Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 3 mùa chay, năm A

+++

Chúa nhật III Mùa Chay 2020

Mt 4, 1-11

 

15 tháng 3 năm 2023 - Thứ Tư Thứ Tư trong tuần thứ Ba Mùa Chay
St 4:1,5-9; Tv 147:12-13,15-16,19-20; Mt 5:17-19
Đừng vụ luật

          Bất cứ quốc gia hay tổ chức lớn nhỏ nào trong xã hội loài người đề cần có luật, để giữ kỷ cương phép tắc, giữ trật tự an ninh và đảm bảo sự công bằng xã hội.
          Ngay từ thời xa xưa, Thiên Chúa đã ban cho con người luật pháp. Nó phát triển và hoàn thiện dần trong lịch sử cứu độ. Luật cũ cho ta ý niệm là dân được tuyển chọn phải sống qua mười điều răn, lời các tiên tri, là những hướng dẫn con người cách thức mến Chúa và yêu người bằng cách chỉ rõ thánh ý Chúa đối với thái độ và hành động trong đời sống thường nhật.
          Những lời Đức Giêsu nói về luật Cựu ước thực sự gây sốc nhất là đối với những người thượng tôn Lề luật Maisen... Quả thật những lời Đức Giêsu dạy xem ra khó nghe và có vẻ như trái nghịch với luật cũ khiến một số người phản đối; nhưng xét cho cùng, đó không phải là Ngài phá đổ hay phế bỏ Lề luật mà là Ngài kiện toàn nó. Ngài đào sâu tận nguyên lý của Lề luật và áp dụng vào hoàn cảnh mới của Tân ước, để thực hành đúng tinh thần của Lề luật chứ không chỉ theo hình thức bên ngoài.
          Ta có thể dẫn chứng trường hợp ăn chay chẳng hạn: nhịn đói ít hôm, cúng dường... rồi sau đó bóc lột, ức hiếp người nghèo khổ, thì hành vi ấy còn có nghĩa gì, nó lố bịch và chuốc thêm tội vào mình thôi... Như thế, Đức Giêsu chính là Maisen mới vì Ngài đến kiện toàn Luật Maisen và lời các tiên tri 
          Lề luật giống như đường rầy giữ cho xe lửa chạy an toàn, hoặc như sợi dây cương giữ cho con ngựa chạy đúng hướng. Bị buộc phải sống và làm trong khuôn khổ của lề luật thì hơi khó chịu đấy. Nhưng ta hãy nghĩ đến lý do và mục đích của luật thì sẽ dễ vâng theo hơn. Hơn nữa ai biết giữ luật vì tình yêu thì tất cả sẽ trở nên nhẹ nhàng. Thánh Augustinô chia sẻ một kinh nghiệm quý giá “Ubi amatur, non laboratur” (khi ta yêu thì ta không cảm thấy nhọc nhằn).
          Một điều nữa cần làm ngay trong mùa Chay là xét lại cách mình giữ luật: luật Chúa, luật Hội Thánh, luật của cộng đoàn v.v...
          Về việc giữ luật, ta cũng có thể liên tưởng tới một lời dạy khác của Chúa Giêsu “Ai trung tín trong việc nhỏ thì sẽ trung tín trong việc lớn”. (Lc 161,10)
          “Vào một ngày thứ Sáu buộc kiêng thịt, có người tín hữu nọ đi ăn quán. Anh biết quán có món cá nhưng trong lòng thì thích ăn thịt. Thế là anh gọi những món cá mà anh biết chủ quán sẽ trả lời là không có. Rồi anh tự nhủ “Lạy Chúa, Chúa biết đấy, con đã làm hết cách để gọi nhiều thứ cá mà chẳng có. Thôi con đành gọi một tô phở tái để ăn trong ngày thứ sáu buộc kiêng thịt vậy”... Nếu không có lòng yêu mến Chúa thật, chúng ta sẽ dễ tạo ra những cách để tự an ủi và chuẩn miễn khỏi phải tuân giữ luật Chúa, hoặc giải thích Lời Chúa theo sở thích riêng”. 
