản thì cũng đủ để cho người ta mất đi bình an và lại rơi vào hoảng sợ, vào dằn vặt.

          Ma quỉ và đồng lõa của ma quỉ vốn dĩ rất quen thuộc với chiến lược trở mặt như trở bàn tay, và vì thế không ít những người trở thành nạn nhân của sự bình an do chúng tạo nên. Còn bình an của Chúa ban cho lại là sự bình an của những người được tha thứ tất cả. Bình an của một con người thấy thanh thản trong thân xác và nhẹ nhàng trong tâm hồn. Bình an của một cuộc đời có Thiên Chúa. Sự bình an bất chấp những khó khăn, bất chấp mọi thử thách. Sự bình an của một con người không thấy hổ thẹn gì khi ngước mắt nhìn lên trời, đưa mắt nhìn chung quanh và nhắm mắt lại nhìn vào chính mình.

          Bình an của Chúa Giêsu mang đến không phải là thứ bình an mà thế gian ban tặng. Bình an của thế gian thường chỉ là đồng nghĩa với an phận, với trốn tránh, với thoả hiệp. Bình an của Chúa mang đến chỉ có thể có được bằng một giá đắt đỏ: Nó đòi hỏi sự chiến đấu, chấp nhận mất mát, có khi cả hy sinh mạng sống mình nữa. Bình an ấy chỉ có khi con người có thể thốt lên như Thánh Phaolô “Lương tâm tôi không trách tôi điều gì.”

          Bình an mà hôm nay Chúa Giêsu trao cho các môn đệ thì hoàn toàn khác. Khác ở chỗ: Nếu muốn được bình an thực sự, trước tiên phải có đức tin. Chỉ có đức tin mới cảm nghiệm được sự bình an sâu xa trong tâm hồn. Bởi lẽ: bình an của Chúa Giêsu chính là bình an ngay trong những khổ cực đau thương, mất mát và ngay trong những hiểu lầm oán ghét, bất công... Như vậy, ơn bình an này chính là ân huệ đức tin và hệ quả của bình an chính là đem lại ơn cứu chuộc cho con người chứ không phải đem lại cho con người sự an tâm, đảm bảo phần xác. 2023

Thứ hai tuần V PS

Ga 14, 21-26

YÊU VÀ GIỮ LỜI

            Lời Chúa Giêsu trong trang Tin Mừng hôm nay là một soi sáng cho chúng ta về căn bản của tình yêu mà mỗi người chúng ta cần phải có đối với Thiên Chúa: "Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy". Chúa Giêsu không đòi hỏi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc về tình cảm. Nếu có được những rung cảm ấy thật quí, chúng là các dấu chỉ cho phép tin tưởng rằng: chúng ta đang yêu mến Ngài.

            Yêu và giữ lời người mình yêu, đó là một kinh nghiệm mà ai đó đang yêu hay đã trải qua tình yêu đều thấu hiểu. Khi yêu, ta muốn cho người mình yêu được hạnh phúc.

            Một khi yêu thương một người cách đích thực, ta rất dễ dàng tự ý từ bỏ quan điểm riêng, sở thích riêng của mình để sống hòa hợp với ý muốn và ước vọng của người mình yêu. Nghĩa là, ta không còn chỉ sống cho riêng mình, nhưng sống cho và sống vì người mình yêu mến. “Yêu mến và giữ lời” đây cũng là điều mà Chúa Giêsu đòi buộc nơi mỗi người. Nếu ai đó hỏi tôi, hay hỏi bạn rằng “bạn có yêu mến Chúa Giêsu không?” Thì chắc hẳn câu trả lời sẽ là “có, tôi yêu mến Người”. Tiếp đến, bạn có thể sẽ được hỏi “dấu chỉ nào chứng thực bạn yêu mến Chúa Giêsu”. Với câu hỏi này, chúng ta sẽ có rất nhiều những câu trả lời khác nhau. Tuy nhiên, câu trả lời đúng và đẹp lòng Chúa nhất có thể là “Tôi giữ lời Người truyền dạy cho tôi”.

            Bằng chứng lòng mến Chúa là tuân giữ Lời Chúa. Tình yêu có tính cách hỗ tương, nên người yêu mến Chúa sẽ được Chúa yêu mến và tỏ mình ra cho. “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14, 21). Điều này cho thấy Thiên Chúa mà chúng ta yêu mến, không phải là một Thiên Chúa xa vời, nhưng Người ở rất gần, thậm chí là ở trong và ở với chúng ta “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23).

