suy niệm của Huệ Minh
mùa vọng năm A
Chúa Nhật Tuần III Mùa Vọng-Huệ Minh
Is 35, 1-6a. 10; Gc 5, 7-10; Mt 11, 2-11
THẦY CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN ?
Ngài có phải là Đấng sẽ đến. Câu hỏi của Gioan làm cho chúng ta ngạc nhiên và phân vân hay là chính Gioan cũng nghi ngờ không biết Đức Kitô có phải là Đấng Thiên sai hay không? Chắc hẳn không phải là như vậy, chúng ta hãy nhìn vào con người và cuộc đời của Gioan sẽ rõ.
Gioan Tẩy Giả là một nhân vật quan trọng của Mùa Vọng. Trong Tin Mừng Chúa Nhật trước, chúng ta đã nghe Gioan Tẩy Giả loan báo Đấng Cứu Thế sẽ đến là một Thẩm Phán chí công, thưởng phạt nghiêm minh. Ngày Đấng Cứu Thế đến sẽ là một ngày kinh hoàng đối với những người gian ác, tội lỗi, không chịu hối cải.
Thánh Gioan Tiền Hô là một vị tiên tri cương trực. Ngài không hề run sợ trước thế lực, cường quyền. Ngài chỉ quan tâm một điều: làm chứng cho chân lý. Khi Hêrôđê Antipas cướp vợ của người anh, thánh nhân đã không ngần ngại lên tiếng công kích hành động vô luân của nhà vua. Vì thế mà thánh nhân bị bắt giam trong ngục Machéronte. Khi bị giam trong ngục, thánh nhân vẫn theo dõi những hoạt động của Chúa Giêsu.
Ông đã miễn cưỡng ban phép rửa cho Chúa Giêsu vì ông nghĩ rằng mình không xứng đáng cởi dây giày cho Ngài. Ông đã giới thiệu Đức Kitô là con chiên Thiên Chúa sẽ xóa bỏ tội lỗi trần gian. Ông đã được Chúa Giêsu khen ngợi là người cao trọng nhất trong số những con cái của người nữ sinh ra. Chẳng lẽ ông lại là một kẻ đa nghi và thiếu lòng tin tưởng? Sự thật là như thế này: Gioan có một lòng tin tưởng mạnh mẽ vào Chúa Giêsu, nhưng còn các môn đệ của ông thì chưa được xác tín cho lắm, vì thế ông muốn soi dẫn và tạo hoàn cảnh để họ nhìn rõ, nghe kỹ và tự nhận ra Ngài là Đấng Thiên sai đã được tiên báo từ hàng trăm năm về trước.
Gioan Tẩy giả có cuộc sống rất dị thường nhưng lại làm được những việc phi thường: Ông chỉ mặc áo lông lạc đà, ăn châu chấu và mật ong rừng. Con người khổ hạnh ấy lại kiên quyết ngăn cản vua Hêrôđê không được lấy chị dâu là nàng Hêrôđia làm vợ. Chính vì lòng can đảm thi hành vai trò ngôn sứ ấy, mà ông đã bị bạo chúa Hêrôđê bắt giam trong tù.
Tin Mừng thánh Matthêu nói: bấy giờ Gioan Tẩy Giả đang ở trong tù. Một người như ông sao lại phải như thế? Lần trước ông xuất hiện như một nhà đại tiên tri. Toàn dân công nhận nhân đức của ông. Nên từ mọi nơi, thôn quê cũng như tỉnh thành, người ta tuốn đến xin ông dội nước cho để thống hối tội lỗi. Uy tín của ông cao đến độ dám có những lời rất nghiêm nghị với bậc cai trị dân. Thế mà đột nhiên, ông bị bắt và ở tù. Tại ông đã cảnh cáo vua Hêrôđê loạn luân cướp vợ của anh mình.
"Giêsu, ông là ai? Đức Giêsu hỏi đám đông. Đám đông không trả lời chi cả. Yên lặng. Dẫu vậy câu hỏi của Đức Giêsu trở nên sống động, tiến lên từng nấc, nhắc lại ba lần: một cây sậy? một ông hoàng? một ngôn sứ? A không! Người không phải là cây sậy bị cơn gió nào cũng làm lung lay, người đàn ông chốn hoang địa này đáng phải vào tù vì thái độ cương nghị của ông: đó là một người can đảm (Gr 1,10-17). A, không, ông không phải là người tinh tế, có khả năng sống trong sự dễ dãi, người đàn ông này mặc áo da súc vật như Êlia (2 V 1,8). Đức Giêsu nói: Đó là một ngôn sứ, và còn hơn là một ngôn sứ.
Gioan có điểm vượt xa hơn một ngôn sứ. Người Do Thái đã và vẫn tin rằng trước khi Đấng Mêsia đến, Êlia trở lại để loan báo việc Ngài đến. Cho đến ngày nay, khi cử hành Lễ Vượt Qua, người Do Thái vẫn còn chừa một ghế trống cho Êlia "Nầy Ta sẽ sai ngôn sứ Êlia đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Chúa sẽ đến" (Ml 4,5). Vì vậy Chúa Giêsu nói Gioan chính là vị sứ giả từ trời, là nhà tiên phong của Chúa, có nhiệm vụ và đặc quyền loan báo sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Gioan là một sứ giả của Chúa và không một người nào có công tác lớn hơn công tác đó.
Gioan quá biết số phận của các ngôn sứ. Có lẽ ông đã không sai người đến hỏi Chúa Giêsu như Tin Mừng hôm nay kể, nếu ông đã không giới thiệu Ngài như Chúa nhật trước chúng ta đã thấy. Ông loan báo Ngài là Ðấng sẽ đến để xét xử công minh, để phân biệt thóc với trấu và để ném trấu vào lửa cháy. Thế mà sao Ngài vẫn dửng dưng đối với việc ông ngồi tù và trước hành vi bất chính rõ rệt của Hêrôđê.
Gioan Tẩy Giả chỉ biết tin và tin. Và điều đó đối với ông thật không dễ. Lòng ông đắng cay và bầu trời thì mù mịt. Nỗi khắc khoải cào cứa trong ông: "Có phải Người là Đấng phải đến?". Có phải là chuyện tình cờ, khi câu hỏi ấy được đặt ra với đúng đối tượng – tức vị Thiên Chúa làm người. Trong cầu nguyện, người ta có thể trang trải ngay cả một cõi lòng đầy xao động với Thiên Chúa, một cõi lòng mà trong thực tiễn chẳng còn điểm tựa và cũng không biết nghị lực mình sẽ còn cầm cự được bao lâu. Bao lâu một tâm hồn còn là một tâm hồn cầu nguyện, bấy lâu tâm hồn ấy vẫn còn đức tin và sẽ nhận được một câu trả lời thỏa đáng: "Hãy đi và nói với Gioan những gì các anh xem thấy... và phúc cho kẻ không đối đầu với Ta". Gioan đã nhận được tiếng trả lời của Chúa dẫu là ông đang ngồi trong ngục tối!
Gioan đã phải chịu một thân phận hẩm hiu như một số người là ông chỉ dẫn cho người ta đi đến một chân trời xán lạn mà chính mình lại chưa được đến. Một số người được dùng làm bảng chỉ đường của Chúa, họ chỉ cho người ta đến một lý tưởng mới, một tầm cao mới để người khác bước vào, còn họ thì chưa vào được. Những người đại cải cách có tên tuổi gắn liền với các cuộc cải cách trong lịch sử thường không phải là những người đầu tiên lao thân khổ trí vì những cuộc cải cách đó.
Từ chốn lao tù ông đã sai các môn đệ của mình còn ngờ vực về sứ mạng Thiên Sai của Đức Giêsu, để hỏi Người rằng: "Thầy có đúng là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?" (Mt 11,3). Đức Giêsu không muốn chứng minh sứ mạng của mình bằng lời nói, nhưng Người đã trả lời bằng việc làm, mà chính việc làm này đã ứng nghiệm lời tiên tri Isaia nói về Đấng Thiên Sai: "Người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo khó được loan báo Tin Mừng".
Đây chính là một cuộc hành trình đức tin của Gioan, của các môn đệ ông, và cũng là của mỗi người chúng ta. Con đường đến với đức tin không phải là con đường tơ lụa, mà là con đường đau khổ. Con đường ấy đi từ vùng tối tăm tới miền ánh sáng, từ dấu chỉ hữu hình đến thực tại vô hình, từ các phép lạ đến quyền năng siêu việt của Thiên Chúa, nơi Đức Giêsu. Con đường không dẫn người ta đến Rôma vinh hiển, Athêna thông thái, Babylon kiều diễm, hay Giêrusalem thành thánh... Nhưng đưa họ đến một góc nhỏ của thôn nghèo Nadarét, để thấy một con người khiêm hạ, một cuộc đời ẩn dật, một trái tim yêu thương, và một cái chết ô nhục trên thập giá: "Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta".
Chúa nói rằng hạnh phúc cho kẻ nào vượt qua khỏi mối nguy ấy. Thánh Gioan ở trong một hoàn cảnh nhục nhã và phi lý khiến mạng sống ngài bị đe dọa. Vì thế con người tự nhiên trong Gioan thắc mắc. Câu nói của Chúa Giêsu cũng có nghĩa là: Phúc cho Gioan vì đã không hết tin. Nhưng lời của Người cũng nhắn nhủ chính chúng ta nữa.
Hạnh phúc cho ta nếu trên đường thử thách gian truân, đức tin ta luôn vẫn đứng vững. Như Gioan, chúng ta cần chạy tới Chúa Giêsu, truy vấn Người. Ở đâu? Thưa trong Hội Thánh Người, trong cuộc gặp gỡ thân mật của lời cầu nguyện và các bí tích, nhất là Thánh Thể.
Huệ Minh
15.12.2022 Thứ Năm trong tuần thứ Ba Mùa Vọng
Is 54:1-10; Tv 30:2,4,5-6,11-12,13; Lc 7:24-30
Đức Giêsu nói gì về Gioan tẩy giả?
Một trong những nhân vật được nhắc đến nhiều nhất trong các bài Tin Mừng của Mùa Vọng là thánh Gioan Tẩy giả. Đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay, vị trí của ngài được Chúa Giêsu nâng lên đến đỉnh điểm bởi lời xác quyết: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả.” Sở dĩ ngài trở nên cao trọng như vậy là bởi vì ngài đã dành trọn cuộc đời mình để thi hành thánh ý Chúa. Ngài không chỉ là một vị ngôn sứ nhưng còn là người dọn đường để Thiên Chúa đến với con người.
Chúa Giêsu khen ông: ‘trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một người nào cao trọng hơn Gioan’; nhưng lời khen lại bị giới hạn khi Người nói thêm: ‘người nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa lại cao trọng hơn ông!’ Điều Chúa Giêsu muốn nói là gì?
Chúa khen ông phải chăng vì: ‘Toàn thể dân chúng đã nghe ông, cả những người thu thuế đều vâng lời Thiên Chúa, và chịu phép rửa của ông’; nhưng sự giới hạn phải chăng là do: ‘còn những người biệt phái và luật sĩ đã khinh chê ý định của Thiên Chúa, vì họ không chịu để Gioan thanh tẩy cho’. Bản văn trình bày là như thế, nhưng qua sự kiện này giúp chúng ta hiểu Chúa Giêsu hơn như thế nào?
Có lẽ chúng ta xem lại câu trả lời của Chúa Giêsu trong trường hợp: ‘Mẹ và anh em Chúa Giêsu đến gặp Người, mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng quá đông. Người ta báo cho Người biết: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy." Người đáp lại: "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành." (Lc 8,19-21; Mt 12,46 -50; Mc 3,31 -35 ); và trường hợp thứ hai: ‘Khi Chúa Giêsu đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người: "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!"
Nhưng Người đáp lại: "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa." (Lc 11,27-28). Chúng ta dễ có cảm giác ‘chưng hửng’ với những câu nhận định của Chúa Giêsu thuộc loại này! Bởi ai trong chúng ta cũng cùng một quan niệm với lời phát biểu của người phụ nữ về Đức Maria. Không ai chối cãi vị trí độc tôn của Mẹ, nhưng Chúa Giêsu xem ra không đồng tình cho lắm! Bởi thay vì công nhận việc cưu mang và cho Thầy bú mớm là có phúc thì Chúa Giêsu lại lái sang việc ‘lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa’ mới là có phúc. Dĩ nhiên Đức Maria là Người hơn ai hết đã ‘lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa’, có nghĩa Mẹ đã ‘cưu mang Lời Chúa’ trước khi cưu mang ‘Ngôi Lời Nhập Thể’. Cũng vậy, khi Mẹ và anh em Người đến tìm Người thì mọi người rất trân trọng. Bởi người ta ‘tâm phục khẩu phục’ Người bao nhiêu thì hẳn mọi người cũng kiêng nể Mẹ và anh em Người bấy nhiêu! Sự ‘kiêng nể’ phát sinh do ‘dây mơ rễ má’ với Thầy!
Vậy mà Người lại lái sang một mối tương quan khác, tương quan của những người cùng ‘lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành’. Khi chuyển trọng tâm sang một tương quan mới thì không phải Chúa Giêsu có ý phủ nhận những tương quan trước là kém quan trọng. Bởi lịch sử không lặp lại, thì những tương quan trước vẫn giữ vị trí quan trọng của nó; nhưng khi hướng sự chú ý của người nghe sang tương quan mới là Chúa Giêsu mở ra những cơ hội mới cho người nghe được tham dự vào tương quan với Thiên Chúa một cách mật thiết hơn, gắn bó hơn như họ từng ngưỡng phục tương quan giữa Mẹ Maria với Chúa Giêsu cũng như anh em họ hàng với Người.
Tương tự như vậy, khi Chúa Giêsu nhận định sự cao trọng của ông Gioan Tẩy giả: ‘trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một người nào cao trọng hơn Gioan’, đồng thời Người cũng mở ra một sự cao trọng khác cho mọi người: ‘người nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa lại cao trọng hơn ông’. Thật vậy, chính ông được cưu mang trong lúc bà Êlizabét son sẻ già nua! Việc ông nhảy mừng trong bụng mẹ lúc được 6 tháng, khi đặt tên cho ông thì Giacaria, bố ông hết câm!
Ông là tiếng kêu trong hoang địa như tiên tri Isaia đã loan báo, ông mặc áo lông Lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Ông rao giảng, làm phép rửa, bị tù đầy và bị chặt đầu trong bữa tiệc vui. Ông là Êlia phải đến trước. Ông là kết tinh của Cựu Ước, là người đã chỉ vào Chúa Giêsu mà giới thiệu: ‘đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian’. Vì thế, trong số con cái người nữ sinh ra, chưa từng có ai cao trọng hơn ông! Nhưng không phải vì thế mà ông chặn lối tiến đức của người khác. Bởi ‘người nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa lại cao trọng hơn ông’. Vậy ai muốn như ông hay hơn ông thì hãy làm người nhỏ nhất trong Nước Trời.
Chúa đã sai thánh Gioan Tiền Hô làm sứ giả đi trước để dọn đường cho Chúa. Rất nhiều người Do Thái đã nhìn thấy Ngài, gặp gỡ Ngài, nghe Ngài rao giảng. Có nhiều người đã nhận ra Ngài là ngôn sứ và thống hối theo lời Ngài mời gọi. Nhưng cũng có nhiều kẻ cứng lòng không thấy được gì, chẳng nghe được gì.
Thánh Gioan quả xứng đáng với lời khen ngợi của Chúa Giêsu và đáng cho mỗi người chúng ta noi gương bắt chước. Tuy nhiên, ngài cũng chỉ là người ngôn sứ, người dọn đường và là con đường để dẫn chúng ta đến Thiên Chúa chứ không phải là cùng đích của mỗi chúng ta. Chúa Giêsu muốn chúng ta phải hoàn tất chính mình không phải vì những vinh dự trần thế nhưng là phần thưởng lớn lao trên trời.
CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG 2019.
Is 35:1-6a; Gc 5:7-10; Mt 11:2-11
TA HÃY VẼ LÊN DUNG MẠO CỦA CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI TA
Chúa Nhật thứ III Mùa Vọng , thường được gọi là Chúa Nhật Vui Mừng. Dù Lời Tin Mừng ( Mt 11, 2- 11) không mang ”Lời lẽ” gì vui . Tại sao vậy , thưa quý vị ? Thưa vì, căn cứ vào Bài đọc I ( Is 35, 1- 10 ) hôm nay , Ngôn Sứ Isaia cho chúng ta một “tia” hy vọng thật “triết lý”, điều mà thế gian không thể làm được, nhưng, Thiên Chúa làm được, vì vậy, một niềm hy vọng, một tia hy vọng thật sự sẽ mở ra cho những ai đang kiếm tìm. Theo đó, Chúa Nhật thứ III Mùa Vọng dẫn đưa chúng ta đến một niềm hy vọng thật sự, niềm vui thật sự đó là : Thiên Chúa gần đến rồi, Đấng giải thoát sắp đến rồi , Alleluia !
Thánh Gioan Tiền Hô đã loan báo một Đấng Cứu Thế uy nghiêm, đến để trừng phạt nhân loại. Trang Tin Mửng tuần trước, thánh nhân đã răn đe người Do Thái: Búa rìu đã để sẵn ở gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị đốn cho vào lò lửa. Thiên Chúa đến cầm sàng mà rê thóc. Thóc sẽ được cho vào kho, còn rơm, trấu sẽ bị cho vào lò lửa đốt đi. Sứ điệp quả thật là dữ dội, bởi loan báo ấy đã gây xôn xao sợ hãi.
Thế mà khi Chúa Giêsu đến, Người đã hành động khác hẳn. Không oai phong, quyền lực, Chúa Giêsu tỏ ra là Đấng Cứu Thế tràn đầy lòng nhân từ: “Người không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói”. Gioan Tiền Hô loan báo sự trừng phạt. Nhưng Chúa Giêsu lại đến để cứu chữa, tha thứ. Chúa Giêsu nói: “Con người đến không phải để lên án, nhưng để cứu chữa”. “Chỉ những người bệnh mới cần đến thầy thuốc”. Thật là trái ngược. Trách nào Gioan chẳng hoang mang.
Với trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với dân chúng: “Gioan là kẻ mà Thánh Kinh đã nói: “Ta sẽ sai sứ giả Ta đi trước con để mở đường cho con”. Chúa Giêsu cũng trả lời câu hỏi khác mà đám môn đệ của Gioan Tẩy Giả đặt ra cho Ngài: “Có phải Ngài là Ðấng mà Gioan bảo sẽ phải đến, hay chúng tôi còn phải mong chờ Ðấng khác?” Ðể trả lời câu hỏi này, Chúa Giêsu liền trưng ra những lời của tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Khi nói về Ðấng Mesia, Isaia bảo rằng những dấu hiệu sau đây sẽ là bằng cứ xác nhận lai lịch vị ấy: “Người mù sẽ thấy được và người điếc sẽ nghe được. Kẻ què sẽ nhảy múa và người câm sẽ reo vui”.
Chủ ý của Giêsu thực là rõ ràng. Ngài trình bày ra những phép lạ Ngài đã làm – cho người mù thấy, kẻ điếc nghe, người què bước, kẻ câm nói được. Ðây là những dấu hịêu mà các lời tiên tri báo trước rằng sẽ phải ứng nghiệm khi Ðấng Mesia đến.
Thiên Chúa vô hình hiện diện mọi nơi và trong mọi lúc. Thiên Chúa luôn đồng hành với dân Ngài đã chọn để chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ. Mầu nhiệm về Thiên Chúa Ngôi Hai được hé mở từng bước. Trải qua lịch sử cứu độ, dân chúng luôn khao khát mong chờ một chung cục được tự do giải thoát. Qua từng giai đọan, Thiên Chúa đã sai các tiên tri đến kêu gọi lòng trung tín, sự phấn chấn và khuyến khích hướng dẫn dân chúng. Ngôn sứ Isaia đã khơi dậy niềm hy vọng: "Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan." (Is 35,1).
Hình ảnh cảnh hoang địa trơ trọi, khô cằn và cạn nguồn mong đợi suối nguồn sự sống. Isaia khơi lên tia hy vọng của sự vui mừng và hân hoan. Dân Chúa phải trải nghiệm nhiều thăng trầm khổ ải qua các thế hệ để mong chờ Đấng Cứu Thế đến. Isaia loan báo: "Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi! Kìa Thiên Chúa các ngươi sẽ đem lại điều báo ứng; chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi." (Is 35,4).
Chúa Giêsu đã cho ta một hình ảnh trung thực về dung mạo Đấng Cứu Thế. Qua câu trả lời đó, Chúa Giêsu cũng muốn nói với tôi rằng: Nếu con muốn Giáo Hội là hình ảnh đích thực nguyên tuyền của Thày, con hãy xây dựng một Giáo Hội không quyền lực, không tiền bạc, không phô trương. Hãy làm cho Giáo Hội mang dung mạo của Thày: một dung mạo khiêm tốn, nghèo hèn, bình dị, thân ái và nhân từ. Nếu con muốn tiếp tục sứ mạng của Thày, hãy chạy trốn quyền lực, hãy sợ hãi tiền bạc, hãy tránh thói phô trương. Hãy yêu thích những việc âm thầm bé nhỏ. Trước hết hãy đến với những người nghèo hèn. Hãy bắt đầu bằng tình thương. Vì chỉ có tình thương mới cứu được thế giới.
Như vậy, trang Tin Mừng hôm nay muốn nói gì cho anh chị em cũng như cho tôi? Xin thưa đó là sứ điệp sau: Chúa Giêsu là Ðấng Mesia đã được các vị ngôn sứ tiên báo và Ngài đã thiết lập vương quốc Thiên Chúa trên trần gian đúng như các tiên tri báo trước. Tuy nhiên Chúa Giêsu uỷ thác cho chúng ta nhiệm vụ hoàn tất vương quốc ấy. Ngài giao phó cho chúng ta việc xây dựng nước Chúa trên trần gian này. Vào lúc thế mạt, Chúa Giêsu sẽ trở lại để phán xét chúng ta về công việc này.
Người Roma xưa có thời một vị thần tên là Janus. Từ đó chúng ta có danh từ January (tháng giêng). Vị thần này được các hoạ sĩ mô tả bằng hình đầu người có hai mặt: một mặt nhìn về đằng sau, mặt kia nhìn về đằng trước. Mùa vọng cũng tương tự như thế. Nó nhìn về hai phía: một đàng nhìn lại lần giáng sinh đầu tiên của Chúa Giêsu trong lịch sử, đằng khác là hướng đến cuộc tái giáng của Ngài vào cuối lịch sử.
Người Do Thái luôn trông chờ một Đấng Cứu thế. Còn chúng ta thì khác, chúng ta đã tin tưởng chắc chắn Chúa Giêsu chính là Đấng Cứu thế được loan báo từ muôn ngàn thuở trước và chúng ta là những người đã Ngài được cứu chuộc. Ngài là Đấng chúng ta đặt trọn vẹn niềm cậy trông. Hãy kiên nhẫn trông đợi ngày Ngài trở lại. Không vội vàng, không hấp tấp. Hãy tin tưởng vào thời gian và sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa trên những nẻo đường chúng ta đi.
Ta phải làm chứng về Chúa bằng lời nói và nhất là bằng đời sống đạo đức và thánh thiện, bái ái và yêu thương của chúng ta. Tất cả những người đã lãnh nhận bí tích rửa tội đều được mời gọi để chuẩn bị con đường cho chúa đến trong tâm hồn mình và trong tâm hồn người khác, tùy theo cách thức và hoàn cảnh riêng của mỗi người.
Ta đang chờ đón Chúa đến. Hãy cảnh giác. Chúa không đến trong một biến cố kinh thiên động địa. Chúa không có những pha biểu diễn ngoạn mục. Chúa không đến trong những thành công rực rỡ. Chúa không đến trong uy tín hay quyền lực. Chúa sẽ chỉ đến rất âm thầm, bé nhỏ nhưng đầm ấm tình người. Chúa sẽ đến trong một bàn tay kín đáo nâng đỡ. Chúa sẽ đến trong một nụ cười khích lệ. Chúa sẽ đến trong một cái bắt tay thân ái. Chúa đến chỉ thoáng qua. Nơi nào có dấu hiệu của tình thương, nơi đó đang vẽ nên dung mạo của Chúa.
Thứ Hai tuần 3 MV.
Ds 24:2-7.15-17a; Mt 21:23-27
NIỀM TIN CỦA TA VÀO CHÚA
Với trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu bị rơi vào tình cảnh thứ ba khi các Kỳ mục và Thượng tế hỏi Ngài: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?". Chúa Giêsu biết rõ sự thâm độc của họ, vì nếu Ngài nhận rằng quyền năng của Ngài do được ủy nhiệm, thì hẳn Ngài là một kẻ ly giáo và chính quyền sẽ lên tiếng vì họ sẽ gán Ngài vào cái tội gọi là phủ nhận quyền của những nhà lãnh đạo! Còn nếu Chúa Giêsu nói rõ rằng: quyền đó là do Thiên Chúa trao cho Ngài, và Ngài có quyền năng như Thiên Chúa, thì Ngài sẽ rơi vào tội lộng ngôn, phạm thượng!
Thái độ nghi ngờ của các thượng tế và kỳ mục Do thái khi thấy Chúa Giêsu làm được những việc phi thường, họ ghen tức tiến đến có ý để gài bẫy, họ hỏi: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” Chúa Giêsu không trả lời vào câu hỏi nhưng chất vấn ngược lại: “Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy, phép rửa của ông Gioan do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” Tất cả các thượng tế và kỳ mục đều né tránh và không dám trả lời. Họ biết rõ quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nhưng vì kiêu căng và ích kỷ khiến con mắt họ mù quáng, con tim họ lạnh lùng khép kín.
Câu hỏi của Chúa Giêsu nhằm nhắc nhở những người cứng lòng tin biết khiêm tốn nhìn nhận quyền năng của Thiên Chúa. Trong lịch sử cứu độ, ông Gioan là nhân vật đầu tiên của Tân ước, là nhịp cầu nối giữa Giao ước cũ và Giao ước mới. Gioan có vai trò đặc biệt quan trọng, là vị tiền hô đến trước để dọn đường cho Chúa, ông chính là “phông nền” làm nổi bật chân dung của Đấng Mêsia. Ông Gioan có mối liên hệ sâu sắc trong sự mặc khải về căn tính của Chúa Giêsu trước hết qua bà Êlisabét và qua phép rửa nơi dòng sông Giođan.Ông đến trước chuẩn bị lòng dân sám hối, làm phép rửa bằng nước để họ đón nhận ơn cứu độ. Sau khi hoàn thành sứ mạng, ông Gioan liền lui vào bóng tối để choánh sáng Đức Giêsu xuất hiện.
Dân Do thái xưa đã trải qua hàng ngàn năm cơ cực sống kiếp lưu đày trên phần đất của dân ngoại. Mang thân phận nô lệ, họ phải cúi đầu gánh chịu những luật lệ hà khắc của đế quốc. Vì thế họ khát khao sớm được giải thoát và thiết tha khẩn cầu “Lạy Đức Chúa là Đấng Cứu Chuộc chúng con, xin Ngài mau trở lại. Xin Ngài xé trời mà ngự xuống cho núi non rung chuyển trước thánh nhan”. Thế nhưng khi Đấng Mêsia xuất hiện họ lại không nhận ra Người. Họ cầu mong một Đấng Mêsia theo nghĩa trần gian. Đấng ấy phải có đầy sức mạnh, đánh đông dẹp tây thu phục thiên hạ bá tánh. Vì thế khi đối diện với một Đức Giêsu nghèo hèn khiêm tốn, một con người quảng đại yêu thương người nghèo khổ thì họ không tin nhận.
Thái độ cứng tin của những thượng tế và kỳ mục Do thái vẫn tồn tại trong cuộc sống hôm nay. Biết bao lần chúng ta cũng cầu mong Chúa đến giải thoát khỏi gánh nặng của phận người yếu đuối tội lỗi. Đáng tiếc khi Chúa đến chúng ta cũng không nhận ra. Đó là vì chúng ta thiếu niềm tin và lòng yêu mến.
Niềm tin là điều cần thiết giúp chúng ta nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa. Người sống không niềm tin chẳng khác nào con thuyền trôi lênh đênh trên biển lớn không biết đâu là bến bờ. Muốn đi tới đích người ta phải chọn cho mình một hướng đi đúng và phải tin tưởng đó là đích đến của hành trình. Niềm tin như ngọn hải đăng soi cho người lữ khách tiến bước mà không sợ lạc lối. Con người có thể sống thiếu cơm thiếu áo nhưng không thể sống nếu thiếu niềm tin. Cuộc đời con người là một hành trình dài ra đi và trở về. Ra đi là để trở về với cội nguồn, với bản chất nguyên sơ của chính mình. Con người phát xuất từ Thiên Chúa và phải trở về với Thiên Chúa. Trong cuộc đi và về ấy đều phải có niềm tin dẫn dắt, nếu không chúng ta sẽ chẳng đạt được ước nguyện của cuộc đời mình.
Khi lường trước được những hệ lụy như vậy, và “giờ” của Ngài chưa đến, nên Chúa Giêsu đã hỏi ngược lại họ: “Vậy, phép rửa của ông Gioan do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?". Nếu cái bẫy mà họ đưa ra cho Chúa Giêsu để dồn Ngài vào chân tường, thì giờ đây, họ lại thay thế chỗ của Chúa Giêsu khi bị Ngài hỏi ngược lại! Tuy nhiên, mục đích của Chúa Giêsu thì khác họ, Ngài không muốn đẩy họ vào đường cùng, nhưng mục đích của Ngài là muốn cho họ nhận ra vai trò của Đấng Cứu Thế và giá trị đích thực của cuộc đời, hầu sám hối để được ơn tha tội.
Tuy nhiên, vẫn lòng chai dạ đá, với những mánh khóe bẩn thỉu, họ đã trả lời cách vu vơ: "Chúng tôi không biết". Nhưng khi trả lời như thế, họ đã lãnh nhận hậu quả nặng nề, vì: họ thuộc về thành phần lãnh đạo tinh thần, nên sự xuất hiện của Gioan, họ phải biết rằng ông là ai? Đằng này không biết, chứng tỏ họ vô trách nhiệm và hèn nhát vì không dám chân nhận sự thật.
Nhìn lại cuộc đời của Abraham, nhờ niềm tin, Abraham ra đi bỏ lại sau lưng tất cả cơ nghiệp ruộng đất để ông được lớn lên, già dặn với gió sương và trưởng thành trong chọn lựa. Nhờ tin tưởng và phó thác, Abraham đã gặp gỡ được chính Thiên Chúa, trái tim ông được đổi mới và thêm can trường trước mọi thử thách, trước viễn cảnh tương lai mờ mịt. Nhờ niềm tin ông đã đi từ chỗ hữu hạn đến nơi vô hạn, đi từ không đến có, từ bấp bênh đến vững bền trong giao ước để rồi không ngần ngại dâng cho Chúa đứa con trai nhỏ duy nhất. Đức tin đã làm cho Abraham can đảm để ra đi, khiêm tốn để phục vụ, an bình để từ bỏ, nhẫn nại để chịu đựng, hy vọng để phó thác và đạt đến hạnh phúc đích thực.
Ta cần phải xác tín vững vàng và phải dựa vào ân sủng của Chúa để tiến bước. Chúa vẫn song hành với chúng ta trên mọi nẻo đường nhưng chúng ta không nhận ra. Chúng ta chỉ biết đặt ra những câu hỏi nhưng lại không tìm sự thinh lặng để lắng nghe câu trả lời. Đôi lúc Thiên Chúa không trả lời một cách hiển nhiên nhưng gián tiếp qua những biến cố, qua Giáo hội và các bí tích. Để nhận ra những mặc khải của Thiên Chúa, chúng ta phải có lòng khát khao và khiêm tốn thực sự. Ước gì chúng ta biết mở lòng ra trước những mặc khải của Thiên Chúa.
Thứ Ba tuần 3 MV.
St 49:2.8-10; Mt 1:1-17
THIÊN CHÚA ĐỒNG THÂN ĐỒNG PHẬN VỚI CON NGƯỜI
Trang Tin Mừng hôm nay nói về gia phả của Chúa Giêsu. Làm người thì có tổ có tông, và Chúa Giêsu làm người nên Chúa cũng có gia phả. Tuy vậy, việc nói đến gia phả của Chúa, Tin Mừng muốn nói gì với chúng ta cách đặc biệt?
Bản gia phả, dịch sát nghĩa là « cuốn sách về nguồn gốc » : « Gia phả của Đức Giêsu Kitô, con vua Đavít, con tổ phụ Abraham ». Một bản gia phả luôn luôn là khô khan, xa lạ và đều đặn (theo nghĩa là người này sinh ra người kia). Nhưng nếu chúng ta chịu khó dừng lại để « ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng », chúng ta sẽ khám phá cả một lịch sử sống động ở bên dưới hàng chuỗi những tên gọi, thậm chí cưu mang những tên gọi. Khi đó, chúng thấy mình thật gần gũi và có thể cảm nếm được ; bởi vì, Đức Kitô cũng phát xuất từ một lịch sử đầy thăng trầm như chúng ta và còn hơn thế nữa cùng « nguồn gốc » với chúng ta : Đức Ki-tô là con Adam, và « Adam là con Thiên Chúa » (Lc 3, 23-38).
Trước hết, Chúa Giêsu là dòng dõi của những người tin. Gia phả của Chúa không bắt đầu từ Adam nhưng từ Abraham là người cha của những người tin. Điều này có ý nói rằng, niềm tin mới là quan trọng. Bao nhiêu thế hệ trước Abraham không cần biết đến, và cũng không cần gì phải điều tra ghi chép, chỉ khi có lòng tin mới đáng để ghi vào.
Và quả vậy, khi lãnh nhận phép rửa, tức khi tin nơi Chúa, con người được sinh ra, và sẽ mang tên mới. Dù người đó đã sống bao năm, nhưng chỉ kể từ khi tin thì mới kể như người ấy được sinh ra và hiện hữu. Chúa cũng nói đến việc mỗi người phải được “sinh lại”, tức đón nhận đức tin. Hơn nữa, Chúa cũng nói rất nhiều lần : Lòng tin của con đã cứu con. Như thế, Chúa Giêsu là dòng dõi những người tin, và Chúa Giêsu cũng là gương mẫu tuyệt đình của lòng tin.
Điều thứ hai đó là có ba lần “14 đời”, và việc lưu đày tại Babylon cũng được tính làm cột mốc. Điều này cho thấy việc Chúa Sinh hạ được tính toán và chuẩn bị kỹ. Ngẫu nhiên không thể tạo ra ba lần 14! Đây là sự can thiệp của Chúa trong lịch sử để cho có ba lần 14. Và điểu này cho thấy việc Chúa Giáng sinh là sự can thiệp mạnh mẽ, hết mình, hết tình của Thiên Chúa. Điều này còn cho thấy, dù lịch sử có như thế nào, dù có đen tối như khi bị lưu đầy, thì Thiên Chúa vẫn biết, vẫn yêu, vẫn tha thiết, vẫn tính toán, vẫn chuẩn bị, vẫn can thiệp. Thiên Chúa bận tâm đến từng sợi tóc trên đầu con người! Ba lần 14, và 14 làm liên tưởng đến “hai lần bảy” tức hai lần của sự “tròn đầy”, điều này có ý nói dù lịch sử có như thế nào, nhân loại có như thế nào, thì với sự quan tâm, chăm sóc, tận tình của Chúa, Chúa sẽ dẫn lịch sử nhân loại đến sự viên mãn tròn đầy nơi đức Kitô. Vấn đề về phía chúng ta là cần tin tưởng vào sự yêu thương chăm sóc của Chúa, cần đặt trọn niềm tin nới Chúa, cần sinh vào một dòng dõi mới, cần bước đi trong ánh sáng, trong niềm tin và hi vọng của Đức Kitô.
Ta thấy dân tộc Do Thái cũng đầy tội lỗi như bao dân tộc khác ; và tội nhân hiển nhiên là các ông, nhất là vua Đa-vít, một khuôn mặt tượng trưng cho lời hứa, vì gia phả được trình bày theo quan niệm phụ hệ.
Tuy nhiên, các bà vẫn có mặt trong gia phả của Đấng Cứu Thế. Điều này nhắc nhớ sự ưu ái xuyên suốt của Thiên Chúa dành cho các phụ nữ, trong sáng tạo và lịch sử: bà E-và, bà Sara, và nhất là Đức Maria. Đặc biệt, lời hứa chiến thắng Sự Dữ được ban cho bà E-và và bà được ban cho danh hiệu cao quí : « Mẹ của mọi chúng sinh » (St 3, 15.20), cho dù đã vi phạm lệnh truyền ! Hơn thế nữa, hình ảnh người phụ nữ được đưa lên hàng đầu trong thời điểm trọng đại của lịch sử cứu độ, là mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Ki-tô, ngang qua thánh nữ Maria Magdala (x. Ga 20, 1-2. 11-18).
Vậy, các bà mẹ hiện diện trong gia phả của Đức Giê-su là những ai ?
Bà Ta-ma, phạm tội loạn luân với bố chồng (Mt 1, 3; St 38) !
Bà Ra-kháp, là cô gái đứng đường đất Canaan (Mt 1, 5; Gs 2) !
Bà Ruth gốc Moab, nghĩa là dân ngoại (Mt 1, 5; Rt 4, 12-22) !
Và bà Bátseva, vợ của tướng Uria, phạm tội ngoại tình với vua Đa-vít (Mt 1, 6 ; 2 Sm 11)!
Khám phá này làm cho chúng ta thật an ủi: Đức Giêsu bén rễ trong tội của dân tộc Ngài, dân tộc mà Ngài sẽ cứu vớt (Mt 1, 21) ; và cách Ngài cứu sẽ rất lạ lùng : Ngài sẽ mang lấy vào thân mình ngang qua dân tộc này, tội lỗi của tất cả mọi người :
Ngài đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta.
(Mt 8, 17 trích Is 53, 4)
Và chính trong một lịch sử như thế mà Thiên Chúa làm trào vọt những điều lạ lùng, trào vọt ra Thánh Gia của thánh Giuse, của Đức Maria và của chính Đức Giêsu, làm trào vọt ra ơn cứu độ.
Sứ điệp của bản gia phả không phải là xác định tương quan máu huyết, nhưng là Đức Kitô, ngang qua cuộc sống của mình, và nhất là với Mầu Nhiệm Vượt Qua, sẽ thực sự đảm nhận lịch sử cứu độ, và ngang qua lịch sử cứu độ, lịch sử cụ thể của loài người và của từng người để đưa tới đích, là sự sống trong Thiên Chúa. Như thế, lịch của loài người, của từng dân tộc, của từng người trở nên có ý nghĩa và có hướng đi.
Thứ Tư tuần 3 MV.
Gr 23:5-8; Mt 1:18-25
SỨ MẠNG CỦA CHÚA GIÊSU
Mỗi con người sinh ra trong lịch sử là câu chuyện lịch sử về một con người bắt đầu. Và mỗi con người đều có một chương trình của Thiên Chúa dành cho mình trong cuộc đời. Chương trình ấy được hướng dẫn bởi một tình yêu vô biên trong mối tương quan cá vị đối với con người, để dẫn dắt con người tìm về nguồn hạnh phúc đích thực. Trang Tin mừng hôm nay kể lại câu chuyện về nguồn gốc của một con người – Con Thiên Chúa – Đấng đã đi vào lịch sử loài người để ở với, đồng hành với và Cứu độ con người – Con Người ấy – Đức Giê-su Ki-tô Đấng cứu độ chúng ta.
Ngôi Hai Thiên Chúa làm người để làm gì? - Phải chăng Ngài đến trần gian để mang cơm bánh cho loài người? Không, vì trước khi Ngài sinh ra, loài người đã có cơm bánh, và sau khi Ngài sinh ra, hơn 2000 năm nay, con người vẫn thiếu cơm bánh. – Phải chăng Ngài mang văn minh và khoa học kỹ thuật đến cho nhân loại? Cũng không, vì trước đó, một số quốc gia đã có khoa học kỹ thuật cao như Ai Cập với những kỳ quan Kim Tự Tháp, hay nền văn hóa rực rỡ như Ấn Độ, Trung Quốc. Vậy thì Con Thiên Chúa đến trần gian để đem lại một điều mà con người không thể tự mình làm được, đó là ơn cứu độ, sự giải thoát. Tội lỗi, sự chết, sự dữ là những xiềng xích trói tay cột chân con người, chỉ có Thiên Chúa mới giải phóng cho con người, đem lại hạnh phúc bất tận cho con nguời.
Chúa Giêsu là cùng đích và sự hoàn tất của lịch sử Israel, là như một khởi đầu mới phát xuất từ Thiên Chúa. Như thế, Thiên Chúa không bỏ mặc dân Ngài xoay xở bằng sức lực riêng, phó mặc con người cho sức mạnh của lịch sử. Chúa Giêsu là quà tặng chân thật Thiên Chúa ban cho dân Ngài. Nơi Người, công trình cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất và sự hiệp thông mật thiết nhất giữa Thiên Chúa và loài người được thiết lập: Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Chúa Giêsu là con cháu vua Đavít, nhưng không theo nghĩa là Người có một quyền lực chính trị hoặc quân sự, hoặc Người là một nhà giải phóng chính trị theo nghĩa trần thế. Người sẽ giải thoát loài người khỏi tội lỗi, sẽ đưa con người thoát khỏi tình trạng xa cách với Thiên Chúa và đưa họ về hiệp thông trọn vẹn với Ngài.
Chúa Giêsu Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến trần gian do quyền năng Chúa Thánh Thần. Cha mẹ của Người: Đức Maria một cô thôn nữ đơn sơ, nhỏ bé, bình dị đã thành hôn với ông Giuse thuộc dòng tộc Đavít (cc. 18.20b). Ông là người công chính, luôn mau mắn vâng nghe và thi hành thánh ý của Thiên Chúa (cc. 19.24). Sứ vụ của Ngôi Lời nhập thể là để “cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (c. 21b).
Thiên Chúa đang can thiệp vào cuộc đời Maria cách đặc biệt mà lại không thấy Ngài giao phó cho mình sứ mạng gì đặc biệt, Giuse tìm cách âm thầm rút lui. Ngài chứng tỏ ngài có một cảm thức sắc bén về Thiên Chúa, một lòng tôn trọng thẳm sâu đối với mầu nhiệm của Thiên Chúa và mầu nhiệm thánh ý Ngài. Người Kitô hữu được mời gọi học nơi Giuse bài học này: tôn trọng đối với các dự phóng của Thiên Chúa nơi mình và nơi kẻ khác, nhạy bén đối với sự cao cả thẳm sâu và sự hiện diện gần gũi của Ngài trong những biến cố lớn nhỏ thuộc cuộc sống hằng ngày.
Con Thiên Chúa làm người, đi vào lịch sử loài người, Ngài không chọn một gia đình cao sang quyền quí làm nơi xuất thân nhưng là một mái ấm gia đình đơn nghèo đạm bạc để làm nên trang sử gia đình thánh và viết lên trang sử đời Người. Ngài là Đấng Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Với sứ mạng Thiên sai, Ngài đến để rao giảng Tin mừng tình thương cứu độ. Ngài gần gũi, quan tâm, săn sóc những người nghèo khổ, lầm than vất vưởng, bệnh hoạn tật nguyền, những kẻ bị gạt ra bên lề xã hội. Và điều quan trọng là Người đến để cứu vớt, giải phóng con người khỏi nô lệ, xích xiềng tội lỗi, cho họ được tự do và làm con Thiên Chúa, được chung hưởng hạnh phúc nước trời.
Mùa vọng là mùa giúp Ki-tô hữu chúng ta sống lại niềm chờ mong ngóng đợi Đấng Thiên sai; là mùa hướng chúng ta đến một niềm hy vọng mới của một trang sử mới tràn ngập niềm vui vì sự ra đời của con Thiên Chúa – Đấng Cứu độ. Người đã đến cách đây hơn hai ngàn năm và Người vẫn còn đang đến trong từng cuộc đời. