Suy Niệm của Huệ Minh

LỄ GIÁNG SINH 2019

2019

ĐẠI LỄ GIÁNG SINH.

Lễ buộc. Lễ cầu cho giáo dân.

Lễ Đêm: Is 9:1-6; Tt 2:11-14; Lc 2:1-14

Lễ Rạng Đông: Is 62:11-12; Tt 3:4-7; Lc 2:15-20

Lễ Ban ngày: Is 52:7-10; Dt 1:1-6; Ga 1:1-18

 

HƠI ẤM GIÁNG SINH

          Cách đây hơn hai ngàn năm, có một người được Thiên Chúa ban cho ơn đặc biệt, đó là tiên tri Isaia, ông hướng về tương lai của nhân loại mà thần của Thiên Chúa đã hé mở cho ông, ông nói những lời mà chúng ta vừa được nghe lại.

          Kể từ ngày đó, nhân loại đợi trông Con trẻ đã được tiên báo ra đời. Rồi người ta thấy một Người có những điểm rất kì diệu xuất hiện.

          Ngài là Con Trời nhưng lại chịu làm con một người thợ mộc tầm thường. Dầu sống bình thường, nhưng tuổi thơ ấu của Ngài làm cho vị Vua Hêrôđê đầy kiêu ngạo và gian ác phải khiếp sợ. Ngài  là Đấng Tạo Hóa quyền năng, nhưng gặp nhiều hiểm nguy có liên hệ đến tính mạng nên cha mẹ Ngài đã phải ẵm Ngài đi tị nạn.

          Vì yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện làm con của loài người, sinh ra bởi một người phụ nữ. Vì yêu thương nhân loại, Ngài đã muốn trở nên một thành viên trong gia đình nhân loại, có một gia đình như những người khác.

          Thiên Chúa đến ở với loài người để cho loài người được ở với Ngài ; chính Thiên Chúa đi vào trong thế giới của chúng ta để chúng ta đi vào thế giới của Ngài , chính Con Một của Thiên Chúa đến hiệp thông với cuộc sống chúng ta để cho sự sống chúng ta được hiệp thông với sự sống của Ngài và sự sống của Thiên Chúa, thân phụ Ngài. Sứ điệp ấy chính là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, mang lấy nhân tính của chúng ta để chúng ta mang lấy thiên tính của Ngài. Đó là sứ điệp bao giờ cũng mới mẻ, cũng đẹp đẽ, cũng phấn khởi, cũng tuyệt vời, từ năm này qua năm khác.

          Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta Ngài trở thành một người trong nhân loại, Ngài trở nên thiết thân với mọi người và mỗi một người được sinh ra. Ngài muốn nói với chúng ta rằng : sự sống của con người là một thánh thiêng bất khả di nhượng, bất khả xâm phạm. Ngài muốn nói với chúng ta rằng, mỗi một người sinh trong thế gian này dù có xấu xa, thấp hèn mạt rệp đến đâu cũng đều được đóng ấn tình yêu của Thiên Chúa, cũng đều là hình ảnh của Thiên Chúa, là con cái Thiên Chúa. Phẩm giá cao cả ấy Chúa Giêsu muốn khẳng định với chúng ta qua cuộc sống thinh lặng, lam lũ nghèo hèn của Ngài, cũng như qua những kết thân của Ngài với những người bị xã hội đẩy ra bên lề.

          Trong ngày lễ Giáng Sinh, chúng ta có được một cảm giác về sự gần gũi, ấm áp, và về lòng từ ái của Thiên Chúa. Chúng ta cảm nhận được rằng mình không cô độc, rằng cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa, rằng có một ai đó đang săn sóc và hướng dẫn đường lối cho chúng ta. Đó là ý nghĩa cốt lõi của ngày lễ Giáng Sinh. Chúng ta không nên e ngại trong việc sưởi mình nhờ hơi ấm này, giống như chúng ta vẫn vui mừng tắm mình trong ánh nắng ấm áp vào một ngày lạnh lẽo.

          Giáo Hội mời gọi chúng ta không được đóng khung, nhưng mở rộng lòng chia sẻ nổi khổ của tha nhân. Hãy chia sẻ cho họ những Hồng Ân chúng ta đã nhận lãnh do lòng từ bi của Thiên Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã thường nói: "Tất cả những gì chúng ta có đều do Hồng Ân của Chúa ban". Chúng ta được mời gọi chia sẻ cho tha nhân những Hồng Ân đã nhận được bằng cách nầy hay cách khác để tha nhân cũng nhận biết Ánh Sáng Chúa Kitô. Đây là những điều thiết thực chúng ta sống và thực thi sứ điệp Giáng Sinh trong thế giới hôm nay.

          Để mừng lễ Chúa Giáng Sinh cho đúng ý nghĩa, tôn thờ Thiên Chúa vẫn chưa đủ, ta còn phải yêu thương kính trọng con người. Dịp lễ Giáng Sinh, chỉ đến viếng hang đá thôi chưa đủ, ta còn phải đến viếng những nhà tranh vách đất, giúp dựng lại những túp lều xiêu vẹo. Chỉ đến viếng Chúa Giêsu bé thơ thôi chưa đủ. Ta còn phải đến viếng những trẻ em bị bỏ rơi, vực dậy những tuổi thơ bất hạnh. Chỉ cảm thương Thánh Gia trong hang đá nghèo nàn thôi chưa đủ. Ta còn phải cảm thương những anh chị em nghèo khổ, thiếu may mắn ở quanh ta.

          Hãy bắt chước Ngài chia sẻ đau khổ với những người chung quanh ta, nhất là những người nghèo túng, bị áp bức bất công  Nếu tình yêu đích thực đã thúc đẩy Thiên Chúa phải chia sẻ thân phận đau khổ và nghèo nàn của chúng ta, thì ta có thể rút ra một kết luận cho việc thể hiện tình yêu của chúng ta đối với tha nhân. Nếu chúng ta nói mình yêu ai, mà khi người ấy gặp đau khổ, chúng ta không hề cảm thấy phải làm điều gì để giảm bớt đau khổ cho người ấy, hoặc không tìm cách cùng chia sẻ đau khổ với người ấy, thì chúng ta chỉ là kẻ nói dối, tình yêu ấy chỉ là tình yêu ngoài môi miệng. Hễ yêu ai, thì khi thấy người ấy đau khổ, ta không thể khoanh tay đứng nhìn mà không làm gì. Nếu không làm giảm được đau khổ với người ấy, thì cũng có thể làm một việc gì để tỏ ra thông cảm. Chúng ta nghèo, Thiên Chúa cũng đã trở nên nghèo cùng với chúng ta. 

          Ngày hôm nay, Đấng ban hòa bình cho thế gian Giáng Sinh. Hôm nay Đấng Cứu Thế Giáng Sinh cho chúng ta. Ngôi Lời nằm khóc trong máng cỏ, Ngài được gọi là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa Cứu Rỗi, bởi vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi mọi tội lỗi.

          Không phải trong một lâu đài mà Đấng Cứu Chuộc sinh ra, Đấng có sứ mạng thiết lập lại Vương Quốc đời đời và phổ quát. Ngài sinh ra trong một chuồng loài vật và sống giữa chúng ta, Ngài thắp lên trong thế giới ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa và ngọn lửa này sẽ không bao giờ tắt. Ước chi ngọn lửa này cháy lên trong các tâm hồn như một ngọn lửa tình bác ái hữu hiệu, tình bác ái trở thành sự tiếp đón, nâng đỡ cho biết bao anh chị em bị thử thách bởi sự nghèo cùng và đau khổ.

Huệ Minh

 

NGÀY THỨ HAI TUẦN - BÁT NHẬT GIÁNG SINH.

THÁNH STÊPHANÔ, TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI. Lễ kính.

Cv 6: 8-10. 7:54-60; Mt 10: 17-22

CHẾT CHO TÌNH YÊU

          Hôm nay, ta mừng ngày về trời của Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi. Ngài là một trong bảy phó tế đầu tiên của Giáo hội sơ khai, được các tông đồ chọn để giúp họ trong vấn đề vật chất. Tuy vậy, Ngài cũng tham gia trong công việc loan báo Tin mừng. Ngài chịu tử đạo ở Giêrusalem năm 35.

          Ta mừng ngày về trời của Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi. Ngài là một trong bảy phó tế đầu tiên của Giáo hội sơ khai, được các tông đồ chọn để giúp họ trong vấn đề vật chất. Tuy vậy, Ngài cũng tham gia trong công việc loan báo Tin mừng. Ngài chịu tử đạo ở Giêrusalem năm 35.

          Dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, điều tưởng chừng như nghịch lý ấy hóa ra lại đầy ý nghĩa, bởi sự nối tiếp những nốt nhạc yêu thương từ mầu nhiệm Giáng Sinh đến mầu nhiệm Thập Giá, từ máng cỏ hang đá đến Núi Sọ đau thương. Sứ mạng làm chứng cho Đức Kitô mà sứ điệp Tin Mừng nhấn mạnh đã được minh họa rõ nét qua những dấu ấn tình yêu nơi cuộc đời thánh Stephanô, “hoa trái đầu mùa” của biến cố Giáng Sinh.

          Ta thấy dấu ấn đậm nét nơi cuộc đời thánh Stêphanô là sống cho tình yêu. Nói một cách khác, phẩm cách nổi bật nơi cuộc đời thánh nhân là “mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người” (Kinh Hòa Bình), mà một trong những phương cách cụ thể được ngài thể hiện là giúp đỡ các cô nhi, quả phụ. Có lẽ trong Giáo hội thời sơ khai, việc phục vụ bàn ăn, phục vụ bác ái là nhiệm vụ được quy định cụ thể rõ ràng nhất, được dành riêng cho các phó tế là những người sống sứ mạng này, trong đó có Stêphanô.

          Sách Công vụ Tông đồ đã thuật lại, nhờ việc cầu nguyện và đặt tay của các Tông Đồ, Stephanô đã trở nên người được Chúa chọn (Cv 6, 6). Để rồi với một trái tim đầy nhiệt huyết, “đầy lòng tin và đầy Thánh Thần” (Cv 6, 5), phó tế Stephanô hoàn toàn dâng hiến tuổi xuân mà dấn thân cho lý tưởng cao đẹp này, vì “bác ái là nối dài tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại”, như lời tác giả Sách Đường Hy Vọng đã viết (số 792).

          Ta thấy dấu ấn đậm nét nơi cuộc đời thánh Stephanô là chết cho tình yêu. Lòng mến nhiệt thành đã không ngừng thúc đẩy thánh nhân trung thành loan truyền Chúa Kitô chịu đóng đinh, và đó là nguyên nhân mà những kẻ ghen ghét đã đưa ngài đến cái chết. Cái chết ấy không chỉ là lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa Tình Yêu, mà còn ứng nghiệm lời tiên báo của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay: “Vì Ta, các con sẽ bị mọi người ghét bỏ, nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, sẽ được cứu rỗi” (Mt 10,22).

          Thật thế, trong những giờ phút cuối đời tại pháp trường, Stêphanô đã bền chí đến cùng, đã yêu đến cùng khi lấy sự tha thứ làm vũ khí đáp trả hận thù: “Lạy Chúa, xin đừng trách cứ họ về tội lỗi này!” (Cv 7,20). Dù phải hứng chịu bao tiếng thét gào phản đối của đám đông, nhưng thánh nhân vẫn hiên ngang “nhìn lên trời” mà chiêm ngưỡng “vinh quang Thiên Chúa” (Cv 7,54). Dù phải gục ngã đau đớn thảm thương dưới làn mưa đá của kẻ thù, nhưng ánh sáng tình yêu nơi cuộc đời thánh nhân không hề bị dập tắt mà tiếp tục lan tỏa khắp mọi nơi và cho mọi người.

          Như vậy, thánh Stêphanô đã trở nên giống như Chúa Giêsu trong tình yêu, lúc sống cũng như lúc chết. Trong một bài giảng, thánh giám mục Phungienxiô đã khẳng định: “Đức ái đã đưa Đức Kitô từ trời xuống đất, thì cũng chính đức ái đã nâng thánh Stêphanô từ đất lên trời” (Bài đọc 2 giờ Kinh Sách, Lễ Thánh Stêphanô). Vì thế, dấu ấn còn mãi với thời gian nơi cuộc đời thánh nhân không gì khác hơn chính là đức ái, mà cụ thể là tình yêu tha thứ.

          Đó là chất liệu quý giá, vững bền để góp phần xây dựng nền văn minh tình thương trong thời đại hôm nay. Vẫn biết tha thứ vốn là điều khó thực hiện đối với những ai mà cái tôi ích kỷ hẹp hòi và tự ái cố chấp còn cư ngụ trong mình. Hơn nữa, tha thứ càng trở nên điều bất khả thi đối với những ai bị xúc phạm công khai và thương tổn nặng nề. Thế mà thánh Stêphanô đã làm được điều tưởng chừng như không thể ấy.