            Chúa tỏ mình ra cho những ai đón nhận Lời Chúa, những ai tự do chấp nhận Chúa. Người không đến cứu giúp cách lạ thường, không làm những điều kỳ diệu, ngoạn mục để áp lực con người tin theo Chúa. Chúa chỉ đến cư ngụ nơi nhà những ai vì tình yêu mở cửa đón Chúa trong thân tình. Những ai càng cặn kẽ giữ Lời Chúa, thì chứng tỏ lòng yêu mến Chúa đích thực, vì vậy, càng xứng đáng được Thiên Chúa ngự vào lòng kẻ ấy. Điều này làm chúng ta xác tín về diễm phúc được Thiên Chúa ngự trong ta, vì “Thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần” (1Cr 6,19).

            Như vậy, khi chúng ta để cho Lời Chúa làm chủ và để Thánh Thể Chúa nuôi dưỡng đời mình thì thân xác ta nên đền thờ, là nơi Chúa ngự và ở lại. Chỉ có đức tin được thúc đẩy bởi lòng mến mới có thể cảm nghiệm được diễm phúc có Chúa ở cùng, nhất là khi lãnh nhận Thánh Thể.

            Chúa Giêsu trước khi giã biệt các môn đệ cũng nhắn nhủ các ông về điều căn bản “Ai nghe và giữ giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Chúa Giêsu không đòi hỏi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc cảm tính…Tuy nhiên một tình yêu đúng nghĩa là luôn luôn tìm cách làm đẹp lòng người mình yêu, sẵn sàng cho đi tất cả vì người mình yêu, chứ không dừng lại ở những rung động ở thân xác phần nào nói lên tính vị kỷ của mình.

            “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại nơi người ấy”. Mỗi lần, bạn ấy xin cha mẹ đi chơi, chúng tôi đều cười nhạo: “Lớn rồi mà còn xin với xỏ. Mình trưởng thành rồi, muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm tuỳ ý”. Bạn ấy đã giải thích một cách đơn sơ nhưng hợp lý hợp tình: “Hẳn ba má không cần tôi xin, nhưng chắc chắn ba má tôi rất vui khi tôi xin phép như vậy. Tôi làm thế để được làm con và làm con thảo của ba mẹ tôi”.

            Cũng là điều dễ hiểu khi yêu mến ai thì cũng sẵn lòng nghe lời người ấy. Thế nhưng, yêu mến Chúa Giêsu và làm theo lời Ngài để rồi được Thiên Chúa đến ngự trong tâm hồn thì quả là một phần thưởng quá lớn lao không ai dám mơ tưởng, thậm chí không thể biến thành hiện thực được. Dù thế, chính Chúa Giêsu đã thực hiện điều Ngài đã nói khi Ngài là Người Con Chí Ái sẵn lòng vâng phục Chúa Cha cho đến chết. Và khi sống lại từ cõi chết, Ngài còn khiến điều đó trở thành khả thi cho chúng ta: làm theo lời Chúa Kitô là vác thánh giá, chịu đóng đinh với Ngài, mà ai cùng chịu chết với Ngài thì sẽ cùng Ngài sống lại.

            Tuy nhiên, nếu chưa có cũng chẳng nên bận tâm, vì chúng chỉ là những phản ứng trong cơ thể chứ không phải là điều kiện của tình yêu. Một tình yêu đúng nghĩa đòi buộc phải tìm đủ mọi cách để làm đẹp lòng người mình yêu, sẵn sàng cho đi tất cả vì người yêu. Dừng lại tất cả nơi rung cảm phần nào nói lên tâm trạng vị kỷ nơi con người muốn cho đi nhưng đồng thời lại bù đắp, cái tôi vẫn là tâm điểm của tình yêu.

            Khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu trở nên khuôn mẫu của tình yêu. Cuộc đời của Ngài là một thể hiện trọn vẹn thánh ý Chúa Cha. Ðối diện với Thập Giá và cái chết, Chúa Giêsu run sợ chẳng muốn nhận lấy, nhưng xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha. Sau cùng, Ngài đã uống cạn chén đắng để chu toàn trọn vẹn thánh ý Cha.

            Chúa Giêsu đã tặng cho chúng ta bí quyết để đạt được cuộc sống hạnh phúc đời đời với Ngài: yêu mến Chúa và làm theo lời Ngài. Thích hay không thích thì thập giá cũng đã cắm đầy dẫy trong cuộc đời của chúng ta. Vấn đề là chúng ta có biết đón nhận những thập giá đó một cách mau mắn và với trọn niềm yêu mến hay không.

            Hôm nay, Chúa Giêsu cũng muốn môn đệ của Ngài đi lại con đường Ngài đã đi qua: "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy". Giữ lời Chúa Giêsu cũng là yêu mến Thiên Chúa Cha. Vì lời Ngài là của Cha, Ðấng đã sai Ngài đến trần gian. Lời dạy của Chúa Giêsu là gì, nếu không phải là gì khác là biết quên mình vì Chúa và vì anh em, quên đi bản thân bằng cách dành cho Thiên Chúa và tha nhân một chỗ đứng ưu tiên trong tư tưởng và hành động.

