Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 1 mùa chay, năm A

+++

Thứ Bảy 2023
Thứ Bảy trong tuần thứ Nhất Mùa Chay

St 26:16-19; Tv 119:1-2,4-5,7-8; Mt 5:43-48

Yêu kẻ thù

          Có nhiều nghịch lý trong Tin Mừng! Một trong những nghịch lý ấy là lời dạy của Đức Giêsu hôm nay. Ngài dạy: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”, có thế, anh em mới trở thành con của Cha trên trời.

          Tại sao Chúa Giêsu lại dạy như thế? Thưa! Vì chính Ngài đã sống như vậy. Hơn nữa, đây là đặc tính của Thiên Chúa Cha, vì “Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương”.

          Khi Chúa Giêsu mời gọi yêu kẻ thù và nên hoàn thiện như Cha trên trời, có nghĩa là Ngài muốn chúng ta phải hành động như Ngài và nên giống Thiên Chúa.

          Kinh Thánh đã từng dậy là hãy yêu thương kẻ lân cận như yêu mình... (Lv 19,18). Nhưng không có chỗ nào dạy rằng: Hãy ghét kẻ thù cả. Tuy nhiên, dựa vào cách dạy của các thầy thông giáo mà sinh ra luật ghen ghét... Chúng ta biết người Do thái rất coi thường người ngoại bang. Người ngoại bang đối với họ là tất cả những ai không phải là người Do thái, không cùng con cháu Abraham, không chịu cắt bì.

          Hơn thế nữa, người Do thái còn có luật ghét bỏ người ngoài quốc tịch với mình. Điều này đã tái diễn nhiều lần và nhiều năm trong lịch sử đến nỗi như có bức tuòng ngăn cách chia ly người Do thái và không Do thái. Những người Do thái ấy tưởng rằng khi mình ghét người khác như vậy là cách làm vinh danh Chúa.

          Dĩ nhiên trong Cựu ước, Chúa đã từng dạy phải sống cách nào để phận biệt với dân tộc khác nhờ ngẫu tượng (Amalec. Xac 17,14. Đnl 25,19. Amon, Moab. Đnl 23,6). Chúa dạy những chân lý đó trên lãnh vực pháp lý để bảo tồn đức tin. Nhưng các bậc luật sĩ lãi quá khích đem áp dụng trật đi. Do đó mà Chúa nhấn mạnh lại tinh túy của lề luật yêu thương hôm nay. “Hãy cầu nguyện và yêu thương, làm ơn cho những người bắt bớ vu khống anh em để anh em thực sự là anh em một cha trên trời” (c.44).

          Những lời dạy của Chúa Giêsu mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, cũng không mập mờ, không nhượng bộ hay chiều theo khuynh hướng tự nhiên của con người muốn giới hạn tình yêu của mình đối với tha nhân.

          "Hãy yêu mến anh em mình", mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi 19,18. Những "anh em" được nhắc đến ở đây chỉ những kẻ thân thuộc, đồng hương, thuộc về dân riêng của Chúa. Còn câu: "Hãy ghét kẻ thù địch" thì chúng ta không gặp thấy công thức nào tương tự như vậy trong Kinh Thánh. Những lời này có thể hiểu như một diễn tả tự nhiên của tâm lý thường tình nơi con người, một hậu quả của tình yêu thương có giới hạn trong khung cảnh những kẻ thân thuộc, những người thuộc về cùng một dân tộc, một xã hội. Theo tâm thức hạn hẹp của Cựu Ước, bất cứ ai không thuộc về Dân Chúa chọn, thì người đó là kẻ xa lạn, là kẻ thù địch, không được yêu thương.

          Chúa Giêsu đã đến để mạc khải sứ điệp trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: "Còn Thầy, Thầy bảo các con: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con". Chúng ta chú ý đến hai chi tiết trong lời dạy của Chúa Giêsu: thứ nhất: không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Chúa và sự phân chia con người ra làm hai loại: thân thuộc và thù địch không còn nữa. Thứ hai: Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được chúng ta yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác.

          Nhưng tại sao phải yêu thương như vậy? Bởi vì chính chúng ta là con cái của Thiên Chúa và do đó phải noi gương trọn lành của Ngài, Ðấng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người lành.

          Chúa Giê-su trong Tin mừng, đã rao giảng một luân lý cởi mở. Còn đối với dân Do thái chỉ biết nên trọn lành ở sự giữ luật khắt khe, nên họ chống đối một kiểu nên trọn lành mới là kiểu của Cha trên trời. Đó là ân sủng, là tình yêu hậu đãi. Đức Ki-tô dùng hình ảnh mặt trời, mưa tưới. Thiên Chúa đã cho mặt trời mọc lên soi sáng cho muôn dân không phân biệt ai, đã làm cho mưa xuống làm phì nhiêu cho mọi loài trên trái đất. Thiên Chúa không thiên vị ai. Ngài săn sóc tất cả mọi người do lòng nhân hậu của Ngài ban cho người công chính cũng như kẻ bất lương.

          Theo gương Ngài mỗi người Ki-tô hữu không được phân biệt đối xử, cũng không được đặt rào cản lối với đức yêu người. Họ phải yêu cả kẻ thù mình, không được sống theo tình cảm tự nhiên, dù kẻ thù đó là người mắc nợ với mình. Luân lý cởi mở chính là tình yêu cho không điều kiện, hoàn toàn do ân huệ của Thiên Chúa. Chúng ta phải noi gương Ngài vì Ngài đã ban Con Một Ngài đến thương yêu chúng ta dù chúng ta là kẻ tội lỗi. Ki-tô hữu phải nhớ Đức Giê-su Ki-tô, nhớ hồng ân ban đầu của Thiên Chúa đã đoái thương mình để mình cố gắng nhờ ơn Chúa mà diễn lả lòng thương yêu đó trong đời sống mình.

          Xin Chúa đổ tràn trên chúng ta tình thương của Chúa, để chúng ta được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với chúng ta.

 

Thứ Năm tuần I Mùa Chay năm 2023

Et 138:1-2,2-3,7-8; Mt 7:7-12

Tình thương của Chúa

          Điểm nổi bật của sứ điệp Tin Mừng hôm nay là: Tình thương của Thiên Chúa, tình thương đó được thể hiện như một tấm lòng của người cha độ lượng luôn lắng nghe và đáp ứng những nhu cầu chính đáng của con cái mình. Chúng ta cần có một niềm tin kiên vững vào tình thương của Thiên Chúa, tin rằng Người luôn nhận lời chúng ta kêu cầu. Trọng tâm Lời Chúa hôm nay chúng ta suy niệm có hai ý.

          Lời Chúa Giêsu hứa với chúng ta: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho" (Mt 7, 7). Chúa Giêsu dạy chúng ta phải kiên trì trong cầu nguyện, và khi cầu nguyện hãy đặt trót niềm tín thác vào tình thương của Thiên Chúa, và cầu xin với lòng thành trong thánh ý Chúa, để làm sáng danh Chúa và đem lại ơn ích thiêng liêng cho ta, chứ không phải theo ý con người của ta. Như mẫu gương của hoàng hậu Ette trong bài Cựu ước (Et 4, 17 - 17t), trích lời cầu nguyện của bà. Hoàn cảnh lúc đó, dân Do thái đang sống trong kiếp lưu đầy bên Babylon. Tướng Aman không thương dân Do-thái nên xúi giục Vua Babylon ra chiếu chỉ tàn sát người Do-thái trong khắp đế quốc. Khi đó người ta nghĩ không ai ngoài Hoàng hậu Ette bà có thể cứu họ, Ette là người Do-thái nhưng được làm hoàng hậu trong cung điện.

          Tuy là hoàng hậu nhưng bà thấy công việc của đất nước quá khó khăn vượt sức của bà, bà đã khắc khoải âu lo đến chết được nên bà liền đến nương ẩn bên Chúa (Et 4, 17k) kêu xin Người cứu giúp. Bà cầu nguyện ngày đêm cùng Thiên Chúa: "Lạy Chúa, con chẳng còn ai cứu giúp ngoại trừ Ngài" (Et 4, 17l). Lời cầu xin của bà đã được Thiên Chúa nhận lời, dẫu giữa ngàn gian nan đau khổ, Thiên Chúa luôn ở bên để phù trợ "Lạy Chúa, ngày chúng con gặp gian truân cùng khốn, xin nhớ đến chúng con mà chứng tỏ quyền năng của Ngài" (Et 4, 17k).

          Những lời cầu xin của hoàng hậu Ette, đã tin vào quyền năng của Chúa, chính trong sự kiên trì trong cầu xin đã giúp cho hoàng hậu kiên vững trong đức tin, nhất là khi chúng ta gặp thử thách, gian truân chúng ta cầu xin Chúa với tất cả lòng thành, và tin tưởng phó thác trọn vẹn nơi Chúa, Người không để cho ai cầu xin Ngài phải về không bao giờ. Thiên Chúa nhân lành Người không ban điều gì có hại cho ai, điển hình như phần Lời Chúa trong bài đọc Cựu ước này. Chính nhờ hoàng hậu Ette bà đã có tấm lòng vững tin vào Chúa, trong đời sống bà đã kiên trì cầu nguyện ngày đêm xin Chúa cứu người Do - thái và Thiên Chúa đã nhậm lời, kết quả là tình thế đảo ngược lại hoàn toàn, vua đã rút lại chiếu chỉ, dân Do-thái không bị tàn sát, ngược lại tướng Aman người muốn hại dân Do -thái thì lại bị giết trên chính cột hành hình mà chính ông dựng nên để giết người Do-thái, thật đúng như Lời Chúa trong thư Thánh Phalô: "Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát" (Gl 6, 8).

          "Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì anh em cũng hãy làm cho người ta" (Mt 7, 12). Thiên Chúa nhân lành khôn ngoan và thượng trí. Người không ban điều gì có hại cho ai, có những lúc với tính xác thịt yếu đuối chúng ta đã cầu xin Chúa cho xảy ra những chuyện không được may mắn, hay những tai họa hoặc những sự rủi ro cho những người chúng ta không mấy thiện cảm, hay đã làm hại ta với mục đích báo thù. thì Thiên Chúa dạy ta hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho những người hại ta. Thiên Chúa không bao giờ lại ban những điều mà chúng ta cầu xin trái ngược lại đức thương yêu. "Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?" (Mt 7, 11).

          Thiên Chúa là tình yêu, Người luôn thương yêu tất cả mọi người, Người cho mưa rơi xuống trên người hạnh phúc cũng như người bất hạnh. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai, nên Người dạy chúng ta hãy theo gương của Ngài mà sống đức bái ái yêu thương với anh chị em mình, và cầu mong điều tốt lành cho nhau. Giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu dạy chúng ta đòi hỏi sự công bằng là trên hết, vì khi ta đối xử với tha nhân thế nào thì Thiên Chúa cũng sẽ đối xử lại với ta như vậy "Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em và còn hơn nữa" (Mc 4, 21).

           Hình ảnh người cha trần gian trong bài Tin Mừng cho thấy, cho dù người cha có xấu xa nhưng vẫn muốn cho con cái mình những điều tốt đẹp, phương chi là Thiên Chúa Ngài luôn ban muôn điều tốt đẹp đến cho mọi kẻ đặt niềm tin nơi Ngài. Cha mẹ trần gian khi thấy con cái cầm dao để chơi, chắc chắn sẽ ngăn cản không cho. Hoặc con cái xin xe máy để đi học, nếu chưa đến tuổi chắc chắn cha mẹ cũng sẽ chưa cho con đi xe máy ở độ tuổi nhỏ, nhưng sẽ cho khi đến tuổi chín chắn để an toàn hơn cho con cái.

          Thiên Chúa cũng vậy, Ngài luôn ban phát mang lợi ích cho chúng ta. Có thể là một thành công, một niềm vui. Nhưng có thể là một “thánh giá” để đồng hành với Chúa để mang lợi ích cho bản thân, cho gia đình… Do vậy, để ý thức những ơn lành Chúa đã ban, chúng ta hãy hồi tâm xét lại tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, để nhận ra sự quan phòng yêu thương, Đấng đã ban cho chúng ta những gì tốt lành hơn chúng ta tưởng nghĩ. Giây phút cầu nguyện phải là giây phút đẹp nhất, có giá trị nhất trong cuộc sống của người Kitô hữu. Tình thương thảo hiếu thúc đẩy chúng ta lấy sự cầu nguyện, đối thoại với Thiên Chúa làm ưu tiên trong mọi sinh hoạt. Không quan tâm, không cần đến Thiên Chúa, không hợp tác với Ngài, thì làm sao Thiên Chúa có thể trợ giúp chúng ta được.

          Ước gì hôm nay chúng ta biết xin những gì Thiên Chúa ban cho chúng ta, để lời Chúa Giêsu trở thành hiện thực : “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho”. (Mt 7, 7).

 

Thứ Ba tuần I Mùa Chay 2023

Is 55:10-11; Tv 34:4-5,6-7,16-17,18-19; Mt 6:7-15

Cầu nguyện

          Là Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng thuộc nằm lòng Kinh Lạy Cha. Một ngày sống chúng ta có nhiều dịp để đọc lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ cầu nguyện. Chúng ta đọc trong thánh lễ, trước mỗi bữa ăn, khi khấn nguyện cho bản thân hay cho những công việc chung. Thậm chí các bà mẹ còn dạy các em nhỏ khi bập bẹ biết nói lời kinh này. Nhiều em bé đọc lời kinh với thái độ hồn nhiên, thật đẹp.

          Tuy nhiên từ lời đọc thuộc lòng đến thực hiện lời kinh ấy quả không dễ dàng. Khi các Tông đồ không biết phải cầu nguyện thế nào. Chúa Giêsu đã dựa vào kinh nghiệm của Ngài kết hợp với Thiên Chúa Cha mà Phúc âm vẫn thường ghi lại, sáng sớm tinh sương hay chiều tối. Chúa Giêsu thường lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện.

          Cầu nguyện được ví như hơi thở, là hoạt động căn bản của đời sống tâm linh. Cầu nguyện đối với người Kitô hữu là tâm tình con thảo với Cha trên trời, là thể hiện niềm tin và phó thác cho sự an bài quan phòng của Thiên Chúa.

          Khi mạc khải cho chúng ta một Thiên Chúa Tình yêu, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta mặc lấy chính tâm tình phó thác của Ngài. Khi các Tông đồ xin Ngài dạy họ cầu nguyện, Ngài đã dạy họ Kinh Lạy Cha. Đó là trọn tâm tình và cuộc sống vâng phục và phó thác cho Thiên Chúa. Lời cầu xin duy nhất mà Chúa Giêsu không ngừng ngỏ với Thiên Chúa, đó là được xin vâng ý Thiên Chúa.

          Kinh Lạy Cha là kiểu mẫu cho tất cả việc cầu nguyện. Theo thánh Luca, Kinh Lạy Cha có 5 lời nguyện, trong khi đó ở Phúc âm thánh Mátthêu có 7 lời nguyện: 3 lời cầu xin đầu tiên nói về Thiên Chúa và 4 lời cầu xin sau hướng về loài người.

          Phần 1, có 3 lời hướng về Chúa là Cha chúng ta ở trên trời, sau đó xin cho danh thánh Cha được vinh hiển, nước Cha trị đến trần gian, nhất là tâm hồn con người và xin cho thánh ý Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.

          Phần 2 có 4 lời nguyện: xin lương thực hằng ngày, nghĩa là xin cơm bánh nuôi thân xác và của ăn nuôi hồn, tức là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Xin tha thứ các tội xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng để được tha thứ, chúng ta cũng phải tha thứ lỗi lầm của anh em. Xin ơn kiên trì để lướt thắng cám dỗ hằng ngày, nhất là trong cơn thử thách sau cùng trước sức tấn công của tà thần muốn đưa chúng ta lìa xa Chúa. Xin ơn thoát khỏi mọi sự dữ để có thể phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân mọi ngày trong đời sống chúng ta.

          Ngày nay, có một sự phục hồi sự cầu nguyện ở mức độ nào đó. Tuy nhiên, phần lớn con người thời nay, nam cũng như nữ đều có khó khăn trong khi cầu nguyện. Vô số những lời phê phán của tâm thức hiện tại ảnh hưởng đến tất cả chúng ta một cách vô thức: cầu nguyện là đào nhiệm: đừng xin Chúa làm thay cho bạn, bạn hãy xắn tay áo mình lên... cầu nguyện là một hành động ma thuật của những người sơ khai không hiểu biết chính xác những qui luật chính xác của tự nhiên... cầu nguyện là một sự tha hoá; bạn hãy đảm nhận tầm vóc của con người không Chúa, không Thầy... bạn hãy gạt bỏ những điều mê tín tối tăm.

          Bày tỏ cho chúng ta Thiên Chúa Tình Yêu và mời gọi chúng ta sống phó thác, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta nhìn mọi người bằng cái nhìn yêu thương của Thiên Chúa. Kinh Lạy Cha không chỉ là tâm tình phó thác của chúng ta dâng lên Thiên Chúa, nhưng còn là niềm tin yêu mà chúng ta dành cho anh em.

          Chúng ta không đọc “Lạy Cha của con”, mà đọc Lạy Cha chúng con. Như thế lời kinh này không phải chỉ nói lên mối liên hệ giữa chúng ta đối với Thiên Chúa, mà còn nói lên mối liên hệ giữa chúng ta đối với nhau. Thiên Chúa là Cha, cho nên tất cả chúng ta đều là anh em với nhau. Kinh Lạy Cha không chỉ tỏ lộ cho chúng ta tình phụ tử, mà còn tỏ lộ cho chúng ta tình huynh đệ.

          Hôm nay, Tin Mừng Chúa Giêsu đã nói rõ : "Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin. Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này: "Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển”, (Mt 6, 7-9).

          Kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu để lại là một mạc khải về Chúa Cha. Thiên Chúa của chúng ta không là Thiên Chúa xa vời hay nghiêm nghị, nhưng là Thiên Chúa gần gũi, thân mật đến độ chúng ta có thể gọi Ngài là Cha với tất cả trìu mến như một em bé gọi cha mình.

          Tỏ lộ cho cho chúng ta một Thiên Chúa như người cha yêu thương, Chúa Giêsu cũng tỏ lộ chính chúng ta là ai. Phẩm giá của con người chính là được làm con Thiên Chúa, và bởi vì là con của cùng một cha, nên chúng ta là anh em với nhau. Tình Cha con (chiều dọc) và tình em (chiều ngang) được Chúa Giêsu mạc khải cách hài hòa qua kinh lạy Cha.

Chúa nhật I Mùa Chay 2020

Mt 4, 1-11

BẮT CHƯỚC CHÚA ĐỂ CHỐNG TRẢ CÁM DỖ

            Để cứu vớt loài người, Thiên Chúa Cha đã cho Ngôi Hai xuống thế, trở thành một Ađam mới, sửa lại những sai lệch do Ađam cũ gây nên, hầu cứu nhân loại khỏi vòng huỷ diệt.

            Cũng như Ađam cũ, Ađam mới cũng bị Sa-tan cám dỗ đi trệch đường của Thiên Chúa với hy vọng một khi 'Đầu Tàu' bị trật bánh thì toàn thể đoàn tàu cũng sa xuống vực sâu. Ba lần cám dỗ trong hoang địa mà Tin Mừng hôm nay thuật lại là tổng hợp của 'trăm chiều thử thách' (Dt 4, 15) mà Ađam mới là Chúa Giêsu phải đương đầu trong cuộc đời dương thế.

            Cám dỗ là chuyện xưa như trái đất. Từ khi có con người, đã có cám dỗ. Hẳn ta không thể quên chuyện hai ông bà nguyên tổ sa chước cám dỗ của ma quỷ. Dân Do Thái, khi bị nô lệ dưới ách người Ai cập thì muốn được tự do. Nhưng khi lang thang 40 năm trong sa mạc, phải chịu đói khát, lại bị cám dỗ quay trở lại Ai cập để được no ấm. Nhưng có thể nói, 3 cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải đương đầu hôm nay gồm tóm tất cả mọi thứ cám dỗ mà ta thường gặp.

            Cám dỗ thứ nhất về sự ăn uống: Trình thuật kể "Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói." Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!" Quỉ biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nó cũng biết Ngài mang bản tính con người nên cảm thấy đói sau khi ăn chay, và nó biết để bảo vệ sự sống, một người sẽ không nghĩ tới gì khác hơn là tìm được của ăn cho đỡ đói, nên nó cám dỗ Ngài làm phép lạ bằng cách hóa đá thành bánh ăn.

            Nhưng Chúa Giêsu đáp lời quỉ và dạy chúng ta một bài học quan trọng: "Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." Con người là một tổng hợp của hồn và xác, như thân xác cần bánh ăn mới có thể sống cách thể lý, linh hồn cũng cần được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa thì mới có thể sống về phương diện tâm linh được. Sống phần tâm linh quan trọng hơn sống phần xác, vì đó là cuộc sống đời đời. Thế mà biết bao nhiêu người sống như không có hồn, như không phải chết, qua việc họ dành trọn vẹn thời giờ cho việc mưu sinh và bỏ qua việc học hỏi Lời Chúa. Chẳng lạ gì mà họ bị rơi vào hết cơn cám dỗ này đến cơn cám dỗ khác, và quằn quại trong đau khổ.

            Cám dỗ thứ hai về làm phép lạ: Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, rồi nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng,  cho bạn khỏi vấp chân vào đá." Quỉ biết người Do Thái rất thích chứng kiến hay được hưởng phép lạ, và đa số dân chúng, nhất là dân Việt-nam rất thích phép lạ. Nếu muốn con người tin, Thiên Chúa chỉ cần cho họ thấy phép lạ!

            Chúa Giêsu trả lời quỉ và dạy con người bài học thứ hai: "Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi." Phép lạ được làm là để khơi dậy đức tin trong tâm hồn con người: nếu một người đã có niềm tin, phép lạ không còn cần nữa; nhưng nếu một người cứng lòng, dù có chứng kiến biết bao phép lạ họ vẫn không tin. Chúng ta thấy rõ điều này nơi các người trong Thượng Hội Đồng, họ vẫn không tin Chúa và còn tìm cách hủy diệt Người.

            Hơn nữa, niềm tin dựa trên phép lạ không vững bền; nếu không thấy phép lạ nữa, con người sẽ đánh mất đức tin. Họ muốn biến và điều khiển Thiên Chúa thành máy làm phép lạ thay vì họ phải biết tin tưởng vào tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa, như những gì quỉ nói: "Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá."

            Cám dỗ thứ ba cho giàu sang phú quí: Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: "Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi." Cám dỗ này cho chúng ta thấy rõ ràng sự gian dối của ma quỉ, vì tất cả những thứ quỉ hứa cho thuộc về Thiên Chúa, không thuộc về chúng.

            Chúa Giêsu trả lời quỉ và dạy con người bài học thứ ba: "Satan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi." Đây là điều răn thứ nhất và quan trọng hơn cả. Có thể nói không một tín hữu nào không biết điều răn này; nhưng thực hành giới răn này trong cuộc sống thì không dễ dàng, vì biết bao người đã vì lợi lộc không chịu thờ phượng Thiên Chúa, lại quì sụp lạy ma quỉ. Cám dỗ này phải mở mắt cho con người hiểu rõ họ được sở hữu điều gì hoàn toàn là do bởi Thiên Chúa, chứ không từ ma quỉ, hay do bởi sức mình, hay bởi những thế lực khác.

            Ngoài cơm bánh, chúng ta còn đói khát rất nhiều thứ khác, chẳng hạn như đói khát sự thật, đói khát tình thương, đói khát tự do, đói khát phẩm giá, đói khát lòng kính trọng, đói khát kiến thức, đói khát lẽ sống và lý tưởng.

            Sau khi chịu phép rửa của Gioan ở sông Giođan, Thánh Thần hướng dẫn Ngài vào trong hoang địa để chịu ma quỉ cám dỗ. Thật là huyền diệu. Thiên Chúa mà phải đối đầu trực diện với ma quỉ? Đó cũng là gương mẫu cho chúng ta biết chống lại ma quỉ.

            Chúa Giêsu Ngài đã chiến thắng ba cám dỗ đó trên nền tảng căn tính của con người. Con người là hình ảnh Thiên Chúa và vượt xa muôn loài thụ tạo nên chẳng có vật gì đáng cho con người phải bán rẻ lương tâm để tôn thờ. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng nên con người, mới đáng để con người phải cúi mình tôn thờ. Thế nên, chỉ khi con người sống tôn thờ Thiên Chúa, con người mới sống đúng phẩm giá của mình hơn, vì "nhân linh ư vạn vật". Chỉ khi con người thoát ra khỏi sự ràng buộc khỏi những tham sân si, con người mới sống an bình hơn.           