          Vậy đâu là bí quyết của cuộc đời thánh nhân? Thưa, nhờ ân sủng và sức mạnh của Thánh Thần, mà Stêphanô đã trở thành chứng nhân đích thực của tình yêu, một tình yêu bao dung tha thứ đã đành, nhưng cũng là một tình yêu bao la ôm lấy tất cả mọi người. Vì thế, khi biết dựa vào ân sủng Thánh Thần, theo gương của vị chứng nhân trung thành, chúng ta sẽ đầy tràn niềm tin yêu, hy vọng để mong thắp sáng yêu thương cho một thế giới đầy bóng tối nhiễu nhương, hận thù.

          Khi bước theo Chúa là phải chấp nhận hy sinh, đau khổ. Đau khổ có thể đến từ phía những người đời, những người ghét Chúa, ghét Giáo hội. Đau khổ cũng có thể đến từ phía những người ở trong Giáo Hội, thậm chí nó có thể đến từ những người thân thuộc trong gia đình. Nếu không thể tránh được đau khổ, chúng ta phải chấp nhận để làm chứng cho Chúa, vì phần rỗi của chúng ta:“Ai bền độ đến cùng sẽ được cứu rỗi” (Mt 10,22). 

          Noi gương Thánh Stêphanô, chúng ta phải luôn biết tha thứ cho nhau, tha thứ cho kẻ làm hại mình, không những tha thứ mà còn phải cầu nguyện cho họ nữa. Tha thứ như Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta (Ep 4, 32).

          Tha thứ không phải chỉ 7 lần mà là 70 lần bảy (Mt 18, 21-22). Đó cũng là điều kiện để Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta như lời dạy của Kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ với chúng con” (Mt 6, 12). Nếu chúng ta không tha thứ cho anh chị em mình thì Chúa cũng không tha thứ cho chúng ta: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như vậy, nếu mỗi người không hết lòng tha thứ cho anh em mình”(Mt 18, 35).

Huệ Minh

 

NGÀY THỨ TƯ TUẦN- BÁT NHẬT GIÁNG SINH.

CÁC THÁNH ANH HÀI, TỬ ĐẠO.

Lễ kính. 1 Ga 1:5–2:2; Mt 2:13-18

 

CHẾT ĐI CHO THÓI HƯ TẬT XẤU

          Hôm nay Giáo Hội kính nhớ các thánh anh hài, những vị thánh đã chết vì Ðức Kitô mà cũng không hề hay biết rằng mình phải chết vì Ngài. Các trẻ em ấy là kiểu mẫu của không biết bao nhiêu vị thánh vô danh.

          Trong trình thuật cuộc đời thơ ấu của Chúa Giêsu Hài Nhi, bên cạnh biến cố di cư tị nạn, còn có một biến cố đau thương hơn nữa khiến cho mọi người phải rơi lệ : đó là vụ vua Hêrôđê ra lệnh tàn sát các hài nhi Bếtlêhem và vùng lân cận từ 2 tuổi trở xuống, như thánh sử Mátthêu trình thuật trong chương 2 câu 16 đến 18. 

          Sau khi các thượng tế và kinh sư trong dân cho biết Đấng Kitô phải sinh ra tại Bếtlêhêm, miền Giuđê, như lời các ngôn sứ báo trước, vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện rồi phái các vị ấy đi Bếtlehem và dặn rằng : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho trẫm để trẫm cũng đến bái lạy Người”.

          Ba nhà chiêm tinh ra đi, tìm thấy Hài Nhi, vào bái lạy Người và dâng của lễ vàng, nhũ hương và mộc dược. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình....”Bấy giờ vua Hêrôđê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bếtlêhem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh. Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia : “Ở Rama vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ : tiếng bà Rachel khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa” (Mt 2, 16-18).

          Đối lại với tiếng hát của các thiên thần trong đêm Chúa Giáng Sinh là tiếng khóc than của những bà mẹ mất con trong cuộc sát hại của Hêrôđê ở Bêlem. Phải chăng sự ra đời của Đức Giêsu lại là nguyên nhân gây ra cái chết của những trẻ thơ vô tội? Các sử gia đã chứng thực rằng vua Hêrôđê không từ một thủ đoạn nào để tiêu diệt bất cứ ai có thể đe doạ đến ngai vàng của ông. Như thế, cái chết của Các Thánh Anh Hài là lời tố cáo tham vọng ích kỷ, sự tàn bạo của bạo chúa Hêrôđê nhưng đồng thời cũng là lời chứng cho vinh quang của Thiên Chúa là sự sống của con người.

          Các thánh Anh Hài đã là những vị tử đạo đầu tiên trong lịch sử Kitô giáo. Tuy chưa hề biết Chúa Giêsu là ai, các vị đã là những người đầu tiên phải mất mạng sống, phải đổ máu ra vì Chúa. Nhưng lý do là vì vua Hêrôđê sợ hãi bị mất quyền, như diễn tả trong thánh thi kinh chiều trong tuần lễ Hiển Linh : “Hêrôđê hỡi, này bạo chúa, Khi Đức Kitô ngự xuống trần, Vua Cả màng chi ngôi báu nhỏ, Mà ông hoảng sợ với băn khoăn ?”. Nhưng thảm cảnh tàn sát trẻ em không chỉ xảy ra vào thời vua Hêrôđê, mà vẫn tiếp tục xảy ra đó đây trên thế giới, dưới muôn vàn hình thức khác nhau.

          Tuy các thảm cảnh đó không luôn luôn mang ý nghĩa tử đạo vì Chúa Kitô, nhưng trong một nghĩa nào đó chúng tiếp tục là các cuộc bách hại Chúa Kitô hiện diện trong các trẻ em và người trẻ thuộc mọi thời đại khắp nơi trên thế giới này. Thế giới ngày nay cũng vẫn còn có nhiều bạo chúa, tàn ác hơn Hêrôđê xưa kia rất nhiều. Bởi vì ở đây không còn là chuyện sát hài vài chục, vài trăm trẻ em, mà là tàn sát hàng triệu.

          Hành vi “thảm sát hài nhi” ngày nay vẫn còn xảy ra. Trên nhiều trang báo, ta thấy lại có thêm những trường hợp trẻ sơ sinh bị vất bỏ trong thùng rác. Trên đất nước chúng ta cũng như trên khắp thế giới, mỗi ngày có hàng triệu thai nhi bị giết hại. Việc con người sử dụng tự do để thoả mãn những tham vọng thấp hèn ích kỷ là một trong những nguyên nhân chính của thảm hoạ tội ác đó. Chúng ta đều có tự do. Tự do của chúng ta đã được sử dụng để vun đắp sự sống hay để huỷ diệt?

           Các thánh Anh Hài đã chết thay cho Hài Nhi Giêsu, dẫu các ngài chẳng có công trạng chi to lớn, nhưng qua sự hy sinh của các ngài mời gọi ta nhìn vào thực trạng xã hội hôm nay, còn đó những bạo chúa Hêrôđê khước từ, chống đối Thiên Chúa, muốn “ thay trời hành đạo ” trong cách hành xử tàn ác, bất công với anh em đồng loại; nhiều bạo chúa Hêrôđê vì tiền, quyền, danh, lợi, đam mê mà loại trừ, sát hại anh em mình, nhất là những anh em bé nhỏ, nghèo hèn; tệ hại nhất là những bạo chúa Hêrôđê đang mang trong mình những trọng trách, những bổn phận của những người làm cha, mẹ, người con, người vợ, người chồng nhưng vì ích kỷ, hẹp hòi đã đang tâm giết hại chính con đẻ, người “ đầu ấp, tay gối”, giết hại chính các bậc sinh thành dưỡng dục nên mình bằng lời nói và hành động; qua cách sống trái ngược với Tin Mừng nơi ta là người Kitô hữu, cách sống đó đã đưa đẩy ta trở thành bạo chúa Hêrôđê làm biến dạng, xóa mờ hình ảnh tuyệt mỹ của Thiên Chúa, đôi khi ta lại trở thành những “ kỳ đà cản mũi” khi những người anh em chung quanh muốn tìm và đến với Chúa.

          Là những người thừa hưởng nguồn ơn cứu độ, tiếp cận với ánh sáng Tin Mừng của Thiên Chúa ngang qua Đức Kitô, trước tiên ta cảm tạ Thiên Chúa đã yêu thương ta, kế đến ta tri ân các thánh Anh Hài, các ngài đã và mãi trở thành tấm gương cho ta trong đời sống dấn thân, hy sinh, nhắc nhở ta hay biết chết đi những thói hư tật xấu, chết đi chính con người ích kỷ của mình để Đức Kitô được sống, để rồi qua ta Thiên Chúa rộng đường ban ơn cứu độ cho mọi người nhất là những người chưa tin nhận Thiên Chúa

Hue Minh

 

NGÀY THỨ SÁU TUẦN - BÁT NHẬT GIÁNG SINH.

1 Ga 2:12-17; Lc 2: 36-40

MONG ĐỢI ĐẤNG CỨU ĐỘ NHƯ NỮ NGÔN SỨ ANNA

          Cùng đích của đời người là gì? Đó là câu hỏi mà mỗi người thường tự đặt cho mình và luôn suy nghĩ về nó. Nếu câu hỏi này đến với bà Anna trong Tin Mừng hôm nay, chắc bà sẽ trả lời: cùng đích của cuộc đời bà là có Chúa. Bà là một quả phụ già nua trên tám mươi tuổi đời. Với xã hội, có thể bà chỉ là một góa bụa nghèo hèn, vô tích sự. Thế nhưng với Chúa, bà là một người con trung thành ca tụng Chúa qua đời sống ăn chay, cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa và không rời bỏ Đền Thờ.

          Đời sống con người ngày nay đang bị ảnh hưởng, cuốn hút theo lối sống hưởng thụ – thực dụng. Nhiều người chỉ tìm cái lợi trước mắt, thỏa mãn tức thì, lo tích cóp của cải vật chất mà quên đi đời sống tâm linh. Hình ảnh Thiên Chúa quá xa lạ với họ và dường như họ không quan tâm đến. Chính vì vậy, xã hội mỗi ngày thêm nhiều ganh đua, đau khổ và tội ác,… Là những người có niềm tin nơi Thiên Chúa, chúng ta sống là sống cho Chúa và cho tha nhân, biến cuộc đời thành lời ca tụng Chúa như bà Anna trong Tin Mừng hôm nay.

          Thánh sử Luca đề cao đời sống của nữ ngôn sứ tên là Anna. Bà tuy đã già, nhưng là một mẫu người Israel lý tưởng. Bà đã nhận ra giá trị của món quà mà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại, nên “bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa”. Theo tập tục của người Do Thái, người phụ nữ không thể ở lại trong khuôn viên Đền Thờ vào ban đêm, nhưng tác giả Tin Mừng thứ ba muốn nhấn mạnh đến sự chuyên cần trong việc phụng tự và cầu nguyện của người Do Thái thời đó, và còn cho rằng bà Anna có những đức tính tốt lành đó. Vì thế, cả cuộc đời còn lại của bà, là gắn bó mật thiết với Chúa vì bà đã chọn Chúa.

          Chính khi chọn Chúa là tất cả đời mình, tâm hồn bà tràn ngập niềm vui, khiến cho bà quên cả thân phận góa bụa - già nua của mình để chỉ ngày đêm nghĩ đến việc thờ phượng và cảm tạ Thiên Chúa. Hơn thế nữa, khi có cơ hội được tiếp xúc với những người thành tâm thiện chí, nhất là những người từ thành Giêsuralem đến, bà không ngần ngại nói về “Hài Nhi cho những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc” (Lc 2,38b).

          Nữ ngôn sứ mà Tin Mừng thuật lại cho chúng ta hôm nay cũng là mẫu gương cho mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy là những người khôn ngoan, chọn Chúa là phần gia nghiệp đời mình và để tâm tìm cách làm đẹp lòng Chúa. Nhờ đó, dù ở đâu, làm gì … chúng ta vẫn hướng về Chúa là món quà duy nhất Thiên Chúa Cha ban tặng chứ đừng hướng chiều về thế giới vật chất. Vì thánh Gioan nói: “mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi” (1Ga 2, 16).

          Nữ ngôn sứ Anna là hình ảnh của nhân loại mong chờ Đấng Cứu Độ. Cuộc gặp gỡ giữa Hài Nhi Giêsu và bà Anna cho chúng ta xác tín một điều:  chỉ những ai có tâm hồn đơn sơ bé nhỏ, thành kính chay tịnh và âm thầm cầu nguyện mới gặp gỡ được Thiên Chúa. Ngược lại những ai để lòng mình lấp đầy với những sự thế gian như tiền bạc, ham muốn dục vọng chức quyền, người đó chỉ thấy bóng tối của dối trá và chết chóc. Khi sống thân tình với Thiên Chúa trong cầu nguyện, tâm hồn chúng ta sẽ được bình an hạnh phúc. Cũng vậy, khi sống yêu thương hòa nhã với anh em đồng loại cũng là lúc chúng ta gặp gỡ được Thiên Chúa.