 

Thứ Ba tuần V PS


Ga 14, 27-31

ƠN BÌNH AN

            Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (c. 7). Sự bình an mà Chúa Giêsu ban không có nghĩa là không có những trắc trở gian nan như mặt hồ lặng sóng nhưng là sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn khi phải đối mặt với phong ba bão táp. Người luôn tin tưởng phó thác vào Chúa Cha nên đã có được bình an trong tâm hồn mặc dù những thử thách đang bủa vây.

            Khi Chúa Giêsu biết mình sắp bị giới lãnh đạo Do Thái bắt nộp, bị môn đệ Giuđa phản bội và giờ Chúa Cha tôn vinh đã cận kề, Người đã trăn trối lại cho các môn đệ những lời tâm huyết sau cùng. Các môn đệ cảm thấy hoang mang sợ hãi, tâm hồn đầy xao xuyến, Thầy đi rồi còn tương lai của các ông sẽ về đâu? Một câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp. Hiểu được tâm trạng đó, Chúa Giêsu hứa ban bình an và niềm vui của Người cho các ông.

            Các môn đệ lo lắng sợ hãi vì không biết phải đi con đường nào giữa trăm ngàn ngã rẽ, không biết tin cậy vào đâu trước những thế lực xấu đang bủa vây. Chúa Giêsu đã động viên các ông và khẳng định “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”. Ai đi theo con đường của Chúa chắn chắn sẽ tới đích. Ai tin vào Chúa sẽ không phải thất vọng bao giờ. Ngược lại ai cậy dựa vào sức riêng mình và sự bảo đảm của cải vật chất trần gian sẽ phải gánh chịu nỗi bất an ê chề.

            Người ta có thể có được sự bình an khi cuộc sống không có chiến tranh hận thù ghen ghét. Sự bình an của thế gian ban có thể được bảo đảm bằng của cải vật chất, bằng những tiện nghi khoa học tối tân đáp ứng mọi nhu cầu của con người. Sự bảo đảm này có giá trị nhất định, nhưng Chúa Giêsu muốn đưa chúng ta tiến xa hơn trong niềm tin Kitô giáo, đó là sự bình an đích thực nơi Thiên Chúa. Như Chúa Giêsu đã đón nhận mọi đau khổ, đã uống trọn chén đắng Cha trao để nên một trong thánh ý Cha, Người đã đánh đổi cả mạng sống để cho nhân loại được bình an.

            Bình an mà Chúa Giêsu ban cho các môn đệ là bình an đích thực, nghĩa là đặt niềm tin vào Chúa quan phòng, không lo sợ bất cứ điều gì từ bên ngoài tác động vì luôn có Chúa trong mình. Cũng như Chúa Giêsu luôn bình an, dù đứng trước mọi khó khăn chống đối, trước cuồng phong bão táp hay trước sự bách hại của vua chúa quan quyền; thì đây Chúa Giêsu cũng ban cho những ai bước theo Người được sự bình an đích thực trong tâm hồn, khi luôn đặt niềm tin vào Thiên Chúa.

            Trong Thánh Kinh, từ thời Cựu Ước, người ta dùng từ “bình an” để chào hỏi nhau lúc gặp gỡ. Còn ngôn sứ Isaia thì tiên báo Đấng Messia sẽ là “Hoàng Tử Bình An”. Khi Chúa Giêsu sinh hạ nơi hang đá Bêlem, các thiên thần cũng đã ca hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình An dưới thế cho người Chúa thương”. Như thế, Chúa Giêsu chính là sự Bình An đích thực của Thiên Chúa, và sứ điệp đầu tiên mà Chúa Giêsu đem xuống từ trời chính là ban bình an cho nhân loại.

            Sứ điệp đầu tiên mà Chúa Giêsu đem xuống trần gian qua lời thiên sứ hát mừng là “Bình an dưới thế cho người Chúa thương”, thì nay khi sắp lìa bỏ những người Chúa thương mà trở về với Chúa Cha, Chúa Giêsu cũng để lại ơn bình an ấy. Ơn bình an mà từ đây, những người theo Chúa thì không còn sợ hãi tội lỗi, ma quỷ và sự chết nữa. Thật vậy, khi có Chúa, Kitô hữu không chỉ được hưởng bình an ngay tự bây giờ, mà còn hi vọng được về “quê Bình An” vĩnh cửu trên trời.

            Bình an là điều tốt lành ai ai cũng trông mong. Người sống trong chiến tranh mong hòa bình mau trở lại. Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, lòng người vẫn khắc khoải trước bao thách đố xảy ra hằng ngày. Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ, cũng như cho cả chúng ta, sự bình an quý giá vô vàn so với thứ bình an không có chiến tranh.

            Bình an của Chúa Giêsu mang đến không phải là thứ bình an mà thế gian ban tặng. Bình an của thế gian thường chỉ là đồng nghĩa với an phận, với trốn tránh, với thoả hiệp. Bình an của Chúa mang đến chỉ có thể có được bằng một giá đắt đỏ: Nó đòi hỏi sự chiến đấu, chấp nhận mất mát, có khi cả hy sinh mạng sống mình nữa. Bình an ấy chỉ có khi con người có thể thốt lên như Thánh Phaolô “Lương tâm tôi không trách tôi điều gì.” Còn gì quý hơn một cuộc sống mà tâm hồn luôn an bình thư thái. Bởi thế chúng ta có thể đề ra cho mình cả một chương trình sống mà mục tiêu là tạo dựng và gìn giữ bình an trong tâm hồn.

            Bình an Chúa Giêsu trao ban là ân huệ phục sinh của Người. Hay nói cách khác: “Chính Người là bình an của chúng ta” (Ep 2, 14). Ai có được Người thì chẳng còn thiết gì hơn nữa. Chỉ cần một lần được ẵm Chúa trên tay, cụ Simêon đã cảm thấy toại nguyện, nên bộc phát cầu nguyện: “Xin để tôi tớ này được an bình ra đi, vì chính mắt con được nhìn thấy ơn cứu độ” (Lc 2, 29).

            Ngày hôm nay, có biết bao người đang sống trong bất an vì chiến tranh, bạo lực, ghen ghét, đố kỵ… Trong số đó, có người tìm kiếm hoặc cậy dựa vào thứ bình an giả tạo chóng qua, được xây dựng trên nền tảng của sự hưởng thụ vật chất và hào quang của địa vị, danh vọng trần thế. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta biết tìm đến với Chúa để đón nhận được nguồn bình an đích thực ngang qua việc biết tìm nương ẩn bên Chúa, sống trong sự hiện diện của Chúa và tín thác nơi sự quan phòng yêu thư ơng của Người.

            Lạy Chúa, có nhiều lần con tự trấn an mình bằng những gì mình có, con chiếm hữu và lo giữ lấy. Trước bạn bè, con giả vờ như rất an tâm giữa những tiếng ồn ào, huyên náo; nhưng thật sâu bên trong lại chẳng an tâm. Xin ban cho con bình an của Chúa, thứ bình an mà không đau khổ nào có thể chạm tới, bình an của một tâm hồn luôn sống trong sự thật.

 

Thứ tư tuần V PS

Ga 15, 1-8

CẮT TỈA ĐỂ SINH HOA TRÁI

            Hình ảnh cây nho và các cành nho cho thấy sự ở lại thâm sâu và sự hiệp thông thường trực giữa Chúa Giêsu và các môn đệ chân thật của Người, đồng thời nêu bật dây liên kết bên trong bằng việc mang hoa trái. Giống như cành nho, vì liên kết với cây nho, được thông dự vào sự sống của cây nho, người tín hữu, nhờ gắn bó với Đức Kitô, được thông dự vào sự sống chân thật, là sự sống của chính Thiên Chúa.

            Tuy vậy, sự thông dự này bó buộc họ phải sống và hành động theo nếp sống mới đã được Chúa Giêsu mạc khải cho biết. Niềm tin vào Chúa luôn được thử thách, gọt dũa và cắt tỉa như hình ảnh của cây nho.

            Hệ quả của sự cắt tỉa trong việc trồng nho: Có một dạo phong trào trồng nho đã nở rộ tại một số tỉnh dọc theo duyên hải miền Trung. Cây nho không còn là một thứ cây xa lạ đối với nhiều người Việt Nam nữa. Cây có trái là chuyện thường, nhưng cây phải bị cắt tỉa mới có thể đâm chồi, trổ hoa và sinh trái, đó là hình ảnh đặc trưng của cây nho. Thật thế, với đôi mắt không chuyên môn, khi nhìn vào thân nho bị cắt tỉa, có lẽ ai cũng phải xót xa, có lẽ người ta sẽ nhìn vào người trồng nho như một con người nhẫn tâm, vì người trồng nho xem ra cắt tỉa cây nho không chút tiếc xót. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, người ta sẽ ngạc nhiên khi nhìn thấy từ những cành trơ trụi những mầm non nhú ra và hoa cũng bắt đầu xuất hiện.

            Chúa Giêsu đã dùng rất nhiều hình ảnh để nói về những thực tại Nước Trời. Nhưng trong các hình ảnh ấy, cây nho hẳn phải chiếm một chỗ ưu việt : ưu việt vì cây nho là giống cây phổ thông nhất của miền Palestina, ưu việt vì trong Cựu ước cây nho vốn được xem là biểu trưng của dân riêng. Nhưng như các tiên tri đã nhiều lần lên tiếng tố cáo : thay vì sản xuất rượu ngon, cây nho Israel chỉ mang lại thứ rượu đắng của bất trung và phản bội. Tiếp tục truyền thống tiên tri, Chúa Giêsu cũng lấy lại hình ảnh cây nho, nhưng cây nho chính là Ngài.