Nhìn lại ba cơn cám dỗ tiêu biểu của Đức Giêsu, ta thấy chúng có một mẫu số chung. Đó là Ngài bị lôi kéo sống cho mình, lo cho mình, xây đắp cho mình. Dù là dùng quyền năng Cha ban để biến đá thành bánh ăn cho đỡ đói. Dù là nhảy xuống từ nóc Đền thờ như một thách đố đối với Thiên Chúa yêu thương, hay như một biểu diễn ngoạn mục để thu hút quần chúng. Dù là sấp mình bái lạy Satan để được nắm mọi quyền hành trên muôn nước.

            Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta hằng gặp sự cám dỗ. Tiếng của thần dữ vẫn còn vọng lên: ngươi sẽ trở nên như Chúa. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trở nên Con Thiên Chúa sống thân mật với Ngài. Thần dữ mời gọi ăn quả cấm. Chúa Giêsu khuyên ta lắng nghe lời Chúa và đem thực hành. Chính Ngài là Lời của Thiên Chúa, là của ăn nuôi linh hồn chúng ta. Vì thế, đầu mùa Chay, Phụng vụ dạy chúng ta cầu nguyện: "Xin Chúa cho chúng con được đói khát chính Đấng là Bánh trường sinh chân thật và được sống nhờ mọi lời từ miệng Chúa phán ra" 

            Ngày nay, những cơn cám dỗ của ma quỷ vẫn như những chiếc bẫy giăng ra để trói buộc con người trong vòng nô lệ. Cám dỗ càng ngày càng tinh vi và càng ngọt ngào hơn nên càng hiểm độc hơn. Muốn chống trả được những cơn cám dỗ, ta phải bắt chước Chúa Giêsu dùng những vũ khí sắc bén, đó là ăn chay cầu nguyện, thấm nhuần Lời Chúa và luôn sống tâm tình của người con thảo đối với Chúa.

            Hôm nay chúng ta bắt đầu Mùa Chay, và chúa nhật thứ nhất Mùa Chay, chúng ta dốc quyết một điều cụ thể cho đời sống của mình trong Mùa Chay này. Mỗi người chúng ta hãy nhìn về cuộc sống của mình, xem mình đã có ý thức về thực thể mình là ai và xác tín mình còn là con của Thiên Chúa

 Huệ Minh 2020

Thứ Tư Lễ Tro

Mt 6, 1-6. 16-18

ĂN CHAY TRỌN NGHĨA

            Mùa Chay đã về. Sắc tím của phẩm phục phụng vụ, cung điệu của các bài thánh ca cũng như các lời kinh cầu nguyện tạo cho ta một cảm giác trầm buồn, sâu lắng. Trong nghi lễ khai mạc Mùa Chay, khi khiêm tốn đón nhận một chút tro bụi trên đầu, lời thánh ca gọi ta về với thực tại của thân phận con người:

            “Hỡi người hãy nhớ, mình là bụi tro,

            Một mai người sẽ trở về bụi tro” 

              Con người sinh ra từ bụi đất nhưng con người không bằng bụi đất, vì con người có hơi thở và hơi thở này là hơi thở sự sống của Thiên Chúa, đến từ Thiên Chúa. Các muông thú động vật cũng có hơi thở, nhưng sẽ chết đi và biến thành tro bụi. Con người khác xa các loài thụ tạo, vì sự sống của con người đến từ Thiên Chúa, Đấng hằng sống. Ngài là sự sống: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1, 27).

            Con người được Thiên Chúa dựng nên giống Ngài, nên con người cũng sẽ được như Ngài là sống bất diệt, chứ không phải để chết như vạn vật. Chính vì tình yêu mà Thiên Chúa đã biến đổi thân phận của hạt bụi. Và hạt bụi đó được Thiên Chúa biến hoá thành con người giống hình ảnh Chúa để được sống và sống dồi dào trong tình Chúa yêu thương, trong sự thuận hoà với đồng loại.

            Hôm nay, ngày khởi đầu cho mùa chay thánh,với hành vi xức tro trên đầu như nhắc nhở chúng ta: “Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Tro bụi là biểu tượng của sự dòn mỏng của con người, nay còn mai mất, nên khi nhận một ít tro, người tín hữu phải nhớ mình là kiếp phù du. Hãy biết sống đẹp trước mặt mọi người khi ta đang có cơ hội sống bên nhau. Hành vi này cũng nhắc nhở các tín hữu về nguồn gốc của mình “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật”.

            Nghi thức xức tro cũng là khởi đầu của mùa thống hối, gợi nhớ cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Tro là dấu chỉ để mỗi người chúng ta đều nhìn nhận mình là tội nhân. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.Với điều kiện chúng ta phải biết nhìn nhận tội lỗi của mình để xin lỗi Chúa và với anh em mà mình đã lỗi phạm.

            Tại nhiều nơi, cứ vào mùa tranh cử, người ta lại dễ dàng nhìn thấy những bảng hiệu ghi ơn dân biểu này, nghị sĩ nọ, hoặc loan báo những công trình xây dựng của các nhân vật chính trị. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu đó là những vận động gián tiếp, những hứa hẹn với dân chúng để hy vọng được bầu vào những chức vụ công quyền. Tâm thức và lối hành xử thường tình của con người là như thế đó: làm việc tốt để kể công, để được trọng vọng, khen thưởng. Người Kitô hữu cũng dễ bị cám dỗ để có tinh thần khoe khoang kể công như trên vào đời sống đạo đức.

            Tin Mừng hôm nay ghi lại những lời dạy của Chúa Giêsu về tinh thần tu đức cần phải có, với nguyên tắc sống đạo: đừng làm việc lành có ý phô trương cho người ta thấy. Theo luật Môsê, bố thí, cầu nguyện, ăn chay là những việc lành cao quý, và người ta thường tổ chức các việc đạo đức đó cách công khai để thúc đẩy nhiều người tham gia. Chúa Giêsu không phản đối các việc đó, nhưng Ngài chỉ muốn người ta thực hiện chúng với ý hướng mới, đó là làm vì lòng yêu mến và tìm đẹp lòng Chúa hơn là để được người đời khen ngợi. Chẳng vậy, các việc đạo đức ấy có thể chỉ có hình thức, đấy là chưa nói đến trường hợp có nhiều người làm bộ cầu nguyện lâu giờ, ăn chay nhiều ngày, bố thí rộng rãi để dễ lừa gạt người khác.

            Chúa Giêsu cảnh giác chúng ta đề phòng thứ đạo đức vụ hình thức. Nhưng việc đạo đức tự nó rất ích lợi cho bản thân, cho tha nhân và đáng được Thiên Chúa ban thưởng, với điều kiện chúng được thực hiện với ý ngay lành. Chúng ta cần thực hành các việc lành với ý hướng này, vì đó là lẽ sống, là niềm vui và là động lực cho cuộc đời hy sinh phục vụ của chúng ta.

            Ăn chay thể hiện tinh thần thờ phượng Thiên Chúa và là hành vi đẹp lòng Người (Ds 29,7). Ăn chay còn có ý nghĩa thể hiện lòng thành tín để xứng đáng được Thiên Chúa nhận lời cầu xin (2 Sm 12, 16-22); để thể hiện tinh thần sám hối đền tội, xứng đáng được Chúa tha thứ (Lv 23, 27); Ăn chay hỗ trợ hiệu quả cho việc trừ Qủy… (Mt 17, 21). Ăn chay còn nói lên tính vị tha là thực hiện công lý và tình thương (Is 58, 6-7). Ăn chay là phương thế thánh hóa bản thân, siêu thoát tinh thần để được hưởng sự sống đời đời. Ăn chay giúp chúng ta không còn bám víu vào của cải vật chất đời này, không cậy dựa vào sức riêng mình cách thái quá mà biết cậy dựa vào Lời Chúa như Chúa dạy: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4).

            Ăn chay không phải là một hình thức làm cho qua lần, chiếu lệ. Ăn chay không phải chỉ là nhịn ăn một hai bữa cơm. Ăn chay có mục đích nhắc nhớ ta hãy biết hãm dẹp thân xác, hãm dẹp những tính mê tật xấu, hãm dẹp những gì làm mất lòng Chúa và làm phiền lòng anh em. Giáo Hội giản lược việc ăn chay vào hai ngày trong một năm, không phải vì coi nhẹ việc ăn chay, nhưng vì Giáo Hội muốn tránh thái độ ăn chay hình thức, để tập trung vào việc ăn chay trong tâm hồn.

            Nhịn ăn một bát cơm không bằng nhịn nói một lời có thể làm buồn lòng người khác. Nhịn ăn một miếng thịt không bằng nhịn đi một cử chỉ xúc phạm đến anh em. Nhịn một bữa cơm ngon không bằng nhường nhịn, tha thứ, làm hòa với nhau. Kiềm chế cơn đói không bằng kiềm chế cơn nghiện rượu, nghiện ma túy, nghiện cờ bạc. Kiềm chế cơn khát không bằng kiềm chế dục vọng, tính tham lam, thói kiêu ngạo.

            Tuy nhiên, việc ăn chay chỉ có giá trị trước mặt Chúa và nhận được ơn Chúa ban nếu được thực hiện trong tinh thần khiêm hạ như lời Đức Giê-su: “Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ mặt rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay, ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh” (Mt 6, 16-18).

            Để ăn chay trong tinh thần và để thực sự hướng về tha nhân, nhiều nước trên thế giới đã biến việc ăn chay thành những hành động bác ái cụ thể. Mỗi ngày trong Mùa Chay, họ bớt chi tiêu một chút, gửi tiền tiết kiệm giúp những nơi nghèo khổ, bị thiên tai. Nhờ thế, việc ăn chay của họ không còn là hình thức, nhưng là những hy sinh thực sự và trở nên những việc làm đầy tình bác ái huynh đệ.

            Ngay đầu Mùa Chay, Phụng vụ đã nhắc nhở ta cần phải trầm tư để chiêm niệm về thân phận: “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi”. Ý nghĩa của Lời Chúa quá rõ ràng: mọi người sẽ phải chết. Vậy ta lao tâm khổ trí, vất vả ngược xuôi, ganh đua tranh dành để tìm kiếm của cải, danh vọng, thú vui…, ta nỗ lực học hỏi, tìm tòi, phát minh, xây dựng… nhưng khi cái chết đến, ta mang theo được thứ gì, tất cả có nghĩa gì cho ta? Cuối cùng thì cái gì là đáng quan tâm nhất trong đời? Ðâu là bậc thang giá trị đời ta?

Huệ Minh 26-2-20

 

THỨ NĂM SAU LỄ TRON

Mt 6, 1-9 16-18

PHÚC ÂM: Lc 9, 22-25

VÁC THẬP GIÁ ĐỜI MÌNH ĐỂ THEO CHÚA

             “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta.” Vào thời ấy, thập giá là án tử hình mà Đế quốc La Mã đã dành cho những phạm nhân cùng đinh. Vác thập giá và đi theo Chúa Giêsu thì cũng giống như chấp nhận bị thiệt thòi bởi guồng máy bất công đã hợp pháp hóa những bất công. Nó cũng giống như thoát ly khỏi hệ thống. Như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi cho các tín hữu Galát: “Thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Ga 6, 14).

            Với trang Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho biết rõ hơn con đường của Chúa là con đường gì: đó là con đường dẫn tới vinh quang phục sinh, nhưng trước đó phải qua đau khổ của thập giá; ai muốn đi theo Ngài thì cũng phải đi qua con đường thập giá, thậm chí phải vác thập giá hằng ngày.

            Ta thấy các nhà lãnh tụ muốn chiêu dụ người dân theo mình thì hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn: vinh hoa phú quí, quyền cao chức trọng … Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ thì nói: “phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mà theo.” Phải chăng Chúa muốn con người đau khổ chứ không muốn con người hạnh phúc? Thưa không! Chắc chắn là Ngài muốn cho con người hạnh phúc. Bằng chứng là Ngài đã sai Con Một xuống trần để đem lại hạnh phúc cho con người. Nhưng sở dĩ Thiên Chúa chọn con đường Thập Giá để cứu chuộc con người chẳng những vì tội lỗi con người nặng nề, phải được đền bù cho cân xứng, mà còn vì đó là cách Thiên Chúa biểu lộ tình yêu của Ngài cách mãnh liệt nhất. Và Ngài cũng muốn mời gọi con người bước đi trên con đường đó để đi theo làm môn đệ của Ngài.

