Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 4 mùa chay, năm A

 

+++19.3. Chúa Nhật  Chúa Nhật thứ Tư Mùa Chay năm A-2023

1 Sm 16:1,6-7,10-13; Tv 23:1-3,3-4,5,6; Ep 5:8-14; Ga 9:1-41; Ga 9:1,6-9,13-17,34-38

Xin Chúa chữa cho ta khỏi mù

Tin mừng hôm nay nói đến rất nhiều nhân vật nhưng chỉ có một người là sáng mắt thực sự. Người có mắt sáng là người biết nhìn nhận sự việc đúng sự thật. Người sáng mắt không lệch lạc về quan điểm, về sự việc. Người sáng mắt biết nhận định đúng về những gì đang diễn ra chung quanh. Đó là anh mù từ thuở mới sinh. Anh mù về thể xác nhưng sáng về tinh thần. Anh đã dám nhìn nhận sự thật cho dù vì đó mà anh bị trục xuất khỏi cộng đoàn. Anh đã công khai nói lên niềm tin của mình vào Đấng đã chữa lành cho anh. Cho dù anh gặp nhiều sự chống đối, nhiều hiểm nguy nhưng anh vẫn phải nói đúng sự thật về những gì đã diễn ra trong cuộc đời anh.

Nhưng tiếc thay nhiều người mắt sáng nhưng lại tối tâm hồn. Đó là các biệt phái đầy kiêu căng đã không thể nhìn thấy quyền năng của Chúa đang hiển thị trước mặt các ông. Đó là cha mẹ của anh mù vì sợ hãi đã lẩn trốn sự thật, không dám nói đúng sự thật cũng đồng nghĩa chấp nhận mình mù loà giữa đời. Người biệt phái vì lòng ghen ghét mà họ đã có cái nhìn lệch lạc về việc làm của Chúa Giêsu. Cha mẹ anh mù vì cầu an nên thiếu trách nhiệm với con và với người đã cứu con mình. Xem ra bệnh mù về tâm hồn có muôn vàn nguyên nhân dẫn đến mù loà. Và xem ra bệnh mù thể xác thì ít hơn bệnh mù về tinh thần. Bởi lẽ, mỗi một cách sống sai với lương tri con người đều được coi là căn bệnh mù loà của tâm hồn

Có những người mắt sáng nhưng lại nhìn sự vật qua lăng kính của những tư tưởng sai lầm, do đó đã trở thành mù. Một sự mù quáng còn trầm trọng và tai hại hơn cả cái mù nơi thể xác, vì nó khép kín tâm hồn trước tình thương và ơn sủng của Chúa. Đó là trường hợp của bọn Biệt phái trong đoạn Tin Mừng sáng hôm nay.

Thực vậy, đầu mối câu chuyện chỉ vì Chúa Giêsu đã chữa lành cho một người mù vào đúng ngày nghỉ lễ. Luật về ngày nghỉ lễ do bọn Biệt phái chủ trương cấm làm những việc Chúa Giêsu đã làm. Thế nhưng Chúa Giêsu đã làm điều cấm ấy, cho nên Ngài chỉ là một kẻ tội lỗi. Mà đã tội lỗi, thì không thể nào là người bởi Thiên Chúa, do đó không thể làm được phép lạ.

Cái lý luận chặt chẽ ấy đã che mắt họ, không cho họ nhận biết điều lạ lùng đang xảy ra. Được đặt trước sự thực, nhưng họ lại tìm cách chối bỏ sự thực ấy: Kẻ được chữa lành không phải là người mù họ thường thấy, nhưng chỉ là một người giống như hắn. Họ đã muốn phủ nhận ngay chính người được chữa lành. Họ hạch hỏi và làm khó dễ cả người cha lẫn người mẹ. Bản thân anh cũng bị tra hỏi, tất cả như muốn anh chối bỏ chính cái ơn huệ, chính cái thực tế diễn ra nơi con người anh.

Thế nhưng cuộc hạch hỏi này lại cho chúng ta thấy người sáng suốt lại chính là anh mù. Còn kẻ mù lại là bọn Biệt phái, vốn tự nhận mình là thông suốt đạo lý và lề luật. Anh mù đã muốn đi từ thực tế không thể chối cãi được, tìm hiểu về con người đã làm phép lạ, để rồi cuối cùng anh không phải chỉ được chữa để nhìn thấy sự vật chung quanh, mà còn được nhận biết ánh sáng của niềm tin, nhìn nhận Chúa Giêsu chính là Đấng từ trời đến, để thông chia cho mọi người sự sống Thiên Chúa.

Trong khi đó bọn Biệt phái lại muốn đi từ một cách hiểu về đạo giáo của họ để phán xét sự thật. Vì họ đã sai lầm trong cách hiểu và lý luận của mình, nên họ đã bị bưng bít, không thể nhận ra được sự thật, cũng như ý nghĩa của sự thật ấy.

Chúa Giêsu đã đảo ngược các hoàn cảnh. Người mù tin ở Ngài thì được khỏi và được dẫn đến chỗ nhìn nhận mạc khải của Chúa. Trái lại những kẻ vẫn tự khoe là thông thái và sáng suốt thì lại không thấy được Đấng đem ánh sáng cứu rỗi đến cho con người. Họ tự giam mình trong tối tăm của sự chết.

Như vậy, hai giai đoạn trong dấu lạ chữa lành người mù từ thuở mới sinh của Chúa Giêsu được lên đến cao trào khi anh mù tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu. Việc tuyên xưng niềm tin ấy là một dấu hiệu cho thấy anh mù được chữa trị tận căn bệnh của mình. Chúa Giêsu đã mở mắt cho anh nhìn thấy con đường dương gian, nhưng trên hết và tuyệt vời nhất là Ngài cho anh nhìn thấy con đường đưa đến sự sống vĩnh cửu. Tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu là mở ra cho Anh con đường sống mãi mãi.

Đây cũng là hoàn cảnh của chúng ta. Thực vậy, một cản trở không nhỏ trên con đường đến với Chúa và nhận ra tiếng Ngài trong những biến cố của cuộc sống đó là cứ bám víu vào những tiên kiến và tự mãn với những điều chúng ta đã biết, bằng sự rập khuôn và óc câu nệ. Tất cả tạo nên một thứ hàng rào kiên cố ngăn cản chúng ta tiếp cận với sự thật để được cứu rỗi. Những người thủ cựu và cố chấp giống như những kẻ đeo cặp kính màu xám, thì nhìn cái gì cũng hoá ra xám. Họ giống như những anh mù sờ voi, phùng má trợn mắt bảo vệ lập trường của mình, mà chẳng ai nắm được sự thật.

“Thà thắp nên một ngọn nến, còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối”. Chúa Giêsu đến và làm cho anh được thấy ánh sáng. Nhưng hành động của Chúa Giêsu đã tạo nên xáo trộn. Tất cả đều bị lôi cuốn vào một cuộc tranh tụng sôi nổi. Họ đã chứng kiến phép lạ nhưng sự việc xảy ra không đúng lúc, bởi vì là ngày Sabát. Đàng khác một số người lại nghĩ rằng, một kẻ tội lỗi không thể làm dấu lạ! Người mù đã được sáng mắt. Đó là sự thực hiển nhiên không thể chối cãi, nhưng không ai dám tin vào mắt của mình. Cha mẹ của anh mù thì tìm cách thoái thác, tránh né. Anh mù thì quả quyết rằng, Chúa Giêsu là một tiên tri.

Bài Tin Mừng cũng phản ảnh hình ảnh thực tế của cuộc sống con người ngày nay! Chúng ta có mắt nhưng nhiều khi giống như kẻ đui mù. Nhiều người đi ngang qua nhìn thấy anh mù nhưng làm ngơ giống như không hề nhìn thấy. Tương tự như thế, chúng ta chỉ để mắt nhìn những gì chúng ta muốn, chúng ta chỉ quan tâm đến những người chúng ta có cảm tình. Dĩ nhiên trong ngày có rất nhiều hình ảnh đập vào mắt, đặc biệt qua mạng lưới truyền hình với kỹ thuật tân tiến hiện nay. Chúng ta phải chọn lựa nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào đây? Đam mê dễ biến thành cực đoan, tình yêu cũng có thể thành mù quáng! Nhiều người vẫn tự hào nhìn nhận mình thuộc thành phần trí thức, gia đình gia giáo nhưng không bao giờ để tâm chú ý tới những cảnh bất công, bần cùng bên lề đường, những kẻ sống trong cảnh man rợ đáng sợ hơn cảnh mù loà gấp ngày lần. Đó chính là thái độ sống của những kẻ nghĩ rằng mình là kẻ sáng mắt, nhưng trong thực tế còn tệ hơn kẻ đui mù.

Người mù đã được Chúa Giêsu chữa lành nhưng đồng thời cũng lột trần bộ mặt thật của những người chung quanh. Anh đã làm chứng tá cho Chúa Giêsu. Người chính là ánh sáng đích thực, có sức làm tan biến lớp sương mù dầy đặc che phủ tầm mắt của chúng ta. Qua bí tích Rửa tội Chúa Giêsu đã ban tặng cho chúng ta một cặp mắt lành mạnh. Nhờ đó chúng ta có thể khám phá những khía cạnh tốt đẹp nơi người anh em sống bên cạnh chúng ta. Con mắt là cửa sổ của linh hồn. Chúng ta chỉ nhìn và khám phá ra thế giới muôn màu ở chung quanh với con mắt đầy tình thương, với con mắt của đức tin, của tâm hồn.

Mù loà thể xác đã là một bất hạnh không ai mong đợi, nhưng mù loà tâm hồn còn là một tai hoạ khủng khiếp nhất. Người ta có thể trở nên mù loà khi cố chấp không đón nhận sự thật: Sự thật về cái yếu đuối bất toàn của mình, sự thật về một Đức Kitô bởi Thiên Chúa mà đến, Đấng là Ánh sáng thế gian. Chính Người đã tuyên bố: “Sự thật sẽ giải thoát chúng con” (Ga 8,32). Sự thật chính là Đức Kitô và những gì Người đã loan báo. Tin vào sự thật là tin rằng Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi mù lòa thiêng liêng. Tin vào sự thật là tin rằng Người là Ánh sáng thế gian. Tin vào sự thật là sẵn sàng bước theo Ánh sáng của Người.

Xin thương mở mắt tâm hồn ta như Chúa đã mở mắt người mù bẩm sinh được thuật lại trong Tin Mừng hôm nay để ta được thoát khỏi tối tăm lầm lạc và được hoan hỉ bước đi trong ánh sáng Tin Mừng.

Chúa nhật IV Mùa Chay 2020

Ga 9, 1-41

XIN CHÚA CHỮA MÙ CHO TA

            Mù là một chứng bệnh gây nhiều đau khổ thiệt thòi, buồn tủi và nguy hiểm cho bệnh nhân. Người mù suốt đời, ngày cũng như đêm ở trong tối tăm, không xem thấy ánh sáng, không thể nhìn ngắm cảnh đẹp thiên nhiên, màu sắc của vạn vật cũng như nét mặt xinh tươi của người thân yêu. Đó là những thiệt thòi rất lớn làm giảm thiểu sinh lực và hạnh phúc của cuộc đời.

            Người mù thường mặc cảm, coi mình là vô dụng, ăn bám và phải cậy nhờ người khác trong mọi sự, đi phải có người dắt, ăn phải có người đem đến tận tay, có khi liều mình gặp nguy hiểm sa lửa, sa nước, va chạm, vấp ngã thiệt đến tính mạng.

            Mù là chứng bệnh gây đau khổ thiệt thòi cho bệnh nhân như vậy. Đàng khác, mù cũng là chứng bệnh nan y bất trị, ngày nay khoa học đã tiến bộ rất nhiều, người ta chữa được nhiều bệnh trước kia không thể điều trị, dù vậy, người ta chưa tìm được phương thuốc nào làm cho người mù sáng mắt.

            Người có mắt sáng là người biết nhìn nhận sự việc đúng sự thật. Người sáng mắt không lệch lạc về quan điểm, về sự việc. Người sáng mắt biết nhận định đúng về những gì đang diễn ra chung quanh. Đó là anh mù từ thuở mới sinh. Anh mù về thể xác nhưng sáng về tinh thần. Anh đã dám nhìn nhận sự thật cho dù vì đó mà anh bị trục xuất khỏi cộng đoàn. Anh đã công khai nói lên niềm tin của mình vào Đấng đã chữa lành cho anh. Cho dù anh gặp nhiều sự chống đối, nhiều hiểm nguy nhưng anh vẫn phải nói đúng sự thật về những gì đã diễn ra trong cuộc đời anh.

            Với trang Tin Mừng vừa nghe,  ta thấy anh mù là một người can đảm và đầy thiện chí. Mặc dù ít học, nhưng lời lẽ của anh thật là khôn ngoan. Tâm hồn anh luôn rộng mở để đón nhận chân lý và luôn cố gắng thực hiện những điều tốt lành, cho dù có gặp phải những phức tạp và phiền toái. Ngoài ra anh còn có một chút châm biến đối với những kẻ rình rập bắt lỗi anh.

            Trong khi đó cha mẹ anh lại không muốn dây dưa vào câu chuyện xảy ra. Hai ông bà đã trả lời một cách khôn khéo cho bọn biệt phái: Xin hãy hỏi cháu vì cháu nó đã có tuổi. Chủ đích của hai ông bà không phải là tìm kiếm sự thật, nhưng là tránh đi những khó dễ gặp phải.

            Theo ý nghĩa tượng trưng, trong phạm vi thiêng liêng, bệnh mù về tinh thần là tình trạng mê muội của những người sống trong tội lỗi và tình trạng mù quáng của những kẻ cố chấp. Vậy hình thức thứ nhất của bệnh mù về tinh thần là tội lỗi, nó che lấp mắt linh hồn làm cho linh hồn không nhận ra Chúa và cũng chẳng nhận ra thánh ý Chúa.

            Vì thế, Kinh Thánh gọi những người sống trong tội lỗi như ngồi trong chỗ tối tăm, ngồi trong bóng đêm, ngồi trong bóng sự chết. Một hình thức khác của bệnh mù tinh thần là sự cố chấp, tức là bảo thủ trong sự lập luận sai lầm hay càn dở của mình và nhất định không chịu phục thiện. Chính vì thế mà nhiều lần Chúa Giêsu đã gọi những người Pharisêu là những kẻ mù quáng, bài Tin Mừng hôm nay là một điển hình. Chúa đã nói: "Tôi đến thế gian này chính là để những kẻ không xem thấy thì được xem thấy, còn những kẻ xem thấy sẽ trở nên đui mù". Chúng ta thường nói về những người cố chấp: "Không ai điếc nặng cho bằng kẻ không muốn nghe", thì chúng ta cũng có thể nói về những người mù tinh thần: "Không ai mù quáng nặng cho bằng kẻ mở mắt mà không muốn xem".

            Đúng lúc đau đớn nhất Chúa Giêsu lại xuất hiện. Như để khen thưởng cho đức tin kiên vững của anh. Chúa Giêsu tỏ cho anh biết Người là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa. Lập tức anh quỳ sấp mặt xuống thờ lạy Người. Hành trình niềm tin gian khổ thế là chấm dứt. Anh đã gặp được Chúa Kitô.

            Người mù đã được Chúa Giêsu chữa lành nhưng đồng thời cũng lột trần bộ mặt thật của những người chung quanh. Anh đã làm chứng tá cho Chúa Giêsu. Người chính là ánh sáng đích thực, có sức làm tan biến lớp sương mù dầy đặc che phủ tầm mắt của chúng ta. Qua bí tích Rửa tội Đức Giêsu đã ban tặng cho chúng ta một cặp mắt lành mạnh.

            Nhờ đó chúng ta có thể khám phá những khía cạnh tốt đẹp nơi người anh em sống bên cạnh chúng ta. Con mắt là cửa sổ của linh hồn. Chúng ta chỉ nhìn và khám phá ra thế giới muôn màu ở chung quanh với con mắt đầy tình thương, với con mắt của đức tin, của tâm hồn.

            Ta thấy niềm tin tăng dần theo với thử thách. Thử thách càng cao, đức tin càng mạnh. Thoạt tiên, anh coi Chúa Giêsu chỉ là một con người, một người nào đó trong muôn vạn người: "Một người tên là Giêsu đã xức bùn vào mắt tôi". Những câu hỏi của đám đông, những tra vấn của Pharisêu khiến anh suy nghĩ sâu xa hơn và anh nhận rằng: "Ngài thật là vị tiên tri". Khó khăn bắt bớ của giới chức tôn giáo thời đó lại khiến anh khẳng định: "Người từ Thiên Chúa mà đến". Và sau cùng anh đã nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

            Tiếc thay nhiều người mắt sáng nhưng lại tối tâm hồn. Đó là các biệt phái đầy kiêu căng đã không thể nhìn thấy quyền năng của Chúa đang hiển thị trước mặt các ông. Đó là cha mẹ của anh mù vì sợ hãi đã lẩn trốn sự thật, không dám nói đúng sự thật cũng đồng nghĩa chấp nhận mình mù loà giữa đời. Người biệt phái vì lòng ghen ghét mà họ đã có cái nhìn lệch lạc về việc làm của Chúa Giêsu. Cha mẹ anh mù vì cầu an nên thiếu trách nhiệm với con và với người đã cứu con mình. Xem ra bệnh mù về tâm hồn có muôn vàn nguyên nhân dẫn đến mù loà. Và xem ra bệnh mù thể xác thì ít hơn bệnh mù về tinh thần. Bởi lẽ, mỗi một cách sống sai với lương tri con người đều được coi là căn bệnh mù loà của tâm hồn.

            Qua câu chuyện này, chỉ vì Chúa Giêsu đã chữa lành cho một người mù vào đúng ngày nghỉ lễ. Luật về ngày nghỉ lễ do bọn Biệt phái chủ trương cấm làm những việc Chúa Giêsu đã làm. Thế nhưng Chúa Giêsu đã làm điều cấm ấy, cho nên Ngài chỉ là một kẻ tội lỗi. Mà đã tội lỗi, thì không thể nào là người bởi Thiên Chúa, do đó không thể làm được phép lạ.

            Chúng ta là những người rất diễm phúc. Diễm phúc vì được Chúa ban cho đôi mắt lành lặn, một đôi mắt sáng. Ta hãy cám ơn Chúa về ân huệ đó. Tuy nhiên, đôi mắt thể xác của chúng ta sáng nhưng có thể đôi mắt tinh thần, đôi mắt tâm hồn, đôi mắt đức tin của ta bị mù loà; như Chúa Giêsu nói với những người Pharisêu: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù" (Ga 9, 39).

            Mù loà thể xác đã là một bất hạnh không ai mong đợi, nhưng mù loà tâm hồn còn là một tai hoạ khủng khiếp nhất. Người ta có thể trở nên mù loà khi cố chấp không đón nhận sự thật: Sự thật về cái yếu đuối bất toàn của mình, sự thật về một Đức Kitô bởi Thiên Chúa mà đến, Đấng là Ánh sáng thế gian.

            Ta thấy chính Chúa Giêsu đã tuyên bố: "Sự thật sẽ giải thoát chúng con" (Ga 8, 32). Sự thật chính là Đức Kitô và những gì Người đã loan báo. Tin vào sự thật là tin rằng Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi mù lòa thiêng liêng. Tin vào sự thật là tin rằng Người là Ánh sáng thế gian. Tin vào sự thật là sẵn sàng bước theo Ánh sáng của Người.

 

Thứ hai

Ga 4, 5-42

NGUỒN NƯỚC HẰNG SỐNG

            Nước quan trọng và cần thiết cho cuộc sống, cho vũ trụ như thế, nên hôm nay Lời Chúa cũng đề cập đến hình ảnh nguồn nước, nhưng không chỉ đơn thuần là nước tự nhiên, mà là nước đem lại sự sống đời đời.

            Và rồi ai trong chúng ta cũng biết: Nước cần thiết cho sự sống và nước là nguồn phát sinh sự sống. Các nhà khoa học đang hy vọng tìm thấy dấu vết của nước trên sao Hỏa, và khi đã tìm ra được nước, thì hy vọng người ta sẽ tìm ra sự sống trên đó. Lịch sử cũng cho thấy các nền văn minh trên thế giới đếu bắt nguồn từ những dòng sông như : Văn minh sông Nil, văn minh Lưỡng Hà, văn minh sông Hằng, ở Việt Nam có nền văn minh sông Hồng, sông Đồng Nai.

            Gần đây ta thấy có nhiều cuộc tranh chấp giữa các quốc gia cũng có liên quan đến việc tranh chấp nguồn nước như vùng sông Giođan, các nước vùng sông Mêkông. Đối với con người, 90% trong cơ thể là nước, vì thế người ta có thể nhịn ăn nhiều ngày, nhưng không thể nhịn khát lâu ngày được.

            Ta thấy dân Israel đã trải qua kinh nghiệm thế nào là thiếu nước uống, khi họ hành trình trên sa mạc. Cái nắng và gió của sa mạc làm cho cơ thể mất nước mau chóng, nếu không có nước bổ sung kịp thời thì chắc chắn sẽ chết. Thế nhưng vấn đề trong câu chuyện Xuất Hành cho thấy,  sở dĩ dân Do Thái muốn nổi loạn là vì họ quá khát, mà không phải chỉ một vài người mà cả một đoàn dân đông đúc cùng với súc vật, vì thế họ như nhìn thấy cái chết chắc chắn trước mắt.

            Cũng chính vì lý do này mà họ nổi loạn phản đối ông Môsê: Tại sao ông dẫn chúng tôi vào trong sa mạc để chúng tôi chết khát thế này? Những lời kêu trách như thế thể hiện sự mất kiên nhẫn và thiếu lòng tin ở nơi họ, mặc dù từ khi đưa dân ra khỏi Ai cập, Thiên Chúa đã làm biết bao phép lạ để bảo vệ họ, vậy mà họ vẫn nghi ngờ không tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa.

            Một lần nữa để chiều lòng họ, và để cho họ thấy rằng Thiên Chúa luôn hiện diện bên họ, nghe tiếng họ kêu cầu và có thể biến những cái không thể thành có thể, Ngài không làm cho mạch nước phát xuất từ lòng đất, nhưng Ngài lại truyền cho Môsê dùng gậy đập lên tảng đá, và nước từ tảng đá chảy ra cho dân và súc vật uống thỏa thuê. Một tảng đá tưởng như khô cằn, mà lại trở thành mạch nước !

            Qua trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói đến một mạch nước khác, mạch nước này phát xuất từ trong tâm hồn những người tin và đón nhận Ngài. Câu chuyện xảy ra tại bờ giếng Giacóp khi Chúa Giêsu gặp người phụ nữ xứ Samaria. Ngài khởi đầu câu chuyện bằng lời xin : “Chị cho tôi một miếng nước uống ! ”  Với sự mở đầu này, Chúa Giêsu đã phá vỡ bức tường nghi kỵ ngăn cách mà người Do Thái đã dựng lên giữa họ và người Samaria, khiến cho người phụ nữ kia không khỏi ngạc nhiên : “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samaria nước uống?”.

            Từ việc là một người xin nước uống, qua câu chuyện, Chúa Giêsu đã chỉ cho chị thấy Ngài là Đấng sẽ ban một thứ nước hằng sống. Tuy nhiên người phụ nữ đã không dễ dàng hiểu được ý nghĩa của lời Chúa Giêsu nói, chị ta vẫn chỉ nghĩ đến dòng nước dưới giếng, và chị tự hào vì cái giếng này đã cung cấp nước cho tổ phụ Giacóp, cho con cháu, súc vật và còn cho đến lúc này. Nhưng Chúa Giêsu đã mạc khải rõ hơn : “Ai uống nước giếng này thì vẫn còn khát, còn ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ còn khát nữa, vì nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời”. Người phụ nữ liền xin: “Xin cho tôi thứ nước ấy để tôi hết khát”. 

            Đến đây, thánh Gioan đã chỉ cho thấy Chúa Giêsu, lúc đầu, Ngài là người xin nước uống, và bây giờ thì người phụ nữ lại là người xin nước từ nơi Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu lại là người ban nước ấy.

            Chúa Giêsu đã đưa người phụ nữ Samari đi một bước xa hơn khi Ngài đụng chạm đến cái khát khao từ trong lòng của chị, khi Ngài nói với chị: “Chị đi gọi chồng chị rồi trở lại đây”. Chị ta đã phải thú nhận : “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu chỉ cho chị biết chị đã có năm đời chồng, nhưng vẫn không thỏa mãn, và hiện nay chị đang chung sống với một người đàn ông khác không phải là chồng chị. Cái khát khao tìm kiếm thỏa mãn xác thịt và dục vọng sẽ chẳng bao giờ được lấp đầy, và nó còn phản ánh một lối sống tự do buông thả của con người nơi người phụ nữ này.

            Nguyên nhân sâu xa của lối sống buông thả này, đó là vì họ không còn đặt Thiên Chúa làm trọng tâm của cuộc đời, và không đón nhận được sức sống mới từ Thiên Chúa. Cái khao khát thèm muốn của người phụ nữ này thể hiện cái khao khát thèm muốn của cả dân tộc Samari khi họ chối từ việc thờ phượng Thiên Chúa để thờ cúng các thần minh của dân ngoại, họ “ngoại tình’ trong đời sống đức tin phá bỏ giao ước với Thiên Chúa.

            Chúa Giêsu đã giúp người Samaria này điều chỉnh lại suy nghĩ và cách thức thờ phượng Thiên Chúa sao cho phù hợp ý Chúa khi Ngài nói với chị : “Đã đến giờ các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa Cha trên núi này hay tại Giêrusalem… nhưng những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự thật”.

            Như thế, Chúa Giêsu muốn hướng con người đến sự thờ phượng đích thực là một sự thờ phượng phát xuất từ một tâm hồn chân thành nhìn nhận Thiên Chúa là Cha, là Chúa của mình, là Đấng quyền năng, và hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa, đón nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa cứu độ. Khi có Thiên Chúa và Thánh Thần của Ngài trong tâm hồn, khi để cho Thánh Thần hướng dẫn, thì Thánh Thần của Thiên Chúa sẽ làm cho sức sống thần linh của Thiên Chúa tuôn chảy trong tâm hồn và nuôi sống cuộc đời chúng ta. Đó chính là mạch nước mà Chúa Giêsu nói đến hôm nay.

            Sức sống thần linh của Thiên Chúa sẽ trở thành nguồn mạch sự sống cho những ai để Chúa hiện diện trong tâm hồn mình. Thánh Phaolô đã giải thích điều này trong thư Rôma: “Vì chúng ta tin, nên Chúa Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa… Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần của Người”. Chính tình yêu này làm phát sinh sự sống mới trong tâm hồn mỗi tín hữu.

            Chúa Giêsu đã khởi đi từ nước thế gian tới nước hằng sống. Nước này là ân huệ Chúa ban nơi Chúa Giêsu và là giáo huấn của Người. Giáo huấn đem lại cho con người niềm vui siêu nhiên và sự bình an trong tâm hồn. Nhờ nước hằng sống, con người không còn đi tìm kiếm một thần linh nào khác.

            Trong những ngày Mùa Chay này, chúng ta hãy dành nhiều thời gian hơn để gặp gỡ Chúa Giêsu qua Lời Chúa trong thánh lễ, các buổi tĩnh tâm mùa chay, các giờ kinh tối gia đình… Chúng ta sẽ gặp được nguồn suối làm thỏa mãn cơn khát trong tâm hồn chúng ta, và làm cho lòng chúng ta trở thành một mạch nước mới.

 

Thứ Hai tuần IV MC

 Ga 4, 43-54

LÒNG TIN CỦA ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG

          Trang Tin Mừng hôm nay nhắc đến dấu chỉ kỳ diệu Chúa Giêsu thực hiện cho một quan chức ngoại giáo. Ðó là việc Chúa Giêsu chữa lành con của viên chức này, khiến cho ông và toàn thể gia quyến tin nhận Chúa.

          Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gioan ghi lại việc Chúa Giêsu chữa lành bệnh cho con trai của một viên sĩ quan cận vệ nhà vua. Điểm nổi bật trong cách chữa bệnh của Chúa Giêsu không phải là những bài thuốc bí truyền của người Do Thái hay do Chúa tự bào chế, nhưng là chính "Lời" của Ngài nói với viên sĩ quan : "Ông cứ về đi, con ông sống" (Ga 4, 50).

          Sự hiện diện của Chúa Giêsu và Lời của Ngài luôn mang lại cho những người gặp gỡ Ngài một sức sống mới, một sự an ủi và chữa lành. Trong suốt hành trình rao giảng, biết bao lần Ngài đã dùng Lời quyền năng mà làm cho kẻ chết sống lại, xua trừ ma quỷ, chữa lành bệnh tật thể lý và tâm hồn cho con người. Lời quyền năng và chữa lành của Chúa vẫn còn nguyên giá trị cho con người mọi thời nhưng cần có những con người có lòng tin như viên sĩ quan để quyền năng của Lời Chúa được biểu lộ

          Luật Do Thái ngăn cấm bước vào nhà dân ngoại thì Chúa Giêsu vượt ra ngoài các cấm đoán của lề luật, vì Vương Quốc của Ngài không xây dựng trên nền tảng các luật cứng nhắc ấy nhưng trên thực hành niềm tin. Ngài cũng không đến để hủy bỏ lề luật nhưng để kiện toàn. Lề luật bây giờ phải được thể hiện trọn vẹn trong cuộc sống.

          Ta thấy trước lòng tin đã khiến Chúa Giêsu phải ngạc nhiên. Nếu Chúa Giêsu đã khen lòng tin của người đàn bà bị bệnh loạn huyết khi bà nghĩ rằng chỉ cần đụng vào gấu áo Ngài cũng đủ để được khỏi, thì lòng tin của viên bách quản này còn mạnh hơn nhiều: Ông tin rằng Chúa Giêsu chỉ cần nói một lời, thì đầy tớ của ông, dù có ở xa đến đâu cũng sẽ được lành. Trước lòng tin ấy, Chúa Giêsu đã thốt lên: "Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế".

          Niềm tin vững vàng của viên đại đội trưởng thể hiện bằng việc làm: đến xin Chúa Giêsu chữa bệnh cho đầy tớ của ông. Vì xin ai điều gì, là tin người đó có, và sẵn lòng cho điều mình xin.

          "Tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, xin Ngài chỉ nói một lời": niềm tin thật mạnh mẽ: ông tin Chúa Giêsu chữa bệnh được dù Ngài không cần đến nhà ông. Ông tin vào chính bản thân Chúa hơn là việc Người làm.

          Chúa Giêsu khen ngợi đức tin mạnh mẽ của viên đại đội trưởng, đồng thời cũng loan báo cho người Do thái biết: nhiều người trong chư dân thiên hạ sẽ được ơn cứu độ.

          Chúa Giêsu nhìn nhận lòng tin mạnh mẽ của viên đại đội trưởng ngoại giáo. Trong đời sống xã hội cũng như cộng đoàn, ta cần nhận ra cái hay, cái tốt của tha nhân, của tập thể khác để cảm phục, bắt chước và nếu có thể, hợp tác để đem lại thiện ích lớn hơn cho mọi người; tránh thái độ hẹp hòi, cục bộ, mặc cảm, yên trí đến bất công, khiến ta xa cách tha nhân.

          Lời tuyên xưng của viên bách quản là kết quả hiểu biết đúng đắn về bản thân và quyền năng của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Ðể có sự hiểu biết đúng đắn cần phải có thái độ khiêm nhường và thành thật. Vì con người là một tinh thần kết hợp với thể xác: thể xác bị ràng buộc bởi các điều kiện không gian và thời gian, còn tinh thần chẳng bị một ràng buộc nào; thể xác đang nằm sát đất, nhưng tinh thần có thể vươn tới trời cao; thể xác đang ở hiện tại, nhưng tinh thần có thể lùi lại quá khứ hoặc hướng tới tương lai rất xa.

          Lời cầu khiêm nhu của viên bách quản đã trở thành lời kinh hằng ngày được tín hữu chuyên đọc, và niềm tin của viên bách quản khai mở một kỷ nguyên mới cho lịch sử ơn cứu độ: "Nhiều người từ Ðông chí Tây sẽ đến dự tiệc với Abraham, Isaac và Jacob, còn con cái trong nhà sẽ bị loại ra ngoài". Chúa Giêsu, Ngài đến để cứu chữa hết mọi người, chưa cần viên bách quan tuyên xưng lòng tin, Ngài đã nói lên ý định của Ngài: "Tôi sẽ đến chữa nó".

          Viên bách quản không có các nghi thức để tuân giữ lề luật như: không rửa tay trước khi dùng bữa, không đến Hội Ðường vào ngày Sabat. Nhưng trước sự hiện diện của Chúa, ông tỏ một niềm kính sợ, trước tha nhân ông hết lòng yêu mến. Ông trở thành tiêu biểu cho các công dân Nước Trời. Chúa Giêsu đã khen ngợi và đã đón nhận ông vào nước của Ngài.

           Đứng trước cái chết đang cận kề của con cái, thường những người làm cha, làm mẹ luôn lo lắng và tìm mọi phương thế để có thể cứu con mình khỏi chết. Vì thế, ta không ngạc nhiên khi thấy cảnh một người cha, người mẹ chạy ngược, chạy xuôi tìm thầy, tìm thuốc để chữa trị cho con mình. Nhưng có lẽ ta sẽ ngạc nhiên vì sự xuất hiện, sự chữa bệnh cách lạ lùng của một vị Thầy có tên là Giêsu.

          Lòng tin của viên sĩ quan vào Lời của Chúa Giêsu chính là điểm mấu chốt giúp cho "viên thuốc Lời Chúa" phát sinh công dụng : "Ông tin vào lời Chúa Giêsu nói với mình và ra về" (Ga 4, 50). Lòng tin của viên sĩ quan không những mang lại sự sống cho con trai ông mà còn đưa cả gia đình ông đến với niềm tin vào Đức Kitô: "Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Chúa Giêsu đã nói với mình : "Con ông sống, nên ông và cả nhà đều tin" (Ga 4, 53).

          Ðể thử thách lòng tin của người chạy đến với mình, Chúa Giêsu muốn làm nổi bật thái độ sẵn sàng của viên quan chức. Ông mong đợi Chúa Giêsu đáp lại bằng cách đích thân Chúa đến nhà ông để chữa lành người con của ông đang bị đau. Nhưng Chúa Giêsu đã đáp lại bằng cách khác, Ngài chỉ phán một lời: "Ông hãy về đi, con ông đã mạnh khỏe rồi". Liệu chúng ta có sẵn sàng nghe Lời Chúa dạy như viên quan ngoại giáo này không?

THỨ BA TUẦN 4 MÙA CHAY

Ga 5, 1-3a. 5-16

ĐỪNG VÔ CẢM VỚI NGƯỜI TẬT NGUYỀN

          Anh bại liệt là người nghèo khổ nhất trong số những người nghèo bệnh tật nằm bên bờ giếng gần thành Giêrusalem, lúc mà Chúa Giêsu đi ngang qua vừa được thuật lại trong Tin Mừng hôm nay.

          Trước mặt người bại liệt là một vùng trời tối, tối cả tương lai. Đã bao lần anh muốn thoát khỏi số phận nghiệt ngã, nhưng căn bệnh cứ trì kéo đeo đẳng anh. Mỗi lần anh xuống được hồ nước thì cơ hội lành bệnh lại vụt mất. Đã ba mươi tám năm nay, anh đã mòn mỏi, tuyệt vọng, cam chịu số phận.

          Ta thấy anh nằm chờ từ 38 năm nay, có biết bao nhiêu người đi qua, kể cả những vị lãnh đạo trong dân Do Thái, những kẻ thuộc nằm lòng Kinh Thánh và muốn tuân giữ luật Chúa dạy cho đến tận cùng, với đủ mọi chi tiết. Họ đã đi ngang qua đó, nhưng không nhìn thấy người anh em đang cần được giúp đỡ. Nhưng, Chúa Giêsu đã nhìn thấy và Ngài đã chữa anh được lành bệnh.

          Chúa Giêsu hiểu thấu được tâm trạng thấp thỏm và mòn mỏi của anh, nên Ngài đã hỏi anh ta: “Anh có muốn trở nên lành mạnh không?” Anh trả lời: “Không có người đem tôi xuống hồ, khi nước động”. Chúa Giêsu bảo anh: “Hãy đứng dậy, vác chõng, và đi”.

          Như thế, Chúa Giêsu cần sự hợp tác của anh để giúp anh được lành mạnh. Thật vậy, Thiên Chúa không làm thay tất cả cho con người. Nhưng mỗi người muốn được chữa lành về thể xác lẫn tâm linh, cần có lòng mong muốn, lòng khao khát, và điều quan trọng phải can đảm vượt lên chính mình, là: “Đứng dậy! Quyết tâm! Và bước đi!”.

          Ðó là việc Ngài thực hiện những dấu lạ: cho người què được đi, cho kẻ bệnh tật được lành mạnh để kêu gọi những người đang chờ dấu lạ của Ðấng Cứu Thế sắp đến hãy mở mắt ra và nhìn nhận Ngài là Ðấng Cứu Thế.

          Để cảm nhận được phép lạ của Thiên Chúa, chúng ta cũng cần vượt qua não trạng chỉ chờ đợi những hiện tượng khác lạ trong thiên nhiên. Người ta thích đổ xô tới nơi có hiện tượng lạ thường. Dĩ nhiên, trong một số trường hợp. Thiên Chúa đã thực hiện điều đó. Thế nhưng điều quan trọng cho đức tin chúng ta không phải là những hiện tượng khác thường ấy, mà là chính sự gặp gỡ thân tình với Chúa Giêsu. Gặp gỡ Ngài, tin ở lời Ngài, kết hiệp với Ngài nhất là trong mầu nhiệm khổ nạn, con người mới cảm nhận được tác động của Ngài.

          Chúa Giêsu không dừng lại ở việc chữa lành tật bệnh thể xác, nhưng Ngài muốn tiến xa hơn nên đã kêu gọi người được chữa lành hãy nghĩ đến phần linh hồn quan trọng hơn: "Anh đừng phạm tội nữa". Chúa Giêsu đã thực hiện cả hai công tác phát triển và cứu rỗi chung cả nhân loại.

          Với Tin Mừng hôm nay, chúng ta được dịp nhìn thấy thái độ vừa từ thiện, vừa nâng cao tinh thần của Chúa Giêsu đối với người bất toàn nằm bên giếng nước. Chúa chữa anh được lành bệnh, đồng thời Ngài mời gọi anh hãy canh tân tâm hồn là đừng phạm tội nữa để khỏi phải khốn khổ hơn trước.

          Vì Tình yêu thương nhân loại, đặc biệt là những người bệnh hoạn tật nguyền, nên mỗi khi gặp người đau khổ bệnh tật, Chúa Giêsu đã chữa lành và đem đến cho họ niềm vui, bình an và hạnh phúc.

          Trở về với trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương người đau ốm đã ba mươi tám năm. Ngài đã quan tâm đến số phận của anh khi ngỏ lời : "Anh có muốn khỏi bệnh không ?". Trước những câu hỏi của Chúa, chúng ta xem con người đã trả lời thế nào ?

          Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta gặp hoàn cảnh bi đát, không còn gì để hy vọng, giống như người bệnh nhân trong Tin mừng. Nhưng chúng ta tự hỏi xem trong hoàn cảnh bi đát đó, ta có sẵn lòng nghe và làm theo những gì Chúa mách bảo trong tâm hồn ta cho dù điều đó có vẻ như chẳng ứng hợp với lẽ tự nhiên, thông thường chút nào? Người bại liệt trong Tin Mừng hôm nay đã làm theo Lời Chúa Giêsu là: ‘Đứng thẳng và bước đi’. Còn ta, liệu ta có đủ can đảm vượt qua hành vi và thói quen cũ của cái “tôi” đầy bất toàn và giới hạn để can đảm đứng lên và bước đi hay không?

          Mỗi người chúng ta cầu xin Chúa ban cho mình có một tâm hồn và đôi mắt như Chúa, để yêu thương và giúp đỡ khi nhìn thấy nhu cầu của anh em xung quanh đang cần đến. Công việc tông đồ của chúng ta không phải là việc làm của con người, nhưng là việc làm của Thiên Chúa, nên cần có những tâm tình của Ngài.

Thứ Tư - lỄ MẸ NHẬN TIN 25-3

Ga 5, 1-3 5-16

CÙNG MẸ TA XIN VÂNG

            Lễ Truyền Tin được kính vào ngày 25 tháng 3, tức là 9 tháng trước lễ Giáng Sinh, là khoảng thời gian Đức Mẹ cưu mang Chúa Giêsu. Lễ này trước kia được mừng kính ở Giáo hội Đông phương với tước hiệu lễ "Ngôi Lời nhập thể" từ khoảng năm 550. Giáo hội Rôma mãi đến thế kỷ thứ 7 mới chấp nhận thánh lễ này. Ngày nay, Lịch Phụng vụ Rôma lấy lại danh xưng "Lễ Truyền Tin" vì có lý do chính đáng, nhưng trước sau vẫn là lễ chung của Đức Kitô và Đức Trinh Nữ : Lễ của Ngôi Lời làm "con Đức Trinh nữ" và lễ Đức trinh nữ là "Mẹ Thiên Chúa".

            Từ thuở đời đời Thiên Chúa yêu thương con người dẫu con người phạm tội và Ngài đã có ý định tái lập tất cả những gì đã hư mất bởi tội lỗi, và phác họa một công trình cứu chuộc mà Chúa Kitô là trung tâm, với sự cộng tác cần thiết của một người nữ thánh thiện. Cả hai sẽ là Adong và Evà mới thay thế cho Adong và Evà cũ đã phạm tội.

            Người nữ ấy không ai khác hơn là Mẹ Maria, Đấng đầy ân phúc, trổi vượt hơn mọi phụ nữ. Mẹ đã được tiên báo qua lời hứa tại vườn Địa đàng xưa :"Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người nữ. Người sẽ đạp nát đầu mi, còn mi sẽ rình cắn gót chân Người" (St 3, 15). Mẹ đã được chọn làm Evà mới thực hiện lời hứa xưa kia tại vườn Địa Đàng.

            Lời xin vâng của Đức Mẹ, thoạt nghe, chẳng có gì đặc biệt đáng chúng ta phải chú ý. Nhưng nếu để tâm suy nghĩ và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy được tinh thần hy sinh, lòng bác ái, và đức tin sống động của Mẹ được gói gọn trong hai tiếng xin vâng đó.

            Qua tiếng xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ.

            Ông Leonard de Vinci để lại cho nhân loại câu truyện sau đây về cuộc đối đáp tưởng tượng của tờ giấy trắng và cây viết.

            Có tờ giấy trắng nọ nằm ù lì trên bàn viết với bao đồng bạn khác từ nhiều năm tháng qua. Nhưng rồi một hôm nó được chọn đem ra trước bàn chịu cảnh cây viết với mực đen vẽ lên nó không biết bao nhiêu là những dấu hiệu mà nó không hiểu gì cả. Tờ giấy phàn nàn với cây viết như sau : "Tại sao anh lại làm thế, anh vẽ trên mình tôi những dấu làm tôi mất đi sự trắng sạch ban đầu, anh làm nhục tôi thế này sao ? Anh làm hư cả cuộc đời tôi rồi".

            Nhưng cây viết trả lời :"Không, anh giấy hiểu lầm tôi rồi, tôi không làm dơ anh đâu, tôi vẽ lên anh những dấu hiệu, những dòng chữ và kể từ nay, anh không còn là tờ giấy vô dụng nữa, mà mang trên mình một sứ điệp, anh trở thành kẻ cộng tác với con người lưu giữ những tư tưởng cao siêu của con ngưởi, và vì thế sẽ được con người nâng niu bảo vệ; anh được sống mãi để trợ giúp con người".

            Tờ giấy chưa kịp trả lời cây viết, thì nó bỗng nhìn thấy một bàn tay con người quơ lấy những tờ giấy trắng đồng bạn của nó mà nay đã trở thành vàng đục, già cỗi và đầy bụi bặm mà quăng vào ngọn lửa bên cạnh. Bấy giờ tờ giấy trắng đầy chữ viết mới hiểu được hành động vừa rồi của cây viết và lấy làm sung sương vì được trở thành kẻ cộng tác và lưu giữ kho tàng trí khôn của con người.

            Cuộc đời mỗi người chúng ta có thể được so sánh như tờ giấy trắng kia, nếu không chấp nhận để cho bàn tay Thiên Chúa viết vào đó những dòng chữ, những chương trình hành động, thì sẽ không được hạnh phúc trở thành người cộng tác với Thiên Chúa, trở thành kẻ lưu truyền sự khôn ngoan của Thiên Chúa, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tờ giấy không hiểu được những hành động của cây viết vẽ những dấu lạ trên mình nó, con người cũng chắc chắn không thể nào hiểu được ý định của Thiên Chúa là ý định khôn ngoan, hợp lý nhất để đưa con người đến hnạh phúc.

            Thật vậy, Đức Maria đã tự nguyện trở thành tôi tớ của Thiên Chúa để cộng tác vào chương trình cứu chuộc nhân loại. Ngài đã trở nên một dụng cụ tuyệt vời của Thiên Chúa, hoàn toàn đặt mình dưới quyền sử dụng của Thiên Chúa như như một tờ giấy trắng trước cây viết.

            Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Đức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Êlizabét (Lc 1, 39 – 45). Đi thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Êlizabét. Theo Đức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác. Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác. Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.

            Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Đức Mẹ trong kinh Tạ Ơn "Linh hồn tôi tung hô Chúa" (Lc 1, 46-55). Tâm tình Đức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa. Tâm tình Đức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại. Tâm tình Đức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.

            Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa. Hãy bước đi với những bước nhỏ. Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi. Như hằng ngày đến bên trái tim Đức Mẹ, để xin trái tim Đức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó. Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ. Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị. Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.

            Lời Xin Vâng của Mẹ trở thành một mẫu mực tuân phục Thiên Chúa cho chúng ta noi theo. Nói mạnh hơn, lời Xin Vâng ấy là một lời chất vấn, một thách đố hùng hồn trước thảm kịch bất tuân phục Thiên Chúa của con người trong thời đại của chúng ta. Ta hãy bắt chước Đức Maria để luôn tìm đọc Lời Chúa, để nhẫn nại cầu nguyện trong niềm xác tín rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".

            Chúng ta phải tuân phục Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa biết chắc các điều tốt đẹp cho con người. Bất tuân Thiên Chúa là cách dễ dàng nhất gây ra đau khổ cho con người. Vâng lời Thiên Chúa không lấy đi sự tự do của con người, nhưng chứng tỏ sự khôn ngoan. Giống như một con trẻ chưa đủ khôn ngoan để làm quyết định cho mình, em phải vâng lời cha mẹ là những người khôn ngoan hơn. Chúng ta cũng thế, khi chưa hiểu kế họach của Thiên Chúa cho cuộc đời, chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu và Đức Mẹ: xin vâng làm theo ý Thiên Chúa.

 

 

Thứ Năm tuần IV MC

Ga 5, 31-47

LỜI CHỨNG LÀ NÓI VÀ LÀM VIỆC CHO CHÚA

Khi Chúa Giêsu đã về trời, các Tông đồ đã chia nhau đi rao giảng Tin mừng, có các người phụ tá và những người cộng tác với các ngài. Khi các ngài đã qua đi thì Giáo hội lãnh nhận công tác tiếp nối công việc của các Tông đồ mà rao giảng Tin mừng cho đến tận cùng thế giới, không kể mầu da sắc tộc, ngôn ngữ. Lời Chúa phải được rao giảng cho mọi người.

Trang Tin Mừng hôm nay ta thấy Chúa Giêsu nói về sứ mạng của Ngài đó là làm việc cho Cha, làm chứng cho Cha. Chúa Giêsu cũng nói với những người đương thời rằng họ làm chỉ vì háo danh và hảo danh mà thôi.

Và rồi đến lượt các tín hữu, mọi người có trách nhiệm phải rao giảng cho người khác. Mọi người phải rao giảng Tin mừng, không trừ ai, nhưng Giáo hội trạch cử một số người chuyên đi rao giảng mà ta gọi là “các nhà truyền giáo”. Chúa Giêsu không còn trực tiếp rao giảng như ngày xưa nữa mà cần loài người chúng ta phải cộng tác để đi đến các hang cùng ngõ hẻm đem Lời Chúa đến cho mọi người.

          Làm chứng cho Chúa là lấy lời nói, nhất là cách ăn ở, việc làm mà tỏ cho người khác biết Chúa Kitô, vì người ấy giống Chúa Kitô trong tư tưởng, nói năng, xử sự, việc làm. Vì giống như vậy nên khi người ta gặp người ấy, thì người ta nhớ đến Chúa Kitô. Người ấy đã trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô như thánh Phaolô nói : “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”.

Ta chỉ là công cụ của Chúa để nhờ đó người ta biết Chúa. Tuy công cụ nhỏ bé chẳng đáng kể nhưng lại cần thiết. Chúa không trực tiếp tỏ mình ra cho người ta mà dùng con người nhỏ bé của chúng ta để tỏ lộ cho mọi người biết Thiên Chúa cao cả. Chúng ta chỉ là phương tiện để Chúa đến với người ta và người ta đến với Chúa. Ví dụ : một người muốn biết ngôi sao mai trên trời nhưng không biết ngôi nào trong hàng ngàn ngôi sao, nhưng nếu chúng ta dùng bàn tay chỉ cho họ thì họ sẽ nhận ra ngôi sao mai trên trời. Bàn tay chỉ là phương tiện giúp người ta nhìn ra sao mai, nếu không có bàn tay ấy thì người ta không nhìn ra sao mai được.

Ta hãy làm chứng Chúa bằng lời nói. Lời nói là đặc biệt của con người, vì thế, con người được định nghĩa là con vật biết nói.

Nhưng lời nói của chúng ta có thể tốt, cũng như có thể xấu. Khi chúng ta nói những lời tốt, chúng ta xây dựng, chúng ta đem lại sự vui vẻ cho kẻ khác, chúng ta đem lại sự hòa bình cho mọi người. Những khi đó, chúng ta làm chứng Chúa bằng lời nói.

Trái lại, khi chúng ta nói những lời xấu, chúng ta phá đổ, chúng ta đem lại sự buồn phiền cho kẻ khác, chúng ta gây nên thù, nên oán cho người ta.
Để làm chứng Chúa bằng lời nói, chúng ta không nói những lời gây buồn phiền cho kẻ khác, nhưng chúng ta nói những lời đem lại sự vui vẻ cho mọi người.

Ta không nói những lời chỉ trích, phá đổ, nhưng chúng ta nói những lời yêu thương, xây dựng. Ta không nói những lời tục tĩu nhớp nhúa, nhưng ta nói những lời trong sạch, thanh cao. Ta không nói những lời bi quan, lên án, nhưng chúng ta nói những lời cao thượng, những lời khuyến khích và an ủi.

Ta hãy làm chứng Chúa bằng việc làm tốt đẹp. Lời nói không có giá trị cho bằng việc làm. Lời nói qua đi, nhưng gương lành thì tồn tại. Lời nói không làm cho ai theo chúng ta. Chỉ có gương tốt mới lôi kéo kẻ khác theo chúng ta. Để làm chứng Chúa bằng việc làm, chúng ta hãy luôn luôn treo cao gương tốt.

        Ta hãy làm gương tốt trong gia đình chúng ta. Cha mẹ làm gương tốt cho con cái, vợ chồng làm gương tốt cho nhau, anh chị làm gương tốt cho em út. Mọi người trong gia đình hãy thi đua sống thánh thiện, thi đua giữ luật Chúa, thi đua làm việc lành phước đức. Hạnh phúc thay cho những gia đình như vậy ! Gia đình họ được bằng an, vui vẻ. Gia đình họ được đầy ơn Chúa. Gia đình họ trở thành thiên đàng trên mặt đất này.

          Rồi chúng ta hãy làm gương tốt cho mọi người xung quanh mình. Xung quanh chúng ta, có nhiều kẻ còn chưa biết Chúa. Xung quanh ta, có những kẻ lơ đạo, bỏ đạo, nghịch đạo. Tất cả những người nầy sẽ được ảnh hưởng tốt khi thấy gương tốt của chúng ta. Quá trình của một cuộc trở lại, phần nhiều là: thấy trước, rồi tin sau.

Gương tốt của chúng ta ảnh hưởng trên kẻ khác, dẫu nhiều khi chúng ta không biết. Khi ta nâng mình lên cao bằng đời sống gương tốt, chúng ta nâng mọi người lên theo, chúng ta nâng cả thế giới lên theo. Chúa dạy ta là ánh sáng chiếu soi mọi người. Chúa dạy chúng ta là muối làm cho mặn mòi kẻ khác. Theo Đạo Chúa, không phải chỉ là Giữ Đạo, mà còn phải Sống Đạo và Truyền Đạo bằng đời sống gương tốt của mình.

Mỗi người chúng ta có trách nhiệm phải thi hành sứ mạng tiên tri tức là phải làm chứng cho Đức Giêsu như lời Ngài dạy : “Chúng con là chứng nhân của Thầy”. Rao giảng Tin mừng và làm chứng cho Chúa không phải chỉ dùng lời nói suông nhưng phải dùng cả đời sống, cả con người của mình để làm chứng , vì con người chúng ta là phương tiện hữu hiệu để chỉ cho người ta biết Thiên Chúa. Vì vậy, mỗi người phải có đời sống gương mẫu để xứng đáng là chứng nhân của Chúa, ngược lại chỉ là “phản chứng”.

 

 

 

Thứ Sáu tuần IV MC

Ga 7, 1-2. 10. 25-30

TÌM HIỂU ĐỂ ĐỪNG LOẠI TRỪ CHÚA

          Để ý một tí ta thấy địa lý của cuộc đời Chúa Giêsu trong sách Tin Mừng Gioan thì khác với địa lý trong ba sách Tin Mừng kia.  Nó hoàn chỉnh hơn.  Theo các sách Tin Mừng kia, Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem chỉ có một lần, lần mà Chúa bị bắt và bị kết án tử hình. 

Theo sách Tin Mừng Gioan, Chúa đi lên Gierusalem ít nhất là hai hay ba lần để dự lễ Vượt Qua.  Đây là lý do tại sao chúng ta biết rằng cuộc đời công khai của Chúa Giêsu dài khoảng độ ba năm.  Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết rằng chính Chúa Giêsu đã hơn một lần đi về Giêrusalem, nhưng không đi cách công khai; Chúa đi cách kín đáo.

Chúa Giêsu đang ở Giêrusalem và Người nói chuyện công khai cho những ai muốn nghe Người.  Dân chúng vẫn còn mơ hồ.  Họ không biết rằng các giới chức thẩm quyền đang muốn giết Chúa Giêsu và Người không lẩn trốn họ.  Có thể nào các giới chức thẩm quyền sẽ tin vào Người và nhận ra rằng Người là Đấng Cứu Thế không?  Nhưng làm thế nào Đức Giêsu lại là Đấng Cứu Thế được?  Mọi người đều biết rằng Người xuất thân từ Nagiarét, nhưng không ai biết xuất xứ của Đấng Cứu Thế, từ đâu đến.

Cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người biệt phái kéo dài rất dai dẳng nhưng Ngài chẳng làm cho họ tin được, trái lại càng ngày họ càng muốn giết Ngài. Cái gì đã khiến họ khó tin vào Chúa Giêsu như thế? Thưa chính là vì họ tưởng họ biết quá rõ về Thiên Chúa và Đấng Messia của Thiên Chúa: họ tưởng họ biết Thiên Chúa là ai, Đấng Messia từ đâu đến, biết rành Thánh Kinh, biết rõ luật Môisê… Tất cả những gì ở ngoài cái khung hiểu biết đó thì họ đều coi là sai lạc, là từ Satan…

Câu hỏi của Chúa Giêsu hẳn là một lời quở trách thái độ cứng lòng tin của giới lãnh đạo Do Thái bấy giờ. Họ không muốn tin Chúa Giêsu là Đấng Kitô, vì theo họ “chẳng ai biết Đấng Kitô xuất thân từ đâu” (c.27).

Trong khi đó, họ lại biết rõ gốc gác và thân phận nhân loại của Chúa Giêsu. Và theo họ: “không có ngôn sứ nào xuất thân từ Galile cả” (c.52). Chúa Giêsu đến trần gian để làm chứng cho sự thật “Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật”. Khi đối diện với sự thật thì con người mới biết mình là ai. Do đó, khi đối diện với Chúa Giêsu, giới lãnh đạo Do thái biết họ là ai. Họ biết họ xấu xa. Và những kẻ xấu xa thì chẳng bao giờ muốn thấy sự xấu xa của mình cả. Những người đó sẽ tìm mọi cách để loại trừ những ai nói lên, hoặc làm sáng tỏ cái bóng tối vốn đang che dấu họ.

Chúa Giêsu chính là người công chính bị quân gian ác bách hại. Để khỏi mang tội giết Đấng Messia, họ lý luận rằng Đấng Messia phải có nguồn ngốc lai lịch rõ ràng, còn Chúa Giêsu thì không biết xuất phát từ đâu. Nhân đó Chúa Giêsu nói cho họ biết nguồn gốc lai lịch của Ngài là Chúa Cha “Ta bởi Ngài và chính Ngài đã sai Ta”. Nhưng nói như thế càng khiến họ muốn gết Ngài hơn. Tuy nhiên hiện giờ “họ chưa làm gì được Ngài vì chưa tới giờ Ngài”.

Họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, “vì chưa tới giờ Người”.  Trong Tin Mừng Gioan, người quyết định giờ và các sự việc sẽ xảy ra không phải là những kẻ cầm quyền, mà là Chúa Giêsu.  Người là Đấng định giờ (xem Ga 2:4; 4:23; 8:20; 12:23-27; 13:1; 17:1).  Ngay cả tại thời điểm Người bị đóng đinh vào Thập Giá, chính Chúa Giêsu là Đấng quyết định giờ chết của mình (Ga 19:29-30).

Dù biết người ta tìm cách giết mình, nhưng Đức Giêsu vẫn trung thành với sứ mạng loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa, Nước của công lý và sự thật. Là những Kitô hữu, những người đang bước theo Chúa Giêsu Kitô, chẳng lẽ ta bỏ đàng công chính chỉ vì sợ thâm thù của người đời để sống đồng lõa với họ cho đời ta yên ổn?! Làm thế, chắc chắn ta không có ngày được phục sinh với Đức Kitô!

Và rồi ta thấy rằng biết Thiên Chúa và sống trong Thiên Chúa, đó là đích điểm cuộc đời mỗi người Kitô hữu. Ðể biết Thiên Chúa, chúng ta phải qua trung gian là Ðức Giêsu, con đường dẫn đến ơn cứu độ. Mỗi người chúng ta phải chuyên cần tìm hiểu, gặp gỡ Ðức Giêsu trong Thánh Kinh, trong cuộc đời và sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần.

Trong cuộc sống, có khi ta cũng phải gánh chịu những thâm thù của người đời vì lối sống công chính, ngay thẳng của ta làm lộ ra những thói đời mưu mô, gian ác.

Và đối diện với cuộc sống, mỗi khi phải hứng chịu những thâm thù của thế gian, nhiều lúc chúng ta không khỏi băn khoăn, suy nghĩ và tự nhủ: Người ta sống làm sao, ta sống làm vậy cho nó lành! Chứ mình cứ lội ngược dòng thế này, thì chỉ có mà thiệt thân!

Là Kitô hữu, mỗi chúng ta được mời gọi làm chứng về Đức Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thật, và là sự sống (Ga 14,6). Ta làm chứng về Người cũng có nghĩa là làm chứng cho sự thật. Ta hãy can đảm đối diện với mình trong tư cách là con Thiên Chúa, can đảm cự tuyệt với những thứ không phải sự thật. Hãy để ánh sáng của Lời Chúa chiếu rọi vào nơi tối tăm, cho dù điều đó có thể sẽ gây cho ta nhiều đau khổ, bắt bớ, hiểu lầm, hay thậm chí ngược đãi.

 

 

Thứ Bảy tuần IV MC

Ga 7, 40-53

HIỆP NHẤT CHỨ ĐỪNG CHIA RẼ

          Tin Mừng Gioan hôm nay cho thấy vì Chúa Giêsu mà dân chúng chia rẽ nhau, nhóm Pharisiêu cũng bất đồng quan điểm với nhau. Một số người thì tin vào Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, một số khác thì không tin vì họ chỉ căn cứ vào nguồn gốc của Người là con bác thợ mộc Giuse và bà Maria.

Ta thấy Thiên Chúa đã bị hiểu lầm trước sự tự do của con người. Biết được Ngài, đón nhận Ngài là hai vấn đề khó khăn. Chúa Giêsu là Đá Tảng, Người cũng có thể là đá vấp ngã nữa. Cái đó tùy ở mỗi người, tùy thái độ chúng ta trước Thiên Chúa.

          Chúa Giêsu khác với các ngôn sứ khác rao giảng nhân danh Thiên Chúa; phần Ngài, Ngài rao giảng nhân danh chính Ngài, vì Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa. Không lạ gì nghe Chúa Giêsu rao giảng. Ta nhận ra một điều lạ lùng là chỉ những tâm hồn đơn sơ, rộng mở mới nhạy bén, nhanh nhẹn đón nhận Lời Chúa và đưa Lời Hằng Sống ấy vào trong cuộc đời mình.

Dẫu rằng có một số người đã quyết tâm giết Chúa Giêsu, nhưng không ai dám tra tay bắt Ngài. Cả các vệ binh đã được lệnh vào đền thờ bắt Chúa, nhưng họ trở về tay không, vị thượng tế và các người Pharisêu hỏi họ: Sao không điệu hắn về đây? Họ đã thưa lại: Xưa nay chưa hể có ai nói năng như người ấy. Các thày Pharisêu xỉ vả họ, cả các anh cũng bị hắn mê hoặc rồi. Có ai trong các vị lãnh đạo và trong các Pharisêu tin đâu, bọn dân đen thì nói làm gì, chúng có biết gì luật thánh đâu. Ông Nicôđêmô tuy cũng thuộc phái Pharisêu, muốn bênh đỡ Chúa Giêsu, nhưng ông bị chụp mũ Galilê, nghĩa là bọn phản loạn gây rối.

Thật vậy, trong Tin Mừng Luca, có lần Chúa Giêsu đã khẳng định với các môn đệ của Người: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau, cha chống lại con trai, con trai chống lại cha. Mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”. (Lc 12, 51 -53)

Trong cuộc sống thường ngày, nhiều lúc người Kitô hữu chúng ta cũng rơi vào tình trạng như những người Do Thái, vì Chúa Giêsu mà họ gây ra chia rẽ. Một bên là những người đứng về phía Chúa Giêsu và sống theo tinh thần Tin Mừng. Còn một bên là những người đứng về phía thế gian và sống theo thói đời. Người đứng về phía Chúa Giêsu và sống theo tinh thần Tin Mừng thường hay chịu thiệt thòi, thậm chí chịu đau khổ vì bị thế gian chê cười, chống đối, cô lập và làm tổn thương.

Ngày nay  thế gian cũng bảo chúng ta bị mê hoặc và chụp cho ta đủ mọi thứ mũ: mũ mê tín, mũ phản động, mũ điên rồ, mũ bịp bợp. Nhưng chúng ta hãy vững tin vào tình yêu Chúa. Chúa muốn chia sẻ cho ta những vinh dự mà Chúa đã phải trả giá bằng đòn vọt, bằng mũ gai, bằng khổ giá. Vì Chúa đã mời gọi ta: Ai muốn làm môn đệ tôi thì phải quên mình, vác lấy khổ giá hằng ngày của mình mà theo tôi.

Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta cùng nhìn lại xem mình đang đứng về phía Thiên Chúa hay thế gian, đang sống theo tinh thần Tin Mừng hay theo thói đời. Nếu tôi thuộc về phía Thiên Chúa và sống theo tinh thần Tin Mừng, tôi đang đi đúng đường về cõi phúc đời đời trên quê Trời. Còn ngược lại, nếu tôi thuộc về phía thế gian và sống theo thói đời, hẳn là tôi đang đi trên con đường dẫn về cõi chết và đau khổ đời đời.

          Suốt dọc dài của lịch sử Giáo Hội, Chúa Giêsu vẫn luôn là nguyên cớ cho sự chia rẽ giữa người tin và kẻ chối từ Người, giữa những môn đệ chọn sống theo Người và những người chọn sống theo thế gian; thậm chí sự chia rẽ còn tồn tại giữa các kitô hữu. Chọn tin theo Chúa Kitô đòi hỏi sự dấn thân của cả con người. Nếu có sự chia rẽ là vì chúng ta chưa để cho Người hướng dẫn và làm chủ cuộc đời ta.

Vì thế, có thể nói, nếu tất cả chúng ta cùng hiệp nhất trong đức tin vào Đức Kitô thì sẽ không còn chia rẽ. Sự hiệp nhất này chỉ có thể xảy ra, nếu chính mỗi người chúng ta biết củng cố đời sống đức tin và dẹp bỏ những mầm mống chia rẽ trong chính lòng mình, trong gia đình và cộng đoàn của mình. Ước chi khát vọng sống hiệp nhất yêu thương được cụ thể trong đời sống tôi từ hôm nay, từ những ngày của mùa chay thánh này.

 

 

 

Huệ Minh 2020

April 1, 2023