            Lòng tín trung mà Thiên Chúa hằng chờ đợi nơi Israel nay Ngài đã tìm thấy nơi cây nho đích thực là Chúa Giêsu. Một giao ước mới phát sinh, bởi vì lòng trung tín của Chúa Giêsu được diễn tả trong sự vâng phục và vâng phục cho đến chết trên Thập giá, không phải là cố gắng thuần tuý của con người, mà chính là lòng thủy chung của con Thiên Chúa trong chừng mực của con người. Cây nho của giao ước mang lại những trái xum xuê có tên là tình yêu. Đó là kết quả của sự cắt tỉa : cây nho không thể sinh hoa kết trái nếu không bị cắt tỉa, tình yêu sẽ không là tình yêu đích thực và phong phú nếu không được cắt tỉa khỏi những ngọn nhành thừa thải của ích kỷ.

            Giáo hội Israel mới chính là cây nho của Chúa. Lịch sử cho thấy có lúc xem ra Giáo hội bị cắt tỉa một cách tàn nhẫn, nhưng cũng chính những lúc đó Giáo hội mang lại nhiều hoa trái hơn cả. Những cuộc bách hại đẫm máu lại là những cắt tỉa làm cho Giáo hội sinh được nhiều hoa trái nhất. Đó là cái nhìn chúng ta phải có để nhìn vào Giáo hội: sức sống của Giáo hội có khi không chỉ được nhìn thấy và đánh giá qua những biểu dương bên ngoài, hoa trái đích thực khi chấp nhận được cắt tỉa khỏi những phù phiếm rườm rà của thế tục. Cơ cấu hữu hình có thể bị phá vỡ, cơ sở vật chất có thể bị cướp mất, những quyền cơ bản nhất gắn liền với tự do tôn giáo có thể bị tước đoạt, đôi tay hoạt động có thể bị khóa chặt; đó có thể là những cắt tỉa cần thiết để cây nho Giáo hội trổ sinh hoa trái dồi dào.

            Ta còn nhớ rằng lời của Chúa Giêsu còn mời gọi chúng ta chiêm ngắm người trồng nho, là chính Chúa Cha. Thật vậy, Người nói : “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho” (c. 1) ; và Người nói tiếp : « Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: “Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” » (c. 8). Điều Chúa Cha ước ao, và qua đó Ngài được tôn vinh, là chúng ta sinh nhiều hoa trái. Chúng ta có thể tự hỏi, đâu là hoa trái mà Chúa Cha ước ao chúng ta làm phát sinh ? và chúng ta phải làm sao để làm phát sinh nhiều hoa trái ? Và Chúa Cha không chỉ ước ao chúng ta sinh hoa trái, nhưng còn “chăm sóc” chúng ta, vì Ngài là người trồng nho.

            Khi chúng ta chịu phép Rửa tội, Giáo Hội đã tháp nhập chúng ta như những nhành cây nho vào Mầu nhiệm Phục sinh và Khổ Nạn của Chúa Giêsu là thân cây nho. Từ gốc nho này chúng ta lãnh nhận nhựa sống và sống sự sống của Chúa Giêsu, tự bản chất là sinh hoa kết quả khi kết hiệp với Chúa Giêsu, hầu được tham dự vào cuộc sống vĩnh hằng. Như các môn đệ, chúng ta cũng vậy, nhờ sự trợ giúp của các Mục tử trong Giáo hội, chúng ta lớn lên trong vườn nho của Chúa, được bao bọc trong tình yêu của Ngài. Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết :"Nếu hoa trái của chúng ta là tình yêu, thì điều tạo ra hoa trái này chính là việc "ở lại" cách thâm sâu và trung tín với Chúa". Điều quan trọng là luôn gắn kết với Chúa Giêsu, phụ thuộc vào Người bởi vì "nhành nho tự nó không thể sinh trái được, nếu không dính liền với cây nho" (Ga 15,4). Chúa Giêsu nói rõ ràng, "các con cũng vậy, nếu không ở trong Thầy" (Ga 15,5).