          Hài Nhi Giêsu chính là Ánh Sáng xua tan bóng tối của đau khổ, đưa nhân loại thoát mọi u mê lầm lạc của tội lỗi và sự chết. Người cất đi cái ách nặng và gông cùm đang đè lên cổ loài người. Người chính là món quà tình yêu được Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta, tên Người là Cố vấn Kỳ Diệu, là Thần Linh dũng mãnh, là Người Cha muôn thuở và là ông Vua Thái Bình. Người đến khai mở một triều đại mới, đưa muôn dân nước về hưởng phần gia nghiệp của con cái Thiên Chúa.

          Hài nhi Giêsu chính là ánh sáng của tình yêu, ánh sáng của niềm tin và hy vọng chiếu tỏa trên những ai có tâm hồn đơn sơ và khiêm tốn. Ước gì tình yêu của Đấng Cứu Thế ngự trị trong tâm hồn mọi người tín hữu, nơi mỗi gia đình, trong mọi quốc gia, mọi dân tộc. Ân phúc của Chúa Giáng Sinh cũng là mời gọi mỗi người chúng ta dâng lời cảm tạ hồng ân cứu thế, hăng say lên đường ra đi loan báo tin vui, tin bình an cứu độ để tình thương của Thiên Chúa lan tỏa khắp trần gian.

          Ước mong rằng mỗi người trong chúng ta biết bắt chước như bà Anna là sẵn sàng đón nhận những đau khổ, những phi lý về ơn cứu độ và nhất là luôn nhớ sứ mệnh tiên tri đã được trao ban từ ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, để rồi ta có thể bắt chước thánh Phaolô mà nói được như Ngài: "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Ðức Kitô".

 

NGÀY THỨ BẢY TUẦN - BÁT NHẬT GIÁNG SINH.

1 Ga 2:18-21; Ga 1:1-18

LỜI ĐÃ THÀNH XÁC PHÀM

          Với lòng xót thương vô hạn, Thiên Chúa đã cho Con Một Ngài đảm nhận thân phận nhân loại thấp hèn để nâng thân phận ấy lên tình trạng ân sủng, thần linh. Nói như thánh Grêgôriô Nyssa: “Bản tính nhân loại chúng ta đã sa ngã, nay được trỗi dậy; đã chết, nay được sống lại”. Thánh Giáo phụ cũng đại ý bảo rằng dẫu bản tính nhân loại đã sa đọa, đen tối, xấu xa, nhưng không vì thế mà Thiên Chúa lại không đoái đến; chính những mong manh, mỏng giòn, khốn khổ của thân phận con người đã làm Thiên Chúa động lòng trắc ẩn mà đến viếng thăm, mà nâng giấc con người trỗi dậy.

           “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” đó là lời xác quyết của thánh sử Gioan, là lời xác quyết của các tông đồ, của Giáo Hội và cũng là lời xác tín của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Ý nghĩa của câu Lời Chúa này diễn tả mầu nhiệm nhập thể, một Ngôi vị của Thiên Chúa đã được sinh ra và ở giữa chúng ta, để nhờ Người chúng ta trở nên con cái của Thiên Chúa và hưởng trọn lời hứa cứu độ.

          Ngay từ câu đầu tiên của Tin Mừng thánh Gioan đã khẳng định căn tính và nguồn gốc của Ngôi Lời (Logos). “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Lúc khởi đầu là một kiểu nói gợi lên sự khởi đầu tuyệt đối theo sách Sáng thế: “Lúc khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng trời và đất”. Điều này cho thấy nguồn gốc của Đức Giêsu không phải bởi thụ tạo mà bởi Thiên Chúa. Ngôi Lời ấy là Thiên Chúa thật, Đấng được sinh ra mà không phải được tạo thành. Hay nói cách khác, Ngôi Lời đã có từ trước khi tạo dựng, nên Người hiện hữu mà không phải do tạo dựng.

          Thánh Gioan còn khẳng định thêm: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại”.

          Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta, như Đức Chúa hứa qua lời ngôn sứ I-sai-a trong Cựu Ước “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Em-ma-nu-en”. Ngài đã đến thế gian từ cung lòng Thiên Chúa Cha, và từ nay sự hiện diện của Ngôi Lời Nhập Thể là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại. Quả thế, “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (1,1c) “đã trở nên xác phàm” (1, 14) và sống thân phận làm người với sự mong manh, lệ thuộc vào không gian và thời gian. Đó là một con người đã được sinh ra và lớn lên trong một gia đình, một dân tộc và một nền văn hóa riêng như mỗi người chúng ta. Đó là một vị Thiên Chúa đã xuống thế mang thân phận làm người, để đưa con người lên với Thiên Chúa.

          Khi trở nên người phàm, là Thiên Chúa, Ngài đã nhận lấy tất cả những gì là mỏng giòn, yếu đuối, giới hạn của con người cho mình và tràn cái vô biên, vĩnh cửu của Ngài sang cho con người. Nơi Đức Giêsu không còn khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người, nhưng con người được ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong con người. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa không chỉ làm chứng cho tình thương mà còn hiện diện đích thực bằng xương bằng thịt với chúng ta. Nhờ Đức Giêsu Ki tô, Thiên Chúa thấu cảm những gì là khổ đau, là yếu đuối, là lỗi tội nơi chúng ta. Cũng nhờ Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa đem đến cho ta niềm hy vọng và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn.

          Mầu nhiệm nhập thể ấy thật thâm sâu, Ngôi Lời là nguồn Ân Sủng (Đức Giêsu) tái tạo sự sống cho nhân loại, một “mắt xích” nối kết con người với Thiên Chúa và con người với con người. Nhờ đó, trong sự thông hiệp chúng ta được nên một trong Đức Kitô và nên một trong Thiên Chúa. Như vậy, Ngôi Lời nhập thể là niềm vui, là niềm hạnh phúc viên mãn mà con người luôn khát khao. Chúng ta kỹ niệm ngày Chúa Giáng Sinh cũng với tâm tình như vậy, một niềm vui rộn rã vì Hài Nhi Giêsu đã và đang ở giữa chúng ta.

          Lời Thiên Chúa đã trở nên người phàm và cư ngụ trên trái đất hơn 2000 năm nhưng ngày hôm nay, Ngài vẫn còn khát khao được nhập thể, vẫn đang tìm nơi để cư ngụ bởi nhiều tâm hồn còn tối, thể giới vẫn còn đầy bóng đêm: bóng đêm của tội lỗi, của hận thù, của gian dối, của bách hại và đủ mọi hình thức tội ác đang có nguy cơ gia tăng mỗi ngày. Phần chúng ta, Ngôi Lời đã thực sự được sinh ra và cư ngụ trong trái tim và cuộc sống  chúng ta chưa? Ánh sáng, ân sủng của Thiên Chúa có chi phối tư tưởng và hành động của chúng ta không? Đón nhận Ngôi Lời chính là đón nhận Lời Chúa, suy niệm trong lòng và làm cho sinh hoa kết trái trong đời sống hằng ngày như Đức Maria.

          Khi quỳ gối trước Hài Nhi Giêsu bé nhỏ, yếu ớt nơi máng cỏ, ta được nhắc nhớ rằng vì lòng xót thương vô hạn mà Thiên Chúa đã cúi xuống trên thân phận nhận loại chúng ta; Ngài đã đảm nhận lấy thân phận yếu hèn, mỏng giòn, tội lỗi của ta để ta được chung chia thân phận thần linh, uy quyền của Ngài. Và như thế, từ nay, dù đời ta có khốn khổ, nghèo hèn, rách nát đến đâu chăng nữa, thì ta vẫn có thể vui tươi và hy vọng ngẩng cao đầu, trông về trời cao mà bước đi giữa cuộc đời đầy chông gai và đẫm nước mắt này.

Huệ Minh

 

Thứ Năm Mùa Giáng Sinh 

 1 Ga 2, 22-28; Ga 1, 19-28

SỨ VỤ CỦA GIOAN

          Vì quá yêu thương con người, Chúa Giêsu đã đến trần gian, sống với nhân loại và cứu độ họ. Thế nhưng, có rất nhiều người sống đương thời với Chúa Giêsu đã không nhận ra Người là Đấng Cứu Độ đang ở với họ, lại còn chối bỏ tình yêu thương và ơn cứu độ của Người. (Ga 1, 9  -11)

          “Có một  người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan” (Ga 1, 6). Tin Mừng thứ tư đã giới thiệu Gioan bằng một câu như thế ngay giữa Lời Tựa. Đối diện với Ngôi Lời, ngôi vị Thiên Chúa toàn năng luôn luôn “có” từ muôn thuở đến muôn đời muôn kiếp (1, 1-5), đây là Gioan, một con người tầm thường xuất hiện, đi từ hư vô ra cuộc sống. Sau khi đã nêu bật sự cao vời vô biên của Đức Kitô, tác giả mau mắn xác định sự cao cả của Gioan: ông được Thiên Chúa sai phái và có sứ mạng làm chứng cho ánh sáng: “Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng” (1, 7). 

          Gioan chỉ khẳng định hai điều: Người đang ở giữa họ, nhưng họ không nhận biết Người; Người cao trọng đến mức chính Gioan cũng không xứng đáng phục vụ Người theo cách thức của một nô lệ. Ẩn mình và cao trọng vẫn là hai nét tiêu biểu của Đức Giêsu. Người là ánh sáng tỏa rạng trong tình trạng ẩn tàng đồng thời là ánh sáng chân thật duy nhất.

          Gioan nói như chứng nhân và khẳng định tính khả tín của chính ông. Ông nói thẳng ra ông không phải là ai (1, 19-21) và ông là ai (1, 22-23) và ai sẽ đến sau ông (1, 25-27). Ngay trong Lời Tựa, tác giả TM đã cho biết: “Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng” (1, 8). Trước tiên ông nói ông không là ai, như để tránh che mất Đấng ông phải làm chứng cho, nếu như ông lo khẳng định về bản thân. Rồi khi phải nói ông là ai, thì ông cho biết ông chỉ là tiếng của người hô trong hoang địa: hoạt động của ông có tầm quan trọng đặc biệt vì được chính Kinh Thánh loan báo, được Thiên Chúa quy định, nhưng chỉ là một  tiếng nói loan báo rằng Chúa đang đến và khuyến khích người ta dọn lòng đón tiếp Người.

          Gioan Tẩy Giả có một lối sống thu hút nên nhiều người đến với ngài. Nhưng ngài không giữ họ lại cho mình mà dẫn họ tới Chúa. Vậy mà nhiều người làm ngược hẳn lại: đã không dẫn người ta đến với Chúa mà còn ngăn cản hoặc giữ lại cho riêng mình. Người làm chứng cho Chúa đúng nghĩa phải có thể nói như Gioan “Ngài phải lớn lên còn tôi phải nhỏ đi.”

          Gioan Tẩy Giả đã “nói tiếng không” về bản thân mình, để “nói tiếng có” về Chúa Giêsu. “Tôi không phải là…” “Có Đấng… đến sau tôi…” - Xin Chúa cứ lớn dần trong con để con ngày càng nhỏ bé trong tay Chúa.

           Ông Gioan trả lời: “Có một vị ở giữa các ông mà các ông không hay biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,27)

          Đúng là sứ vụ của một ngôn sứ, tiên báo Đấng Mêsia sẽ đến: Thánh Gioan Tẩy giả đã đóng đúng vai trò của mình, ngài nhìn nhận sự thật về sứ vụ là dọn đường cho Đức Kitô đến, bằng việc dọn lòng cho dân chúng hoán cải và sẵn sàng tin vào Tin Mừng cứu độ mà Đức Giêsu mang đến trong trần gian. Thắc mắc của những người được sai đến với ông Gioan đã được giải thích thoả đáng, một khát vọng mong chờ chung của Dân Hípri: Mong Đấng Mêsia xuất hiện. Gioan không phải là Đấng Kitô, nhưng phép rửa mà Ngài thực hiện mang tính duy nhất, đúng hơn là mang tính cánh chung, để kêu gọi lòng dân trở lại với đường ngay nẻo chính; chuẩn bị cho dân đón nhận một Phép Rửa trong nước và thần khí mà Đức Kitô sẽ thực hiện.

          Sứ vụ của Gioan cho chúng ta suy nghĩ về thái độ sống của chúng ta, với danh nghĩa là Kitô hữu. Chúng ta nghe nói nhiều đến sứ vụ ngôn sứ của Dân Thiên Chuá, và cũng là của từng Kitô hữu chúng ta (GLCG, số 785), một sứ vụ mời gọi chúng ta sống làm sao để trở nên nhân chứng của Đức Kitô giữa lòng đời vốn có nhiều biến chuyển này.

