Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật tuần 2 mùa chay, năm A
+++
Chúa Nhật II Mùa Chay 2023
St 12:1-4; Tv 33:4-5,18-19,20-22; 2 Tm 1:8-10; Mt 17:1-9
Chúa biến hình giữa đời thường
Chúa nhật trước, Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay, Phụng vụ dẫn chúng ta vào sa mạc để chứng kiến Chúa Giêsu chịu cám dỗ. Chúa nhật hôm nay, chúng ta được mời gọi cùng lên núi để chiêm ngưỡng Chúa Giêsu biến hình. Hai sự kiện diễn tả hai khía cạnh cuộc đời Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể: trong sa mạc, Chúa thể hiện nhân tính của Người: yếu đuối, mỏng giòn, đói khát; trên núi cao, Chúa tỏ ra thiên tính của Người: cao cả, sáng láng, thánh thiện. Hai nhân vật quan trọng của Cựu ước cũng xuất hiện để đàm đạo với Chúa, kèm theo lời chứng của Chúa Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy nghe lời Người”.
Lời Chúa hôm nay cho chúng ta cơ hội nhìn lại đức tin của Abraham, ông phải rời bỏ nơi “chôn nhau cắt rốn” để đi đến một vùng đất ông không hề biết. Nhưng với niềm tin cậy vào Thiên Chúa, ông vội vã thực hiện ngay lệnh Chúa truyền. Đức tin và lòng vâng phục của Abrahamtrở nên gương mẫu cho tất cả chúng ta noi theo. Bài Tin Mừng mô tả biến cố đáng kinh ngạc trong cuộc đời Chúa Giêsu đó là biến hình trên núi. Các Tông Đồ đã hoàn toàn bị hoảng hồn khi nhìn thấy vinh quang Đức Kitô trong phút giây, và nhất là khi được mạc khải cho biết Thầy của mình là ai: “Này là con Ta yêu dấu, hãy nghe Lời Người”.
Biến cố này nói với chúng ta, không chỉ về những giai đoạn thử thách và khổ đau của chúng ta, mà còn về vinh quang tiềm tàng dành sẵn cho chúng ta, với điều kiện là chúng ta luôn luôn đi theo con đường của Chúa với một niềm tin tưởng cậy trông, không bao giờ ngã lòng thất vọng. Tuy nhiên trong đời sống, với những yếu hèn tội lỗi, chúng ta hay đánh mất niềm tin và lòng trông cậy vào Chúa mỗi khi bị thử thách.
Chúa Giêsu tỏ lộ vinh quang của Người cho ba môn đệ trên một ngọn núi ở Galilê. Nhưng trước khi đạt tới vinh quang Phục Sinh, Chúa Giêsu phải vâng phục thánh ý Thiên Chúa, trải qua những thử thách đau khổ trong cuộc thương khó. Các môn đệ chứng kiến cuộc biến hình cũng được Chúa Giêsu nhắc nhở rằng các ông chỉ được phép nói về biến cố này sau khi Người từ cõi chết sống lại.
Họ chỉ hiểu được vinh quang của Chúa Giêsu khi chứng kiến cuộc khổ hình và sự phục sinh của Người. Chúa Giêsu chiến thắng sự chết và tội lỗi bằng chính hiến tế của mình trên thập giá. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì nhờ kế hoạch của Ngài và tình yêu hiến tế của Chúa Giêsu mà chúng ta hưởng nhận ơn cứu độ.
Ngay sau khi tiên báo lần thứ nhất về cuộc thương khó cho các môn đệ (x. Mt 16,21), Chúa Giêsu biểu lộ cách công khai về vinh quang Phục Sinh của Người cho Phêrô, Gioan và Giacôbê trên một ngọn núi cao ở Galilê. Trong cuộc biến hình này, Thiên Chúa Cha mặc khải căn tính đích thực của Chúa Giêsu: “Có tiếng từ đám mây phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”.
Hình ảnh của Môsê và Êlia xuất hiện bên cạnh và đàm đạo với Chúa Giêsu mang nhiều ý nghĩa. Hôm nay Đức Giêsu tỏ lộ căn tính của mình cho các môn đệ như Môsê được Thiên Chúa mặc khải cho biết căn tính của Ngài trên núi Sinai và ngôn sứ Êlia cũng được Thiên Chúa tỏ lộ căn tính của mình trên núi Khôrếp qua một cơn gió thoảng nhẹ (x. 1 V 19,9-18).
Hình ảnh Môsê và Êlia đứng bên cạnh Chúa Giêsu muốn nói lên rằng Chúa Giêsu là Đấng mà Lề Luật và các ngôn sứ nói đến. Người là Đấng hoàn tất lời hứa cứu độ của Thiên Chúa. Hơn nữa, qua cuộc biến hình của Chúa Giêsu, Thiên Chúa muốn truyền đạt cho các môn đệ một sứ điệp quan trọng đó là “các ngươi hãy vâng nghe lời Người”. Tất cả những Lề Luật và lời các ngôn sứ giờ đây được hội tụ nơi Chúa Giêsu. Vâng nghe lời Chúa Giêsu là vâng nghe thánh ý Thiên Chúa. Hãy đem lời Chúa Giêsu vào trong cuộc sống. Việc Chúa Giêsu cho các môn đệ cảm nghiệm cuộc biến hình và vinh quang là để chuẩn bị cho các môn đệ về cuộc thương khó của Người tại Giêrusalem. Chúa Giêsu phải trải qua đau khổ để bước vào vinh quang Phục Sinh. Chính vì thế, Người cấm các môn đệ nói về kinh nghiệm biến hình trước khi Người phục sinh.
Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua mầu nhiệm Nhập thể, Người trở nên hoàn toàn giống chúng ta – ngoại trừ tội lỗi. Qua mầu nhiệm nhập thể, Người “biến hình” để trở nên giống như người trần thế. Trên núi cao, khi Chúa “biến hình” lại là lúc Chúa trở về tình trạng thiêng thánh nguyên thuỷ. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu đang “biến hình” giữa chúng ta.
Quả thế, chúng ta đâu có nhìn thấy Người bằng con mắt thể lý. Chúa hiện diện qua Lời Chúa, qua cộng đoàn cầu nguyện, qua người nghèo khổ và nhất là trong Bí tích Thánh Thể. Chúa đang biến hình trong đời sống của chúng ta. Mùa Chay là thời điểm giúp chúng ta nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, để chúng ta gặp gỡ Người. Thánh Phaolô nhắc chúng ta hãy nhận ra Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha. Người là Đấng tiêu diệt thần chết và đang hiện diện giữa chúng ta (Bài đọc II).
Hôm nay Chúa vẫn đang nói với chúng ta những điều ấy. Đừng sợ trước thân phận yếu hèn và tội lỗi, hãy trở về với Chúa vì Chúa bao dung nhân từ. Đừng sợ khi giúp đỡ anh chị em bất hạnh cô thế, cô thân, vì Chúa sẽ thưởng cho lòng quảng đại rộng rãi của chúng ta. Đừng sợ trước những bất ổn của cuộc ống do bạo lực, cạnh tranh và chia rẽ, vì Chúa hiện diện giữa cuộc đời. Người là Đấng đang biến hình giữa chúng ta.
Mùa Chay là dịp để chúng ta thức tỉnh trở về qua việc thống hối ăn năn, và quyết tâm đổi mới cuộc sống của mình ngày càng nên hoàn thiện hơn.
Huệ Minh 2023
Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mùa Chay 2023
Gr 18:18-20; Tv 31:5-6,14,15-16; Mt 20:17-28
Phục vụ chứ không phải quyền bính
Tham quyền cố vị là khát vọng của rất nhiều người. Kẻ chưa có quyền hành thì khát vọng một ngày nào đó sẽ lên nắm quyền. Kẻ nắm quyền trong tay thì cứ muốn ở lại mãi trong cương vị ấy.
Các môn đệ theo Chúa Giêsu cũng ngấm ngầm mang khát vọng ấy. Trên đường lên Giêrusalem cùng Chúa Giêsu, dường như không thể chờ đợi thêm được nữa. Ở trong Tin Mừng theo thánh Mát-cô miêu tả họ đã bộc lộ khát vọng ấy bằng việc đề nghị Chúa Giêsu một cách thẳng thừng: "Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy". Ở đây họ cậy nhờ đến thế lực của người mẹ: Bấy giờ bà mẹ của các con ông Dêbêđê đến gặp Chúa Giêsu, có các con bà đi theo; bà bái lạy và kêu xin Người một điều: "Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy".
Chúa Giêsu biết lòng dạ các môn đệ, Ngài bảo: "Các người không biết các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?" Giacôbê và Gioan, hai môn đệ được coi là thân tín với Chúa Giêsu đã xin được ngồi hai chỗ cao nhất trong vinh quang Nước Chúa. Được xem là thân tín với Chúa Giêsu, thế mà hai ông vẫn không hiểu được con đường của Chúa đi và Vinh quang của Nước Ngài ở đâu. Huống gì trách làm sao được các môn đệ còn lại kia! Vì thế đã gây ra sự tranh chấp giữa các môn đệ về quyền bính, về vai trò của người lãnh đạo.
Vì quá tham quyền mà các môn đệ đã chậm tin trước lời giáo huấn của Chúa Giêsu về cuộc khổ nạn. Chúa đã nói đến lần thứ 3 nhưng các môn đệ vẫn không hiểu. Con đuờng Chúa đi là con đường khổ nạn và là cái chết đau thương trên thập giá. Uy quyền của Ngài là để phục vụ và phục vụ cho đến chết. Suốt đời của Ngài đã sống như một người phục vụ. Và giờ đây, cái chết của Ngài chính là một việc phục vụ cao nhất. Chúa Giêsu sẽ chết như người Tôi Trung trong ngôn sứ Isaia (Is 52,13-53,12). Thầy phải trả giá bằng mạng sống để cứu chuộc muôn người.
Gần tới lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu lên Giêrusalem để mừng lễ và đây là lần sau hết của đời Ngài. Trên đường đi, Chúa giáo huấn các ông, mặc dầu các ông không hiểu. Để giáo dục các ông, Ngài làm hai việc: một là loan báo cho các ông biết Ngài sẽ bị nộp vào tay kẻ thù để hiến thân chuộc tội cho loài người; hai là dạy họ bài học phục vụ: “Ai muốn làm đầu thì hãy làm đầy tớ...” và “Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người”. Đức Giêsu cho chúng ta một mẫu gương là khiêm tốn phục vụ và hy sinh vì người khác.
“Nào chúng ta lên Giêrusalem...” Tâm lý của các môn đệ: mặc dầu đã đi theo Chúa gần ba năm, nhưng các môn đệ cũng chưa lĩnh hội giáo lý của Ngài được bao nhiêu. Ngay sau lần thứ ba Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ sự thương khó của Ngài: “Nào chúng ta lên Giêrusalem... Con người sẽ bị nộp cho các thượng tế. Họ sẽ lên án tử Người. Họ sẽ nhạo báng Người, sẽ khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết Người” (10,32-34), các ông cũng không quan tâm lời loan báo ấy, có lẽ chẳng hiểu gì; hơn nữa đầu óc các ông còn đang mơ tưởng đến vương quốc Chúa Giêsu sắp lập. Như vậy có nghĩa là vào lúc Chúa Giêsu “chọn chỗ chót” thì các ông lại cố “đua nhau” chiếm chỗ tốt hơn: họ vẫn còn mơ mộng về Đấng Cứu Thế vinh quang của dân tộc. Đấng Cứu Thế đối với họ đó là Đấng chiến thắng hiển hách, sẽ dùng quyền lực của mình điều khiển mọi sự.
“Con người đến không phải để được phục vụ...” Câu Phúc âm này nói lên tất cả cuộc sống của Chúa Giêsu: Ngài đã nhập thể làm người để phục vụ và phục vụ cho đến chết. Chẳng những Ngài đã hy sinh phục vụ, mà còn mời gọi những kẻ tin theo Ngài cũng noi gương sống phục vụ như Ngài.
Trong Tin mừng, đây là lần thứ ba Chúa Giêsu nói đến con đường thập giá mà Ngài sẽ trải qua. Nhưng cứ mỗi lần Ngài loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài, các tông đồ đều phản ứng ngược lại: trong lần loan báo đầu tiên, Phêrô đã ngăn cản Ngài; lần thứ hai các ông tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất; và lần này thì Giacôbê và Gioan xin được chức tước cao nhất làm cớ cho những người khác trong nhóm Mười Hai phân bì ghen tị.
Theo lẽ thường, con người thích được người khác phục vụ hơn là phục vụ người khác. Người ta thường quan niệm có tiền là có tất cả. Do đó, danh vọng, tiền tài là những điều mà con người dễ bị cám dỗ nhất.
Khi nghe Chúa Giêsu tiên báo về cuộc thương khó, các môn đệ đáng lý ra phải đồng cảm với Thầy của mình. Trước thái độ của các môn đệ, Chúa Giêsu nói: “Ai muốn làm lớn, phải là người phục vụ”.
Chúa Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã hạ mình xuống thế làm người, chịu đóng đinh, chịu chết để cứu rỗi con người. Noi gương Chúa, chúng ta cũng phải biết phục vụ anh em của mình.
Cám dỗ về uy quyền, danh vọng, sung túc… mà các môn đệ thời Chúa Giêsu mắc phải cũng chính là cám dỗ triền miên của mỗi chúng ta ngày nay!
Mùa Chay là mùa mời gọi chúng ta nhìn thẳng vào Thánh Giá Chúa để thấy được tình thương của Chúa Giêsu, thấy được sứ vụ của cuộc đời chúng ta, khám phá ra ý nghĩa của ơn cứu độ ngang qua đau khổ, nhất là khám phá ra sự vĩ đại, sức mạnh phi thường và ơn giải thoát ở sự phục vụ trong yêu thương.
9.3.2023 Thứ Năm
Thứ Năm trong tuần thứ Hai Mùa Chay
Gr 17:5-10; Tv 1:1-2,3,4,6; Lc 16:19-31
Vô cảm
Chúa Giêsu đã dùng một câu chuyện dài để minh họa mối tương quan đảo ngược giữa cuộc sống đời này với cuộc sống đời sau, nhằm mục đích kêu gọi người Do Thái sống theo lời của tổ phụ và các ngôn sứ được ghi lại trong sách Thánh để được hưởng hạnh phúc mai sau. Khi nghe phần đầu của câu chuyện về ông nhà giàu và anh Lazarô nghèo khó trên đây, chắc chắn người Do Thái sẽ nhớ đến lời Chúa Giêsu dạy trong bài giảng về các Mối Phúc Thật, cụ thể là những mối phúc dành cho kẻ nghèo khó, đói khát và khóc lóc.
Từ hình ảnh của ông nhà giàu trong âm phủ và anh Lazarô trong lòng tổ phụ Abraham, Chúa Giêsu đưa các thính giả trở về với cuộc sống thực tại ấy. Mượn lời ông Abraham, Chúa Giêsu trách cứ lối sống ương ngạnh của của họ, vì họ không chịu tin vào giáo huấn của ông Môsê và các tiên tri. Họ cứng đầu như thế, thì cho dù người chết sống lại thuyết phục họ, họ cũng sẽ bỏ ngoài tai.
Hạnh phúc đời sau thì ai cũng muốn được hưởng, nhưng gian khổ đời này thì chẳng ai muốn trải qua. Bởi thế, chúng ta thường tìm giải pháp có lợi cho chúng ta hơn hết, chúng ta tìm cách sống như thế nào để được cả đôi đàng, chúng ta trở thành người quá khôn ngoan và cũng quá tham lam, muốn được hưởng hạnh phúc tạm bợ đời này lẫn hạnh phúc đời sau.
Lối sống bắt cá hai tay như thế dần dần dẫn chúng ta tới chỗ nhượng bộ hoặc thỏa hiệp với các nhu cầu vật chất của mình, mà coi nhẹ các nhu cầu tâm tình sâu thẳm, đáng ra phải được đáp ứng trước tiên. Cuộc sống thiêng liêng của chúng ta vì thế mà nghèo nàn đi khi đời sống vật chất của chúng ta có thể dư dật ra. Các giá trị Tin Mừng dần dà bị chúng ta coi nhẹ trong khi những giá trị trần tục lại được chúng ta càng lúc càng tôn vinh. Cán cân các giá trị cứ thế mà lệch dần đi. Chúng ta trở nên như người giàu có trong dụ ngôn trên đây, chúng ta yên tâm với những gì mình tích góp được, những gì mình sở hữu trong tay.
Mãi lo lắng cho mình, lòng chúng ta đông đặc lại, chúng ta không còn quan tâm đến người chung quanh, chúng ta tự thỏa mãn với thế giới khép kín của mình. Thế rồi, có những lúc nào đó, khi lâm bịnh tật, khi gặp tai ương, chúng ta hốt hoảng nhận ra rằng cuộc đời trần thế chỉ là phù vân, chúng ta hối hận ăn năn, chúng ta hứa với Chúa là nếu Chúa giúp chúng ta ra khỏi nguy nan, chúng ta sẽ làm lại tất cả. Thế nhưng ai trong chúng ta đã giữ trọn lời hứa với Chúa? Hết tai ương hoạn nạn, chúng ta có thể quay về với nếp sống cũ. Qua cơn khốn đốn, chúng ta lại chễm chệ leo lên chiếc ghế trang trọng của mình.
Câu chuyện Tin mừng đã đạt tới tuyệt đỉnh, nó trình bày cho ta thay một cảnh bi thảm sống động về những kẻ giàu có ích kỷ bị chúc dữ ghê sợ, những kẻ giàu sang này ăn chơi thỏa thích, dưới những lời van xin thảm thiết của những kẻ bần cùng đói khổ than khóc. Đây là bản văn nghiêm khắc cảnh cáo những kẻ giàu và an ủi người nghèo khổ.
La-gia-rô có nghĩa là người nghèo khổ được Thiên Chúa cứu giúp. Anh là một trong nhũng kẻ nghèo khổ biết nhẫn nại chịu đựng cảnh khốn cùng và đầy lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. HoÏ chỉ có thể kiên nhẫn chịu đựng cuộc sống tối tăm của họ nhờ họ cậy trông vào Thiên Chúa. La-gia-rô là một trong số họ được lời hứa của Thiên Chúa an ủi như lời Thánh vịnh và các ngôn sứ nói, là một trong những người được Tám Mối Phúc Thật chúc mừng.
Người phú hộ sống không màng chi đến Thiên Chúa. Ông có tất cả rồi, còn cần chi đến Thiên Chúa ? Ông không thấy Thiên Chúa, ông không thấy kẻ khốn khổ. Ông hoàn toàn giàu có và sống dư đầy, ông không chống lại Thiên Chúa, ông không đàn áp kẻ nghèo. Ông chỉ mù thôi, mù đối với Thiên Chúa và những người nghèo khổ, mù đối với Mô-sê và những ngôn sứ.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy: giàu không phải là tội, nhưng nó chỉ là cạm bẫy nguy hiểm dễ dẫn đến tội nếu không có lòng bác ái. Ông nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay đã rơi vào tình trạng tội khi ông vô cảm với người nghèo ngay ở cổng nhà ông. Vì thế, ông đáng phải sa hỏa ngục vì tiền bạc và sự sung túc đã làm cho mắt ông mù lòa, trái tim se thắt, tấm lòng chai cứng và sự dửng dưng đã trở thành tội ác và mất hạnh phúc đời đời....
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có trách nhiệm liên đới với nhau, nhất là với người nghèo, người cô thế, cô thân, không nơi nương tựa.... Không bao giờ chúng ta được để cho chủ trương: “Sống chết mặc bay” thường trực trong tâm hồn của mình.
Mùa Chay, mùa trở về với Chúa và cũng là mùa trở về với anh em. Nhận ra mỗi người, nhất là người cùng khổ như người anh em con cùng một cha, đó là lời mời gọi mà Cha trên trời luôn ngỏ với chúng ta, và đó cũng là thông hành để chúng ta về gặp gỡ Cha trên trời. (Huệ Minh 2023)
10.3.2023 Thứ Sáu
Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mùa Chay
St 37:3-4,12-13,17-28; Tv 105:16-17,18-19,20-21; Mt 21:33-43,45-46
Giá trị thật trong cuộc đời
Ðối với người Israel, vườn nho là một hình ảnh rất quen thuộc. Các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia, Edêkiel thường dùng hình ảnh này để ám chỉ dân Israel được Thiên Chúa tuyển chọn và chăm sóc để trở thành dân riêng của Người. Chúa Giêsu cố ý đưa hình ảnh quen thuộc ấy vào trong phần mở đầu của dụ ngôn trên đây. Cách diễn tả của Chúa Giêsu chắc chắn làm cho người nghe nhớ đến lời ngôn sứ Isaia nói về sự bất trung của dân Israel.
Cách mở đầu bài giảng như thế khiến cho các thượng tế và kỳ mục phải ở trong tư thế chuẩn bị đối phó, bởi vì họ đang là những nhà lãnh đạo của dân Israel, đang quản lý vườn nho của Thiên Chúa. Và sau phần mở đầu, Chúa Giêsu tấn công ngay vào vị thế đó của họ. Chúa gọi họ là những tá điền, mà lại là những tá điền bất nhân bất nghĩa. Người nói thẳng với họ: "Tôi nói cho các ông hay, Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa mà ban cho một dân khác với mục đích làm cho Nước ấy sinh hoa lợi."
Thoạt nghe dụ ngôn trên đây, chúng ta có thể nói nó chẳng ăn nhập gì đến mình cả. Chúa Giêsu hiện trước các thượng tế và các kỳ mục Do Thái thời xưa chứ Ngài đâu khiển trách chúng ta. Chúng ta đâu có dính dự gì vào chuyện của họ. Chúng ta đâu có giết các ngôn sứ của Thiên Chúa, chúng ta đâu có xử tử Chúa Giêsu.