            Hoa quả mà Chúa Cha hy vọng nơi chúng ta, là những việc lành phúc đức, là những công việc tốt chúng ta làm. Mang lại hoa trái không có nghĩa là làm những điều phi thường, nhưng là những điều bình thường. Hoa quả ấy là những việc lành phúc đức, là những việc tốt chúng ta làm. Nhưng thử hỏi : kết hiệp với Đức Kitô như thế nào để giúp chúng ta sinh nhiều hoa trái ? Thưa, đức tin và đức ái, nghĩa là ở trong ân sủng của Thiên Chúa. Nếu chúng ta sống trong ân sủng, các hành vi đạo đức của chúng ta sẽ là hoa trái dễ chịu của Chúa Cha. Thật quí trọng biết bao khi luôn được sống trong ân sủng của Thiên Chúa! "Ai không ở trong Thầy, thì bị vứt ra ngoài như ngành nho, và sẽ khô héo, người ta sẽ thu lại, quăng vào lửa cho nó cháy đi" (Ga 15, 6).

            Để sinh nhiều hoa trái, chúng ta được mời gọi ở lại trong Chúa Giêsu, như cành nho gắn liền với thân nho. Chúa Giêsu ở lại trong chúng ta, và chúng ta được mời gọi ở lại trong Ngài. Và như chúng ta đều biết, “ở lại trong nhau” là ngôn ngữ của tình yêu. Thực vậy, Chúa Giêsu sẽ nói tới tình yêu trong phần tiếp theo: “Chúa Cha yêu mến thầy thế nào, thầy cũng yêu mến anh em như vậy”. Lời mời gọi ở lại, được Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại từ đầu đến cuối, qua hình ảnh thân nho, cành nho và trái nho, và theo những cách thức khác nhau.

            Và để sinh nhiều hoa trái, chúng ta phải trở nên môn đệ của Chúa Giêsu; để trở nên môn đệ, chúng ta phải ở lại trong Ngài; và để ở lại trong Ngài, chúng ta phải đón nhận Lời của Ngài như là nhựa sống, như là lương thực nuôi sống chúng ta. Trong những lời này, Đức Giê-su còn mời gọi chúng ta xin. Nhưng chúng ta xin gì, nếu không phải là xin trở thành người môn đệ sinh nhiều hoa trái cho Vinh Danh Thiên Chúa Cha.

 

 

Thứ Sáu

Ga 15, 12-17

YÊU NHƯ THẦY

          Yêu và muốn được yêu chính là nhu cầu của con người. Nếu vắng bóng tình yêu, con người chỉ còn có cách đối xử với nhau như loài vật. Họ sẽ cắn xé nhau chỉ để đảm bảo việc sinh tồn mà thôi.

          Nói về tình yêu là nói về sự sống và sự chết, bởi vì người ta sống vì yêu mà chết cũng vì yêu. Quả vậy, Đức Ki-tô đã sống và chết vì yêu thương con người. Ngài đã vượt qua từ cõi chết đến cõi sống, để minh chứng về công cuộc cứu chuộc vì yêu thương. Và Ngài dùng chính mẫu gương của Ngài để dạy chúng ta làm điều mà chính Ngài đã thực hiện: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương anh em”. Ngài đã chết vì chúng ta để trở nên bạn hữu của chúng ta, và mời gọi chúng ta: “Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy”. Muốn trở nên bạn hữu của Chúa, chúng ta chỉ có một điều kiện: thương yêu nhau như Chúa đã yêu.

          Thấy được tầm quan trọng của tình yêu giữa người với người, và cũng thấy được sự cao quý của tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại. Hơn thế nữa, cần phải làm cho bản chất của Thiên Chúa được thể hiện trong cuộc sống của người môn đệ, nên Chúa Giêsu đã truyền và dạy cho các ông bài học yêu thương khi nói: “Anh em hãy thương nhau như Thầy đã thương yêu anh em”.

          Khi nói như thế, Chúa Giêsu muốn cho những ai tin và tiếp bước thì cũng được hòa vào và đi trong đường lối yêu thương của Thiên Chúa để được hạnh phúc. Đồng thời cũng cần sống và diễn tả tình yêu ấy cho người khác.

          Một trong những chia sẻ tình yêu là chia sẻ cách hiểu biết, và khi đã được hiểu biết thì con người cũng phải có bổn phận trung thành, phải sống cho ra sự hiểu biết. Vì sống trong những điều hiểu biết là một đáp trả trước tình yêu. Yêu mà dửng dưng bàng quang, yêu mà không mảy may xúc động trước những thao thức, ước muốn của người mình yêu thì chẳng thể nào gọi là yêu được. Tình yêu mà chẳng chút cảm thông chia sẻ thì chẳng bao giờ là tình yêu đúng nghĩa.

           Như các môn đệ, các Kitô hữu cũng được mời gọi sống tình bạn hữu của Chúa Giêsu. Có thể họ sẽ dễ dàng thốt lên hai tiếng yêu Chúa, nhưng lại khó thực hiện điều yêu mến anh em. Vì cũng như họ, khuôn mặt anh chị em chỉ là tầm thường, khiếm khuyết, nếu không nói là tội lỗi xấu xa đáng xa tránh. Nhưng dù sao đi nữa, tất cả đều là con một Cha trên trời. Khuôn mặt xấu xí bị xa lánh đều là những khuôn mặt cần được yêu thương hơn ai hết.

          Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người hãy yêu thương nhau bằng một tình yêu không phân biệt hay loại trừ. Yêu mà không mong đền đáp, nhưng yêu một cách vô vị lợi, luôn chia sẻ, cảm thông và tha thứ với mọi hoàn cảnh. Sẵn sàng phục vụ như một người tôi tớ... và cuối cùng, coi sự sống của mình là sự sống của người khác, nên nếu cần, chấp nhận hy sinh cho người khác như Chúa Giêsu đã hiến mạng vì bạn hữu của mình.

           Chúa Giêsu đã khẳng định cách rõ ràng: “Anh em là bạn hữu của Thầy”. Hạnh phúc biết bao cho con người khi có Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, và là chính Thiên Chúa làm bạn! Và như một hệ luận, để trở nên bạn hữu “tri âm, tri kỷ” với Chúa Giêsu, con người, cách riêng những Kitô hữu, cần có đời sống gắn bó thân tình với Chúa và trung thành thực thi những điều làm vui lòng Người.

          Điều Chúa kêu gọi chúng ta, dễ mà khó. Dễ hiểu, nhưng khó thực hiện. Ai trong chúng ta mà chẳng biết thương yêu. Nhưng yêu thương như Chúa yêu thì quả là điều không tưởng. Chính Chúa Giêsu cũng đã thực hiện điều chúng ta không thể tưởng tượng được. Mời bạn làm những gì bạn có thể để theo gương Ngài. Một mình bạn, khó đấy; nhưng với Ngài, đầy hy vọng.

          Chúa Giêsu mời gọi chúng ta yêu mến nhau như chính Ngài đã yêu mến chúng ta, đến độ hy sinh cả mạng sống vì chúng ta. Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước, vậy thì không lý do nào chúng ta không chia sẻ tình thương ấy cho anh em mình. Hơn nữa, Ðức Giêsu yêu thương tất cả. Chúng ta cũng phải yêu thương tất cả, cả kẻ thù, không trừ một ai.

 

Thứ Bảy

Ga 15, 18-21

NGƯỜI MÔN ĐỆ SẼ BỊ GHÉT BỎ

            Trang Tin Mừng hôm nay đã mở ra cách riêng cho người môn đệ và chung cho cộng đoàn của những người theo Chúa Giêsu một viễn ảnh chẳng mấy tốt đẹp: "Vì danh Thầy, họ sẽ bị thế gian bắt bớ và ghét bỏ". Trong ngôn ngữ của thánh Gioan, thế gian không có nghĩa là toàn thế giới, vì vũ trụ là công trình tác tạo do tình yêu của Thiên Chúa.

            Chúa Giêsu đã cho họ biết trước rằng làm môn đệ Ngài thì phải chấp nhận bị thế gian thù ghét. Nhưng thực tế, chúng ta một mặt tránh làm những gì khiến thế gian thù ghét mình, mặt khác còn tìm cách để thế gian yêu thương chiều chuộng mình. Hẳn là chúng ta không nên cố tình chọc tức thế gian, nhưng không nên quên lời Chúa nói: Chúng con ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian.

            Chúa Giêsu cũng không được miễn trừ khỏi cái lệ thường của thế thái nhân tình về sự ganh ghét của người đời. Chính vì vậy Chúa Giêsu cảnh tỉnh các môn đệ: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước.” Thế gian ở đây theo thánh Gioan là một thế giới đã bị quyền lực Xatan thống trị. Do đó, sự hiện diện của Chúa đã phân tách thế giới rạch ròi giữa ánh sáng và bóng tối, và Chúa trở thành cớ cho những kẻ ở trong bóng tối ghét bỏ Ngài và những người sống theo ánh sáng. Như vậy, cùng với Chúa Giêsu, các môn đệ Ngài luôn bị bách hại, tấn công, quấy rầy, nhưng Chúa đã mạnh mẽ trấn an: “Các con đừng sợ, Thầy đã thắng thế gian.”

            Và ta thấy thế gian được hiểu là thế lực của sự dữ, của tất cả những gì đối nghịch cùng Thiên Chúa. Mà khi bước theo tiếng gọi của Chúa Giêsu, mặc nhiên người môn đệ đã chấp nhận dấn thân vào một đối đầu không khoan nhượng. Trong đó, họ sẽ lãnh lấy phần thua thiệt để phải hy sinh cả mạng sống. Ðiều này không chỉ xảy ra trong Giáo Hội thời sơ khai, nhưng mãi mãi cho đến hôm nay vẫn luôn còn bị bách hại.