          Đức Giêsu chính là Đấng Kitô phải đến mà dân Israel đang mong chờ. Ngài đến để hoàn tất mọi lời Thiên Chúa hứa, và để kiện toàn Lề luật. Ngài đến để đưa Lề luật tới ý nghĩa trọn hảo. Kiểu nói: “Một chấm, một phết trong luật cũng không thể qua đi” diễn tả tầm quan trọng của luật: đó là ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã muốn dùng Lề luật để giáo dục con người, thì không có luật gì là nhỏ bé tầm thường. Vì vậy, chúng ta chỉ đạt được sự sống đời đời, khi trung thành tuân giữ luật Chúa và Lời Chúa. Chúng ta giữ luật không vì sợ tội, nhưng vì tình yêu. Trong tình yêu, càng cần sự tế nhị từ những điều nhỏ mọn.
          Chính Đức Giêsu đã trung thành giữ luật cách yêu mến và trung thành. Chỉ khi nào luật không làm cho con người ta tốt hơn, mà ngược lại, nó đè bẹp con người, thì lúc đó Ngài lên tiếng chống đối.
          Hai lối hiểu và hai cách giữ luật khác nhau, nên những nhà lãnh đạo Dothái và Đức Giêsu có sự đối kháng kích liệt. Họ cho rằng Đức Giêsu đến để bãi bỏ lề luật, còn Đức Giêsu thì khẳng định: “Các người đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ các lề luật hay các tiên tri. Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn”.
Nói cách khác, Đức Giêsu vẫn rất tôn trọng luật Cựu Ước, mà cụ thể là trong Ngũ Kinh, vì ở đó chứa đựng ý muốn và lệnh truyền của chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, nhiều lúc, vì họ đã giữ luật theo kiểu mặt chữ, nên không còn tình thương, lòng mến, và luật đã trở thành phương tiện cho người ta hà hiếp, bóc lột và kết án nhau.
          Các luật sĩ và biệt phái giữ luật rất đúng, nhưng giữ “luật vì luật” và kiên định tới mức trở thành câu nệ hình thức cứng nhắc, khắt khe: luật là cứu cánh. Cách sống của họ trong tư cách bậc thầy và mô phạm làm cho mọi người nghĩ rằng đức công chính chỉ gói gọn trong việc chu toàn lề luật: tất cả vì luật. Đức Giêsu lên án cách giữ luật hình thức, vì thế biệt phái và luật sĩ đã liệt Ngài vào hàng tội lỗi, khi cho rằng Ngài có thái độ coi thường, bất tuân luật thánh...
          Lề luật giống như đường rầy giữ cho xe lửa chạy an toàn, hoặc như sợi dây cương giữ cho con ngựa chạy đúng hướng. Bị buộc sống và làm trong khung khổ của lề luật thì hơi khó chịu đấy. Nhưng ta hãy nghĩ đến lý do và mục đích của luật thì sẽ dễ vâng theo hơn. Hơn nữa, ai biết giữ luật vì tình yêu thì tất cả sẽ trở nên nhẹ nhàng.
          Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta rằng: hãy biết giữ luật trong lòng mến. Trung thành yêu mến luật vì nơi đó Thiên Chúa tỏ bày thánh ý của Ngài. Tuy nhiên, giữa việc giữ luật và đời sống phải đi đôi với nhau. Không thể sống theo kiểu “ngôn hành bất nhất” như Luật Sĩ và Pharisêu, vì họ dùng luật của Chúa để triệt hạ nhau khi luật của Chúa đã bị bóp méo. 
Huệ Minh 2023

Thứ Sáu TUẦN 3 CHAY

Mc 12, 28-34

YÊU CHÚA HẾT LÒNG

            Yêu Chúa trong Cựu Ước là thờ lạy, là vâng phục Ngài. Trong Tân Ước, thập giới Sinai vẫn còn giá trị. Yêu Chúa là yêu hết linh hồn, là giữ trọn Lời Chúa, là thực thi Lời Chúa và theo Chúa bằng con đường từ bỏ, và không gì dứt lìa chúng ta ra khỏi Thiên Chúa, cho dù là đau khổ, hoạn nạn, thử thách. Tình yêu mạnh hơn sự chết nữa.