Thế nhưng, nếu chịu khó xét cho kỹ thì chúng ta phải giật mình vì chúng ta đã có những phản ứng chẳng khác gì họ, có khác chăng là trong một bối cảnh khác và với hành động như vậy, chúng ta không giết các ngôn sứ, nhưng chúng ta bỏ ngoài tai những lời giảng dạy của các vị, chúng ta không kết án tử Chúa Giêsu, nhưng chúng ta đẩy Người ra ngoài lề cuộc sống chúng ta. Nếu chịu khó xét mình, không khéo chúng ta lại tìm thấy hình ảnh của các thượng tế và kỳ mục của Israel nơi bản thân chúng ta.
Có những thứ giá trị luôn ở trong cuộc đời chúng ta mà nhiều khi ta không nhận ra, và một cách nào đó ta chỉ đi tìm kiếm những giá trị chóng qua mau tàn, để rồi một lúc nào đó ta đánh rơi những giá trị vĩnh cửu đáng lý phải được trân quý và gìn giữ trong cuộc sống mình. Lời Chúa hôm nay đã cho ta thấy được cái giá trị vĩnh cửu của đời người mà Chúa đã ban cho, nhưng nhiều khi con người cứ lầm tưởng, cứ u mê, để rồi đánh đổi nó cho những giá trị tầm thường, những tính toán thiệt hơn, để rồi ta tự đánh mất lấy chính cuộc đời mình.
Hôm nay Chúa Giêsu dùng dụ ngôn những tá điền sát nhân để lên án các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ là những người có thế giá trong xã hội và tôn giáo Do Thái, là những người thông hiểu luật Thiên Chúa đã ban truyền cho dân. Họ là người có nhiệm vụ giải thích luật và những điều Thiên Chúa dạy để giúp dân giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa và sống theo đường ngay nẻo chính mà Ngài đã truyền ban. Thế nhưng họ lại làm những điều ngược lại, khi ngăn cản tình thương của Thiên Chúa dành cho con người bằng những việc thu vén lợi danh cho riêng bản thân và chất những gánh nặng của các luật lệ cách hà khắc lên đời sống của dân chúng.
Bên cạnh đó, món quà đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho dân Do Thái cần được lớn lên và sinh hoa trái trong chính đời sống của họ. Thế nhưng họ cũng đã không làm được điều đó, họ từ chối lời dạy của Thiên Chúa qua các ngôn sứ; họ chống đối, lên án và không chấp nhận đường lối Thiên Chúa đã ban cho họ. Không những thế, khi Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã đến giữa loài người để rao giảng về Tin Mừng Nước Trời, về chính Thiên Chúa cho dân Do Thái, thì họ vẫn không tin và từ chối lời rao giảng của Ngài, sau hết họ đã đóng đinh Ngài trên thập giá.
Trong thời đại của chúng ta hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang đến với mỗi người chúng ta. Ngài đến nơi thửa vườn đức tin mà Thiên Chúa đã trao tặng để làm cho thửa vườn đó được lớn lên. Ngài cũng đang đến qua những lời dạy dỗ và hướng dẫn của Hội Thánh nhằm giúp chúng ta sống đúng theo đường lối của Thiên Chúa. Ngài cũng đang đến nơi cả những hoàn cảnh cuộc đời ở xung quang mỗi người chúng ta. Thiên Chúa luôn làm mọi sự cho thửa vườn đức tin của chúng ta, để cho thửa vườn đó được sinh hoa trái một cách dồi dào trong đời sống hằng ngày.
Thế nhưng Ngài cần chúng ta cộng tác với Ngài trong việc canh tác và làm cho thửa vườn của mỗi người được lớn lên. Mỗi người chúng ta không chỉ được mời gọi để chuyên chăm lắng nghe lời Chúa truyền dạy, mà còn làm cho Lời Chúa được sinh hoa trái qua sự kiên vững trong đức tin của mình, qua đời sống bác ái với tha nhân trong việc quan tâm và chia sẻ với những người bất hạnh khổ đau, trong sự lắng nghe và cảm thông với những người tuyệt vọng, trong một tâm hồn rộng mở để đón tiếp những người đang sống bên lề xã hội.
Đó chính là việc canh tác mà Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta chăm lo cho thửa vườn của đời sống mình. Nhờ đó mỗi người Kitô hữu chúng ta mới có thể mang lại hoa trái cách dồi dào và sẽ có vụ mùa bội thu để dâng lên Thiên Chúa trong ngày Chúa đến thăm cuộc đời mình.
Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta những thời gian, hoàn cảnh, tài năng, trí khôn, tiền của, danh dự, để chúng ta làm vinh dự nước trời. Liệu chúng ta có dùng cho xứng không. Vườn nho có hoa trái không hay chúng ta đã để vườn hoang, sinh gai góc, sinh quả chua, nghĩa là chúng ta gầy dựng tình thương yêu đoàn kết, niềm vui bình an, thì chúng ta đã gây chia ly oán hờn, ganh tỵ đổ vỡ: đó là nho chua.
Xin nhớ một điều này là dù chúng ta có làm gì đi nữa chương trình của Thiên Chúa vẫn thành trụ, chứ chúng ta không thể làm hỏng chương trình của Ngài đâu. Người hư hỏng là chúng ta mà thôi. Hãy xem trường hợp Adong và Eva từ chối Chúa, Chúa lại ban Đấng cứu thế. Lụt đại hồng thủy xong là có giao ước Noe. Tháp Babel đổ rồi có Abraham là cha của một dân tộc đông đúc, Ai cập cứng lòng: chìm dưới biển Đỏ để có được đất hứa. Có núi Sọ, có ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Tất cả sẽ được ơn thánh hóa xóa bỏ. “Hòn đá bị vứt đi trở thành đá góc tường”. Chúng ta đừng giơ chân đạp mũi nhọn nữa. (Huệ Minh 2023)
Thứ Ba trong tuần thứ Hai Mùa Chay
Is 1:10,16-20; Tv 50:8-9,16-17,21,23; Mt 23:1-12
Thống nhất ngôn hành
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu vạch mặt chỉ tên những người Pharisêu giả hình. Họ thuộc hạng phô trương, hình thức, khoe mẽ. Họ giữ luật từng chi tiết, nhưng đời sống của họ thì không hề có chút tình thương nào cả! Ngài nói: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào; họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “ráp-bi”.
Và Chúa Giêsu cảnh báo: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên”.
Dạy người khác luôn tuân giữ điều này, thực hiện điều kia, lúc nào cũng dễ hơn chính mình tuân hành chúng. Người Việt chúng ta thường nói: “Chỉ tay năm ngón” để nói về những người chỉ biết ra lệnh cho kẻ khác, còn mình thì chẳng hề mó tay vào việc. Vào thời Chúa Giêsu, các kinh sư và những người Pharisiêu giả hình cũng sống theo cung cách này. Họ dạy người ta làm đủ điều, còn họ thì chẳng hề làm điều gì như lời họ dạy.
Ðoạn Tin Mừng trên đây gồm hai phần: phần đầu ghi lại những lời Chúa Giêsu nhận xét về các kinh sư và những người Pharisiêu; phần sau ghi lại những lời Chúa Giêsu dạy dỗ đám đông và các môn đệ.
Ở phần đầu, Chúa Giêsu chỉ trích thái độ nói một đàng làm một nẻo của các kinh sư và những người Pharisiêu. Họ là những người có vai vế trong đạo. Họ nghiên cứu lề luật, giảng dạy lề luật, bảo vệ lề luật. Nhìn từ bên ngoài thì họ là những nhân vật đáng kính, học cao, biết nhiều, dáng vẻ nghiêm trang, đạo mạo, y phục chỉnh tề, đi đâu họ cũng ngồi chỗ quan trọng, đến đâu họ cũng chiếm vị trí ưu tiên.
Ấy thế mà buồn thay, họ chỉ được cái vỏ xanh tốt bên ngoài, còn bên trong thì lại cằn cỗi khô héo. Chúa Giêsu không phủ nhận vai vế của các kinh sư và những người Pharisiêu trong dân. Chúa khuyên dân chúng hãy tuân giữ những gì họ giảng dạy. Nhưng bởi họ dạy mà không làm những gì mình dạy nên Chúa Giêsu cảnh giác dân chúng đừng làm theo những gì họ làm.
Sau khi nêu rõ những thói tật của các kinh sư và những người Pharisiêu, Chúa Giêsu chuyển sang phần giáo huấn cụ thể cho dân chúng và các môn đệ. Ở phần này khi nói: “Các con đừng gọi ai là cha cũng đừng để ai gọi mình là thầy hay là nhà lãnh đạo”, Chúa Giêsu đã dùng lối nói cường điệu để nhấn mạnh vai trò tuyệt đốì của Cha và của chính Ngài. Khi giảng dạy như thế, Ngài không có ý phủ nhận vai trò của cha mẹ hay của thầy dạy hoặc của người lãnh đạo trên trần gian, mà Ngài chỉ muốn người ta đừng tuyệt đối hóa những vai trò đó, đến độ đặt ngang hàng hoặc cao hơn Thiên Chúa. Chỉ có Chúa Cha mới là Ðấng sinh thành tối cao và chỉ có Chúa Kitô mới là Ðấng giáo hóa tối thượng, còn tất cả mọi người đều là anh chị em bình đẳng với nhau.
Ở đây, chúng ta gặp được một quan niệm rất quen thuộc của tư tưởng Á đông: tứ hải giai huynh đệ, người trong bốn bể đều là anh em, mà đã là anh em thì không còn lên mặt lên mày, không còn tranh chấp ghế cao ghế thấp làm gì nữa. Ðã là anh em thì yêu thương phục vụ là chuyện đương nhiên phải làm: “Trong các con, ai là người làm lớn hơn cả phải là người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên.”
Thời các kinh sư và những người Pharisiêu đã qua từ lâu, nhưng não trạng ăn trên ngồi trước, chỉ tay năm ngón vẫn luôn tồn tại trong bản tính đã bị hư hoại của con người. Xét mình cho kỹ, chúng ta thấy đã không thiếu những lần chúng ta đối xử với những người khác theo cách thế đáng buồn trên đây. Nếu Chúa Giêsu xuất hiện, chắc hẳn Ngài cũng nặng lời quở trách chúng ta như Ngài đã từng quở trách các kinh sư và những người Pharisiêu ngày xưa.
Mùa chay là mùa của hoán cải, là mùa của trở về. Trở về đối với người Kitô hữu chính là trở về với chân lý về con người. Con người đã được tạo dựng để sống cho Thiên Chúa. Chỉ khi nào con người sống trọn cho Thiên Chúa, con người mới thực sự tìm được chính mình. Chỉ khi nào con người bị tiêu hao vì Thiên Chúa, con người mới đạt được tầm vóc viên mãn của mình. Đó là định luật Chúa Giêsu đã đề ra cho các môn đệ Ngài khi nói: “Ai mất sự sống mình thì sẽ tìm lại được”.
Chúng ta đang sống trong những tuần đầu của Mùa Chay, mỗi người Kitô hữu được mời gọi hãy hoán cải để nhận ra sự kiêu ngạo, khoe khoang, hình thức bấy lâu nay, từ đó, hãy lo sám hối và xin ơn tha thứ của Thiên Chúa. Đồng thời biết khiêm tốn để Lời Chúa được thấm nhập vào trong tâm hồn của mình, ngõ hầu chúng ta sẽ trở thành người có Chúa và loan truyền Chúa cho anh chị em mình bằng chính đời sống khiêm tốn, phục vụ.
Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mùa Chay 2023
St 9:4-10; Tv 79:8,9,11,13; Lc 6:36-38
Hãy có lòng nhân
Xét đoán người khác cho đúng sự thật là một việc rất khó. Xét đoán hành vi bên ngoài đã khó rồi, xét đoán tâm trí bên trong lại càng khó khăn hơn nữa. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ đừng xét đoán người khác.
Chúng ta thường nghe nói: "dò sông dò biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người". Thời xưa, câu nói ấy đã đúng, ngày nay nó lại càng đúng hơn nữa. Với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhân loại ngày nay đã có thể đo được một cách dễ dàng núi cao, biển rộng, sông dài.
Còn hơn thế nữa, họ đã đo được những khoảng cách vời vợi trong vũ trụ mà đơn vị phải tính bằng triệu năm ánh sáng. Ngược lại, họ cũng đã đo được những khoảng cách cực nhỏ mà đơn vị càng ngày càng được thu hẹp.
Ðó là về đo lường. Còn về phân tích và thống kê, nhờ phát minh ra máy vi tính cực mạnh, có thể tính được nhiều phép tính trong vòng một giây, người ta đã phân tích và thống kê được nhiều thứ. Gần đây, người ta đã hầu như hoàn thành được bản đồ gien của con người. Thật là những thành quả đáng kinh ngạc.
Tuy nhiên, trước những thành quả thâm sâu của lòng người, những phát minh và ứng dụng đó tỏ ra bất lực. Có máy móc nào cho biết đích xác hàm ý của một nụ hôn không? Ông Giuđa ngày xưa đã chẳng nộp Chúa với một nụ hôn chỉ điểm đó sao? Tâm hồn chúng ta là một cõi thẳm sâu mầu nhiệm. Có thể nói đó là một chốn mênh mông vô tận mà ngay cả bản thân chúng ta cũng không thể nào khám phá ra hết.
Dù có thành tâm thiện chí đến đâu đi nữa, chúng ta cũng không tài nào nắm bắt được hết mọi ngõ ngách của lòng mình, chúng ta nghĩ rằng mình hiểu quá rõ chính mình, nhưng thực tế không phải như vậy, chỉ có Thiên Chúa là Ðấng toàn trí toàn năng mới hiểu rõ hết mọi ngọn nguồn của tâm hồn chúng ta, và mới có thể phán xét chúng ta một cách chính xác trăm phần trăm. Còn chúng ta, ngay cả việc xét đoán mình, chúng ta cũng hoàn toàn có nguy cơ rơi vào sai lầm.
Xét đoán mình đã khó đến thế, nói chi đến việc xét đoán kẻ khác. Nhờ ý thức được giới hạn của mình, chúng ta sẽ không chủ quan khi nhận xét những người chung quanh. Chúng ta không xét đoán được chính xác thì làm sao chúng ta có thể lên án họ một cách hồ đồ được chứ. Và nếu chúng ta không lên án họ thì chúng ta sẽ làm gì đây? Xin thưa: chúng ta sẽ thông cảm bao dung với họ, sẽ nhìn họ với đôi mắt yêu thương và con tim nhân ái. Và dù họ có thực sự là con người băng hoại đi nữa, chúng ta cũng sẽ thực lòng tha thứ cho họ và cầu nguyện giúp họ cải tà qui chính. Chúng ta không xét đoán chính mình, chúng ta cũng không xét đoán anh chị em chung quanh, nhưng chúng ta hãy phó thác tất cả cho lòng nhân từ của Thiên Chúa.
Thánh Lu-ca đã nhấn mạnh nội dung của từ thương xót. Thương xót thì không xét đoán, không lên án. Không ai được tự đặt mình là quan xét anh em mình. Không ai được đánh giá và kết tội nặng nhẹ của người thân cận mình, cũng như bảo họ là kẻ xấu. Hoàn toàn phải loại bỏ những lối nhìn đánh giá người khác theo luân lý và tuyệt đối không được tuyên bố đương sự có tội. Phải hoàn toàn nên giống như Thiên Chúa. Ngài gớm ghét tội lỗi nhưng luôn luôn cứu chữa kẻ tội lỗi. Lòng thương xót chính là tha thứ và giúp đỡ. Tha thứ xóa bỏ mọi rào cản giữa người với người, và giúp đỡ là xây dựng tình liên đới với nhau. Như thế người Ki-tô hữu mới được mời gọi xây dựng nước trời, xây dựng gia đình Thiên Chúa là Cha mọi người.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sống những tâm tình nhân từ Chúa, đó là: đừng xét đoán hay kết án. Hãy tha thứ, cho đi, không phân biệt màu da, sắc áo....
Chúa nói rõ rồi: “Oán phạt thuộc về Ta, ta sẽ báo trả” (Rm 12,19). Cho nên một người mà lúc nào cũng chỉ nhìn thấy tội lỗi của người khác là sai, còn mình mới là đúng, thì đó là người mà Chúa lên án. Khi chúng ta có một thành kiến với ai, thì chúng ta dễ mắc phải lỗi này: dù người đó tốt đến đâu đi nữa, thì bất cứ điều gì người đó nói và người đó làm, đối với ta đều sai hết.
Còn câu Chúa nói: “Đừng lên án các ngươi sẽ không bị lên án” (c.37). Câu này không có nghĩa là nếu chúng ta không bao giờ lên án ai thì Chúa không lên án ta, dù chúng ta tội lỗi tràn bờ. Thưa không phải như thế. Tội ai là một người đó chịu. Có tội phải ăn năn trước đã... Câu này chỉ muốn nói với chúng ta rằng nếu chúng ta không muốn người khác khắt khe với chúng ta thỉ trước hết chúng ta đừng đối xử với họ như vậy. Chúa còn phán thêm “ngươi lấy đấu nào...” (Mc 4,24).
Trong Thánh Lễ hôm nay chúng ta hãy cầu xin cho mỗi người chúng ta trở thành những tấm gương phản ánh trung thực hình ảnh của Chúa Kitô. Như thế, người khác chỉ cần nhìn vào đời sống của chúng ta,là họ có thể nhận ra được chân dung nhân hiền, đầy yêu thương của Chúa. Đó là cách giới thiệu húa cho người khác hay nhất, hữu hiệu nhất.
Mong sao, chúng ta có Chúa trong tâm hồn và sống giới luật yêu thương. Khi không kết án, xét đoán, nhưng tha thứ và cho đi, chắc chắn chúng ta sẽ được cứu độ và mọi người sẽ nhận ra chúng ta là con cái Chúa và họ sẽ tin Chúa ngang qua đời sống đạo của chúng ta.
Chúa nhật II Mùa Chay 2020
Mt 17, 1-9
HIỂN DUNG NHƯ CHÚA
Biến cố Chúa hiển dung trên núi Thabor được cả 3 thánh ký Tin mừng nhất lãm trình thuật lại. Sau khi Chúa Giêsu loan báo về cái chết và sự thống khổ mà Ngài sẽ phải trải qua, một bầu khí u ám bao trùm trên các học trò của Ngài.
Vì vậy 6 ngày sau, Chúa Giêsu dẫn 3 môn sinh thân tín lên núi cao và biến hình trước mặt các ông, để các ông được tận mắt mục kích vinh quang sáng chói nơi Ngài. Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn ngỏ trao cho các môn đệ, là hãy can đảm đối diện mầu nhiệm Thập giá, vì con đường Thập giá sẽ dẫn đến vinh quang. Tương tự như thế, thánh Phaolô cũng đã khẳng định : “Những ai cùng chết với Người, sẽ được cùng Người sống lại trong vinh quang” (2 Tm 2, 11).
Đang khi Chúa Giêsu bày tỏ Thiên tính của Người, thì Môsê, vị anh hùng của Lề Luật, và Êlia, thủ lãnh các ngôn sứ, đã đến đàm đạo với Người. Sự hiện diện của hai chứng nhân thời Cựu Ước cho thấy tính siêu việt của thời đại cuối cùng, đổng thời loan báo Vị Ngôn Sứ thiên hạ vẫn mong chờ, nay đã xuất hiện.
Ngoài ra, nội dung cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu với Môsê và Êlia không phải là những điều Người đã giảng dạy, nhưng là cuộc Khổ Nạn của Người. Đó chính là nhiệm vụ của Người, Đấng hoàn tất Lề Luật và lời loan báo của các Ngôn sứ. Việc loan báo đã kết thúc, và Đấng phải đến đã đến để thực hiện công cuộc cứu độ.
Việc Chúa Giêsu biến đổi hình dạng không phải chỉ là một trình thuật để nghe, nhưng còn là một bức tranh để chiêm ngắm, tựa như hình ảnh ngắn ngủi về một thế giới thần thiêng và bí nhiệm, rất gần gũi mà cũng rất xa xăm. Trên dung nhan của con người đang bị bóng tối tử thần đe dọa, đã bừng lên ánh sáng chói lòa của ngày Phục Sinh.
Biến cố Hiển Dung xảy ra sau khi Chúa Giêsu báo trước cuộc Khổ Nạn của Người cũng như việc dự phần của các môn đệ: biến cố này nhằm củng cố lòng tin của ba vị tông đổ sẽ có mặt vào những giờ phút cuối cùng của Chúa Giêsu tại vườn cây Dầu (Mc 14, 33). Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên ba vị này được "đi riêng" với Chúa Giêsu; ba vị đã từng được chứng kiến việc Chúa Giêsu làm cho con gái ông trưởng hội đường sống lại (Mc 5, 37).
Nơi khuôn mặt Chúa Giêsu, khuôn mặt như mọi người, ta có thể gặp thấy Thiên Chúa vô hình, Đấng ngàn trùng thánh thiện và vô cùng siêu việt.
Ba môn đệ đã quá quen với khuôn mặt Thầy Giêsu, khuôn mặt dãi dầu mưa nắng vì sứ vụ, khuôn mặt chan chứa mọi thứ tình cảm của con người. Chính vì thế họ ngây ngất hạnh phúc khi thấy khuôn mặt ấy rực sáng vinh quang. Họ muốn dựng lều để ở lại tận hưởng.
Tiếng từ đám mây phán ra như một lời giới thiệu và nhắn nhủ: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người, các ngươi hãy vâng nghe lời Người.”
Tiếng bởi trời đã tỏ cho các tông đồ và qua các tông đồ, cho mỗi người chúng ta nhận biết về Đức Kitô. Thế nhưng sau những giây phút bàng hoàng và sợ hãi, các tông đồ chỉ còn thấy Chúa Giêsu trở về với vóc dáng cua một con người bình thường, quang cảnh huy hoàng với Môsê và Elia đã biến mất. Đấng mà các ông vừa mới được chiêm ngưỡng sự vinh quang, Đấng mà các ông vừa mới được kêu gọi vâng phục chính là Chúa Giêsu nhưng trong điều kiện làm người của Ngài.
Chúng ta rất dễ bị lôi cuốn, hấp dẫn bởi những cái ngoạn mục, những cái vượt ra ngoài ranh giới thông thường. Trong Tin Mừng chúng ta thấy ông Phêrô, sau khi được thấy mặt Thầy chiếu sáng như mặt trời và áo Thầy trở nên trắng như ánh sáng, rồi Thầy lại còn đàm đạo cùng Môsê và Elia, đã vội vàng đề nghị: Chúng con được ở đây thì tốt lắm, nếu Thầy muốn, chúng con xin làm ba lều, một thầy Thầy, một cho Môsê và một cho Elia.
Nhưng hiện tại vẫn phải là con đường xuống núi, tiếp tục tiến về Giêrusalem, đối diện với cái chết. Hiện tại chưa phải là lúc dừng lại trong vinh quang. Cuộc sống vẫn phải là cuộc hành trình của niềm tin, của sự gắn bó với Chúa Giêsu, dù rằng Ngài đang tiến đến thập giá. Vinh quang chỉ có thể đến ngang qua đau khổ.
Với sự kiện Chúa biến hình trên núi, các tông đồ như được thêm sức mạnh để cùng đi với Ngài trong đoạn đường còn lại. Nhiều người trong chúng ta rất dễ dàng đón nhận những lời nói của ông thánh này bà thánh nọ phán dạy qua những lần hiện ra ở chỗ này, chỗ khác, như những lời nói đáng tin cậy nhất với những việc lạ lùng kèm theo.
Thế nhưng trong chương trình của Chúa, Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta, Ngài đã giảng dạy bằng những hình ảnh hết sức bình thường và quen thuộc, chẳng hạn hình ảnh chim trời, cây vả, mẻ lưới, tiệc cưới... Chính Ngài cũng đã sống những điều ngài giảng dạy một cách thật bình thường, cho dù Ngài đủ khả năng lôi cuốn dân chúng bằng những việc lạ lùng. Chẳng hạn như sau khi làm phép lạ cho bánh hoá nhiều, thì dân chúng muốn tôn Ngài lên làm vua, nhưng Ngài đã dứt khoát từ khước.
Biến cố Hiển Dung của Chúa Giêsu thực là một kinh nghiệm cho tất cả những ai muốn cùng được tham dự vào vinh quang của Người: Chính kinh nghiệm này là chìa khóa, là sức mạnh giúp chúng ta dám chấp nhận những hi sinh, những từ bỏ để càng lúc càng gắn bó hơn với Đức Kitô. Biến cố này thực là một cuộc xuất hành tiến về Đất Hứa, xuyên qua những thử thách. Ai không chấp nhận xuất hành, không cùng đi với Chúa Giêsu trên con đường lên Giêrusalem, người ấy sẽ không được tham dự vào vinh quang vĩnh cửu. Mỗi người sẽ có thể có một kinh nghiệm nào đó về Chúa Giêsu, nhưng đó chưa phải là tất cả. Đỉnh cao này còn chờ một đỉnh cao nữa.
Ta đang sống trong những ngày Chay thánh. Giáo hội tha thiết mời gọi chúng ta hãy làm một cuộc biến đổi tích cực cho cuộc đời của mình. Nếu chúng ta đang ở trong một tình trạng xấu hay một tình trạng tội lỗi, chúng ta hãy can đảm và mạnh dạn biến đổi và cầu xin ơn được biến đổi để cuộc đời của chúng ta được nhẹ nhàng thư thái và đảm bảo cho tương lai của chúng ta được huy hoàng như tổ phụ Abraham của chúng ta. Hay nếu chúng ta đang ở trong một tình trạng không có gì tệ hại cho lắm, thì chúng ta cũng cần làm một cuộc biến đổi tích cực để có một tình trạng tốt hơn, và tiếp nhận một sức sống tốt hơn. Hãy làm cho cuộc đời của chúng ta trở thành một dòng sông không ngừng chảy về Biển cả và tiếp nhận nguồn nước sạch tinh từ Biển cả là chính Thiên Chúa của chúng ta.
THỨ HAI TUẦN 2 MÙA CHAY
Lc 6, 36-38
HÃY CÓ LÒNG NHÂN TỪ
Nhiều khi trong đời sống chung, chúng ta thường hay mắc phải điều này. Chúng ta nhận xét, phê bình, đánh giá và thậm chí kết tội người khác theo cái nhìn chủ quan. Cùng một sự kiện xảy ra với người mà ta thân thiện, thì ta cho rằng: Chẳng sao đâu, đó chỉ là do lầm lỗi. Còn nếu việc đó xảy ra với người , chúng ta thù ghét, thì lại bảo: Tội đó thật đáng chết, phải trừng phạt đích đáng để làm gương.
Nhiều khi chúng ta đóng vai quan toà để kết án người khác mà quên mất cái đà trong mắt mình. Chúng ta quên rằng chỗ đứng của chúng ta là: tội nhân và chúng ta thường ngồi nhầm ghế quan toà khi xét xử người khác. Chúng ta quên mất Thiên Chúa và chỉ có Ngài là Vị Thẩm phán chí tôn, công thẳng. Ngài sẽ xét xử chúng ta theo như công việc chúng ta đã làm cho người anh chị em.
Ba câu ngắn gọn của bài Tin Mừng hôm nay (Lc 6, 36-38) là phần cuối cùng của một bài giảng vắn tắt của Chúa Giêsu (Lc 6, 20-38). Trong phần đầu của bài giảng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ (Lc 6, 20) và với người giàu có (Lc 6:24), công bố bốn mối phúc thật cho các môn đệ (Lc 6, 20-23) và bốn mối họa cho các người giàu có (Lc 6, 20-26).
Trong phần thứ hai, Chúa Giêsu nói với tất cả những ai đang lắng nghe (Lc 6, 27), đó là, đoàn lũ đông đảo dân chúng, người bệnh tật và nghèo khó, kéo đến từ khắp nơi (Lc 6, 17-19). Những lời mà Chúa nói với đám đông dân chúng và với tất cả chúng ta thì đòi hỏi khắt khe và khó khăn: yêu thương kẻ thù (Lc 6, 27), không nguyền rủa người ta (Lc 6, 28), đưa má bên kia cho kẻ đã vả mặt mình và không phàn nàn nếu có kẻ soán đạt tài sản của chúng ta (Lc 6, 29). Làm sao mà lời khuyên nhủ khó khăn này có thể hiểu được? Lời giải thích được đưa ra trong ba câu của bài Tin Mừng hôm nay, từ đó mà chúng rút ra được trọng tâm của Tin Mừng được Chúa Giêsu đem đến.
Chúa nói với các môn đệ rằng các con hãy có lòng nhân từ, như Cha các con là Đấng nhân từ. Các Mối Phúc Thật cho các môn đệ (Lc 6, 20-23) và mối họa cho những kẻ giàu có (Lc 6, 24-26) không thể được giải thích như là một cơ hội cho người nghèo khó trả thù những kẻ giàu có. Chúa Giêsu ra lệnh phải có thái độ trái ngược lại. Người nói: “Hãy yêu thương kẻ thù!” (Lc 6,27).
Việc thay đổi hoặc hoán cải mà Chúa Giêsu muốn mang đến trong chúng ta không chỉ đơn thuần là hoán chuyển điều gì đó để đảo ngược hệ thống bởi vì trong cách này không có gì sẽ thay đổi. Người muốn thay đổi hệ thống. Sự đổi mới mà Chúa Giêsu muốn xây dựng xuất phát từ kinh nghiệm mà Người có với Chúa Cha đầy lòng trìu mến, Đấng chấp nhận tất cả mọi người, tốt cũng như xấu, Đấng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu lẫn người tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính (Mt 5, 5, 45).
Tình yêu đích thực không phụ thuộc vào mà cũng chẳng có thể phụ thuộc vào những gì tôi nhận lãnh được từ những người khác. Lòng yêu thương là phải ước muốn những điều tốt lành cho người khác bất kể người ấy đã làm gì cho tôi. Bởi vì đây là cách mà tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Người là Đấng đầy lòng nhân từ không chỉ với những người tốt, mà với tất cả mọi người, ngay cả đối với “phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6, 35). Các môn đệ của Chúa Giêsu phải nên lan tỏa tình yêu nhân từ này.
Và tiếp theo : Đừng xét đoán thì các con khỏi bị xét đoán. Những lời cuối cùng lặp lại một cách rõ ràng hơn những gì mà Chúa Giêsu đã nói trước đó: “Những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế” (Lc 6, 31; xem Mt 7, 12). Nếu bạn không muốn bị xét đoán, thì đừng xét đoán! Nếu bạn không muốn bị kết án, thì đừng kết án. Nếu bạn muốn được tha thứ, thì hãy tha thứ! Nếu bạn muốn nhận được đấu đong hảo hạng, thì hãy dùng đấu hảo hạng này với những người khác! Đừng chờ đợi người khác chủ động, mà bạn phải nắm lấy cơ hội và bắt đầu ngay bây giờ! Và bạn sẽ thấy rằng nó là như thế đó!
“ Hãy tha thứ... sẽ được thứ tha. Hãy cho...sẽ được nhận lại”. Và chính Thiên Chúa là người trả lại những gì chúng ta đã làm cho Ngài. Ngài trả lại gấp trăm, gấp vạn những điều chúng ta làm cho người anh em bé mọn, nghèo
Chúa Giêsu dạy ta bày tỏ lòng nhân từ qua bốn mệnh lệnh: - hai mệnh lệnh tiêu cực: không xét đoán, không lên án; và hai mệnh lệnh tích cực: hãy tha thứ, hãy cho. Tại sao ta phải cố gắng bỏ thói quen hay xét đoán và lên án người khác? Tại sao ta phải nỗ lực vượt lên trên bản năng tự nhiên để tha thứ cho kẻ xúc phạm đến mình và cho đi cách quảng đại? Thưa, chỉ vì ta muốn noi gương Chúa Cha là Đấng nhân từ. Cha nào con nấy, hổ phụ sinh hổ tử; cũng vậy, chúng ta phải trở nên giống Cha của mình, để xứng danh là con cái Ngài.
Thiên Chúa đối xử với những ai yêu mến và tuân giữ lời Ngài “Ngài sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng, đã dằn đã lắc và đầy tràn...” Chúng ta thấy cái đấu của Thiên Chúa không ? Không những đong đủ, mà còn dằn xuống cho được nhiều hơn, còn lắc qua lắc lại để không còn một chỗ trống, khe hở nào và đầy tràn: đã đầy, còn tràn ra ngoài nữa. Ý nói: tình thương bao la, lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa đối với con người. Đâu là lý do Thiên Chúa đối xử với chúng ta như vậy: “ Vì anh em đong bằng đấu nào, Thiên Chúa sẽ đong lại bằng đấu ấy”. Một lần nữa, chúng ta lại thấy sự công thẳng của Thiên Chúa trong ngày sau hết được mô tả ở đây: Ai sống sao, Ta sẽ trả cho như vậy.
Trang Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến ngày phán xét chung thẩm trong Tin Mừng Mt 25, 31-46. Khi ấy, Thiên Chúa cứ theo những hành động bác ái ta đã đối xử với anh em mà thưởng phạt tuỳ theo mỗi người.
THỨ BA TUẦN 2 MÙA CHAY
Mt 23, -12
ĐỪNG HÌNH THỨC NỮA
Trong Do thái giáo, luật đóng thuế thập phân trên những sản phẩm con người làm ra là một hành động tôn giáo để nhìn nhận quyền tối cao của Thiên Chúa. Theo luật Môsê được ghi trong sách Thứ Luật, thì chỉ buộc trả thuế thập phân trên những sản phẩm chính là gạo, rượu, dầu, con vật đầu lòng.
Thế nhưng, có lẽ vì quá sốt sắng, những Luật sĩ và Biệt phái muốn áp dụng thuế thập phân cho những sản phẩm nhỏ, không cần thiết như: bạc hà, thì là, rau húng. Chúa Giê-su thường dùng các dụ ngôn với những lời lẽ rất tế nhị nhưng thâm thúy để răn dạy dân chúng. nhưng hôm nay Ngài lại gay gắt lên án các giới chức lãnh đạo Do Thái: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình” (Mt 23, 13).
Đọc những lời này, chúng ta có thể tưởng tượng được sự căm giận đến bầm gan tím ruột của các kinh sư và Pharisêu lúc ấy. Với kiến thức giáo lý và hiểu biết lề luật đầy mình nên mỗi khi xuất hiện trước dân chúng, họ luôn tỏ ra đạo mạo với “tua áo thật dài, hộp kinh trên trán” thế mà lúc này, Chúa Giêsu trong vai một anh thợ mộc nhà quê đang mạnh mẽ lên án họ là những kẻ giả hình.
Chưa dừng ở đó, Chúa Giêsu còn kể ra những thiệt hại mà họ gây ra cho người khác: “Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi các người” (Mt 23, 15). Lời này cho ta hiểu rằng những người Pharisêu và kinh sư cũng ra đi ‘khắp biển cả lẫn đất liền’ mà giảng dạy, thuyết phục người ta nhập đạo, nhưng sau đó lại không giúp người ta đến được với Thiên Chúa.
Vì lối sống hình thức, vụ luật mà họ đã dạy người ta những điều sai trái: “Ai chỉ bàn thờ mà thề thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề, thì bị ràng buộc” (Mt 23, 18), trong khi sách luật ghi rõ: “Bàn thờ là vật rất thánh; tất cả những gì chạm đến bàn thờ cũng sẽ là vật thánh” (Xh 29, 37). Không phải họ không biết điều này cho bằng họ cố tình bẻ cong huấn lệnh của cha ông để lại. Vì thế, Chúa Giê-su đã mắng họ là những kẻ dẫn đường mù quáng.
Chúa Giêsu không kết án các Luật sĩ và Biệt phái vì sự tuân giữ luật Môsê một cách tỉ mỉ; nhưng Ngài kết án vì thái độ không trung thực: họ tuân giữ những điều hết sức nhỏ để tỏ ra mình sốt sắng đạo đức, nhưng họ lại lỗi phạm những điều lớn về đức công bằng và tình yêu thương, họ làm như thế chẳng khác nào lọc lừa con muỗi ra ngoài, nhưng lại nuốt con lạc đà nguy hiểm hơn.
Chúa Giêsu tố cáo sự giả hình của các Luật sĩ và Biệt phái: họ xây mồ cho các tiên tri và sửa sang phần mộ những kẻ mà cha ông họ đã sát hại; họ than trách tội ác của cha ông họ trong quá khứ và tự phụ rằng nếu sống vào thời tổ tiên, họ sẽ không hành động như thế; nhưng họ quên rằng họ là con cháu của những kẻ đã sát hại các tiên tri, và giờ đây họ đang đi vào con đường đó bằng việc mưu hại Ngài.
Thái độ vụ hình thức thứ hai của các Luật sĩ và Biệt phái còn được thể hiện trong sự tuân giữ những nghi thức bên ngoài, mà không chăm lo tinh tuyền bên trong: họ lo rửa chén đĩa bên ngoài, mà bên trong tâm hồn thì đầy cướp bóc, tham lam. Việc tuân giữ nghi thức thanh tẩy bên ngoài, việc đến nhà thờ đọc kinh ngoài môi miệng mà thôi chưa đủ, cần phải để cho ơn Chúa biến đổi tận bên trong tâm hồn ngõ hầu trở nên con người mới. Sự hoán cải nội tâm quan trọng hơn và phải đi trước những thực hành đạo đức bên ngoài để tránh thái độ giả hình, vụ hình thức đáng bị Chúa khiển trách.
Trước bất công, hiểu lầm, thật giả trong cuộc sống, chúng ta là nạn nhân hay nguyên nhân? Chắc hẳn không ai trong chúng ta muốn mình là cớ gây vấp phạm cho người khác, lại càng không mong trở thành nạn nhân. Để được như thế, mỗi Kitô hữu phải xác tín rằng theo đạo vì đạo có lương thực thiêng liêng là Thánh Thể và Lời Chúa nhắc ta sống trung thực và bác ái hơn chứ không theo vì lời dẫn dụ của người này hoặc do sự lôi kéo của người kia.
Trong đời sống đạo hiện nay, cũng có nhiều khi chúng ta tìm mọi cách để che đậy những chuyện xấu xa, khuyết điểm, lỗi lầm để tự cho mình là người đạo đức hơn người. Điều khó hiểu là chúng ta an tâm để sẵn sàng lên án kẻ khác vì những thiếu xót của họ mà không hề suy nghĩ hay áy náy gì đến lỗi lầm của mình! Hơn nữa, nhiều khi quá giỏi che đậy, nên không ai biết đến những khuyết điểm của mình, vì vậy, chúng ta lại an tâm và “bình chân như vại” để tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi tiếp theo.
Chúa Giêsu than trách các luật sĩ và biệt phái về tội giả hình: lo đạo đức bên ngoài, còn bên trong tâm hồn thì đầy những tính xấu: háo danh, tham lợi, bất công, bất tín. Chúa Giêsu đánh giá con người không phải chỉ dựa vào hình thức bên ngoài, nhưng còn dựa vào nội dung và tâm ý bên trong. Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta đừng vội xét đoán giá trị của một người khi chỉ nhìn hình thức bên ngoài, nhưng còn phải dựa vào tâm tình và ý hướng bên trong nữa. Đồng thời, nghe lời Chúa sửa dạy, chúng ta cũng tránh thói giả hình, sống sao cho thái độ bên ngoài biểu hiện tấm lòng chân thật bên trong.
Lời dạy của Chúa Giêsu với những người Pharisiêu cũng là lời cảnh tỉnh cho con người ngày nay. Bên ngoài người ta có thể rất đạo mạo, lịch sự, cao trọng, chức quyền nhưng bên trong lại chứa đầy tham lam “đầy những chuyện gian tà, cướp bóc” hay người ta tô điểm thêm bên ngoài của mình với những việc làm bác ái hay bố thí nhưng bên trong lại đầy những mưu mô, ham hố danh vọng, tiền tài. Vì vậy Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy trở về bên trong với con người thật của mình, để ở đó chúng ta gặp được Chúa Giêsu, để Ngài biến đổi chúng ta để từ đó ta hành động với một tấm lòng trong sạch, một tình yêu được kín múc từ chính Đức Giêsu.
Điều quan trọng là làm sao để tâm hồn mình được sạch vì “Kẻ tay sạch lòng thanh sẽ được lên núi Chúa” (Tv. 23, 3.4). Và Chúa Giêsu đã nói trong tin mừng hôm nay “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.” (c. 41) Hay nói khác hơn phải sống đơn thành trước Thiên Chúa và hãy có tinh thần yêu thương vị tha chia sẻ đích thực đối với đồng loại – Hãy có lòng xót thương!
Trong đời sống đạo hiện nay, cũng có nhiều khi chúng ta tìm mọi cách để che đậy những chuyện xấu xa, khuyết điểm, lỗi lầm để tự cho mình là người đạo đức hơn người. Điều khó hiểu là chúng ta an tâm để sẵn sàng lên án kẻ khác vì những thiếu xót của họ mà không hề suy nghĩ hay áy náy gì đến lỗi lầm của mình! Hơn nữa, nhiều khi quá giỏi che đậy, nên không ai biết đến những khuyết điểm của mình, vì vậy, chúng ta lại an tâm và “bình chân như vại” để tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi tiếp theo.
Nhưng xin nhớ rằng: chúng ta có thể che giấu bằng những biện pháp tinh vi, xảo quyệt để che mắt người đời, nhưng với Chúa, Ngài biết hết và biết rõ ràng từng lỗi lầm của chúng ta. , không ai trong chúng ta là những người hoàn hảo, tốt lành. Chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận rằng, tất cả chúng ta đều cần đến lòng thương xót của Chúa. Điều quan trọng là chúng ta có thẳng thắn nhìn xem, có làm cớ cho ai vấp phạm, có ngăn cản ai đón nhận Tin Mừng của Chúa hay không! Chúng ta cần kiểm điểm lòng mình xem có khi nào lời nói và việc làm của mình ngăn cản những người chung quanh chúng ta, nhất là những người trong gia đình, trong khu xóm, bạn hữu nhận rằng sự hiện hữu của Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Ngài hay không!
Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết sống chân thành và trung thực để mọi người chung quanh nhận biết tình yêu và lòng thương xót của Chúa đang hoạt động và sinh hoa trái nơi chính cuộc đời của chúng ta.
THỨ TƯ TUẦN 2 MÙA CHAY
Mt 20, 17-28
HÃY LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ
Ở đời ai mà không thích làm “ông lớn, bà lớn.” Làm ăn thì mong được lắm tiền nhiều của. Có tiền của rồi thì nuôi tham vọng được thăng quan tiến chức, đạt được quyền lực và danh vọng. Thế nhưng Chúa Giêsu lại vạch ra “con đường chẳng mấy ai đi”, một lối sống mà không mấy ai nghĩ tới, đó là muốn làm lớn thì phải phục vụ, hầu hạ người khác, “làm đầy tớ” mọi người! Chính vì không đón nhận lối sống “nghịch lý” này của Chúa Kitô mà nhân loại đã và đang hứng chịu không biết bao nhiêu thảm cảnh do óc thống trị và hưởng thụ gây ra: Làm lớn để người khác bị “trị” còn mình thì được “hưởng”.
Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa muốn bộc lộ tâm trạng của Ngài trước cuộc khổ nạn sắp xảy ra. Các môn đệ vẫn theo đuổi giấc mơ làm lớn. Điều này làm khổ tâm Chúa không ít. Còn Chúa thì khác. Ai muốn làm lớn thì phải làm nhỏ, làm người phục vụ, làm đầy tớ, phải uống chén đắng, và có khi phải mất mạng vì và cho anh chị em mình! Bạn có muốn chia sẻ tâm sự này với Chúa không? Hay bạn vẫn cứ theo đuổi “giấc mộng vàng” cai trị kẻ khác, những người không xa lạ gì với bạn, mà là anh chị em của bạn đấy thôi?!
Chúa Giêsu đã trình bày lý tưởng của con đường Thập giá cho các môn đệ biết: "Này, Ta lên Giêrusalem, Con Người sẽ bị rơi vào tay các trưởng tế và các luật sĩ, họ sẽ luận xử tử Ngài. Rồi họ sẽ phó Ngài cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn, đóng đinh, song ngày thứ Ba Ngài sẽ sống lại" (Mt 20, 17-19). Nhưng các tông đồ thì nghĩ ngược lại: kẻ thì xin được ngồi bên tả, bên hữu Ngài. Kẻ thì ghen tị bất bình, vì muốn có phần vinh quang và quyền hành khi theo Chúa.
Chuyện đã xảy ra cho các tông đồ vào thời Chúa Giêsu cũng có thể xảy ra cho những kẻ tin Chúa ngày hôm nay. Có người muốn chọn con đường theo Chúa Giêsu với điều kiện không có Thập giá, nhưng cũng có kẻ lại chọn lấy Thập giá mà không có Chúa Giêsu Kitô. Sự đau khổ mà không có Chúa Kitô là một đau khổ không ý nghĩa cứu rỗi. Một sự đau khổ đè bẹp con người, một sự điên dại mà ai nấy đều muốn tránh xa.
Và thêm chuyện nữa là có lẽ mười môn đệ kia tức tối với hai anh em Giacôbê và Gioan là vì : mình không chạy nhanh, không tính toán bằng. Đó có thể là sự ganh tị... và Chúa Giêsu, nhân cơ hội này đã giảng một bài về phục vụ cho những người muốn làm thủ lãnh, làm đầu, làm nhất, làm lớn trong thiên hạ. Chúa trưng dẫn lối lãnh đạo theo Người đời : Lấy quyền thống trị, dùng uy cai quản (x. c. 25). Ngài khẳng định : Giữa anh em không được như vậy : làm lớn để phục vụ (c. 26). Làm đầu phải là đầy tớ (c. 27). Một lối sống đối nghịch với những gì người đời mong đợi.
Người môn đệ đích thực không thể và cũng không nên tách rời Thập giá ra khỏi Chúa Giêsu Kitô. Những đau khổ và những hy sinh chỉ có ý nghĩa, nếu biết liên kết với Chúa Giêsu Kitô, được lãnh nhận vì Chúa và với Chúa Kitô mà thôi.
Chúa Giêsu đã trình bày lý tưởng của con đường Thập giá cho các môn đệ biết: "Này, Ta lên Giêrusalem, Con Người sẽ bị rơi vào tay các trưởng tế và các luật sĩ, họ sẽ luận xử tử Ngài. Rồi họ sẽ phó Ngài cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn, đóng đinh, song ngày thứ Ba Ngài sẽ sống lại" (Mt 20,17-19). Nhưng các tông đồ thì nghĩ ngược lại: kẻ thì xin được ngồi bên tả, bên hữu Ngài. Kẻ thì ghen tị bất bình, vì muốn có phần vinh quang và quyền hành khi theo Chúa.
Chuyện đã xảy ra cho các tông đồ vào thời Chúa Giêsu cũng có thể xảy ra cho những kẻ tin Chúa ngày hôm nay. Có người muốn chọn con đường theo Chúa Giêsu với điều kiện không có Thập giá, nhưng cũng có kẻ lại chọn lấy Thập giá mà không có Chúa Giêsu Kitô. Sự đau khổ mà không có Chúa Kitô là một đau khổ không ý nghĩa cứu rỗi. Một sự đau khổ đè bẹp con người, một sự điên dại mà ai nấy đều muốn tránh xa.
Và rồi qua Tin Mừng ta thấy các tông đồ chưa hiểu đúng sứ mạng của mình: họ theo Chúa Giêsu nhưng để được vinh dự và địa vị; lời xin của 2 con ông Dêbêđê, sự khó chịu của các tông đồ kia. Để giáo dục họ, Chúa Giêsu làm hai việc: một là loan báo cho các ông biết Ngài sẽ bị nộp vào tay kẻ thù để hiến thân chuộc tội cho loài người; hai là dạy họ bài học phục vụ: “Ai muốn cầm đầu thì hãy làm đầy tớ...” “Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người.”
Chúa Giêsu đã mang lại cho hai chữ "phục vụ" ý nghĩa đích thực của nó: phục vụ như Chúa Giêsu đã sống là sống như một người tôi tớ. Người tôi tớ trong thời phong kiến chỉ có một hiện hữu duy nhất, đó là sống cho và sống vì người khác. Như vậy, phục vụ đích thực chính là sống trọn vẹn cho tha nhân, vì tha nhân, chứ không vì bất cứ một tính toán lợi lộc nào. Phục vụ như thế cũng đồng nghĩa với quên mình và quên mình cho đến chết. Xét cho cùng, theo mẫu gương của Chúa Giêsu, phục vụ cũng đồng nghĩa với chết đi. Đó là bài học mà Chúa Giêsu đã muốn lặp lại trong Tin Mừng hôm nay.
Những dân chài Galilê đã bỏ mọi sự theo Chúa Giêsu, nhưng các ông từ bỏ mọi sự với một tính toán, đó là trở thành công hầu khanh tướng trong vương quốc tương lai của Ngài. Các ông cũng không thoát khỏi cái lý luận thường tình của con người: "Tôi cho đi để được lấy lại," "tôi từ bỏ mọi sự để được giầu sang hơn," "tôi phục vụ để được phục vụ lại." Quyền bính, danh vọng vẫn luôn là cám dỗ đối với Giáo Hội qua mọi thời đại. Dưới lớp áo thâm chùng của từ bỏ vẫn còn ẩn núp những tham sân si. Đội lốt tôn giáo, lời tố cáo ấy xem ra không phải là quá đáng, bất công đối với không biết bao nhiêu thành phần được gọi là người của Giáo Hội.
Ta thấy gồm những con người yếu hèn, tội lỗi, Giáo Hội Chúa Kitô luôn cần được thanh luyện trong ý tưởng, cũng như trong thể hiện của mình. Trong cuộc trở về chung của toàn Giáo Hội, mọi Kitô hữu đều được mời gọi để không ngừng hoán cải. Hoán cải là quay về với Chúa, là chỉ tìm kiếm và yêu mến một mình Ngài, là tham dự vào cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô bằng những hy sinh và từ bỏ chính mình mỗi ngày.
Chúa mời gọi tất cả và từng người môn đệ hãy theo Ngài trên con đường Thập giá, nhưng không dừng lại ở đây. Vì ngày thứ ba Ngài đã sống lại trong vinh quang. Như vậy, đau khổ sẽ biến thành niềm vui và hy vọng. Chỉ có ai chấp nhận đi trọn con đường Thập giá với Chúa, vì Chúa, thì mới hưởng được niềm vui và bình an của Chúa Kitô Phục Sinh.
THỨ NĂM TUẦN 2 MÙA CHAY
Lc 16, 19-31
PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN NGHÈO KHÓ
Xã hội nào, thời đại nào cũng tồn tại nhan nhản những bất công, những đối nghịch như: giàu-nghèo, hạnh phúc-bất hạnh, thành công - thất bại... Và đáng buồn thay, xem ra lối hành xử và sự phân định của con người cũng theo quy luật nhị nguyên đó. Con người thường trọng kẻ giàu, người quyền thế, đồng thời khinh người nghèo, kẻ vô thân. Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp vì miếng cơm, manh áo mà người ta trâng tráo, biến “đen thành trắng” để bênh vực người giàu, kẻ nắm quyền, trái lại họ sẵn sàng hạ bệ, coi khinh người nghèo, người cô thân. Thế gian là như vậy, coi trọng hình thức bề ngoài.
Ta thấy thực tế thế giới của thần linh lại hoàn toàn khác, những giá trị nhân bản, những phẩm hạnh luân lý vẫn là cốt lõi và nền tảng của đời sống con người. Phụng vụ Lời Chúa ngày hôm nay cho thấy, Thiên Chúa không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, nhưng Ngài nhìn thấu tâm can. Ngài dựa vào những công việc đẹp, những hành động tốt lành mà chúng ta dành cho Chúa và cho nhau.
Thật vậy, tác giả Luca diễn tả hai con người, hai hoàn cảnh hoàn toàn trái ngược nhau từ đời sống này cho đến đời sống sau. Họ khác nhau từ cách thức họ dành cho nhau và dành cho Chúa. Sự khác biệt, tương phản ấy khởi đi từ đời sống vật chất. Anh nhà giàu, vinh hoa phú quý, ngày ngày yến tiệc linh đình. Sống trong nhung lụa, thưởng thức sơn hào hải vị. Anh ta rất hạnh phúc và sung sướng với những gì mà mình đang có. Trái lại, anh nhà nghèo Lazaro, khố rách áo ôm, người đầy những ghẻ lở hôi thối, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đang đau đớn vì bệnh tật, mong được hưởng chút canh thừa cơm cặn từ ông chủ nhà này...
Thế rồi, đùng một cái, thánh Luca cho chúng ta thấy, cả hai khi sống đã khác nhau và khi chết, số phận lại đảo chiều. Anh nhà giàu xuống hỏa ngục, chịu đau đớn khổ sở kêu la. Trong khi đó, anh nhà nghèo lại hưởng hạnh phúc mát mẻ. Kinh thánh cho chúng ta biết, sỡ dĩ anh nhà giàu này xuống hỏa ngục vì khi sống ở trần gian, anh đã vô tâm, dửng dưng không quan tâm tới ai, anh chỉ biết đến mình. Anh không được phần phúc thiên đàng vì anh đã không đầu tư, không sống theo lời gọi mời của Chúa.
Còn anh nhà nghèo Lazaro, Lazaro theo nghĩa Kinh thánh có nghĩa là được Chúa thương mến. Anh được hưởng phúc, diện kiến nhan Chúa. Chiêm ngưỡng hai nhân vật này, cho chúng ta có cái nhìn về đời sống đạo thực tế và những bài học luân lý. Bài học thứ nhất, không phải cứ giàu có vật chất là không được lên Thiên đàng, vì có quan niệm cho rằng: người giàu vào Nước Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim. Và vì thế mà người giàu coi như mình bị “chúc dữ”, đáng sa hỏa ngục trầm luân.
Ông Lazaro khốn khổ tột cùng nằm trước cổng mà ông như không thấy gì hết. Ông tưởng mình giàu có hạnh phúc mà không biết mình đang bất hạnh nghèo nàn. “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa! Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ, hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra, nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn không một bóng người” (Gr 17, 5-6).
Còn Ladarô tin nơi Thiên Chúa. Trong Chúa, ông đang khổ đau mà như chẳng thấy đau khổ, không kêu ca trách móc, không “đói ăn vụng, túng làm càn”. Ông đang bất hạnh đói nghèo mà đời vẫn xanh tươi hạnh phúc. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái”(Gr 17, 7-8).
Trái lại, bài học thứ hai là, không phải cứ nghèo về vật chất, an phận thủ thường, đương nhiên sẽ được hưởng nhan Chúa. Tệ hại hơn, với tính đố kỵ, kẻ nghèo, người thua thiệt thường lên mặt, tỏ vẻ mừng vui khi thấy kẻ thắng, người giàu “sa cơ lỡ bước”. Như vậy, cả hai bài học này đều đáng bị lên án và không hợp với luân lý và suy nghĩ của người Kitô hữu. Những nghĩ suy như thế cũng không thích hợp với quan niệm Nước Trời.
Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương nhưng cũng rất mực công bằng vô cùng. Người ghét tội nhưng Người thương kẻ có tội. Người vui khi thấy kẻ có tội thật lòng thống hối ăn năn. Người còn vui hơn khi chứng kiến con người biết yêu thương và quan tâm đến nhau, xót thương nhau.
Anh nhà giàu trong tin mừng Mátthêu đã giữ luật “mến Chúa yêu người” rất hoàn trọn, anh muốn được nên trọn lành giống như Chúa; thế nhưng khi Ngài đề nghị anh bán tất cả tài sản cho người nghèo, anh đã bỏ đi. Anh không biết cảm thương người khác. Anh không thể nên trọn lành như Cha trên trời.
Trong lịch sử Giáo hội, chúng ta đã được chiêm ngưỡng rất nhiều những gương lành và việc làm nhân đức đáng để chúng ta suy nghĩ và noi theo. Một Phan-sinh từ bỏ hết tài sản cha mẹ cho để chọn lối sống nghèo thanh thoát. Một Đaminh dành trọn cuộc đời để rao giảng Tin mừng cho người nghèo. Hay một Têrêsa gày còm, ốm yếu rời bỏ đời sống an bình nơi tu viện để đến với những người đầu đường xó chợ... Tất thảy họ đáng được hưởng niềm vui Nước Trời vì họ quan tâm, chia sẻ và đem Chúa đến cho người khác và đưa tha nhân về cho Chúa.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy: giàu không phải là tội, nhưng nó chỉ là cạm bẫy nguy hiểm dễ dẫn đến tội nếu không có lòng bác ái. Ông nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay đã rơi vào tình trạng tội khi ông vô cảm với người nghèo ngay ở cổng nhà ông. Vì thế, ông đáng phải sa hỏa ngục vì tiền bạc và sự sung túc đã làm cho mắt ông mù lòa, trái tim se thắt, tấm lòng trai cứng và sự dửng dưng đã trở thành tội ác và mất hạnh phúc đời đời...
Phần ta, ta được thấm nhuần những việc lành của các ngài, đặc biệt là mẫu gương của Thầy Chí Thánh; người Kitô hữu trong ngàn năm thứ ba này cũng khát khao ra đi, đến với anh chị em của mình trong bất cứ hoàn cảnh, môi trường nào. Nơi đây, trong mùa chay thánh này mọi người đều ước mong được hưởng nếm mật ngọt Nước Trời. Nơi đây, trong mùa chay thánh này mọi người cùng sống chung qua sự chia sẻ hiệp nhất.
Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy có trách nhiệm liên đới với nhau, nhất là với người nghèo, người cô thế, cô thân, không nơi nương tựa... Không bao giờ chúng ta được để cho chủ trương: “Sống chết mặc bay” thường trực trong tâm hồn của mình.
THỨ SÁU TUẦN 2 MÙA CHAY
Mt 1, 33-43. 45-46
YÊU CHO ĐẾN CÙNG
Ðối với người Israel, vườn nho là một hình ảnh rất quen thuộc. Các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia, Edêkiel thường dùng hình ảnh này để ám chỉ dân Israel được Thiên Chúa tuyển chọn và chăm sóc để trở thành dân riêng của Người. Chúa Giêsu cố ý đưa hình ảnh quen thuộc ấy vào trong phần mở đầu của dụ ngôn trên đây.
Cách diễn tả của Chúa Giêsu chắc chắn làm cho người nghe nhớ đến lời ngôn sứ Isaia nói về sự bất trung của dân Israel. Cách mở đầu bài giảng như thế khiến cho các thượng tế và kỳ mục phải ở trong tư thế chuẩn bị đối phó, bởi vì họ đang là những nhà lãnh đạo của dân Israel, đang quản lý vườn nho của Thiên Chúa. Và sau phần mở đầu, Chúa Giêsu tấn công ngay vào vị thế đó của họ. Chúa gọi họ là những tá điền, mà lại là những tá điền bất nhân bất nghĩa. Người nói thẳng với họ: "Tôi nói cho các ông hay, Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa mà ban cho một dân khác với mục đích làm cho Nước ấy sinh hoa lợi."
Qua dụ ngôn này Ngài ví ông chủ như là Chúa Cha. Vườn nho là tất cả những tâm hồn khao khát theo Chúa, là Giáo Hội. Những tá điền canh tác là các tư tế, thủ lãnh trong dân. Các đầy tớ đi thu hoa lợi là các tổ phụ, các ngôn sứ. Còn con trai yêu dấu của chủ là chính Ngài
Qua dụ ngôn người làm vườn nho sát nhân, không những Chúa Giêsu ám chỉ đến cái chết dã man mà các Thượng tế và Biệt phái sẽ gây ra cho Ngài, nhưng Ngài còn loan báo về sự phục sinh mà Thiên Chúa quyền năng sẽ thực hiện cho Ngài. Với sự phục sinh âý, Thiên Chúa như tuyên bố rằng tình yêu mạnh hơn sự chết, yếu đuối đã trở thành sức mạnh, thất bại biến thành khơi nguồn của ân ban. Chúa Giêsu đã gói ghém tất cả các mạc khải ấy trong câu trích từ Tv 118: “Chính viên đá thợ xây loại bỏ, đã trở nên viên đá góc tường”. Cái bị loại bỏ đã trở thành chuẩn mực, cái yếu đuối đã trở thành sức mạnh, cái điên dại đã trở thành lẽ khôn ngoan, cái chết đã trở thành cửa ngõ và khởi đầu nguồn sống mới.
Chúa Giêsu muốn cho các thính giả đang nghe Ngài cũng như các đọc giả hôm nay, những người đang tìm kiếm Ngài, bước theo Ngài thấy được tình yêu Thiên Chúa đối với con người, Thiên Chúa luôn yêu thương con người và yêu thương đến cùng.
Người đã yêu thương tuyển chọn và chăm sóc dân Người thật chu đáo (Mt 21,33), sai các Ngôn sứ đến để nâng đỡ, dẫn dắt họ. Nhưng tất cả đều bị dân Người bội phản, bất trung, đối xử tàn bạo khủng khiếp (Mt 21, 35-36). Nhưng Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn yêu thương đợi chờ và cuối cùng sai chính Con Một yêu dấu của Người (Mt 21, 37), là Ngôi lời Nhập thể đến, Ngài đã dùng chính cái chết và sự phục sinh của Ngài để bảo vệ, cứu chuộc dân Ngài, tái tạo dân mới, một dân biết làm cho nước Thiên Chúa sinh hoa lợi ( Mt 21, 43).
Thật vậy, Thiên Chúa đã yêu thương con người đến tột cùng. Một tình yêu mà xét trên bình diện con người tự nhiên có thể nói là tình yêu mù quáng “Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (I Ga 4, 10). Nhưng xét trên bình diện siêu nhiên chúng ta mới thấy được tình yêu vô biên, nhiêm mầu của Thiên Chúa.Vì không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu. Hơn nữa Ngài đành mất tất cả miễn là để cứu chúng ta, để chúng ta được sống (1Ga 4, 9). và sống dồi dào, sung mãn, hạnh phúc.
Ngài còn ban cho mỗi người chúng ta một hoàn cảnh khác nhau với thời giờ, tài năng, sức khỏe, nghị lực, ý chí, trí hiểu khác nhau để chúng ta sống hạnh phúc và tiếp tục công trình dựng xây nước Chúa. làm cho nước Thiên Chúa sinh hoa lợi (Mt 21, 43). Vậy nếu hôm nay Thiên Chúa đến thu hoach mùa màng và đòi tính sổ với ta. Chúng ta sẽ tiếp đón Ngài với tâm tình nào? Và trả lời với Ngai thế nào về cách sống của chúng ta hiện nay?
Vườn nho đã được trao cho những tá điền biết làm sinh hoa kết quả. Thực sự những trái nho ở đây là những hoa trái nước trời. Dân tộc được tuyển chọn trước đã thất bại. Một dân khác đã lãnh nhận vườn nho và sẽ không làm ông chủ thất vọng.
Và rồi khi thoạt nghe dụ ngôn trên đây, chúng ta có thể nói nó chẳng ăn nhập gì đến mình cả. Chúa Giêsu hiện trước các thượng tế và các kỳ mục Do Thái thời xưa chứ Ngài đâu khiển trách chúng ta. Chúng ta đâu có dính dự gì vào chuyện của họ. Chúng ta đâu có giết các ngôn sứ của Thiên Chúa, chúng ta đâu có xử tử Chúa Giêsu.
Thế nhưng, nếu chịu khó xét cho kỹ thì chúng ta phải giật mình vì chúng ta đã có những phản ứng chẳng khác gì họ, có khác chăng là trong một bối cảnh khác và với hành động như vậy, chúng ta không giết các ngôn sứ, nhưng chúng ta bỏ ngoài tai những lời giảng dạy của các vị, chúng ta không kết án tử Chúa Giêsu, nhưng chúng ta đẩy Người ra ngoài lề cuộc sống chúng ta. Nếu chịu khó xét mình, không khéo chúng ta lại tìm thấy hình ảnh của các thượng tế và kỳ mục của Israel nơi bản thân chúng ta.
Bức tranh này, tuy có thể tối tăm, nhưng sau cùng lại chứa đầy hy vọng. Người ta thấy ở đây chương trình của Thiên Chúa, Ngài muốn nhân loại sinh nhiều hoa trái, không bao giờ được thất vọng do những quản lý xấu. Thiên Chúa không bao giờ chịu thất bại do sự quản lý đồi tệ của con người. Ngài tái lập lại rất dễ dàng và trao lại cho những người khác công việc đã bị hư hại.
Những kẻ bất trung đã làm hỏng việc, nhưng nước Thiên Chúa thì vẫn bất diệt, vì tất nhiên Ngài sẽ thực hiện lại, và phúc cho ai được Ngài dùng để thực hiện lại công việc của nước trời.
Mùa Chay là mùa hông ân và là thời gian thuận tiện để chúng ta nhìn lại những hồng ân mà Thiên Chúa yêu thương đã ban tăng cho chúng ta mà dâng lời tri ân cảm tạ. Đồng thời là thời gian chúng ta dừng lai để suy nghĩ và xét lại bản thân chúng ta đã sử dụng hồng ân ấy thế nào để ăn năn sám hối, xin lỗi về những thiếu sót của mình với Chúa với Giáo Hội, Giáo xứ và anh chị em xung quanh.
Huệ Minh 2020
March 9, 2023