            Chúa đã soi sáng cho chúng ta: “Vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” (Ga 15, 19). Thế gian mà Chúa nói đến ở đây là một thế gian đố kỵ và thù nghịch với Thiên Chúa, Đấng chân thật, tràn đầy tình yêu và sự sống. Thánh Phaolô cũng mô tả: Đó là một thế gian “ích kỷ, ham tiền bạc, khoác lác, kiêu ngạo, nói lộng ngôn,.. vô ơn bạc nghĩa, phạm thượng, vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu, thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc, nông nổi, lên mặt kiêu căng, yêu khoái lạc” (2 Tm 3, 2 – 4). Kết cục của nó sẽ là sự diệt vong, hư mất đời đời.

            Hơn nữa, mỗi giai đoạn lịch sử có những cách thế bách hại riêng. Không có những cuộc đổ máu công khai ảnh hưởng đến trào lưu văn hóa, văn minh thế giới, thì có những cuộc đổ máu âm thầm, bị khỏa lấp bởi những ngụy tạo nhân danh công lý. Thế giới càng văn minh thì hình thức bách hại càng tinh vi, tinh vi đến độ người bị bách hại chẳng nhớ ra rằng: mình đang khốn khổ, hứng chịu bắt bớ mà tưởng rằng đưa tay ra đón nhận ân huệ. Người ta đẩy mình đến chỗ tiêu diệt mà tưởng họ đang giúp mình xây dựng.

            Bất cứ thời nào cũng có những bắt bớ và ghét bỏ. Thế nhưng, có phải vì viễn ảnh đen tối ấy mà các môn đệ của Chúa Giêsu thất vọng chùn chân: "Chính Thầy đã chọn các con khỏi thế gian, nên thế gian ghét các con". Lời khẳng định của Chúa Giêsu sẽ soi sáng và nâng đỡ cho những ai đang đối mặt với thử thách: "Tôi tớ không trọng hơn chủ. Nếu họ đã bắt bớ Thầy thì họ cũng sẽ bắt bớ các con".

            “Vì các con không thuộc về thế gian…nên thế gian ghét các con”. Người thế gian coi tiền bạc trọng hơn đạo đức, lọc lừa nhiều hơn là chân thật, ai cũng ích kỷ lo cho bản thân, thậm chí chà đạp lên người khác… Kitô hữu không thể sống như họ, cho nên bị họ thù ghét. Vậy, nếu vì phải sống theo lý tưởng tốt đẹp của mình mà bị thế gian thù ghét, chúng ta hãy chấp nhận.

            “Nếu thế gian ghét các con, các con hãy biết rằng họ đã ghét Thầy trước”. Chúng ta chấp nhận bị thế gian thù ghét vì lý do chúng ta làm môn đệ Chúa, chúng ta phải vác Thập giá hằng ngày mà theo Chúa.

            “Giả như anh em thuộc về thế gian, thế gian yêu thích những gì thuộc về nó. Nhưng anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em ra khỏi thế gian nên thế gian ghét anh em”.

            Bắt bớ bây giờ không còn là một đe dọa, nhưng là dấu chỉ hy vọng, dấu chỉ thuộc về Ðức Kitô. Và cũng thật ý nghĩa trong câu nói của Tertulianô: "Máu tử đạo là những hạt giống nảy sinh ra các Kitô hữu". Tại vì danh Thầy mà họ sẽ làm cho các con những điều đó bởi vì họ không biết Ðấng đã sai Thầy, không biết nên đã làm. Vậy nếu biết chắc chắn họ đã không làm.

            Thái độ trung thành anh dũng và vui mừng khi chịu thử thách của các vị tử đạo là lời giới thiệu hùng hồn đậm nét về Thiên Chúa. Trong cái chết tủi nhục của Chúa Giêsu trên Thập Giá, viên lãnh binh đã tuyên xưng: "Ông này thật là Con Thiên Chúa".

            Là những người tin vào Chúa Kitô, chúng ta không thuộc về thế gian đang trên đà diệt vong của nó. Nhưng Chúa cũng không cất chúng ta ra khỏi thế gian. Chúa đã chiến thắng thứ thế gian tội lỗi ấy rồi và Chúa đang mời gọi ta hãy can đảm dấn thấn để chiến thắng thế gian: “Giữa thế gian, các con sẽ phải đau khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33).

            Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta ý thức sâu sắc về danh hiệu kitô của chúng ta. Mang danh hiệu kitô là tham dự vào mầu nhiệm Tử nạn và Thập giá của Chúa Kitô, nhưng chúng ta tin chắc rằng nhờ tham dự vào mầu nhiệm khổ nạn và Thập giá ấy mà chúng ta góp phần vào việc cứu rỗi và canh tân thế giới. Khổ đau mà các kitô hữu đang phải gánh chịu vì Danh Chúa Giêsu là hạt giống trổ sinh những hoa trái của niềm tin.

 

 

 

May 15, 2023