          Qua lời chứng của Thánh Gioan Tiền Hô, chúng ta xác tín rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Người yêu thương chúng ta vô cùng và ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28, 20). Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu và phó thác cuộc đời mình trong sự yêu thương quan phòng của Ngài. Khi đặt trọn cuộc đời mình cho Chúa và cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui và bình an cùng với nghị lực để vượt thắng những cám dỗ và thách đố trong đời sống của mình. “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 28)

          Bất cứ Kitô hữu nào trong hoàn cảnh nào hay thời đại nào cũng cần thấy mình là một  chứng nhân như Gioan. Họ biết mình không là gì cả khi sánh với Đấng họ phải làm chứng cho. Tuy nhiên, chính Đấng ấy lại muốn chọn họ để tỏ mình ra cho thế giới. Tình trạng cao cả mà thật ra thấp hèn, thấp hèn nhưng cũng cao cả, đã là tư cách của Gioan, thì cũng là thân phận của mọi Kitô hữu.

Huệ Minh

 

Thứ Sáu Mùa Giáng Sinh 

1 Ga 2, 29 - 3, 6, Ga 1, 29-34

ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA

          Mở sách Khải Huyền, a thấy tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” cho Đức Giêsu 28 lần. Trong đó, nhấn mạnh Con Chiên ngự trên ngai vương quyền. Là Đấng chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh vinh quang. Con Chiên được ca ngợi như sau: “Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước mọi dân. Ngài cũng làm cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta” (Kh 5, 9-10). “Tôi thấy và tôi nghe tiếng muôn vàn thiên thần ở chung quanh ngai lớn tiếng hô: Con Chiên đã bị giết, nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang và muôn lời cung chúc. Amen” (Kh 5, 12).

          Tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” gợi lên ba hình ảnh sống động về ơn cứu độ của các con chiên thời Cựu Ước như sau:

          Chúa Giêsu là Con Chiên Cứu Độ: Máu Người đổ ra trên thập tự trở thành giá chuộc muôn người, giống như máu con chiên được bôi trên thành cửa đã cứu các con trai đầu lòng của dân Do thái khỏi bị hủy diệt trong ngày Vượt Qua.

          Chúa Giêsu chính là Con Chiên Gánh tội và xóa tội trần gian, khi chịu hiến tế trên bàn thờ Thập Giá để đền thay cho tội lỗi chúng ta, giống như con chiên thanh sạch phải gánh tội và xóa tội cho toàn dân trong lễ Xá Tội của đạo Do Thái.

          Chúa Giêsu là Con Chiên Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh vinh quang để ban ơn cứu độ cho nhân loại như sách Khải Huyền đã ghi nhận (Kh 5,9-10).

          Chúa Giêsu có nhiều tước hiệu như : "Ánh Sáng trần gian”, “Mục Tử nhân lành”, “Bánh Hằng Sống”… nhưng trong thánh lễ Giáo Hội đã dùng tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” trong phần hiệp lễ: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian…”.

          Qua thế, Đức Giêsu Nazareth là chính Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, Đấng đã đến từ nơi Thiên Chúa Cha, Ngài chính là Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Biến cố xuất hiện công khai của Chúa Giêsu như mở đầu cho một thời đại mới và đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt nhân loại và cả thế giới này.

           Gioan Tẩy giả cho thấy, lúc đó mặc dù ông đang là tâm điểm thu hút nhiều người tuốn đến với ông, nhưng khi nhìn thấy Chúa Giêsu xuất hiện, thì Gioan  nhận ra rằng nhiệm vụ của ông đã vào hồi kết. Ông nhường bước và long trọng giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người: Đây là chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xóa bỏ tội trần gian. Với lời giới thiệu này thì người Do Thái nào cũng nghĩ ngay đến hình ảnh ngày lễ xá tội hàng năm, vị Thượng tế phải đại diện cho dân chúng đặt tay trên đầu một con chiên trước đền thờ Chúa để xưng thú tất cả tội lỗi của dân, và con chiên ấy trở thành con chiên gánh tội cho dân.

          Khác với các tiên tri khác là những người chỉ tiên báo về Đấng Cứu Thế, thì Gioan đã chỉ đích danh Đấng Cứu thế cho mọi người. Ông còn giải thích thêm: Chính Người là Đấng tôi đã nói đến: Người đến sau tôi nhưng trổi vượt hơn tôi và Ngài có trước tôi. Như thế có nghĩa là Gioan đã giới thiệu cho mọi người biết địa vị trổi vượt cua Chúa Giêsu và thời đại của Đấng Mesia đã bắt đầu, thời đại của ánh sáng cứu độ đã đến.

          Gioan đã tuyên xưng niềm tin của mình khi tin nhận Ngài là Đấng có trước ông, là Đấng hiện hữu từ muôn đời, nay xuất hiện giữa loài người và mang lấy tất cả sự giới hạn của con người. Gioan đã nhớ lại mấy ngày trước đây Ngài đến xin ông làm phép rửa, và khi  vừa ra khỏi nước thì trời mở ra và Thần Khí của Thiên Chúa như chim bồ câu đậu xuống trên Người. Gioan cũng cho biết chính Đấng sai ông làm phép rửa đã cho ông một dấu chỉ: Ngươi thấy Thần Khí ngự xuống trên ai thì đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần và Chúa Giêsu chính là Đấng ấy và những ai tin và lãnh nhận phép rửa bởi Chúa Giêsu cũng sẽ đón nhận được Thần Khí của Ngài.

          Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa đã được sai sai đến trần gian với sứ vụ đem ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất. Lời của Isaia trong bài đọc một đã ứng nghiệm hoàn toàn nơi Chúa Giêsu, Ngài trở thành Đấng quy tụ muôn dân nên một, đem nhà Jacop trở về, chiếu tòa vinh quang Thiên Chúa cho mọi người mọi dân. Thiên Chúa còn nói với Người rằng: Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đên tận cùng trái đất.

          Mỗi khi tham dự thánh lễ, người Kitô hữu được nghe lời mời gọi: Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa. Phúc cho người được vào dự tiệc cưới của Con Chiên trong Nước Trời. Niềm hạnh phúc ấy được cảm nếm ngay hôm nay khi người Kitô hữu tham dự Thánh lễ và đón rước Mình Thánh Chúa. Như Con Chiên đã chịu sát tế với trọn tình yêu tự hiến. Người Kitô hữu cũng được mời gọi trao hiến cuộc đời cho tha nhân khi sống liên đới với anh chị em và quảng đại nâng đỡ gánh nặng của những người trong cùng một gia đình, một cộng đoàn.

Huệ Minh

 

Thứ Ba tuần 4 MV.

Sáng: 2Sm 7:1-5.8b-12.14a.16; Lc 1:67-79

Chiều: LỄ VỌNG GIÁNG SINH (Tr).

Is 62,1-5; Cv 13,16-17.22-25; Mt 1,1-25.

TRỞ NÊN QUÀ TẶNG CHO THA NHÂN

          Đêm nay, chúng ta tụ họp nơi đây để mừng Đêm Thánh, Đêm kỷ niệm Con Thiên Chúa Giáng Sinh và cư ngụ giữa chúng ta trong thân phận của một con người bình thường (Ga 1, 14; Dt 4, 15). Đây là món quà cao quý mà Thiên Chúa Cha đã trao tặng cho nhân loại. Thật vậy, Chúa Giêsu Giáng Sinh đã trở thành niềm vui cho toàn thể thế giới, là nguồn bình an mà muôn dân mong ngóng đợi trông, là Đấng đem lại cho con người hạnh phúc thật.

          Đêm nay, toàn thể thế giới đang long trọng mừng lễ Giáng sinh, kỷ niệm sinh nhật lần thứ 2019 của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa Giáng sinh làm người. Mầu nhiệm giáng sinh diễn tả tình yêu thương của Đức Giêsu đối với loài người. Tình thương và sự hy sinh của người cha trong câu chuyện trên phần nào phản ảnh tình thương và sự hy sinh của Đức Giêsu đối với loài người chúng ta.

          Đúng như lời trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế.” Thánh Phaolô cũng diễn tả sự hy sinh đó trong thư Philipphê rằng: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2, 6-8).

          Đấng Cứu Thế đầy uy lực và với nhiều danh hiệu: “Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” (Is 9, 5b). Không dừng ở mức đó, mọi sự vẫn không ngừng tiếp diễn: “Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đavít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó” (Is 9, 6).

          Biến cố Thiên Chúa làm người không chỉ là niềm vui của một nhóm nhỏ những người được chứng kiến, cũng không chỉ là niềm vui của dân tộc Do Thái, là niềm vui của toàn dân (Lc 2, 10). Vì thế mà ngôn sứ Isaia muốn hét to lên để loan truyền cho tới tận cùng trái đất rằng ơn cứu độ đang tới. Cảnh hoang tàn sầu khổ và thân đơn goá bụa đã chấm dứt. Không còn nước mắt nữa, bù vào đó sẽ là niềm vui. Niềm vui này lan toả đến mọi tâm hồn, nhất là với những ai thành tâm thiện chí. Không vui sao được, khi được chứng kiến Chúa can thiệp và lật đổ những kẻ quyền thế hùng mạnh, những chiếc áo choàng đẫm máu đào sẽ bị đốt đi. Chiến tranh sẽ không còn và thay vào đó là vương quyền của Vua Hoà bình, từ nay sẽ lãnh đạo thế giới bằng tình thương và lòng nhân hậu.

          Đên nay là: Đêm Hồng Ân; Đêm tình thương cứu thế; Đêm chan hòa Ánh Sáng; Đêm giao hòa giữa Trời và đất; Đêm khơi nguồn Bình An; Đêm mà Thiên Chúa và con người gặp nhau; Đêm Thiên Chúa trở thành người, để con người được phục hồi nhân vị trong tư cách là con và được gọi Người bằng Áp Ba - Cha ơi, vì thế, “… anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế” (Gl 4, 4-7).

          Đêm nay Con Thiên Chúa giáng trần, nhập thể và nhập thế – mặc xác phàm và ở với nhân loại. Không còn niềm vui nào hơn nữa. Niềm vui khôn tả khi người dưới được người trên đến thăm; thần dân vô cùng hạnh phúc khi được nhà Vua ghé vào “tệ xá” của mình; dân tình khốn khổ vì thấp cổ bé miệng sẽ trở nên sung sướng khi được tổng thống lưu ý. Thế thì niềm vui sướng tột cùng, hơn mọi niềm vui sướng khác, bởi vì chính Vua của các vua và Chúa của các chúa đích thân vi hành, đích thân đến với chúng ta.

          Giáo hội quen dùng tán tụng ca của các thiên thần hát vang trong đêm Con Chúa sinh tại Bêlem: Gloria in excelsis Deo (Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời). Ngôn ngữ loài người không thể đủ để diễn tả niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh này! Nhà soạn nhạc Johann Sebastian Bach đã sáng tác bản nhạc tôn giáo “Gloria” vào năm 1733, và khoảng năm 1745, ông viết bản “Gloria in excelsis Deo” cũng theo “phong cách” như bản “Gloria”. Cả hai bản đều được viết ở âm thể Si Trưởng. Bản “Gloria in excelsis Deo” đã được cất tiếng hát vang vào ngày lễ Giáng Sinh năm 1745 để mừng đón hòa bình sau những đợt chiến tranh Salesia giữa Áo quốc và Prussia.

          Cuộc hạ sinh của Đức Giêsu cũng được ví như một cuộc tạo dựng mới. Một cuộc tạo dựng hoàn toàn tinh tuyền không vướng nhơ tội lỗi bởi một người Mẹ là Đức Maria đồng trinh, bởi một vị cha nuôi là thánh Giuse – Đấng Công Chính, và trên hết, Đức Giêsu xuất phát từ “Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật” (Kinh Tin Kính). 

          Chính vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã khẳng định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12).

          Chúa Cha đã yêu thương nhân loại đến nỗi trao tặng Người Con Một, Người Con ấy là Ân Sủng của Thiên Chúa, đem ơn cứu độ đến trần gian (Tt 2, 11 ), là Ðấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta. Cuộc giáng sinh diệu kỳ của Con Một Chúa đã đánh dấu bước điểm khởi đầu mới của lịch sử. Ngôi Lời đã nhập thể vì chúng ta và sống giữa chúng ta. Nơi bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày có sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa ở giữa chúng ta

          Đứng trước hồng ân cao trọng này, chúng ta không thể không cất cao bài ca: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu! Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người” (Tv 96, 1-3).

          Khi mừng lễ Giáng Sinh với tâm tình như vậy, mỗi người chúng ta hãy khám phá ra “Đức Giêsu là quà tặng quí giá nhất Thiên Chúa trao gởi cho con người” (Ga 3,16; Is 9,5). Lời của Thiên Sứ báo tin cho các mục đồng chứng tỏ điều đó: “Này, tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (Lc 2, 10-11).

           Noi gương Chúa Giêsu, và để cho Ngài sống cũng như lớn lên trong tâm hồn chúng ta, mỗi người hãy trở nên quà tặng cho tha nhân qua một cử chỉ chân thành, một hành động ý nghĩa, một nụ cười thân thiện, một nghĩa cử cảm thông phát xuất từ niềm tin và lòng thương xót…

Huệ Minh

Thứ Bảy Mùa Giáng Sinh 

 1 Ga 3, 7-10; Ga 1, 35-42

ĐẾN MÀ XEM

          Hôm nay, ta nghe lời mời gọi Chúa Giêsu gửi đến Anrê và một môn đệ khác của Thánh Gioan Tẩy Giả « Hãy đến mà xem nếu như các anh muốn biết Ta ở đâu và Ta sống như thế nào ! » Cũng như hai ông « đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy », tôi cũng đã đến, xem, sống và trưởng thành trong Hội dòng ấy với Đức Kitô đến ngày hôm nay.