            Có chuyện kể như sau : Một hôm, chúa Giêsu hiện ra cho hai trong số các môn đệ của ngài, đưa họ đến đầu một đường rồi trao cho mỗi người một cây thánh giá giống nhau và nói: "mỗi người các con hãy vác thánh giá này và đi đến cuối đường trước mặt, thầy sẽ đợi các con ở đó ". nói xong, Chúa biến đi. và hai môn đệ bắt đầu vác lấy thánh giá của mình.

            Người thứ nhất xem ra vác nhẹ nhàng, chân rảo bước mỗi lúc một nhanh. nội trong ngày, anh đã đến cuối đường và vui mừng gặp chúa giêsu đã đứng chờ sẵn ở đó. Còn người thứ hai thì mãi chiều hôm sau mới đi hết con đường, xem ra anh mệt mỏi, không còn vác, nhưng kéo lê thánh giá mỗi lúc một nặng thêm, làm anh gần kiệt sức. vừa gặp ngài, anh phàn nàn ngay: Chúa đối xử bất công quá, Chúa cho con cây thánh giá nặng, còn anh kia Chúa cho thánh giá nhẹ, nên anh đã đến trước con lâu như vậy.

            Gương mặt vui tươi của Chúa bỗng trở nên nghiêm nghị, ngài nói: "Này con, ta không đối xử bất công đâu, hai cây thánh giá giống nhau và nặng như nhau. con đừng trách thánh giá nặng nhẹ, nó trở nên nặng là vì tâm hồn con ngay từ đầu và trong suốt quãng đường ta đã chỉ, con luôn than phiền và càng than phiền thì thánh giá càng trở nên nặng nề. Người bạn đồng hành của con đến trước vì tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy yêu thương.     

            Chúng ta, những người  Kitô hữu, đang bước theo Chúa Giêsu, chúng ta không thể đi con đươcng khác. Từ bỏ mình la từ bỏ những tính mê nết xấu tội lỗi mình. Từ khi nguyên tổ phạm tội, con người luôn hướng về điều xấu, mà Thiên Chúa thì muỗn kéo chúng ta lên để hướng về sự thánh thiện, cho nên cần phải chiến đấu không ngừng để lựa chọn đúng.

            Bỏ mình còn có nghĩa tích cực là quên mình đi vì Chúa và vì anh em. Quên mình vì nghĩ đến kẻ khác, muốn phục vụ kẻ khác; quên mình vì muốn sống tha thứ, nhịn nhục và yêu thương. Con người sinh ra vốn ích kỷ, muốn sống quên mình vì Chúa vì anh em thật là khó, cần phải có ơn Chúa, cần phải biết chạy đến với Chúa; cần phải có một đời sống Phúc âm.

            Đồng thời với bỏ mình,  là vác thập giá mình. Nhiều người hiểu thập giá đời mình là những rủi ro, bệnh hoạn, những bất hạnh trong cuộc sống. Nhưng thập giá của mỗi người chúng ta còn là những cuộc chiến chống lại mọi khuynh hướng xấu, tội lỗi trong ta; thập giá của mỗi người còn là những tương quan với những con người bất toàn hằng ngày ta tiếp xúc.

            Thập giá là những bổn phận phải chu toàn hàng ngày : bổn phận của một người cha người me, của vợ của chồng , của con cái, của nghề nghiệp mình…. Như một vận động viên leo núi, để lên cao, người ấy phải tốn nhiều sức lực và mồ hôi, có khi còn kèm thêm máu và nước mắt. Nhưng đổi lại, người ấy được hưởng niềm vui chinh phục đỉnh cao. Nếu ngại khổ ngại khó, người ấy sẽ đứng mãi dưới chân núi mà ôm ấp giấc mộng không thành. Muốn thành công thành đạt phải đổ mồ hôi, phải thức đêm phải cố gắng. Thành công không thể có cho những ai lười biếng, nhút nhát.

            Những khổ sở mà đời chúng ta phải chịu cũng giống như một bó củi rất to và rất nặng. Chắc chắn chúng ta vác không nổi. Nhưng Thiên Chúa đã thương tháo dây bó củi đó ra, rồi chia nó ra để mỗi ngày chỉ chất lên vai ta một khúc thôi. Hôm sau một khúc nữa, và hôm sau tiếp tục... Cuối cùng ta cũng vác xong hết bó củi. Nhiều người lại không làm như thế: chẳng những họ chất lên vai khúc củi của hôm nay mà còn thêm vào đó khúc củi của hôm qua và khúc củi của ngày mai. Lạ gì họ không vác nổi!”

            Thập giá không phải là định mệnh, cũng chẳng phải là một nhu cầu cấp bách từ Chúa Cha. Thập giá là hậu quả của việc tự nguyện dấn thân của Chúa Giêsu để mặc khải Tin Mừng rằng Thiên Chúa là Cha, và do đó, tất cả chúng ta phải được chấp nhận và được đối xử như anh chị em. Bởi vì lời loan báo cách mạng này, mà Người đã bị bức hại và Người đã không lo sợ mà cống hiến mạng sống mình. Không có một bằng chứng tình yêu nào cao cả hơn là Đấng thí mạng sống mình vì anh em.

            Cuộc sống là một chuỗi những lựa chọn. Mà chọn thì phải bỏ, bỏ cái kia để được cái này. Nên nhớ là chúng ta đã chọn Chúa và con đường của Chúa. Đó là sự lựa chọn căn bản, nhưng lựa chọn căn bản ấy phải thể hiện trong những lựa chọn hằng ngày theo cùng chiều hướng đó. Mùa chay là thời gian chúng ta xét mình về những lựa chọn của mình, đồng thời lặp lại lựa chọn căn bản: chọn Chúa, chọn con đường thập giá, chọn từ bỏ.

HUỆ MINH 2020

THỨ SÁU SAU LỄ TRO

Mt 9, 14-15

ĂN THEO THUỞ  - Ở THEO THỜI

            Chúa Giêsu không chấp nhận bất cứ thỏa hiệp nào nơi người môn đệ: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình". Nếu chính bản thân mà còn phải từ bỏ, thì huống chi những gì thuộc về thế gian. Thái độ dứt khoát này được Chúa Giêsu làm nổi bật trong cách xử thế của Ngài đối với một số những luật lệ Cựu ước.

            Trong khi các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và những người Biệt phái tuân giữ một số ngày chay tịnh, thì Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài tự miễn chước. Hành động như thế, Chúa Giêsu muốn nói lên sự độc lập của Ngài và của các môn đệ đối với một số truyền thống cũ. Chúa Giêsu đã minh định thái độ của Ngài khi tuyên bố về sự hiện diện của Tân lang. Ngài chính là Tân lang, là Ðấng Cứu Thế mà con người mong đợi.

            Theo truyền thống Do thái giáo, việc giữ chay được liên kết chặt chẽ với việc chờ đợi Ðấng Cứu Thế. Ăn chay có nghĩa là nói lên niềm trông đợi Ðấng Cứu Thế. Căn cứ trên ý nghĩa và mục đích của việc giữ chay như thế, Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chính là Ðấng Cứu Thế, do đó các môn đệ không cần giữ chay, bởi vì họ không cần phải trông đợi nữa. Ðó là thái độ hợp thời và hợp lý: họ đang sống bên Chúa Giêsu: thái độ của họ không phải là thái độ buồn sầu, khóc lóc. Thời của Ðấng Cứu Thế không phải là thời của tang chế, ủ dột, mà là thời của hân hoan.

            Làm môn đệ Chúa Giêsu, sống với Chúa Giêsu, thái độ của người theo Chúa phải là sống tất cả cho Ngài và vì Ngài. Ðưa ra dụ ngôn chiếc áo và bình rượu, Chúa Giêsu muốn nói rằng thái độ của người môn đệ phải là thái độ dứt khoát tận căn, một thái độ không pha lẫn Tin Mừng với tinh thần thế tục.

             Trước sự chất vấn của các môn đệ Gioan, Chúa Giêsu mở ra một cái nhìn mới về việc ăn chay: Ngài đặt việc ăn chay trong mối tương quan với sự hiện diện của Ngài. Ngày nào “chàng rể” Giêsu đang ở giữa tiệc cưới, đồng hành với các môn đệ là bạn hữu chàng rể, thì họ sống trong niềm vui, không thể ăn chay được. Chỉ khi chàng rể bị đem đi, nghĩa là trong cuộc Khổ Nạïn, họ mới ăn chay trong sự thiếu vắng, khắc khoải và mong ước được gặp lại Thầy mình.

            Cùng với toàn thể Giáo Hội, người Kitô hữu chúng ta bước vào Mùa Chay Thánh. Giáo Hội mời gọi tất cả chúng ta ăn chay. Nhưng việc ăn chay như thế nào mới có ý nghĩa ?

            Trong bài Tin Mừng Âm hôm nay, các môn đệ của Gioan hỏi Chúa Giêsu : "Tại sao chúng tôi và những người biệt phái thì giữ chay, còn môn đệ của Ngài lại không?" Chúa Giêsu trả lời họ rằng : "Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ? Rồi sẽ có ngày tân lang ra đi, bấy giờ họ mới giữ chay".

            Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta nhận rằng : Ngài muốn mở ra một cách thức mới về việc ăn chay. Các môn đệ sẽ không phải ăn chay khi họ đang ở bên Chúa. Họ chỉ ăn chay khi Ngài ra đi chịu khổ nạn và chịu chết. Việc chay tịnh khi đó mới thực có ý nghĩa, để chờ đón Ngài, để được gặp lại Ngài.

            Các môn đệ của Gio-an, những người giữ luật, họ sợ mình đang làm sai? Hoặc giả họ băn khoăn, vì ghen tỵ: mình thì “bị” luật giữ còn môn đệ Giêsu thì không? Chúa Giêsu có đang gây “gương mù gương xấu” khi thả lỏng cho các môn đệ trong chuyện tịnh chay? Hay đời sống chan hòa giữa Chúa Giêsu và các môn đệ có lôi cuốn họ đến để tìm hiểu về mối tương quan thầy trò này? Để trả lời một vấn nạn, Chúa Giêsu lại đưa ra một vấn nạn khác, qua Chúa minh định rằng: Ngài chính là vị Tân Lang, và các môn đệ là khách mời dự tiệc cưới: “Chẳng lẽ khách dự tiệc – là các môn đệ – lại than khóc khi chàng rể – là chính Ngài – còn đang ở với họ” sao?

            “Rượu mới phải đổ vào bầu da mới” (Mt 9, 17). Chúa là Rượu Mới của Giao Ước mới. Ngài mời gọi chúng ta hãy “thức thời”, mặc lấy tinh thần mới để thực thi luật mới của Ngài là luật yêu thương.

            Trong Mùa Chay Thánh kéo dài 40 ngày sẽ có ý nghĩa với chúng ta, nếu chúng ta thực hiện điều Thiên Chúa muốn.

            Việc ăn chay là một cách thức có tác động mạnh đối với thế giới xung quanh của chúng ta. Thiên Chúa đã gợi ý cho chúng ta cả một danh sách những điều mong ước của Ngài về việc ăn chay của chúng ta : “chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục” (Is 58, 7).

            Để khiêm nhường van xin Thiên Chúa dung thứ tội lỗi chúng ta, đó là chúng ta hãy biết mở lòng ra để cho Ngài chữa lành chúng ta. Đó cũng là việc chúng ta mở đôi mắt ra xung quanh để nhìn những người đang bị tổn thương và túng thiếu cần được giúp đỡ.

            Trong mùa Chay Thánh, các ngày thứ sáu tưởng nhớ Chúa chịu chết, tôi có vì lòng sám hối ăn năn tội lỗi của mình, rồi thành tâm yêu mến Chúa mà giữ chay kiêng thịt và làm việc bác ái một cách chân tình, hay là tôi chỉ giữ vì luật lệ, vì thói quen hình thức bên ngoài, nhưng trong tâm hồn lại rỗng tuếch thì chẳng ích lợi gì, chẳng còn ý nghĩa nội tâm chút nào. Mỗi ngày, tôi cố gắng sống chậm lại, nhìn sâu hơn những dấu chỉ của Chúa để nhận ra tiếng nói và sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống đời tôi.

            Xin cho công việc chay tịnh chúng ta thực hiện trong mùa chay này giúp chúng ta đi vào chiều sâu để khám phá hình ảnh Thiên Chúa trong chúng ta và trong lòng mọi người, ngõ hầu cuộc sống đức tin chúng ta là một công trình ngày càng tỏ lộ và chúng ta có khả năng yêu mến hình ảnh Thiên Chúa nơi người khác.

THỨ BẢY SAU LỄ TRO

PHÚC ÂM: Lc 5, 27-32

TÌNH TTHƯƠNG CỦA CHÚA VÀ LÒNG HOÁN CẢI CỦA LÊVI

            Tin Mừng hôm nay trình bày cùng chủ đề mà chúng ta đã suy niệm thế nhưng lần này lại là Tin Mừng Luca mà lời và văn bản ngắn hơn nhiều, tập trung sự chú ý vào bữa ăn chính là việc kêu mời và hoán cải của ông Lêvi, và sự hoán cải cũng hàm ý dành cho chúng ta là những người đang bước vào thời điểm mùa Chay.

            Ta thấy thái độ của Chúa Giêsu đối với những kẻ bé mọn, nghèo hèn, đĩ điếm, thu thuế, nói chung những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Ngài kết thân với họ, đồng bàn với họ, và tuyên bố họ là những người vào Nước Trời trước những kẻ tự xưng là công chính. Những con người nghèo khổ ấy là một thể hiện cụ thể của mối phúc đầu tiên mà Chúa Giêsu đã công bố trong Bài giảng trên núi: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó," Tin Mừng được loan báo cho những người nghèo, hay đúng hơn chỉ người nghèo mới có thể mở rộng tâm hồn để đón nhận Tin Mừng.

            Chúa Giêsu kêu gọi một người tội lỗi làm môn đệ của Người. Chúa Giêsu gọi ông Lêvi, một người thu thuế, và ngay lập tức, ông bỏ lại mọi sự, đi theo Chúa Giêsu và bắt đầu hình thành một phần của nhóm các môn đệ. Ngay lập tức, thánh Luca nói rằng ông Lêvi đã chuẩn bị một bữa tiệc lớn trong nhà mình. Trong sách Tin Mừng theo Máccô, dường như đó là bữa tiệc trong nhà của Chúa Giêsu. Điều quan trọng ở đây là lời khẳng định về sự hiệp thông của Chúa Giêsu với những người tội lỗi, cùng ngồi ăn với Chúa, đó là một điều cấm kỵ.

            Chúa Giêsu đã không đến để kêu mời những người công chính. Cử chỉ của Chúa Giêsu đã gây ra tức giận phẫn uất trong số những chức sắc tôn giáo. Điều cấm kỵ là ngồi cùng bàn với các người thu thuế và phường tội lỗi, bởi vì ngồi cùng bàn với một ai đó có nghĩa là thù tiếp người ấy, coi người đó như anh em! Với cách làm việc này của mình, Chúa Giêsu đang chấp nhận những kẻ bị loại trừ và đối xử với họ như là anh em trong cùng một gia đình của Thiên Chúa. Thay vì nói trực tiếp với Chúa Giêsu, các Kinh Sư của người Biệt Phái nói với các môn đệ: Tại sao các người lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như vậy?

            Và Chúa Giêsu trả lời cho họ: “Những ai mạnh khỏe không cần tới thầy thuốc, chỉ những người đau yếu mới cần thôi. Ta đến không phải để kêu mời người công chính, nhưng để gọi kẻ tội lỗi ăn năn hoán cải!” Ý thức về sứ vụ của mình đã giúp Chúa Giêsu tìm được câu trả lời và cho thấy đường lối của việc loan báo Tin Mừng Thiên Chúa. Người đến để đoàn kết các dân tộc bị phân tán, tái hòa nhập những người bị hắt hủi, để mặc khải rằng Thiên Chúa không phải là một vị phán quan nghiêm khắc luôn lên án và tống khứ, mà Người là bậc Phụ Mẫu đón nhận và ấp ủ.

            Với câu chuyện Chúa kêu gọi ông Lêvi : “Anh hãy theo tôi !”, ông không chần chừ mà đứng dậy mau mắn theo Người. Ông đã nắm chặt lấy cơ hội, không do dự, Ông quyết định làm lại cuộc đời… Ông tổ chức một bữa tiệc lớn mời Chúa Giêsu và các bạn bè của ông là những người bị xếp vào loại hèn mạt, tới gặp Chúa Giêsu cùng thân bằng quyến thuộc đến  chung chia niềm vui và như nói lên quyết định quan trọng của mình, đồng thời cũng để từ giã họ mà đi theo Chúa.

            Trong bữa tiệc vui này, Chúa Giêsu đã đồng bàn với những người thu thuế, bạn của ông Lêvi mà vào thời bấy giờ họ bị coi là người tội lỗi, bất lương, vì khi làm nghề thu thuế thì khó tránh khỏi gian tham, bóc lột, đút lót, hối lộ, lem nhem về tiền bạc nên  bị mọi người oán ghét, ác cảm và bị đẩy xa bên lề xã hội. Ngài đồng bàn với họ là muốn chia sẻ, muốn nói lên tính thân thiện của Người với họ, ngồi đồng bàn với người tội lỗi, với mọi hạng người, Chúa Giêsu bày tỏ cho chúng ta thấy bộ mặt của Thiên Chúa nhân hậu luôn hiện diện trong mọi sinh hoạt của con người, một Thiên Chúa chia sẻ cuộc sống của con người và muốn đi vào kết hợp thâm sâu với con người.

            Chúa đã đón nhận Lêvi với tất cả tình yêu thương, tha thứ. Chúa cũng đón nhận chúng ta như vậy và Ngài còn muốn chúng ta đón nhận và cảm thông với nhau như chính Ngài. Khi ta đón nhận tha nhân, thông cảm với những yếu đuối, lầm lỗi, khuyết điểm  nơi họ là chúng ta cũng tạo cho họ một cơ hội để phục thiện, một lý tưởng để bước đi, một sức mạnh để vượt qua tất cả.

            Qua những trình thuật trong Tin Mừng , chúng ta thấy Chúa Giêsu tìm dịp để đến với tội nhân, Người đồng bàn với họ, Người lân la trò chuyện với họ để giúp họ vươn lên , Ngài tạo cơ hội để giúp họ làm lại cuộc đời.

            Nhóm kinh sư và Pharisiêu  thấy thái độ của Chúa như thế thì bực tức và tỏ ra bất mãn, họ trách cứ Chúa: “Sao Ông ấy lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi?”  nhưng Chúa Giêsu trả lời thật đơn giản, thích đáng: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau yếu mới cần …”. Thật vậy, người khỏe mạnh cần gì đến thầy thuốc, bác sĩ! Chỉ người bệnh hoạn, đau ốm , những người như ông Lêvi và các bạn hữu của ông mới là người cần Chúa hơn hết.

            Thiên Chúa là Đấng giàu lòng khoan dung, thương xót, Ngài đến không phải để luận tội nhưng để vạch ra cho chúng ta thấy thân phận yếu hèn, tội lổi của mình mà khiêm tốn thống hối,  mà hoán cải để được ơn tha thứ.

            Thánh Phaolô đã nói: "Nơi nào tội lỗi càng nhiều, nơi đó ân sủng càng dồi dào.” Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng của lòng tin tưởng phó thác: có thấy được nỗi bất toàn của mình, con người mới cảm nhận được sức mạnh nâng đỡ của Chúa. Tin Mừng của Chúa là Tin Mừng của an bình, hạnh phúc: có dốc cạn những ham muốn ích kỷ và những sức mạnh của danh vọng, có trở nên thực sự trống rỗng, thanh thoát, con người mới có thể được Thiên Chúa lấp đầy và tìm được hạnh phúc bình an đích thực.

            Mùa chay là mùa sám hối, mà sám hối không chỉ có nghĩa là trở về với Chúa mà còn là giao hòa với tha nhân nữa. Xin Chúa cho chúng con sức mạnh nội lực để chúng con can đảm mau mắn đứng dậy trở về với Chúa trong kinh nguyện, sám hối và điều chỉnh lại quan hệ của chúng con với tha nhân, càng sống quảng đại, càng trao ban nhưng không, chúng con càng cảm nhận được ơn nhưng không của Thiên Chúa.

            Đức thánh cha Phanxicô kêu gọi chúng ta: “Mùa Chay là mùa thuận tiện để chúng ta trở về, canh tân việc gặp gỡ Thiên Chúa để có thể nhận ra Ngài đang hiện diện sống động nơi các bí tích và trong mỗi tha nhân”. Chỉ trong sự yêu mến, kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, gắn bó với Lời Ngài chúng ta mới có khả năng nhận ra phẩm giá đích thực của nhau, đón nhận và tôn trọng nhau như quà tặng, như hồng ân của Thiên Chúa.

HUỆ MINH

 

Mùa Chay - Mùa Trở về

            Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy?

            Đó là tâm tình của Cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn khi nói về phận người. Còn với người Kitô hữu, khởi đầu của Mùa Chay Thánh hay trong Mùa Chay Thánh hoặc Lễ an táng đều cất lên tâm tình :

            Hỡi người ! Hãy nhớ mình là bụi tro ! Một mai người sẽ trở bề bụi tro.

            Chính xác là như vậy. Đơn giản là vì con người được Thiên Chúa thương dựng nên cho hình hài từ cát bụi và Thiên Chúa thổi hơi cho Thần Khí Chúa vào trong bùn đất đó để thành người : Ôi, cát bụi tuyệt vời, mặt trời soi một kiếp rong chơi.

            Vâng đời con người xét cho bằng cùng như một kiếp rong chơi, như một chuyến hành hương trong cõi tạm này "để một mai tôi về làm cát bụi?"

            Phận người là cát bụi hay cát bụi chính là phận con người.

            Vòng đời của con người như Thánh Vịnh 90 nói : Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi. ...

            Chuyện quan trọng nhất mà Thánh Vịnh 90 nhắc nhở đó chính là : Lạy Chúa, xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống để ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.

            Khôn ngoan như Kinh Thánh nói đó chính là sự khôn ngoan của Thiên Chúa chứ không phải khôn ngoan theo kiểu của người đời.

            Mùa Chay Thánh lại về và trọng tâm nhất của Mùa Chay Thánh mời con người hãy ăn chay, cầu nguyện cho chính bản thân mình và cho mọi người nữa. Và thời gian ăn chay cũng chính là thời gian chờ đợi mầu nhiệm Vượt Qua. Mầu Nhiệm Vượt Qua chính là mầu nhiệm cơ bản nhất của đời sống Kitô hữu vì nếu như Chúa không sống lại thì niềm tin của chúng ta ra vô ích như xác tín của Thánh Phaolô.

            Mùa Trai Tịnh mời gọi người Kitô hữu cùng dìm mình với Chúa Giêsu trong sa mạc để dọn lòng mình và để chiến đấu với ma quỷ là đầu mối tội lỗi của con người. Chính Chúa Giêsu, trong thân phận làm người, Chúa cũng phải đối diện với sự dữ, với những cám dỗ không khác gì một con người. Và rồi, ta thấy Chúa Giêsu chiến thắng nhờ Thần Khí, nhờ khiêm hạ và nhất là nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa.

            Mùa Chay Thánh năm 2020 lại về với con người. Và, chắc có lẽ Mùa Chay Thánh năm nay là Mùa Chay đặc biệt nhất trong mọi mùa Chay của đời người chúng ta - những người đang còn sống.

            Với những người đã khuất, họ không nếm được những thử thách cam go đặc biệt trong Mùa Chay Thánh này. Ta, những người đang còn trong thân phận làm người, trong hành trình dương thế này phải đương đầu với những thử thách từ bên trong cả lẫn bên ngoài và nhất là với cơn đại dịch đang hoành hành.

            Có lẽ, Mùa Chay Thánh năm nay tròn đầy hơn với ý nghĩa chiến đấu thiêng liêng, đặc biệt là tập luyện nhân đức khiêm nhường.

            Kỹ thuật tiến bộ, khoa học ở đỉnh vinh quang nhưng đang phải đau đầu và vất vả với con vi khuẩn xem ra là vô hình.

            Tưởng nghĩ cũng như chia sẻ với nhiều người quen rằng có lẽ con người này nay xa Chúa và nhất là ta, những Kitô hữu, những tu sĩ linh mục nữa. Có lẽ đời ta chạy theo thế gian, chạy theo vinh quang của trần thế và nhất là chạy theo chủ nghĩa tương đối và loại trừ Thiên Chúa và coi như không cần Thiên Chúa nữa nên cơn hoành hành của đại dịch xảy đến.

            Thật ra cũng chả khó nghĩ lắm. Tất cả những tai ương đang diễn ra chả phải đã diễn ra với vị vua mang tên Pharaô cứng đầu cứng cổ chăng ? Cũng chỉ vì cứng đầu cứng cổ mà Thiên Chúa đã cho hết tai ương này đến tai ương khác nhắc nhở con người ngang qua Pharaô thế nhưng với lòng chai dạ đá, Pharaô bất chấp lời Thiên Chúa và bỏ ngoài tai.

            Ngày hôm nay, con người cũng thế Bao nhiêu dấu lạ xảy ra trong cuộc đời nhưng rồi con người có chịu nghe đâu. Thiên Chúa yêu thương thế gian và chả bao giờ hại con người nhưng chính con người bỏ Thiên Chúa và hại nhau để con người gánh chịu hậu quả do chính mình làm ra thôi.

            Tạ ơn Chúa, cảm ơn Mẹ Hội Thánh đã đặt để chu kỳ Phụng Vụ với điểm nhấn là Mùa Chay Thánh để mời gọi con cái mình trở về với Chúa và nhất là trở về với chính mình.

            Tưởng nghĩ, mỗi người chúng ta nên chăng phải lắng lại để nhìn đời, nhìn những dấu chỉ thời đại mà Chúa đang muốn nói với chúng ta.

            Có thể nói, ngày hôm nay, con người hoàn toàn bất lực trước sự sống mà xưa nay con người vẫn nghĩ mình làm chúa, làm chủ. Ngay cả bác sĩ, những nhà khoa học có tiếng và cả một lực sĩ lực lưỡng không bao giờ có bệnh tật trong người nhưng lại ra đi trong cơn đại dịch.

            Bao nhiêu cái cao ngạo của con người ngày nay phải nhường chỗ cho tai ương và nại đến lòng thương xót Chúa.

            Giật mình với tin khủng : Bộ trưởng Bộ y tế Iran được coi là dương tính với con virus quái ác. Như thế, đồng nghĩa với mạng sống của con người quả mong manh : Ôi, cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi?

            Và cố nhạc sĩ họ Trịnh chua xót nói sự thật của con người : Bao nhiêu năm làm kiếp con người chợt một chiều tóc trắng như vôi. Lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày.

            Với người Kitô hữu thì niềm tin vào sự chết không phải như các tôn giáo khác. Niềm tin của Kitô hữu là được phục sinh nếu như giữ trọn điều răn mến Chúa - yêu người :

             Ôi thân phận của con người tựa bông hoa nở tươi. Một làn gió nhẹ lung lay cũng biến tan sắc màu.

            Hôm nay người người vui cười, rồi mai đây lệ rơi. Đời là giấc điệp qua mau, nuối tiếc chi bóng sầu.

            Ôi muôn sự đều hão huyền, giả trá và đảo điên. Một điều vững bền thiên thu: đức kính yêu Chúa Trời.

            Mau quay về cùng Chúa Trời, lòng hân hoan nhảy vui. Đường tội lỗi nguyện lui xa Chúa sẽ thương hải hà.

            Vâng mỗi người chúng ta mau mau quay về Chúa Trời cũng như đường tội lỗi nguyện lui xa thì Chúa sẽ thương hải hà.

            Xin Chúa thêm ơn cho chúng ta để Mùa Chay Thánh này ta thật sự trở về với Chúa và trở về với chính ta để ta được hưởng trọn vẹn ơn Cứu Độ từ nơi Chúa.

 

Huệ Minh 25-2-2020

 

THỨ HAI TUẦN 1 MÙA CHAY
Mt 25, 31-46
MÙA CHAY &LÒNG BÁC ÁI
             Mùa Chay : mùa chia sẻ, mùa làm việc bác ái. Hơn nữa bài này vén mở cho ta thấy một lối hiện diện khác của Chúa Giêsu. Ngài không chỉ hiện diện nơi tấm bánh thánh, nơi tâm hồn ta, nơi Giáo hội, mà Ngài còn ở nơi những người đói, khát, khách lạ, trần truồng, đau yếu, ngồi tù. Khuôn mặt của Ngài xem ra chẳng có gì cao quý, uy nghi, sáng láng, nhưng đầy nét đau khổ, nhục nhằn, phiền muộn. Chúa Giêsu ở đây không phải là người ban phát đầy quyền năng, mà là người ăn xin yếu đuối ngửa tay cần ta giúp đỡ..
            Tin Mừng chỉ rõ, mỗi việc bác ái chúng ta làm, là làm cho chính Chúa: " Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với" (Mt 25, 34-36). Hơn nữa, "Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta" (Mt 25,40).

            Cuộc phán xét tình yêu, đưa chúng ta trở về với thực tại chân đặt trên đất, đầu ngẩng lên nghe Chúa Kitô phán xét. Vương triều của Chúa Kitô rất khác với chuyên quyền trần thế, bởi tình yêu là tiếng nói cuối cùng còn tồn tại.
            Chúa Giêsu cho chúng ta thấy ý nghĩa của vương quốc hay quyền lực là để phục vụ người khác. Người khẳng định rằng Người là Chúa, là Thầy (Ga 13, 13), và là Vua (Ga18, 37), nhưng Người đã thi hành chức năng Thầy của mình bằng cách rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13, 4 ), và trao ban mạng sống mình. Chúa là Vua cai trị bằng sự khiêm nhường nằm trong (máng cỏ!) và bước lên ngai vàng là Cây Thập Giá.
            Khi phục vụ những người nghèo trong khu ổ chuột ở Ấn Độ, mẹ Têrêsa Calcutta trả lời các nhà phỏng vấn: “Tôi thấy Chúa qua những con người bé nhỏ này”. Vì thế, mẹ Têrêsa đã phục vụ họ một cách trân trọng, như một con người, mang trong mình hình ảnh Đức Kitô. Mẹ đã sống Lời Chúa một cách triệt để. Bởi vì Chúa Ki-tô hiện thân nơi người nghèo, như Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta. Việc bác ái mang chất Ki-tô này giúp ta làm việc lành mà không cầu danh lợi, không huênh hoang tự đắc, không tìm lời khen, không coi thường người nghèo nhưng luôn tôn trọng họ... Chất Ki-tô khiến chúng ta làm tất cả để tôn vinh danh Chúa, để tình người được lớn lên trong tình Chúa.
            Ta tự hỏi rằng Vua Tình Yêu phán xét thế nào ? Khi Chúa Giêsu giáng lâm, tất cả mọi người tốt hay xấu, lành hay dữ, thiện hảo hay ác độc, đều có mặt để Người xét xử. Tiêu chuẩn là tất cả những gì chúng ta thực hiện cho anh em. Chính người tuyên án: "Mỗi lần các ngươi đã làm (hay các ngươi đã không làm) cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm (hay các ngươi đã không làm) cho chính Ta" (Mt 25, 40.45). Vì thế, cái gì sẽ xảy ra cho những kẻ không những không cho kẻ đói ăn, mà còn cướp lương thực khỏi họ; không những không tiếp rước khách lạ, mà còn là nguyên nhân làm cho người khác trở nên khách lạ.
            Chúa Giêsu Kitô thay mặt Thiên Chúa. Những người bên phải là những người phục vụ Đức vua bằng chính hành vi đầy bác ái của họ đối với những người nghèo khổ : cho kẻ đói ăn, cho người khát uống, tiếp rước khách lạ, mặc áo cho kẻ trần truồng, thăm viếng và an ủi kẻ đau yếu, tù đầy… Họ làm những công việc ấy với tất cả tấm lòng mà không biết là mình đang làm cho Đức Vua. Họ vâng theo huấn lệnh yêu mến tha nhân mà chẳng hề tính toán đến công sức, thù lao hoặc giá trị hành vi họ làm. Qua cuộc phán xét này, Đức Vua đã mạc khải cho họ thấy tầm mức chiều sâu của sự liên đới giữa Thiên Chúa và những người khốn cùng. Đức Vua kết luận trong một công thức cô đọng ngắn gọn “ Điều gì các ngươi làm cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta đây, là làm cho chính Ta”.   
            “Mỗi lần các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (c. 40). Ngài gọi những người khốn cùng trong xã hội là anh em nhỏ nhất của Ngài. Làm cho họ là làm cho chính Ngài, chối từ họ là chối từ chính Ngài. Chúng ta sẽ bị xét xử vào ngày tận thế dựa trên tình yêu. Hôm nay ta có thể gặp Đức Giêsu ở nhà thương, nhà tù, nơi trại tị nạn, nơi gần một tỷ người bị đói trên thế giới, nơi bao người thiếu nước sạch để dùng.Hãy kính trọng trao cho Ngài những gì mình đã chắt chiu.
            Khi ta ra trước mặt Chúa, Chúa phán xét đến lòng thương xót đối với người nghèo. Chúng ta có giúp đỡ khi họ cần đến chúng ta chăng? Dụ ngôn người Samaritanô là một cách phán xét. Chúa sẽ phán xét thái độ biết tha thứ hay không: Kinh Lạy Cha và dụ ngôn hai người mắc nợ.Chúa sẽ phán xét về thái độ đối với Ngài như thái độ đơn sơ của trẻ nhỏ, về lòng thống hối, nhất là về đức tin. Thánh Gioan và thánh Phaolô nhấn mạnh ngày phán xét là lúc quyết định tin hay không tin và là lúc Chúa phán xét chúng ta về thái độ đối với Lời Chúa.
            Mỗi người sẽ được xét xử theo việc làm nghĩa là phải trả lẽ về những ơn mình đã nhận lãnh, chúng ta đã nhận mười nén bạc của Thiên Chúa ban như thế nào; Nén bạc đây hiểu là tất cả được gì? chúng ta là người và được làm con Chúa... Chúng ta sẽ được xét xử từ sự sinh thành cho đến của ăn, khả năng, thời gian, sức khỏe, tiền bạc... những biến cố, niềm vui nỗi buồn ở đời.
            Thánh Phaolô cũng cho chúng ta thấy một tiêu chuẩn phán xét về việc làm. Vì chưng chúng ta sẽ phải xuất đầu lộ diện trước tòa Đức Kitô, để mỗi người lĩnh lấy thành quả đời mình trong thân xác xứng với các việc làm, việc lành hoặc dữ. Biết luật chưa đủ mà phải giữ luật, đức tin không việc làm là đức tin chết. Đức tin phải minh chứng bằng việc làm: “Ai gieo thứ gì thì gặt thứ ấy” (Gl 16, 6).
            Hôm nay đây chúng ta biết rõ Thiên Chúa sẽ phán xét chúng ta. Chúng ta biết được những tiêu chuẩn nào Ngài sẽ phán xét, chúng ta đã chuẩn bị gì cho giây phút chúng ta ra hầu tòa Chúa chưa? Hãy nhớ rằng giây phút Chúa gọi ra khỏi đời này chúng ta sẽ không còn thay đổi gì được nữa, chúng ta không còn giây phút nào tự bào chữa đâu. Hãy luôn ở trong tư thế sẵn sàng.
            Và rồi trong thực tế cuộc sống, đã bao lần chúng ta làm ngơ trước nhu cầu của anh chị em? Họ đang đói khát cơm bánh hàng ngày? Họ đang thiếu vắng sự đồng cảm của ta? Họ đang trống vắng trong đời sống tinh thần, đời sống thiêng liêng? Họ thèm khát và mong đợi một Đấng có thể làm khoả lấp niềm hi vọng của họ? Còn chúng ta, những người Kitô hữu, những người có thể đem Chúa đến cho họ, chúng ta đã làm gì? Biết bao lần chúng ta bỏ qua, thiếu quan tâm, ơ hờ, thậm chí chúng ta đã ngăn cản Chúa đến với họ qua những hành vi lời nói phản chứng của chúng ta.

THỨ BA TUẦN 1 MÙA CHAY
Mt 6, 7-15
LỜI KINH DỄ THƯƠNG
            Kinh Lạy Cha là một kinh quan trọng đối với đời sống người Kitô hữu, vì đó là kinh do chính Chúa Giêsu đặt ra, là kinh được Giáo Hội đọc nhiều hơn cả trong các cử hành phụng vụ và các cử hành khác, là kinh tóm gọn tất cả những gì phải làm trong khi cầu nguyện.
            Kinh Lạy Cha là kiểu mẫu cho tất cả việc cầu nguyện. Theo thánh Luca, Kinh Lạy Cha có 5 lời nguyện, trong khi đó ở Phúc Âm Matthêu có 7 lời nguyện: 3 lời cầu đầu tiên nói về Thiên Chúa, Ðấng mà Chúa Giêsu dạy chúng ta gọi là Cha: Cha chúng con ở trên trời, sau đó chúng ta xin cho Danh Thánh Cha được hiển vinh, nước Cha được lan rộng trên thế gian, nhất là trong tâm hồn con người, và xin cho thánh ý Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.
            Trong phần hai, có 4 lời nguyện: xin lương thực hàng ngày, nghĩa là xin cơm bánh nuôi thân xác và của ăn nuôi hồn, tức là Lời Chúa và Mình Chúa; xin tha thứ các tội xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng để được tha thứ, chúng ta cũng phải tha thứ lỗi lầm của anh em; xin ơn kiên trì để lướt thắng cám dỗ hàng ngày, nhất là trong cơn thử thách sau cùng trước sức tấn công của tà thần muốn đưa chúng ta xa lìa Chúa; xin ơn thoát khỏi mọi sự dữ để có thể phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân mọi ngày trong đời sống chúng ta.
            Mặc dầu người ta đã nói nhiều về kinh này, nhưng nhắc lại một lần nữa ở đây, thiết tưởng cũng là điều tốt. Kinh Lạy Cha gồm hai phần. Trong phần đầu ta lo đến những sự thuộc về Chúa. Ta cầu xin cho điều Chúa muốn được thực hiện: “Nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Từ phần thứ hai của kinh, ta mới quan tâm đến những chuyện thuộc về ta: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, xin chớ để chúng con xa chước cám dỗ …”.
            Muốn cầu ngụyện nên, phải cầu nguyện theo cách này. Việc của Chúa phải được đặt lên hàng đầu. Việc của ta phải ở hàng thứ yếu. Nếu ta đặt những lợi ích của ta lên trên và trước những lợi ích của Chúa, nếu ta nghĩ đến ta trước khi nghĩ đến Chúa, là ta cầu xin điều trái ngược. Và Thiên Chúa không ưa điều gì làm trái ngược.
            Chúng ta cần cầu nguyện với Chúa Cha để sống và hoạt động tông đồ đắc lực, khi cầu nguyện như thế, chúng ta cậy nhờ Chúa Giêsu và nhờ chính lời cầu nguyện của Ngài. Có một điểm Chúa Giêsu căn dặn là trong khi cầu nguyện đừng có thái độ thuyết phục Thiên Chúa theo ý muốn của mình bằng những lời khéo léo dài dòng như những người ngoại giáo đối với các thần minh của họ. Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng làm như thế, bởi vì "Cha các con đã biết rõ các con cần gì, trước khi các con cầu xin".
            Nói khác đi, khi cầu nguyện, chúng ta chỉ cần đơn sơ khiêm tốn nhìn nhận mình hèn mọn thiếu thốn, vạch rõ con người của chúng ta trước mặt Thiên Chúa, rồi vững dạ cậy trông tin tưởng. Thiên Chúa chẳng những sẽ lấp đầy cái trống rỗng của chúng ta, mà còn dằn lắc, còn ban cho chúng ta nhiều ơn hơn chúng ta khấn xin.
            Và ta thấy Chúa cũng dạy ta tinh thần tha thứ cho kẻ xúc phạm đến mình, và tinh thần đơn sơ khiêm tốn nhằm gặp gỡ thân tình với Chúa hơn là nói nhiều lời ngoài môi miệng: “Khi anh cầu nguyện, thì đừng nhiều lời như những kẻ ngoại giáo, vì họ nghĩ rằng nói nhiều thì được nhiều”. Vì suốt ngày mỏi mệt rao giảng Tin Mừng, nên mỗi khi đêm về quỳ gối trước Chúa Giêsu Thánh Thể, thánh Phanxicô có những lúc quá mệt mỏi phải ngủ gục bên bàn thờ. Lúc ấy ngài thường cầu nguyện với Chúa một cách đơn sơ như sau: “Lạy Chúa, nếu linh hồn con không tỉnh thức được với Chúa, thì ít nữa xác con đây muốn ở gần Chúa”.
            Khi dạy kinh Lạy Cha, không những Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện, nhưng Ngài còn muốn cho chúng ta ý thức địa vị của con người chúng ta. Ngài nói rằng: sự viên mãn của thân phận chúng ta, và của hạnh phúc chúng ta là ở chỗ tự vượt lên khỏi mình nơi Thiên Chúa, trong ý muốn và trong Nước Ngài; nhưng để đến đó, chúng ta có thể tin cậy ở nơi Ngài. Đàng khác ngay từ bây giờ, chúng ta phải thực thi sự hòa giải với nhau giữa con người, hòa giải mà Thiên Chúa ban cho qua mối tương quan giữa chúng ta với Chúa. Địa vị con người đặt chúng ta trong hai mối tương quan mà thực ra chỉ là hai nhịp điệu của cùng một đời sống duy nhất. Đối với Thiên Chúa, tương quan của chúng ta là tương quan con thảo; đối với con người lại là tương quan huynh đệ.
            Cầu nguyện là giờ tâm sự với Chúa là Cha, chứ không phải là giờ làm bài. Giờ cầu nguyện là giờ của quả tim, chứ không phải là giờ của luận lý. Đừng nặn óc bóp trán để trình bày với Chúa. Khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta không cô độc lẻ loi một mình. Thánh Phaolô tông đồ giãi bày như sau: “Chúng ta không biết phải cầu nguyện như thế nào cho phải, nhưng Chúa Thánh Thần cầu nguyện cho chúng ta với những lời kêu van không thể diễn tả được” (Rm 8,26)
            Chính Chúa nói cần phải cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Chúa đã đề ra những cách thức phải cầu nguyện làm sao: cầu nguyện nơi kín đáo, cầu nguyện khiêm nhường, cầu nguyện với lòng tin, cầu nguyện chung nhau hai ba người họp lại. Bài Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta một điểm nữa khi cầu nguyện là “chớ có lải nhải nhiều lời như dân ngoại.” Sở dĩ Chúa đưa ví dụ này ra là vì các thầy Biệt phái đã làm sai mục đích việc cầu nguyện, và họ gán cho việc cầu nguyện có một giá trị như cái máy, hễ đọc lên là được ơn, không kể gì đến nội tâm cõi lòng. Nhưng Chúa nhấn mạnh đến tâm hồn.
            Cầu nguyện nói lên một mối tương giao giữa Thiên Chúa và con cái Ngài, cho nên không phải xin xỏ mới là cầu nguyện hay mới là tương giao với Chúa. Một đứa con trong gia đình, dù không xin gì nhưng vẫn có một tình nghĩa đậm đà, và cha mẹ vẫn chuẩn bị những thứ cần cho tương lai của chúng. Thiên Chúa Cha trên trời há lại không hơn thế ư? Một vị thánh đã nói, khi thấy chúng ta cần điều gì thì chính Thiên Chúa làm chúng ta cảm động nhớ tới điều đó. Như vậy thì việc chúng ta cầu nguyện lại bắt đầu từ chính Thiên Chúa chứ không từ chúng ta đâu.
            Nhờ bí tích Rửa tội mà ta đã lãnh nhận, mỗi người Kitô hữu sẽ được kết hợp với Chúa Giêsu Kitô và được lãnh nhận hồng ân Chúa Thánh Thần. Chúng ta hãy cố gắng sống trong Chúa Thánh Thần, để phát triển đời sống con người trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Nếu ta không phải là người cầu nguyện thì không ai tin ta làm việc vì Chúa
            Ta phải học cho biết cầu nguyện đúng chỗ. Cầu nguyện đúng chỗ, là quan tâm trước hết đến Chúa, là dành cho Người địa vị hàng đầu, còn ta đứng hàng thứ yếu. Nếu ta không có khả năng làm được như vậy, thà rằng chú ý và thành tâm đọc kinh Lạy Cha nhiều lần còn tốt hơn.

THỨ TƯ TUẦN 1 MÙA CHAY
Lc 11, 29-32
DẤU LẠ GIÊSU
             "Người Do Thái đòi dấu lạ, người Hy Lạp tìm triết lý, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh Thập Giá.” Thánh Phaolô, người tự xưng là Do Thái hơn cả Do Thái đã nêu bật não trạng của dân tộc ngài.         Người Do Thái xưa kia luôn đòi các Luật sĩ làm dấu lạ để minh chứng lời mình tuyên bố, và dĩ nhiên họ đòi dấu lạ nơi những ai tự xưng mình là tiên tri.
            Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi sự chờ đợi này. Trong suốt giai đoạn hoạt động công khai, Ngài không chỉ bị thách đố làm dấu lạ, mà ngay khi giữ chay 40 đêm ngày để chuẩn bị sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Ngài đã bị cám dỗ thực hiện dấu lạ, như biến đá thành bánh, gieo mình xuống từ thượng đỉnh Đền Thờ để minh chứng Ngài là Con Thiên Chúa. Cuộc thách đố này còn kéo dài cả khi Ngài bị đóng đinh Thập Giá, lúc này Ngài bị thách thức :"Nếu ông là con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thập giá.”
            Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu thực sự làm nhiều phép lạ: Ngài biến nước thành rượu, Ngài nhân bánh và cá ra nhiều để nuôi sống đám đông, Ngài chữa lành bệnh tật, Ngài làm cho kẻ chết sống lại. Tất cả những phép lạ Chúa Giêsu thực hiện đều nhắm nói lên sứ mệnh của Ngài và Ngài chính là Ðấng Thiên Chúa sai đến để cứu rỗi nhân loại.
            Một số người Do thái đã tin nhận và đi theo Ngài, nhưng phần đông vẫn tỏ ra dửng dưng trước những lời rao giảng của Ngài. Riêng những thành phần lãnh đạo trong dân, như nhóm Biệt Phái, thì chẳng những không tin nhận, mà còn chống đối Ngài ra mặt; họ thách thức nếu Ngài làm một dấu lạ cả thể thì họ mới tin nhận Ngài.
            Trước thái độ đó, Chúa Giêsu mượn hình ảnh của tiên tri Yôna để nói về Ngài. Tiên tri Yôna đã đến Ninivê để rao giảng sự sám hối, tất cả các phép lạ của Chúa Giêsu cũng đều nhằm nói lên sứ mệnh của Ngài và kêu gọi sám hối. Tiên tri Yôna đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm. Giáo Hội tiên khởi đã xem đây như là một dấu chỉ loan báo chính cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Như vậy, nếu có một dấu lạ cả thể mà Chúa Giêsu thực hiện để đáp lại thách thức của những người Biệt phái, thì dấu lạ đó không gì khác hơn là chính cái chết của Ngài; chết để nên Lời, và Lời ấy là Lời của Yêu Thương.
            Ngày nay, không thiếu những người thách thức Thiên Chúa. Cũng như những người Biệt phái, họ đòi Thiên Chúa phải làm một dấu lạ cụ thể nào đó, họ mới tin nhận Ngài. Nhưng mãi mãi, Thiên Chúa sẽ không bao giờ hành động như thế. Ngài mãi mãi vẫn là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài đã nhập thể làm người và sống cho đến tận cùng thân phận làm người. Cái chết trên Thập giá vốn là tuyệt đỉnh của thân phận làm người, do đó đã trở thành dấu lạ cả thể nhất mà Thiên Chúa đã thực hiện, đó là dấu lạ của tình yêu.
            Thiên Chúa vẫn tiếp tục bày tỏ dấu lạ cả thể ấy. Trong trái tim mỗi người, Thiên Chúa đã đặt vào đó sức mạnh vĩ đại nhất là tình yêu. Sức mạnh ấy không ngừng nung nấu con người; sức mạnh ấy đang được thể hiện qua những nghĩa cử mà chúng ta có thể bắt gặp mỗi ngày. Ðó là phép lạ cả thể nhất Thiên Chúa đang tiếp tục thực hiện trong lịch sử con người. Tình yêu vốn là sức mạnh vĩ đại nhất, nhưng thường lại được bày tỏ qua những cử chỉ nhỏ bé và âm thầm nhất. Một nụ cười thân ái, một cái xiết tay, một lời an ủi, một cử chỉ tử tế, một ánh mắt cảm thông và tha thứ, đó là những cử chỉ nhỏ, nhưng lại là biểu hiện của dấu lạ cả thể nhất là tình yêu.
            Niềm tin vào Chúa thật sự là một niềm tin do ân huệ Chúa ban cách nhưng không, cho những ai thành tâm tìm kiếm Ngài, chứ không phải do điều kiện mà có được niềm tin ấy. Người thành tâm như thế, sẽ nhận ra Chúa ở mọi nơi, mọi lúc qua các dấu chỉ trong đời thường, cũng như lúc cầu nguyện, làm các việc đạo đức, khi gặp gỡ người khác, hay khi làm việc tông đồ. Từ đó, họ sẽ có kinh nghiệm về Chúa, tin Chúa, đón nhận những tác động của Chúa mà sám hối, hoán cải trở về với Chúa. Biết được ý Chúa mà thi hành như một sứ mạng Chúa trao, đem lại cho họ một niềm vui thiêng liêng trong đời sống làm người Kitô hữu.
            Tìm những dấu lạ, tìm những dấu chỉ thời đại để củng cố niềm tin và sự hiện diện cứu rỗi của Thiên Chúa trong cuộc sống không phải là một điều sai lầm, nhưng còn là điều mà các Kitô hữu trưởng thành cần phải làm.
            Tuy nhiên, chúng ta sẽ lạc lối nếu dõi theo vết xe cũ của Luật sĩ và Biệt phái giữ khư khư những định kiến và bắt buộc Thiên Chúa phải hiện diện theo những khuôn mặt, hình ảnh chúng ta đã vẽ sẵn.
            Vì thế, chúng ta phải chú tâm tìm những dấu chỉ hiện diện của Thiên Chúa theo ý muốn của Ngài, chứ không phải theo quan niệm của chúng ta, nghĩa là chúng ta phải tìm gặp sự hiện diện của Ngài trong thân xác một người bị chết treo trên Thập giá như một tên tử tội và được chôn táng trong mồ như một người bại trận.
            Người Biệt Phái luật sĩ đòi dấu lạ, đó cũng là điều thông thường của chúng ta hôm nay, để thỏa mãn tính hiếu kỳ, sự đắc thắng của mình. Phép lạ chỉ có giá trị nâng đỡ niềm tin chứ không phát sinh hay ép buộc niềm tin. Cũng chính vì Chúa tôn trọng tự do con người Chúa không dùng phép lạ làm áp lực con người, nên Chúa đã không làm phép lạ như Biệt Phái và luật sĩ yêu cầu.
            Qua lời khiển trách của Chúa Giêsu đối với Biệt Phái và luật sĩ, chúng ta hãy thức tỉnh lại, chúng ta có gian ác khi đòi Chúa làm phép lạ mới tin, khi chúng ta chai đá trước lời giảng dạy của Hội Thánh. Chúng ta ngoại tình khi chúng ta sống đạo vụ hình thức, hoặc chưa thực sự sống trọn vẹn cho Chúa mà còn để lòng mình quyến luyến thụ tạo hơn Chúa, đam mê các thú vui trần thế hơn việc đạo đức. Có khi chúng ta phản bội tình thương của Chúa, để chạy theo những đam mê xác thịt.
            Trong ngày phán xét chúng ta có thể bị kết án nặng nề hơn người khác vì chúng ta đã làm mất ơn Chúa, không dùng ơn Chúa để sinh lợi ích cho linh hồn mình và tha nhân. Phép lạ đã xảy ra hằng ngày trong Thánh lễ, trong các Bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, trong đời sống chúng ta, chúng ta có dùng để nâng cao đời sống đức tin, đi sâu vào đời sống đạo hơn không? 
             Trong bầu khí mùa Chay, chúng ta hãy sám hối và trở về với Chúa, tin Chúa và sống đạo chân thật không cần dấu lạ nào hơn là chính Chúa đã chết và sống lại. Chúng ta cũng noi gương Chúa trong việc truyền bá đức tin bằng cách dùng lời Chúa, đời sống của Chúa, những việc Chúa đã làm để yêu thương chúng ta, hơn là áp đảo bằng những việc làm thỏa mãn sự hiếu kỳ đắc thắng của người chúng ta phục vụ.
Huệ Minh

 

THỨ NĂM TUẦN 1 MÙA CHAY

Thứ Năm

Mt 7, 7-12

KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN

            Tình thương của Thiên Chúa, tình thương đó được thể hiện như một tấm lòng của người cha độ lượng luôn lắng nghe và đáp ứng những nhu cầu chính đáng của con cái mình. Chúng ta cần có một niềm tin kiên vững vào tình thương của Thiên Chúa, tin rằng Người luôn nhận lời chúng ta kêu cầu. Trọng tâm Lời Chúa hôm nay chúng ta suy niệm có hai ý.

            Lời Chúa Giêsu hứa với chúng ta: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho" (Mt 7, 7). Chúa Giêsu dạy chúng ta phải kiên trì trong cầu nguyện, và khi cầu nguyện hãy đặt trót niềm tín thác vào tình thương của Thiên Chúa, và cầu xin với lòng thành trong thánh ý Chúa, để làm sáng danh Chúa và đem lại ơn ích thiêng liêng cho ta, chứ không phải theo ý con người của ta.

            Như mẫu gương của hoàng hậu Ette trong bài Cựu ước (Et 4, 17 - 17t), trích lời cầu nguyện của bà. Hoàn cảnh lúc đó, dân Do thái đang sống trong kiếp lưu đầy bên Babylon. Tướng Aman không thương dân Do Thái nên xúi giục Vua Babylon ra chiếu chỉ tàn sát người Do-thái trong khắp đế quốc. Khi đó người ta nghĩ không ai ngoài Hoàng hậu Ette bà có thể cứu họ, Ette là người Do-thái nhưng được làm hoàng hậu trong cung điện.

            Tuy là hoàng hậu nhưng bà thấy công việc của đất nước quá khó khăn vượt sức của bà, bà đã khắc khoải âu lo đến chết được nên bà liền đến nương ẩn bên Chúa (Et 4, 17k) kêu xin Người cứu giúp. Bà cầu nguyện ngày đêm cùng Thiên Chúa: "Lạy Chúa, con chẳng còn ai cứu giúp ngoại trừ Ngài" (Et 4, 17l). Lời cầu xin của bà đã được Thiên Chúa nhận lời, dẫu giữa ngàn gian nan đau khổ, Thiên Chúa luôn ở bên để phù trợ "Lạy Chúa, ngày chúng con gặp gian truân cùng khốn, xin nhớ đến chúng con mà chứng tỏ quyền năng của Ngài" (Et 4, 17k).

            Những lời cầu xin của hoàng hậu Ette, đã tin vào quyền năng của Chúa, chính trong sự kiên trì trong cầu xin đã giúp cho hoàng hậu kiên vững trong đức tin, nhất là khi chúng ta gặp thử thách, gian truân chúng ta cầu xin Chúa với tất cả lòng thành, và tin tưởng phó thác trọn vẹn nơi Chúa, Người không để cho ai cầu xin Ngài phải về không bao giờ. Thiên Chúa nhân lành Người không ban điều gì có hại cho ai, điển hình như phần Lời Chúa trong bài đọc Cựu ước này.

            Chính nhờ hoàng hậu Ette bà đã có tấm lòng vững tin vào Chúa, trong đời sống bà đã kiên trì cầu nguyện ngày đêm xin Chúa cứu người Do - thái và Thiên Chúa đã nhậm lời, kết quả là tình thế đảo ngược lại hoàn toàn, vua đã rút lại chiếu chỉ, dân Do Thái không bị tàn sát, ngược lại tướng Aman người muốn hại dân Do -thái thì lại bị giết trên chính cột hành hình mà chính ông dựng nên để giết người Do Thái, thật đúng như Lời Chúa trong thư Thánh Phalô: "Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát" (Gl 6, 8).

            Thiên Chúa là tình yêu, Người luôn thương yêu tất cả mọi người, Người cho mưa rơi xuống trên người hạnh phúc cũng như người bất hạnh. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai, nên Người dạy chúng ta hãy theo gương của Ngài mà sống đức bái ái yêu thương với anh chị em mình, và cầu mong điều tốt lành cho nhau. Giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu dạy chúng ta đòi hỏi sự công bằng là trên hết, vì khi ta đối xử với tha nhân thế nào thì Thiên Chúa cũng sẽ đối xử lại với ta như vậy "Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em và còn hơn nữa" (Mc 4, 21).

            Chúa Giêsu khẳng định: xin sẽ được cho, tìm thì sẽ thấy, gõ sẽ được mở. Thiên Chúa luôn luôn đáp trả mong đợi của con người, nhưng không nhất thiết Ngài phải cho con người đúng điều nó muốn, vào đúng lúc và theo đúng cách con người muốn. Con người phải tập đào sâu và thanh luyện ao ước của mình, tập uốn ý mình theo ý của Thiên Chúa. Rồi cuối cùng, con người cũng thấy mình được cho, được thấy, được mở. Ai kiên trì cầu xin đều thấy mình dần dần được biến đổi.

            Chúa Giêsu đã nói rất rõ rằng khi chúng ta cầu xin thì chúng ta sẽ nhận được. Khi chúng ta tìm kiếm, chúng ta sẽ tìm thấy. Và khi chúng ta gõ cửa, cửa sẽ được mở ra cho chúng ta. Nhưng đó có phải là những kinh nghiệm của chúng ta không? Đôi khi, chúng ta có thể cầu xin và nài xin, nhưng dường như lời cầu nguyện của chúng ta không được đáp lời, ít nhất là theo cách chúng ta muốn có được sự trả lời. Cho nên Chúa Giêsu có ý gì khi Ngài nói “hãy xin… hãy tìm … hãy gõ” và chúng ta sẽ nhận được?

            Mấu chốt cho việc hiểu được sự khích lệ này từ Chúa Giêsu là, như lời Kinh Thánh nói ở trên, qua lời cầu nguyện của chúng ta Thiên Chúa sẽ ban những điều tốt đẹp cho những ai cầu xin. Ngài không hứa ban bất cứ điều gì khi chúng ta cầu xin; đúng hơn, Ngài hứa rằng điều gì thật sự tốt cho ơn cứu độ đời đời của chúng ta.

            Thiên Chúa nhân lành khôn ngoan và thượng trí. Người không ban điều gì có hại cho ai, có những lúc với tính xác thịt yếu đuối chúng ta đã cầu xin Chúa cho xảy ra những chuyện không được may mắn, hay những tai họa hoặc những sự rủi ro cho những người chúng ta không mấy thiện cảm, hay đã làm hại ta với mục đích báo thù. thì Thiên Chúa dạy ta hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho những người hại ta. Thiên Chúa không bao giờ lại ban những điều mà chúng ta cầu xin trái ngược lại đức thương yêu. "Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?" (Mt 7, 11). 

            Thiên Chúa là Cha nhân hậu, chỉ ban cho con cái Ngài những điều tốt. Nhưng đâu là điều tốt thật sự? Đối với ta, đó là giàu sang, sống lâu, danh tiếng, thành công hay mạnh khỏe. Đối với Chúa, không hẳn luôn là như vậy. Điều Ngài thấy là tốt, đôi khi ta coi là hòn đá hay con rắn. Và ngược lại, điều ta coi là tốt bây giờ thật ra là điều nguy hại mai sau. Với cái nhìn của người cha, Thiên Chúa biết ta thực sự cần gì. Hãy phó thác chuyện đời mình cho tình yêu quyền năng của Ngài, dù khi còn sống ở đời này, ta không hiểu hết được tại sao.

            Xin, tìm, gõ trong Tin Mừng hôm nay được Chúa Giêsu trình bày như một công thức, một tiến trình với từng bước để vào Nước Thiên Đàng. Thiên Chúa luôn mời gọi mỗi người chúng ta hãy xin, hãy tìm, hãy gõ như Đức Giêsu đã dạy. Ngài luôn ở đó để chờ, để lắng nghe lời cầu xin và Ngài đảm bảo tất cả những gì chúng ta cầu xin sẽ được nhậm lời: “hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.” (Mt 7:8)

            Ta hãy suy ngẫm về cách chúng ta cầu nguyện. Hãy cố gắng thay đổi lời cầu nguyện của chúng ta để chúng ta tìm kiếm những điều tốt đẹp mà Chúa muốn ban hơn là những điều chúng ta muốn Chúa ban cho chúng ta. Lúc đầu có thể khó tách ra khỏi ý muốn và ý chí của chúng ta, nhưng sau cùng, chúng ta sẽ được Chúa chúc phúc với nhiều điều tốt lành từ nơi Ngài.

HUỆ MINH 2020

 

Chúa Nhật 1 mùa chay – A-2020

 

Huệ Minh 2020

March 4, 2023