            Vì tâm địa gian ác cũng như muốn tiêu diệt Chúa Giêsu, một Kinh sư đã hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi tương tự, nhưng với sự trong sáng thành thật: “Trong các điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (c.28). Trong khi những Kinh sư khác nhìn Chúa Giêsu như một mối đe dọa thì người đàn ông này thấy nơi Đức Giêsu một cơ hội để học hỏi.

            Vì thế anh ta đặt ra một câu hỏi cách trung thực, cho thấy được mối quan tâm sâu đậm trong lòng mọi người: Có quá nhiều lề luật, nhưng luật nào là trọng tâm? Tinh thần cầu tiến, yêu mến chân lý cách trong sáng vô tư của vị Kinh sư đáng để cho chúng ta học hỏi. Vì trong cuộc sống nhiều khi tính tự tôn, tự đại, đố kỵ đã ngăn không cho chúng ta chân nhận và tìm kiếm những điều tốt lành nơi người khác mà thậm chí còn tìm cách hạ bệ, nói xấu và hủy diệt thanh danh tiếng tốt của họ.

            Hơn nữa trong xã hội hôm nay, khi mà tiếng nói của quyền lực, của ý thức hệ ngày càng gia tăng và độc đoán không màng tới đạo đức luân lý, đồng thời tìm cách đè bẹp chân lý thì tác hại sẽ nghiêm trọng đến mức nào. Do đó hơn bao giờ hết, người Kitô hữu được mời gọi sống tinh thần cầu tiến, yêu mến chân lý, sẵn sàng bảo vệ và làm chứng cho chân lý hầu mưu cầu lợi ích cho Giáo hội và xã hội.

            Câu hỏi của vị Kinh sư trong trình thuật đã phản ánh một trái tim đang tìm cách nắm bắt một nguyên tắc duy nhất đơn giản nằm dưới sự phức tạp của luật pháp. Điều răn cơ bản nào có thể mang lại ý nghĩa cho tất cả các luật lệ và quy định nhỏ hơn của đời sống tôn giáo? Có một chìa khóa nào có thể giải phóng câu đố của cuộc sống của chúng ta và hướng dẫn chúng ta thông qua những trở ngại xung quanh và bên trong chúng ta? Tất cả chúng ta đều khao khát trả lời những câu hỏi này.

            Thật thế, có những người băn khoăn bối rối giữa hàng đống lề luật, bổn phận phải thi hành; ví dụ như mẹ già tôi đang lên cơn sốt và bây giờ đã đến lúc tôi phải đi lễ Chúa Nhật chẳng hạn thì tôi sẽ phải làm gì? Chắc chúng ta vẫn nhớ lời Chúa Giêsu “Khi các người làm những điều tốt lành cho những người anh em là các ngươi làm cho chính ta” (Mt 25, 31 - 46); hoặc chúng ta cũng có thể nhớ lại câu chuyện về người Samaritano tốt lành (Luca 10, 25 - 37). Hay khi công sở chúng ta có đại hội quan trọng, hoặc khi chúng ta phải làm bài thi kiểm tra vào ngày lễ buộc…. Chúng ta phải biết sắp xếp. Quan trọng là chúng ta phải có lòng thành, phải biết “Tìm kiếm nước Thiên Chúa trước hết, còn mọi sự khác Người sẽ ban cho sau.” (Mt 6, 33)

            Lệnh truyền yêu mến Thiên Chúa và yêu người anh em mà Chúa Giêsu trả lời cho vị Kinh sư cũng như dạy cho tất cả mọi người không chỉ là một yêu cầu hay một bổn phận. Không ai có thể yêu đơn giản chỉ vì anh được bảo làm như thế! Nhưng bởi vì tình yêu là lẽ sống, là con đường đưa tới hạnh phúc cho con người. Nói cho cùng, yêu mến Thiên Chúa là một đặc ân, một mối quan hệ mà Thiên Chúa khởi xướng khi chúng ta chịu phép rửa, và nó phát triển, lớn lên khi chúng ta chấp nhận Lời của Ngài, và mở lòng ra cho tình yêu của Ngài. Nó phát triển khi chúng ta sắp xếp ý chí của chúng ta trung thành với những điều răn lớn nhất này, đồng thời đưa ra những quyết định hàng ngày để phản ánh tình yêu bằng lời nói và hành động của chúng ta.

            Một số người ‘đạo đức’ cho rằng yêu Chúa rất dễ vì chỉ cần đọc kinh nhiều là được, còn yêu người lại khó vì con người ‘bách nhân bách tính’ khó mà hòa hợp. Một số người lại cho rằng yêu Chúa thật khó vì Chúa tôi chẳng nhìn thấy để mà yêu, còn yêu tha nhân dễ hơn vì tôi có thể nhìn thấy và đụng chạm tới họ. Cả hai quan niệm đều ‘có lý’ nhưng chưa phải là ‘chân lý’.

            Thật ra yêu Chúa không chỉ là đọc kinh cầu nguyện nhiều, như Tin mừng Đức Giêsu có nói: “Không phải cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa là được vào nước trời mà là kẻ ‘nghe và thực hành lời Thiên Chúa” (Mt 7, 21); đồng thời Thiên Chúa chẳng ở đâu xa, chỉ cần mở lòng mình ra một chút, vận dụng trí óc một chút, ta có thể thấy Thiên Chúa sống động qua thiên nhiên, vũ trụ, qua các kỳ công của Người, và nhờ đức tin vào Lời Chúa dạy thì tha nhân chính là hình ảnh sống động của Thiên Chúa và Thiên Chúa đã muốn đồng hóa mình với họ (Mt 25, 31 - 46).

            Tuy nhiên điều quan trọng trong việc yêu mến tôn thờ Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực hệ tại ở việc chúng ta luôn biết yêu mến, kiếm tìm và thực thi thánh ý Chúa, thực thi điều Chúa dạy. Và tất nhiên khi đã yêu mến Chúa thì chúng ta sẽ yêu tha nhân như chính mình vì đó là điều Chúa muốn và dạy chúng ta phải thi hành.       

            Bao lâu chúng ta chưa dám từ bỏ mình để theo hẳn Chúa, bao lâu chúng ta chưa dám đặt Chúa lên chỗ của Ngài, chưa để Chúa lên phần hơn của Ngài thì chúng ta dễ dàng từ bỏ Ngài, nghĩa là sẵn sàng ghét Ngài và phản bội Ngài. Bao lâu chúng ta chưa chịu trở thành đầy tớ, người con của Ngài, chưa chịu trở thành vật sở hữu của Ngài như một trái banh dưới chân cầu thủ thì bấy lâu chúng ta vẫn mang kiếp sống èo ọt, ngất ngư trong một tình trạng phân hóa thác loạn.

            Chúa Giêsu đã cách mạng hóa nhân loại bằng tình yêu hết cỡ của Ngài. Ai bằng lòng đi theo Ngài là lập tức bước vào ngay con đường tình yêu trải rộng ấy. Cũng chính nhờ tình yêu mà chúng ta đang sống và đang phục vụ. Cũng chính vì tình yêu mà chúng ta được giao tế và liên hệ với Ngài và anh em của Ngài. Không còn gì thúc đẩy chúng ta hơn tình yêu nữa đâu.

            Và rồi ta thấy tình yêu của Chúa đồng nghĩa với những hy sinh, từ bỏ, thiệt thòi, can đảm, tha thứ, dâng hiến... tất cả những đức tính đó phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta đang nói chuyện với nhau hôm nay đây không ngoài mục đích nào khác là mời nhau nhận ra tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa qua anh em trong giữa mùa Chay này.

Thứ Bảy TUẦN 3 CHAY

Lc 18, 9-14

ĐỪNG TỰ CAO TỰ ĐẠI

            Với Tin Mừng hôm nay, để dạy chúng ta cách cầu nguyện, Chúa Giêsu kể dụ ngôn về người Biệt Phái và người thu thuế. Chúa Giêsu có một cách nhìn khác khi trông thấy các sự việc. Người nhìn thấy điều gì đó tích cực trong người thu thuế, kẻ mà mọi người nói rằng: “Hắn ta không biết cách cầu nguyện!” Chúa Giêsu, qua lời cầu nguyện, đã sống rất hiệp nhất với Chúa Cha đến nỗi mà tất cả mọi thứ đã trở thành biểu hiện sự cầu nguyện của Người.

            Khi đọc sách Tin Mừng Luca, bạn có thể tìm thấy các lời khác nói về việc cầu nguyện của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu sống trong liên kết với Chúa Cha. Thi hành ý muốn của Chúa Cha là hơi thở của cuộc đời của Chúa Giêsu (Ga 5, 19). Chúa Giêsu cầu nguyện rất nhiều và, được nhấn mạnh để cho dân chúng và các môn đệ của Người sẽ làm như vậy, bởi vì từ sự hiệp nhất với Thiên Chúa phát sinh ra chân lý và người ta có thể khám phá và tìm được chính mình, trong mọi thực tế và lòng khiêm tốn. Trong cầu nguyện, Chúa Giêsu đã mật thiết gắn bó với sự kiện cụ thể của đời sống và với các quyết định mà Người phải làm.

            Để trung thành với chương trình của Chúa Cha, Người đã tìm cách gặp gỡ riêng với Ngài để lắng nghe lời Ngài. Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thánh Vịnh. Người đã làm như bất kỳ người Do Thái sùng đạo khác và Người thuộc lòng chúng.

            Thậm chí Chúa Giêsu đã thành công trong việc sáng tác bài Thánh Vịnh của riêng mình. Đó là Kinh Lạy Cha. Cả cuộc đời của Chúa là lời cầu nguyện thường trực: “Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm!” (Ga 5, 19, 30). Đối với Người có thể ứng dụng với những gì Thánh Vịnh đã nói: “Phần con, con chỉ biết cầu nguyện!” (Tv 109, 4).

            Cầu nguyện là chìa khoá của tự do. Một tâm hồn khao khát tự do đích thực là một tâm hồn biết cầu nguyện. Chúa Giêsu như muốn minh hoạ cho chân lý ấy qua dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện: Một người Biệt phái lên giữa đền thờ đứng thẳng cầu nguyện, còn người thu thuế không dám ngước mặt lên, nhưng cúi mình đấm ngực nói lên nỗi khốn cùng tội lỗi của mình. Chúa Giêsu tuyên bố người thu thuế ra về được tha tội, còn người Biệt phái vẫn tiếp tục ù lì trong sự tự phụ của mình. Phải chăng Chúa Giêsu không muốn nói với chúng ta rằng câu chuyện đích thực chính là nỗi khao khát được thoát khỏi những thứ nô lệ đang trói buộc tâm hồn con người.

            Thánh Luca cho biết, Chúa Giêsu kể dụ ngôn này nhắm đến những người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác khi câu nguyện. Ông Pharisêu ấy nghĩ rằng, ông được nên công chính nhờ những việc ông làm, nên sinh ra kiêu ngạo mà coi khinh người khác (c.11). Nhưng ông quên rằng con đường đích thực để nên công chính không phải là nhờ công trạng của ông mà là nhờ vào ân sủng của Thiên Chúa.

            Con đường này được Thiên Chúa vạch ra và hoàn thành qua Con Một yêu dấu của Ngài là Đức Giêsu Kitô: “Người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô” (Rm 3, 22). Thế nên Chúa Giêsu khẳng định: người thu thuế, khi trở xuống mà về nhà, thì được nên công chính; còn người Pharisêu thì không (c.14).

            Sự kiêu căng tự mãn nó cũng che khuất con mắt của người biệt phái hôm nay, anh ta lên đền thờ với tư thế hiên ngang tự đắc, anh nghĩ rằng các thành tích anh đã làm khiến cho Thiên   Chúa phải “nể” anh và mắc nợ anh. Thực sự người biệt phái này không hề cầu nguyện, mà anh đang làm một bản báo cáo thành tích của chính mình và kể lể công trạng trước mắt Chúa: Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười thu nhập hằng ngày. Việc làm ấy quá tốt, vượt trên cả luật lệ quy định về ăn chay, thế nhưng, anh ăn chay không phải để đền tội hy sinh, cũng không phải để chuẩn bị đón Đấng Mesia như ý nghĩa ban đầu của nó, mà anh ăn chay và giữ luật chỉ để cho thấy anh hơn người khác. Chính vì thế, ngay từ lời mở đầu anh đã có ý so sánh mình với người khác: Lạy Chúa tôi tạ ơn Chúa vì tôi không như bao kẻ khác, tham lam bất chính, ngoại tình hay như tên thu thuế kia.

            Không chỉ so sánh công trạng của mình với ngưới khác, nhưng anh còn tỏ vẻ khinh miệt người thu thuế kia, và cứ như anh đã nói, thì có thể thấy anh coi nhưng người khác là những người tội lỗi và phạm những cái tội mà anh không hề phạm, chứng tỏ anh tốt hơn họ rất nhiều, anh thầm muốn nói điều đó qua lời cầu của mình.

            Trong khi đó, người thu thuế nhận ra tình trạng khốn khổ tội nghiệp tội lỗi bất xứng của mình, anh không dám ngửa mắt lên trời, mà chỉ đấm ngực cầu nguyện với lòng sám hối chân thành: Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Anh không dám kể lể gì, vì anh thấy mình chẳng có công trạng gì, anh đã nhìn thấy sự thiếu sót khiếm khuyết và tội lỗi của mình, anh biết rằng vì nghề nghiệp, vì cuộc sống mà anh đã phải làm một cái nghề bị xã hội đương thời kết án là ô uế tội lỗi, vì anh đã thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều người và vì sự cuốn hút của đồng tiền khiến anh cũng không thể cầm lòng được.

            Chính vì ý thức và nhìn thấy thực trạng con người của mình trước mặt Chúa và trước mặt mọi người, nên anh chỉ còn biết kêu xin lòng thương xót và sư tha thứ của Thiên Chúa.

            Chúa Giêsu nói dụ ngôn này với những người hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác! Câu nói này là của thánh Luca. Nó chỉ về thời đại của Chúa Giêsu. Nhưng nó cũng chỉ về thời đại của chúng ta. Luôn có những người và những nhóm người tự hào mình là người công chính và ngoan đạo và hay khinh bỉ kẻ khác, coi họ là những kẻ kém hiểu biết và bất trung.

            Mùa Chay là trường dạy cầu nguyện. Giáo Hội mời gọi chúng ta gia tăng cầu nguyện, điều đó có nghĩa là chẳng những dành nhiều thời giờ cho cầu nguyện, mà nhất là thanh luyện thái độ chúng ta trong khi cầu nguyện, lời cầu nguyện đích thực trong mùa chay phải là thái độ sám hối. Khởi đầu của cầu nguyện ấy là mọi nhận thức sâu xa về thân phận, tội lỗi của chúng ta và từ đó nói lên tất cả tín thác của chúng ta vào tình yêu tha thứ của Chúa. Lòng tin thác ấy sẽ xóa tan mọi tội lỗi và mang lại cho chúng ta tự do đích thực của con cái Chúa.

Huệ Minh 2020

March 14, 2023