          Đến mà xem : Dịch sát là “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe. Mệnh lệnh cách erchesthe có thể hiểu theo nghĩa điều kiện là “nếu như, với điều kiện”. Còn opsesthe là thì tương lai của động từ horaô, có thể hiểu như một lời hứa của Đức Giêsu: TM IV có bốn động từ để diễn tả cái nhìn, từ cái nhìn thể lý nhất đến cái nhìn chiêm ngưỡng sâu sắc nhất, đó là: blepein, theasthai, theôrein, horan [idein]. Động từ sau cùng thuộc về lãnh vực đức tin. Trong Ga 1,39, Đức Giêsu mời các ông di chuyển về phía Người và có cái nhìn đức tin.

          Câu trả lời của Đức Giêsu ở đây cũng có một mức sâu hơn: việc khám phá ra nơi ở trần thế của Người tượng trưng và chuẩn bị cho việc khám phá ra nơi ở thiêng liêng của Người. Bước đi theo Người theo cách thể lý, các môn đệ thấy nơi trú ngụ của Người; hơn nữa, đã bước đi theo Người cách thiêng liêng bằng lòng tin, họ cũng bắt đầu thấy được nơi ở thiêng liêng của Người, tức Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (14,9).

          “Hãy đến mà xem” … đó là lời mời gọi dành cho tất cả những tâm hồn khao khát tìm kiếm gặp gỡ Chúa. Chúng ta có thể nghe kể rất nhiều về Đức Kitô, nhưng nếu chúng ta không một lần mở trang Thánh Kinh ra để đọc, để suy niệm, để lắng nghe tiếng Chúa, thì tất cả những gì chúng ta nghe được đều dừng lại ở sự thích thú, tò mò và không có chiều sâu. Chúng ta có thể theo học nhiều lớp giáo lý, nhiều buổi hội thảo về đức tin và ơn gọi, nhưng nếu chúng ta không dành thời gian để cầu nguyện, để ngồi bên chân Chúa, để « ở lại trong tình yêu Chúa » thì chúng ta vẫn không thể « gặp Đấng Messia » như hai môn đệ ấy. Và nếu chúng ta không « gặp » được Chúa, liệu chúng ta có thể loan báo cho anh chị em sống xung quanh chúng ta về niềm vui có Chúa trong đời, được Chúa yêu thương ?

          “Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy”. Các môn đệ đã không ngần ngại rời bỏ Gioan để đi theo Đấng mà Gioan gọi là « Chiên Thiên Chúa ». Các ông không ngần ngại bày tỏ ước muốn được biết nhiều hơn về Đấng mà Thầy các ông luôn tôn kính. Và các ông cũng không ngần ngại bước  theo Đức Giêsu, dành thời gian để khám phá về Ngài và để Ngài dẫn dắt. Vì ước muốn của các ông cao đẹp, và vì trái tim các ông rộng mở, các ông đã thực sự gặp được Đấng mà lòng các ông khao khát mong chờ. Niềm vui trong tim dâng trào, các ông không thể giữ cho riêng mình, các ông muốn san sẻ cho người thân, bạn bè niềm hạnh phúc được « ở lại bên Chúa ».

           Anrê không gặp Simôn Phêrô tình cờ, nhưng đã chủ ý đi tìm ông này, để đưa ông tham dự vào kinh nghiệm mới mẻ và lạ lùng của ông: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”. Anrê không chỉ giới hạn vào việc làm chứng, ông còn dẫn Simôn đến gặp Đức Giêsu. Có vô số nẻo đường cụ thể đưa người ta đến với Đức Giêsu: tôi nghĩ đến những nẻo đường đã đưa tôi đến với Người. Trên các nẻo đường này, có lời chứng và gương sáng của những người khác góp vào. Nhưng chắc chắn phần quan trọng vẫn là kinh nghiệm thiết thân tôi có về Đức Giêsu. 

           Lời mời gọi và lời hứa của Đức Giêsu hết sức quan trọng: “Hãy đến và các anh sẽ thấy!”. Tất cả mọi chuyện đều nhắm đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không giao cho những kẻ đi theo Người một quyển sách chứa đựng các giáo thuyết và điều luật phải học và phải tuân giữ, nhưng Người kêu gọi họ đi vào một tương quan riêng tư với Người, đi vào hiệp thông với Người. Phần họ, họ không được giữ một khoảng cách an toàn với Người để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào, phải đi với Người, phải đưa bước trên nẻo đường Người đi.

          Hãy đến mà xem: Đức Giê-su không hối thúc người ta phải tin Người mà chỉ nới với họ: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến, đã xem thấy lối sống thân thiện, niềm nở, nồng ấm của Người. Họ biết mình đã gặp được một con người tuyệt vời, và thế là phát sinh một tình cảm. Khi ở với Đức Giê-su, họ cảm thấy bình an thoải mái trong tâm hồn. Nhờ tiếp xúc với Đức Giê-su, họ còn khám phá ra chính bản thân mình và quyết tâm sống theo lối sống của Người.

          Khác biệt giữa sự áp đặt và tự nguyện theo Chúa: Những người hành quyền trên người khác thì muốn chế ngự người khác, biến họ thành nô lệ theo ý mình. Trái lại, Đức Giê-su không gò ép ai. Người cho người ta tự do lựa chọn theo hay không theo làm môn đệ Người. Chính thái độ sống và gương sáng của Đức Giê-su đã khiến các ông tự nguyện theo làm môn đệ Người

           Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người suy nghĩ về ơn gọi Kitô hữu của chính mình. Liệu chúng ta có thật sự là một người môn đệ luôn kiếm tìm Chúa từng ngày trong cuộc sống chúng ta ? Liệu chúng ta, giữa bộn bề của công việc, biết dành những giây phút quý giá để đến với Chúa, để lắng nghe tiếng Chúa không ngừng thì thầm « Ta yêu con, hãy theo Ta, hãy đến để cảm nghiệm tình yêu Ta dành cho con » ? Liệu chúng ta có biết quảng đại và sẵn sàng chia sẻ với tất cả mọi người niềm hạnh phúc được làm con Chúa ?

Chúa Nhật Mùa Giáng Sinh 

 Lễ Hiển Linh

 Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a. 5-6; Mt 2, 1-12

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH CHO TA - TA TỎ MÌNH RA CHO NGƯỜI XUNG QUANH

          Nhà đại thiên văn Kepler khám phá ra rằng vào năm Chúa Giáng sinh, có một hiện tượng bất bình thường xảy ra giữa các vì sao. Ông nói về hai ngôi sao Jupiter và Saturn rằng: Bình thường chúng vẫn quay cách đều nhau. Năm đó chúng sáp lại gần nhau đến độ ánh sáng của ngôi sao này cộng hưởng với ánh sáng của ngôi sao kia, tạo ra một luồng sáng khác thường và kéo dài đến cả mấy tháng.

          Người xưa cho rằng ngày ra đời của các vĩ nhân thường được báo hiệu bằng sự xuất hiện của các ngôi sao lớn. Các chiêm tinh thường nghiên cứu những chuyển động của các vì tinh tú để đoán biết định mệnh con người. Vì thế, khi nhìn thấy ngôi sao lạ, các đạo sĩ đã nhận ra sự sinh hạ của Đấng Cứu Thế, Vua dân Do thái.

          Thực sự, người Do thái đã trông đợi Đấng Cứu Tinh từ nhiều thế kỷ, Đấng ấy được ví như một vì sao từ Giacóp, như có lời trong Kinh thánh: "Một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng chỗi dậy từ Israel" (Ds 24, 17). Tiên tri Mikha cũng đã tiên báo: "Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel " (Mk 5, 1).

          Thiên Chúa đã dùng cột mây cột lửa để hướng dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về đất hứa, thì Người cũng có thể dùng ngôi sao dẫn đường cho các đạo sĩ đến Belem để gặp Đấng Cứu Tinh. Thế nhưng, thật trớ trêu là: vị Cứu Tinh xuất hiện sau bao thế kỷ đợi chờ, dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm, các thượng tế và kinh sư thì dửng dưng thụ động, cho dù họ hiểu Kinh thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế. Hêrôđê lại còn hoảng hốt vì sợ ngai vàng của mình bị lung lay.

          Đại diện cho lương dân, là đạo sĩ hăng hái lên đường tìm kiếm. Nên sau này, Đức Giêsu đã phải thốt lên: "Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, lsaac và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài" (Mt 8, 11-12).

          Thiên Chúa yêu thương ta và muốn tỏ cho ta biết Người yêu thương ta đến ngần nào. Qua biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu, Thiên Chúa cho ta biết Người là ai và muốn làm gì để ta được làm con cái Người và được cứu độ. Điều đáng mừng nhất, đó là ơn cứu độ đã được ban cho mọi người không trừ ai. Dĩ nhiên ta không phải là người Do-thái, nhưng cũng không bị loại bỏ, trái lại được quyền đến chia sẻ cùng một gia nghiệp của Thiên Chúa. 

          Lễ Hiển Linh là lễ Chúa tỏ mình ra. Việc Chúa sinh ra được loan báo cho mọi người biết dưới nhiều hình thức khác nhau như: lời các ngôn sứ loan báo từ nhiều thế kỷ trước, đạo binh thiên thần ca hát, ngôi sao lạ xuất hiện... Tuy nhiên không phải ai cũng gặp được Chúa.

          Ngày hôm nay Thiên Chúa tỏ mình ra cho ba nhà đạo sĩ đến từ phương Đông, nghĩa là những người ở ngoài dân Chúa và bị người Do Thái xếp vào hàng dân ngoại. Chính vì thế lễ Hiển Linh có thể được coi như là lễ Giáng sinh của người ngoại. Tuy nhiên, qua phụng vụ chúng ta thấy được tính cách bi đát của chương trình cứu độ như thánh Gioan đã diễn tả: Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà các người thân đã không tiếp nhận Ngài.

          Thật thế, ngôn sứ Isaia đã đưa ra những lời tiên đoán đầy phấn khởi về Giêrusalem vào ngày Đấng cứu thế xuất hiện. Ngày ấy, Giêrusalem sẽ trở thành trung tâm ánh sáng và mọi người từ bốn phương trời sẽ tiến về đó với muôn vàn lễ vật. Nhưng trớ trêu thay, vào ngày Con Thiên Chúa giáng sinh làm người, theo như lời tiên tri Isaia loan báo, ánh sáng đã chiếu trên Giêrusalem, nhưng lại chỉ có những người ở ngoài mới nhận ra ánh sáng ấy, còn dân trong thành thì vẫn tiếp tục sống trong u tối. Giêrusalem đã có thể chỉ rõ nơi vua dân Do Thái mới sinh ra, nhưng lại chỉ có những người ở ngoài mới tới thờ lạy Ngài.

          Một ngôi sao xuất hiện trên bầu trời thì có chi đáng quan tâm. Nhưng tất cả cuộc hành trình kỳ diệu lại khởi đầu từ đó. Đêm hôm ấy, hẳn cũng đã có nhiều người nhìn lên trời, ngắm những vì sao nhưng lại không thấy được vì sao của Ngài. Cũng thế, những biến cố, những sự kiện diễn ra hằng ngày trên đường phố, trong xã hội

          Gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Ngài, là mục đích cuối cùng của đời người chúng ta, và đó cũng là trung tâm của bài Tin Mừng Lễ Hiển Linh hôm nay. Các mục tiêu cuối cùng trên, chúng ta thấy có những nhân vật nổi bật như vua Hêrôđê, các trưởng tế và luật sĩ tại Giêrusalem, các đạo sĩ từ Phương Đông. Mỗi một người trong hoàn cảnh riêng của họ đều được Chúa mạc khải cho, được Chúa mời gọi đến với Ngài bằng những con đường khác nhau. Các đạo sĩ nhờ ngôi sao sáng của thiên nhiên trong vũ trụ, một kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa. Các trưởng tế và luật sĩ thì qua con đường mạc khải của Kinh Thánh, qua lời dạy của các tiên tri mà họ biết nằm lòng. Vua Hêrôđê thì qua chứng tá của những kẻ qua con đường gặp Chúa, qua chứng tá của các đạo sĩ và các trưởng tế, luật sĩ tại Giêrusalem. Nhưng rồi chỉ có các đạo sĩ là đi đến cùng con đường, là gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Ngài.

          Ngày nay có nhiều người đang tìm kiếm Chúa. Nhiều người muốn biết Chúa để theo Chúa. Nhưng họ không biết đường biết hướng. Cũng như Ba Vua, họ cần có những ánh sao soi đường dẫn lối.

          Lễ Chúa Hiển Linh mời ta nhận ra và trân trọng hoạt động của Thiên Chúa nơi anh chị em ngoài Kitô giáo. Có khi chúng ta giống các thượng tế và kinh sư tự mãn với cái biết lý thuyết của mình về Thiên Chúa, nên chẳng muốn lên đường gặp mặt Ngài. Ước gì chúng ta không coi mình như người đã tìm thấy, nhưng khiêm tốn học hỏi nơi những người đang tìm kiếm.

Thứ Hai Mùa Giáng Sin

1 Ga 3, 22 - 4, 6; Mt 4, 12-17. 23-25

TỎ MÌNH CHO NGƯỜI KHÁC

          Tin mừng hôm gợi nhắc cho chúng ta nhớ rằng các dân tộc trên thế giới đã lầm lũi bước đi trong bóng tối của khốn khổ, u sầu thì nay Chúa đã tỏ mình, Chúa đã hiển linh, đã soi rọi ánh sáng tình thương ơn cứu độ của Ngài vào cả dân ngoại lẫn dân Israel vốn là dân riêng Thiên Chúa tuyển chọn.

          Thiên Chúa xuất hiện như ánh sáng bùng lên trong bóng tối. Muôn dân tiến về Giêrusalem dâng tiến lễ vật lên Thiên Chúa. Muôn dân cũng được tôn thờ Thiên Chúa, và như vậy, được trở thành con dân Thiên Chúa. Đây là Tin Mừng đối với dân ngoại mà tiên tri Isaya đã loan báo thời Cựu Ước. Thánh Phaolô cũng lập lại điều này thời Tân Ước: “trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” Nhờ Đức Kitô, các dân tộc khác cũng được ngang hàng với dân Do Thái.

          Đức Giêsu chọn Galilê - miền Bắc Do Thái là miền đất của dân ngoại  như một trung tâm truyền giáo vì nơi đây có vai trò tôn giáo quan trọng, nơi có thành Caphacnaum, hơn nữa Đức Giêsu đã lớn lên ở Nadaret cũng thuộc Galilê. Có thể nói Đức Giêsu đã quen thuộc địa lý xã hội chính trị và tôn giáo tại Galilê. Bên cạnh đó, người dân vùng Galilê sống cởi mở, thích đón nhận những trào lưu tư tưởng mới nên rất thuận lợi cho việc truyền giáo. Điều đáng nói ở đây, Đức Giêsu giảng dạy có uy quyền và thuyết phục hơn các kinh sư và thày khác bởi Người có phép lạ kèm theo.

          Đức Giêsu loan báo Nước trời “đến gần” qua các dấu hiệu và việc làm cụ thể đó là ma quỷ bị xua trừ, mọi người đau bệnh tật nguyền được chữa lành. Một viễn cảnh thái bình an vui đang mở ra trước mắt mọi người. Dân chúng từ miền Galilê, vùng Thập Tỉnh, thành Giêrusalem, miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan lũ lượt kéo đến đi theo Đức Giêsu. Ta thấy ai nấy lắng nghe một cách chăm chú và sửng sốt bởi chưa bao giờ họ được nghe những điều huấn giáo mới mẻ và thuyết phục như vậy.

          Đức Giêsu đã có một khởi đầu mới “thuận buồm xuôi gió”. Người đã đến để thực hiện kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã trao phó. Kế hoạch đó không gì khác ngoài việc yêu thương và giải thoát loài người khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết, đem đến cho họ niềm vui, sự an bình và nguồn hạnh phúc đích thực. Nhưng để có được hạnh phúc lớn lao ấy đòi hỏi mọi người phải sám hối. Như vậy sám hối chính là thái độ cần phải có để trở thành công dân Nước Trời. Sám hối chính là nhìn nhận những yếu đuối của mình để thêm tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa.

          Để tỏ mình ra cho các mục đồng, là đại diện cho tầng lớp thấp cổ, bé miệng nhất trong xã hội, trên cánh đồng Bêlem, trong đêm Gíang Sinh, Chúa Giêsu đã nhờ đến lời loan báo của các Thiên Thần trên cao.

          Để tỏ mình ra cho 3 nhà đạo sĩ, đại diện cho tầng lớp quý tộc và dân ngoại từ tứ phương thiên hạ, Chúa Giêsu đã nhờ đến ánh sao lạ chỉ đường.

          Để tỏ mình ra cho đoàn dân đang ngồi trong tối tử thần, nơi miền đất của dân ngoại. Tin mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ công khai với lời kêu gọi “anh em hãy sám hối  vì nước trời đã đến gần”. Sám hối chính là sứ điệp quan trọng mà Chúa Giêsu ưu tiên khai mở nơi tâm hồn mỗi người, nó cũng chính là điều kiện căn bản để đón nhận nước trời. Do đó, tại mỗi nơi đi qua, một mặt Chúa Giêsu loan báo về niềm vui và hy vọng vì “nước trời đã đến gần”. Nhưng mặt khác, Người cũng không quên kêu gọi sám hối để đón nhận niềm vui và hy vọng đó.

          Cùng với lời rao giảng là những phép lạ kèm theo, Đức Giêsu minh chứng Người chính là Đấng Cứu Thế mà Gioan Tẩy giả đã giới thiệu và tiên tri Isasia đã loan báo từ xưa trong Thánh Kinh.

          Trước những con tim quen oán thù người khác, có thể chiến thắng kẻ thù nhưng lại không thắng nổi lòng tham, chỉ vì không nhận ra kẻ thù đích thật là thế gian, ma quỉ và đam mê xác thịt, những cái không đến từ Thiên Chúa, kẻ thù này chỉ thắng nổi với con tim thảo hiếu và trong lời kinh chúc tụng, trong tiếng gọi Cha ơi -Abba – ngàn đời của người Con Một dấu yêu,Tin Mừng Nước Trời đã được rao giảng, Dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người, và tất cả tràn ngập niềm vui.

          Chúa đã tỏ mình, hiển linh rồi mà sao thế giới vẫn lầm lũi bước đi trong tăm tối của sự dữ, của hận thù và chia rẽ? Chúa đã chiếu rọi ánh sáng tình thương và quyền năng của Ngài vào chốn dương gian này rồi mà sao lòng chúng ta vẫn tăm tối trong yếu đuối, tội lỗi? Như vậy có lẽ nào chúng ta còn phải chờ đợi một Đấng Thiên Sai khác?

          Ta thấy thế giới này và bản thân mỗi người chúng ta vẫn đắm chìm trong bóng tối của tội lỗi và sự ác là vì chúng ta vẫn chưa ăn năn, hoán cải, thay đổi lại đời sống của mình để ánh sáng tình thương của Chúa được tỏ rạng. Bởi vậy, lời mời gọi của Chúa: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” vẫn là sứ điệp có tính thời sự không chỉ dành cho dân Chúa xưa kia mà còn dành cho mỗi người chúng ta ngày hôm nay và mãi mãi về sau.

          Nếu xưa kia, Chúa Giêsu dùng nhiều cách thức để tỏ mình ra cho mọi người tin nhận Người là Ánh Sáng chân lý và là Đấng Cứu Độ trần gian, thì ngày nay, Chúa lại thích dùng mỗi người chúng ta để tỏ mình cho người khác.


 

Thứ Ba Mùa Giáng Sinh 

1 Ga 4, 7-10; Mc 6, 34-44

 CHIA SẺ CHO NGƯỜI KHÁC

          Qua trang Tin Mừng hôm nay làm nổi bật lòng bác ái mục tử của Chúa Giêsu. Ngài động lòng thương khi thấy đám đông tìm đến lắng nghe Ngài, họ như đàn “chiên không người chăn giữ”. Hoàn cảnh của họ đã chạm vào trái tim vốn rất tinh tế của Chúa Giêsu, làm rung lên nhịp thương cảm. Thái độ “động lòng thương xót” của Chúa Giêsu không dừng lại ở cảm xúc, tình cảm ủy mị nhưng thôi thúc hành động thực tiễn: Ngài dạy dỗ họ nhiều điều. Vừa chăm lo cho họ phần hồn, vừa nuôi sống họ phần xác nữa. Ngài đã hóa bánh ra nhiều cho họ được ăn no nê và còn dư dật. 

          Đám đông đi theo Đức Giêsu vì họ khát khao và say mê nghe Lời chân lý. Họ đi theo Người quên mọi khổ cực đường xa nhọc nhằn, quên cả trang bị những điều cơ bản cần thiết là lương thực cho bản thân. Tuy nhiên lòng nhiệt thành, sự say mê Lời của họ đã được đáp lại cân xứng quá lòng ước mong. Đức Giê-su không những dùng Lời để nuôi dưỡng tinh thần của họ, mà Ngài còn dùng lương thực để nuôi dưỡng thể xác đang đói khát của họ.

          Lời Chúa vẫn có đó, vẫn còn đó, nhưng lại ‘rơi thõm’, mơ hồ trong một thế giới đầy những tiếng ồn ào của ‘động cơ’ vật chất, phô diễn đầy những bích chương quảng cáo hưởng thụ. Có người nói với tôi “lầm” khi tôi nói với họ về cách sống theo Lời Chúa, vì chẳng ai lại ‘dại gì’ sống như thế. Tôi trả lời họ “chân lý không thể lầm”, chỉ có “con người ta sống sai lầm” mà thôi.

          Vì vậy, những người dám tiếp nhận Lời chân lý, dám tin vào Lời là những người dám “đi vào một cuộc phiêu lưu”, can đảm chấp nhận lội ngược dòng, dám chịu những thua thiệt mất mát, dám đón nhận những hy sinh và thậm chí bách hại có thể xảy ra. Tuy nhiên, như những người say mê theo Đức Giê-su để nghe lời Người, họ sẽ được thỏa mãn dư dật gấp trăm về ân sủng của Thiên Chúa luôn mở rộng để ban phát cho những kẻ tìm kiếm Người. Bởi vì họ sẽ được Chúa chăm nuôi cả tinh thần lẫn thể chất. 

          Phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi 5000 người (chưa tính đàn bà và con trẻ) sau khi đã “dạy dỗ họ nhiều điều” của Đức Giêsu tiên trưng cho phép lạ Bí tích Thánh Thể Ngài thiết lập sau này. Ngày nay, Thiên Chúa – Đức Giê-su Ki-tô vẫn tiếp tục chăm nuôi chúng ta cách đặc biệt trong bàn tiệc Thánh lễ. Nơi Thánh lễ Người ban phát cho chúng ta Lời của Người như kim chỉ nam cho cuộc sống, đồng thời Người thiết đãi chúng ta chính Thánh Thể của Người làm sức mạnh nuôi dưỡng bồi bổ tâm linh và là lương thực cho cuộc sống đời đời. Khi tham dự Thánh lễ với tấm lòng thanh, khát khao tìm kiếm Lời Chúa và Thánh Thể của Người, Đức Giê-su sẽ ban cho ta thỏa mãn dư đầy để chúng ta tiếp tục nối dài hiến lễ của Người bằng cuộc sống của chính mình trong sứ vụ cứu độ con người. 

          Ân sủng và quyền năng Thiên Chúa vẫn dư dật. Tuy nhiên, Ngài vẫn muốn sự cộng tác của con người, một sự cộng tác dù nhỏ nhoi cũng đủ để cho Ngài thực hiện những điều kỳ diệu. Chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá của một em bé sẵn sàng cho đi không giữ lại cho riêng mình cộng với sự thiện chí tìm kiếm của các môn đệ, Đức Giêsu đã nuôi đủ hơn ‘mười ngàn’ nhân khẩu một cách mĩ mãn dư dật.

          Vì thế, như giếng nước được khơi nguồn, càng kín múc nước ra càng trong mãi, Chúa muốn mỗi người chúng ta biết cộng tác với Người trong sự thiện chí biết quan tâm, chia sẻ và cho đi bằng hết khả năng của mình có – dù khả năng đó thật nhỏ nhoi và hạn hẹp – Chúa sẽ thực hiện những việc lạ lùng và lớn lao. Đời sống là quà tặng và ân sủng của Thiên Chúa, đặc biệt nơi bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, chúng ta đã được lãnh nhận cách nhưng không thì chúng ta cũng phải biết cho đi cách nhưng không. Có thế, phép lạ ‘hóa bánh’ của Đức Giêsu mới mãi được nhân rộng nhờ thiện chí chuyển trao Lời và chia sẻ ‘bánh’ của chúng ta cho thế giới còn nhiều ‘đói khát’ này.

          Giáo Hội – Thân Mình Mầu Nhiệm Đức Kitô- đang sống bằng quả tim “động lòng thương xót” của Chúa. Với sứ mệnh là Mẹ và là Mục Tử, Giáo Hội không ngừng rao giảng Chân Lý cho các tín hữu cũng như cho toàn nhân loại và bênh vực, thăng tiến phẩm giá đích thực của con người.

          Bên cạnh đó, Giáo Hội luôn dấn thân lo cho những nhu cầu thiết thực của con người trước những vấn đề nghèo đói, bệnh tật,… Với quả tim mang tình thương của Chúa, Mẹ Têrêsa Calcuta, một phụ nữ nhỏ bé và yếu đuối đã làm được nhiều điều kỳ diệu cho những người nghèo và đau khổ. Trong chuyến Tông du Hàn Quốc năm ngoái, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã dành thời gian gặp gỡ và an ủi những người có thân nhân trong vụ chìm phà hồi tháng tư. Cung cách dễ thương và dễ đồng cảm của ngài đã làm cho nhiều người nhận ra tình thương của Chúa, và họ đã xin được rửa tội. 

          Chúa Giêsu cũng đang mời gọi chúng ta hãy tiếp tục trở nên những “phương tiện kết nối” của Người: vui với người vui, khóc với người khóc. Kết nối trong Chúa Giêsu, chúng ta sẽ là những nhân tố kết nối tình yêu với tình yêu, biết tha thứ chấp nhận những khác biệt, người với người sẽ thương nhau hơn. Kết nối trong Chúa Giêsu, chúng ta có thể “trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta một cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3,15) để con người nhận ra Thiên Chúa vẫn sẵn sàng an ủi cứu giúp họ. Kết nối trong Chúa Giêsu, chúng ta tiếp nối công trình cứu độ của Người, cùng thao thức với Người trong các vấn đề thời đại: vô cảm, chối bỏ Thiên Chúa. Kết nối trong Chúa Giêsu, chúng ta sẽ là tấm bánh bẻ ra cho muôn người cảm nếm được Thiên Chúa tốt lành mà không tính toán lo lắng.

Thứ Tư Mùa Giáng Sinh 

1 Ga 4, 11-18; Mc 6, 45-52

ĐỪNG SỢ VÌ CÓ THẦY Ở BÊN

          Sau những lần rao giảng, chữa bệnh, làm phép lạ, hay trước khi tuyển chọn môn đệ, Người luôn lui vào nơi thanh vắng để tâm sự với Cha. Chu toàn thánh ý Cha là lương thực của Người, quyền năng và tình thương xót của Cha cũng đang được thi thố qua chính bản thân Người. Thế nên, đám đông theo Người đã được tận hưởng phép lạ bánh hóa nhiều, khi Người chạnh lòng thương xót họ (x.c.34).

          Khi đàm đạo với Cha, Chúa Giêsu vẫn quan tâm đến các môn đệ, nên từ trên núi, Người đã thấy các ông phải vất vả chống chọi với gió ngược giữa biển hồ, và Người đã đi trên mặt biển mà đến với các ông (x.c.48). Thật vậy, tình thương yêu của Chúa Cha luôn thể hiện sống động nơi con người Đức Giêsu. Chính Người thấy rõ các môn đệ và cảm nghiệm sâu xa những gian nan vất vả các ông đang gánh chịu, dù các ông không nhận ra sự hiện diện rất gần gũi của Người (x.c.49).

          Cảm thông được tâm trạng lo âu, hoang mang, bất an của các môn đệ giữa sóng biển sôi sục, Chúa Giêsu đã lên tiếng: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (c.50b). Thật là hạnh phúc cho các môn đệ, khi nghe được lời trấn an của Thầy Giêsu: “Chính Thầy đây, đừng sợ!”. Và ngay lúc đó, “Người lên thuyền với các ông, và gió lặng” (c.51a).

          Ta thấy Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia vì Người sợ các môn đệ bị cuốn theo những lời tán dương, ca ngợi của dân chúng mà huênh hoang, tự đắc. Rời bờ bên này nơi mà không khí nhộn nhịp như trẩy hội, được mọi người vây quanh, các môn đệ hy sinh sang bờ bên kia là không gian yên tĩnh vắng vẻ.

          Các môn đệ trong trang Tin mừng hôm nay đã đi vào giữa biển cả ba đào (biển thường tượng trưng cho sức mạnh hủy diệt thế gian: x. Tv 18, 16; 69, 1 – 2; 74, 13; 104, 26; Is 57, 20; Gr 47, 2) và vào đúng giờ khắc sức mạnh của tăm tối nổi lên như muốn nuốt chìm các ông, thì Chúa hiển linh. Sự xuất hiện của Ngài đã phá tan sức mạnh của thế gian tăm tối. Lời của Ngài: “chính Thầy đây, đừng sợ” đã trấn an các môn đệ và cũng mở ngỏ cho niềm tin của các ông vào Đấng là Thiên Chúa đang “hiển linh” giữa trần gian này.

          Trên biển hồ, Chúa Giêsu cho các ông thêm một trải nghiệm nữa. Là dân chài lưới, chắc hẳn các ông đã có những kinh nghiệm về sóng gió và biết cách vượt qua. Thế mà, các ông lại đang vất vả chèo chống và tưởng chừng như thuyền gần chìm. Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ thấy sự yếu đuối mong manh của con người. Những sự việc các môn đệ thường xuyên giải quyết giờ lại nằm ngoài khả năng của các ông. Các ông phải cần đến Chúa.

          “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ” (Mc 6, 50b). Chúa Giêsu đã đến, Chúa Giêsu lên thuyền với các môn đệ lập tức gió yên, biển lặng. Chính lúc con người yếu đuối và vững lòng trông cậy vào Chúa thì chính lúc đó, Chúa bảo bọc, chở che họ. Con thuyền đang lênh đênh giữa dòng đời sẽ xuôi chèo mát mái nếu có Chúa ngự trị. Bởi, chính Chúa là bến bờ bình an.

          Các môn đệ cảm thấy ái ngại khi đứng trước sự tỏ mình của Chúa không như một con người bình thường, nhưng như là Đấng có uy quyền. Thành thử họ cố gắng vượt qua những ý nghĩ quá nông cạn, đơn sơ của mình cũng như sự hốt hoảng khi thấy Chúa đi trên mặt biển. Nhưng Chúa Giêsu đã trấn an họ bằng lời đầy an ủi: “cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!”. Ngài trấn an họ đồng thời cũng là để đưa họ đến một sự nhận thức sâu hơn xa hơn như họ tưởng: Ngài không chỉ đơn thuần là một người gỡ họ ra khỏi các tình huống khó khăn, mà còn là người mang đến sự hài hòa và bình an khắp mọi nơi.

          Giờ đây, họ đến với ngài như đến với Đấng Cứu Thế, Đấng mà sẽ đưa họ tới một mức độ hiểu biết cao hơn. Như tin mừng Marcô nói: “vì các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều vì lòng trí các ông còn ngu muội”, nghĩa là lòng trí của họ bị cản trở nên họ không thể hiểu được. Chúa Giêsu đã nhiều lần giải thích cho họ mầu nhiệm vượt qua của ngài, đào sâu đức tin cho họ để họ thực sự trở thành những người sẵn sàng đáp lời mời gọi của Ngài và để họ trở nên những Tông đồ và môn đệ của Ngài.

          Thánh Gioan trong thư thứ nhất cho thấy người tín hữu chỉ có thể trở thành những môn đệ đích thực của Chúa Giêsu khi họ thực hành các giới răn yêu thương của Người. Và nếu mỗi người sống yêu thương những người thân cận theo một thể thức ấy, thì thế giới sẽ thực sự trở nên hòa bình, không còn bất hạnh, không còn nghèo đói, không còn tranh chấp, không còn chiến tranh... Nói tóm lại là chúng ta có tình yêu, mà khi có tình yêu thì chúng ta không còn sợ hãi, không lo âu, vì có Chúa luôn đồng hành với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày.

          Cuộc sống của chúng ta hôm nay cũng giăng đầy muôn khó nguy thử thách, bao gian nan thách đố muôn mặt của sóng biển đời đang gào thét quanh ta. Làm sao chúng ta có thể vượt qua được những đợt sóng kinh khủng ấy, nếu không có bóng dáng yêu thương đầy quyền năng của Thầy Giêsu trên mặt biển trần gian này? Thầy chính là dung mạo tình yêu thương xót của Cha từ ái, luôn hiện diện sống động trong cuộc đời mỗi chúng ta, để chở che, nâng đỡ, giúp chúng ta an tâm vững bước trên hành trình về Quê Trời.

          Trong cuộc sống, chúng ta không tránh khỏi những tháng ngày sóng gió, khốn cùng do bởi những thâm thù thế gian gây nên. Nhưng là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi đặt trọn niềm tín thác của ta nơi Chúa. Ngài đang đồng hành với ta và đang nói với mỗi người chúng ta như đã nói các môn đệ xưa kia: “Chính Thầy đây, đừng sợ!”

Thứ Năm Mùa Giáng Sinh 

1 Ga 4, 19 - 5, 4; Lc 4, 14-22a

THI HÀNH SỨ VỤ

          Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa, đã đến trong thế gian với thân phận con người để cho nhân loại nhận biết Thiên Chúa, nhận biết tình yêu của Người và được hưởng ơn cứu độ. Để thực hiện điều đó Người đã sống một cuộc sống đầy yêu thương cả trong lời nói lẫn hành động.      

          Mở đầu hành trình truyền giáo, Đức Giêsu vào hội đường của chính quê hương Ngài, công bố Tin Mừng và rao giảng cho quê hương của mình trước hết. Với những lời hay ý đẹp và được những người đồng hương tưởng thưởng, thán phục. Vẫn biết rằng sẽ có lúc những con người nơi quê hương đó đức tin của họ trở nên chai cứng và chống lại mình nhưng Đức Giêsu vẫn dành cho họ tấm lòng ưu ái.

          Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu vào hội đường "đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa." Sau khi nghe Chúa Giêsu, mọi người đều "thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người". Người Do Thái thán phục lời hay ý đẹp, như thế họ đã có niềm tin vào Đức Giêsu. Chắc hẳn họ được đánh động bởi những lời Chúa vừa công bố, họ được Thánh Thần tác động để đi đến niềm tin vào Thiên Chúa.

          Đoạn sách ngôn sứ Isaia mà Chúa Giêsu đọc cho thấy đó là những việc Chúa Giêsu thường làm cho mọi người. Những việc làm này cũng là dấu hiệu để cho người Do Thái nhận ra Chúa Giêsu chính là Đấng Thiên Sai mà họ chờ mong. Chúng ta có thể thấy điều này trong câu trả lời của Chúa Giêsu đối với câu hỏi của các môn đệ Gioan Tẩy Giả: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Mt 11, 3).

          Qua những hành động của Chúa Giêsu, nhiều người đã đã tin vào Thiên Chúa và tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đang hiện diện thật gần gũi để chia sẻ, cảm thông với những yếu hèn và đau khổ của phận người.

          Cuộc sống trong xã hội hiện đại, đó đây chung cư mọc lên, con người đang dần dần đô thị hóa các vùng miền, đưa cuộc sống của mình lên đỉnh văn minh. Nhưng chính trong bối cảnh hiện đại ấy, con người sống thu mình lại, nhà nào biết nhà nấy, hàng xóm cận kề bên nhau, chung một vách tường nhưng không biết tên nhau, không biết cuộc sống vui buồn của nhau và không bao giờ liên hệ với nhau.

          Chính vì thế, con người nhiều khi trở nên vô cảm trước những khó khăn, hoạn nạn của đồng loại mình. Cuộc sống hiện đại với những lo toan cơm, áo, gạo, tiền làm cho chúng ta mải mê với những cạnh tranh ngoài xã hội mà quên đi sứ mệnh của mình. Hôm nay Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về lòng khiêm tốn phục vụ cho những người cận kề bên mình. Có thể ngay trong gia đình mình, ngay nơi mình đang sinh sống, ngay căn hộ liền tường với nhà mình. Họ đang cần nơi chúng ta một nụ cười niềm nở, một lời hỏi thăm chân thành, một chính kiến chân thật.

          Làm chứng cho sự thật, cho Thiên Chúa, rao giảng cho Nước Trời được bắt đầu từ những việc làm đơn sơ đó. Biết đâu ngay trong gia đình mình, ta quên đi nỗi niềm trăn trở của người chồng, người vợ mình đang đeo mang, ta quên đi những khó khăn mà con cái mình đang gặp phải để rồi không có những lời động viên kịp thời. Chúa đang hiện diện nơi chính người thân của mình mà ta không nhớ để săn sóc, ủi an.

          Công việc truyền giáo phải được bắt đầu từ chính căn nhà của mình rồi tiếp nối đến cuộc sống xung quanh. Lời mời gọi của Chúa Giêsu vẫn tha thiết với mỗi người chúng ta, đặc biệt trong năm Đức Tin này: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28, 19).

          Lời mời gọi loan báo Tin Mừng vẫn luôn là lời mời gọi khẩn thiết với mọi Kitô hữu. Chúng ta có thể theo gương Chúa Giêsu cộng tác vào công cuộc loan báo Tin Mừng bằng một đời sống chan hòa sự yêu thương được bắt đầu ngay hôm nay. “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa nghe”. Quan sát hoàn cảnh xung quanh, chúng ta sẽ nhận ra đang có người gặp phải đau khổ, bất hạnh, đang có người mắc bệnh nan y không có thuốc chữa, có người không được sinh ra lành lặn như bao người. Họ có thể là người thân thiết với chúng ta, cũng có thể là người xa lạ nhưng trong niềm tin Kitô giáo, tất cả chúng ta là anh em. Chúng ta không có quyền năng chữa cho người khác lành bệnh, không thể giải thoát người khác khỏi đau khổ.

          Và như thế, ta thấy Chúa luôn mời gọi chúng ta sống một cuộc sống yêu thương hết thảy mọi người. Những lời động viên khích lệ khi họ đang chán nản, một sự giúp đỡ nhỏ bé khi gặp túng quẫn, hay chỉ là ở bên cạnh họ lúc họ đau đớn vì bệnh tật là những hành động yêu thương chúng ta có thể làm cho mọi người. Nhờ cuộc sống yêu thương, chúng ta có thể giúp cho người khác nhận ra trong cuộc đời còn có những điều vượt lên trên tiền tài vật chất, có một tình yêu to lớn hơn những ích kỷ nhỏ nhen, và nhất là có một Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu, luôn yêu thương hết thảy mọi người bất kể họ là ai.

Thứ Sáu Mùa Giáng Sinh 

1 Ga 5, 5-6. 8-13 (Hl 5-13); Lc 5, 12-16

XIN CHO CON ĐƯỢC SẠCH

          Ta nhìn lại một chút ta sẽ thấy bối cảnh và luật pháp đối với người bệnh phong cùi vào thời Chúa Giê-su thật nặng nề. Những người mắc chứng bệnh phong lúc bấy giờ phải sống tách ly và biệt lập khỏi gia đình và xã hội. Họ phải để tóc và râu rối bời, áo quần rách rưới hôi hám để người sạch trông thấy mà xa tránh họ ra. Nặng nề hơn, quan niệm Do thái lúc bấy giờ, bệnh phong cùi là hình phạt rõ ràng của Thiên Chúa, nên họ không được phép đến thờ phượng Thiên Chúa trong đền thờ. Khi đi bất cứ nơi nào xin ăn, người phong cùi phải lắc chuông và hô to “Tame” nghĩa là dơ bẩn và cùi đây….Nếu họ vi phạm những luật pháp trên, họ có thể bị ném đá cho chết.

          Người phong cùi trong Tin Mừng hôm nay thể hiện ước muốn tột cùng được khỏi bệnh của mình bằng cách đến sấp mình trước mặt Chúa để van xin Ngài, bất chấp luật cấm anh xuất hiện trước nơi công cộng. Anh ước muốn khỏi bệnh nhưng chỉ có Chúa mới có thể chữa lành cho anh “nếu Ngài muốn”. Còn Chúa Giêsu, Chúa cũng muốn người phong này được lành sạch lắm chứ; hơn nữa Ngài có thể làm điều đó. Và cũng bất chấp luật cấm đụng chạm tiếp xúc với người phong cùi, Chúa đã đưa bàn tay chạm đến anh để chữa lành cho anh. Cả hai đều muốn. Ước muốn của Đấng quyền năng làm cho điều ước muốn của người phong cùi từ chỗ không có thể trở thành có thể.

          Thật là ngạc nhiên, khi Tin mừng kể lại chuyện người phong cùi dám liều lĩnh chạy theo nài xin Chúa Giê-su chữa cho mình được lành bệnh. Theo một nhà khảo cổ học Schurer, thì có một số hội đường chấp nhận cho những người bệnh phòng cùi có thể vào đó với một số điều kiện như đến lúc ban ngày trời nắng... hay qua khử trùng. Và như thế, người bệnh phong này sau khi đã cải trang, anh đã trà trộn, len lỏi vào giữa đám đông và đến quỳ sụp dưới chân Chúa để xin Chúa chữa cho mình. Hoàn toàn tin tưởng vào tình yêu thương quan tâm của Chúa Giê-su, vì thế anh ta không ép buộc nhưng hoàn toàn khiêm tốn để tùy thuộc vào quyết định của Chúa “nếu Ngài muốn xin cho con được lành sạch”.

          Ta thấy Chúa Giêsu  giấu mình khi Ngài ra lệnh cho người phong không được nói với ai. Nhưng hẳn anh ấy cũng khó giữ kín chuyện này, khi anh đi gặp các tư tế. Thế nên cuối cùng tiếng đồn về Ngài đã lan ra, khiến người ta nô nức, lũ lượt kéo đến với Ngài (c. 15). Chúa Giêsu đã không thể giấu mình trước đám đông dân chúng. Chúa lôi cuốn họ như một vị giảng thuyết và như một người chữa lành. Con người mãi mãi cần sức mạnh tinh thần và sức khỏe thân xác. Chúa Giêsu đem đến cả hai điều ấy cho hạnh phúc con người.

          Với tấm lòng xót thương, nhạy cảm và đầy quyền năng của Chúa Giê-su trước tâm tình khiêm hạ và đức tin mãnh liệt tin tưởng của người bệnh phong…Và tất nhiên, Chúa Giê-su nói với anh cho anh: “Ta muốn, anh sạch đi!”…

          Dừng lại một chút, ta thấy lời nguyện của người phong là lời cầu xin mẫu mực cho ta. Dĩ nhiên là anh ấy rất muốn được khỏi căn bệnh nan y này, căn bệnh đã làm tan nát thân xác anh và cả cuộc đời anh.

          Hơn nữa, nó còn bắt anh trở nên kẻ sống ngoài lề xã hội và tôn giáo. Nhưng anh vẫn không để ước muốn quá đỗi bình thường của mình lấn lướt. Anh đặt ước muốn ấy dưới ước muốn của Chúa Giêsu. “Nếu Ngài muốn !” nghĩa là Ngài có thể và có quyền không muốn. Anh để cho Chúa Giêsu được tự do muốn điều Ngài muốn.“Ngài có thể làm tôi được sạch: anh tin vào khả năng của Ngài, khả năng làm cho những vết lở loét kia biến mất. Chính khi Chúa Giêsu được tự do, được tin cậy và phó thác, thì dường như Ngài không thể từ chối được nữa. “Tôi muốn, anh hãy được sạch.” Chúa Giêsu tẩy sạch anh bằng một ước muốn được nói ra lời, kết hợp với một cử chỉ đầy yêu thương là đưa bàn tay ra đụng vào anh.

          Xin cho mỗi người chúng ta luôn ý thức được bệnh tật của mình. Mỗi người đều có những lúc bị “cùi” về mặt tâm linh, và điều quan trọng, liệu mỗi người có ý thức được tình trạnh bệnh tật của mình trong lúc này, và khả năng cộng tác với quyền năng của Thiên Chúa? Việc mong muốn Chúa Giê-su làm “phép lạ” để chữa lành về mặt tâm linh và ngay cả trên thể xác của mỗi người, tùy thuộc rất nhiều và những quyết định táo bạo và hợp tác của mỗi cá nhân.

Thứ Bảy Mùa Giáng Sinh 

 1 Ga 5, 14-21; Ga 3, 22-30

XIN CHO TA MÃI MÃI LÀ VAI PHỤ

          Tin Mừng hôm nay cho thấy cách Gioan làm mình nhỏ lại. Trung thành với đời sống khổ hạnh được an bài, bằng lời kêu gọi sám hối, Gioan đã trở nên ngọn đèn soi lối cho mọi người đến và đón nhận Đức Ki tô, Gioan là đầy tớ cho Đức Ki tô là chủ, là âm thanh vang lên cho mọi người hiểu được nội dung của Lời. Gioan tuyệt đối không bao giờ che lấp Chúa. Bằng thái độ thẳng thắn, khiêm tốn, thánh nhân không bao giờ để cho người khác ngộ nhận về mình: “Tôi không phải là Đấng Ki tô… Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Nơi khác, Ngài nói thêm: “Có người đến sau tôi nhưng trỗi vượt hơn tôi, vì có trước tôi”.

          Giữa lúc uy tín của Gioan lên như diều, mọi người từ khắp nơi ai ai nghe thấy tên của ông cũng đều nghiêng mình kính cẩn, đến nỗi nhiều người muốn tôn ông là ngôn sứ vĩ đại, là Đấng Mêsia. Tuy nhiên, ông đã đứng đúng vị trí của mình là tiền hô, kẻ dọn đường cho Đấng Cứu Thế, vì vậy, ông đã thẳng thắn tuyên bố: tôi không phải là Đấng Kitô, Đấng ấy đến sau tôi, tôi không đáng cởi giây dép cho Người! Khi Đấng ấy đến, Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần... và “Người phải lớn lên, còn tôi thì phải nhỏ lại” vì "Tôi là tiếng kêu trong sa mạc, hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối người đi" (x. Mt 3,3).

          Và hôm nay, Ngài tỏ ra vui khi Đức Giê su được nể trọng như phụ rể mừng khi tân lang được vinh vang: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3, 30). Bảng chỉ đường phải được đặt bên vệ đường, bảng chỉ đường mà đứng giữa đường cản lối đi thì chỉ đáng phá bỏ.

          Thánh Gioan Tiền Hô dạy cho chúng ta bài học phải biết đóng vai phụ. Trên đời ai mà không thích đóng vai chính. Nhưng trong một vở tuồng, vai chính chỉ cần một hai người, còn vai phụ thì cần rất nhiều.  Nếu trong cuộc sống người nào cũng đòi đóng vai chính thì ai sẽ làm vai phụ. Và kinh nghiệm cho chúng ta thấy trong một vở tuồng nhiều khi nhờ các vai phụ đóng khéo mà vai chính được nổi bật lên. Gioan đã làm như thế trong sứ vụ của mình. Tất cả là để cho Chúa được lớn lên.

          Vai trò này đã được thánh Gioan tẩy Giả thể hiện xuất sắc với tư cách vị tiền hô cho Đức Ki tô. Gioan là người làm chứng tuyệt vời về ánh sáng (Ga 1, 7-8). Ông là “tiếng” làm chứng cho “Lời” là Con Một Thiên Chúa. Cám ơn Gioan vì nhờ ông mà ta gặp được Ánh Sáng thật. Cám ơn Gioan vì tiếng của ông dẫn ta đến với Lời của Thiên Chúa.

          Đến phiên chúng ta, Thiên Chúa đã không gọi chúng ta vào trong sa mạc giống thánh Gioan Tẩy Giả. Nhưng Ngài lại nhờ chúng ta, sau khi đã biết và trở về với Chúa, hãy trở nên bảng chỉ đường cho anh em đến với Đức Ki tô. Hãy trờ nên bảng chỉ đường về Đức Ki tô bằng đời sống cầu nguyện và bác ái mẫu mực. Bởi vì con đường của tình yêu thương là con đường duy nhất có thể thay đổi thế giới.

          Để cho Chúa lớn lên, ấy là khi chúng ta biết sống quảng đại, mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Biết cảm thông, yêu thương và tha thứ, bao dung và nhân hậu. Sẵn sàng sống cho người khác.

          Tôi phải nhỏ lại, tức là nhỏ lại cái tôi ích kỷ, kiêu ngạo, tự phụ, khoe khoang...
Tuy nhiên, trong xã hội hôm nay, vẫn còn đó những tiền hô không đứng đúng vị trí của mình! Họ đã đứng lên vị trí của Đấng Cứu Thế, còn Đấng Cứu Thế thì lại bị đẩy ra bên lề. Vì vậy, thay vì dọn đường thì lại hưởng lợi, thay vì làm vinh danh Chúa thì họ lại tìm vinh danh mình.

          Cuộc sống của chúng ta chắc sẽ thoát được rất nhiều điều xấu như ghen tị,  bực tức, đố kỵ, bất mãn, nếu chúng ta nhớ rằng, sự thành công của người ta là do Thiên Chúa ban cho họ. Phần chúng ta, chúng ta hãy biết chấp nhận những giới hạn của mình, biết tôn trọng những cái hay cái đẹp Chúa ban cho người khác và cố gắng sống như lời Thánh Phaolô đã nói: "Ai cũng được miễn là Chúa Giêsu được vinh danh".

          “Người phải lớn lên”, lời tôn vinh của ông Gioan khi nói về Chúa Giêsu ngày trước, chính là lời nhắc nhở mỗi người tín hữu chúng ta sống trong thời đại hôm nay tự vấn lại cách sống và thực hành đạo cách nghiêm túc, hơn nữa lời Chúa Giêsu đã dặn dò trước khi về trời: “anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Chúng ta có làm cho chân lý của Chúa được lan tỏa cho những người đang sống gần gũi với chúng ta chưa? Lời Chúa mà chúng ta đã được tiếp nhận học hỏi, có được tiếp tục rao truyền cho những người chưa nhận ra Chúa? Hay chỉ như nén bạc đã bị chôn vùi chẳng làm sinh lợi thêm được xu nào! (Mt 25,25a)

          Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta sống tinh thần khiêm tốn, sống thực với chính mình, biết trân quý những khả năng mà Chúa ban nơi người khác. Đồng thời, mỗi Kitô hữu còn có bổn phận rao giảng Tin Mừng của Chúa cho mọi người bằng đời sống yêu thương; trở nên chứng tá sống động cho sự hiện diện của Chúa nơi trần gian này.

February 17, 2020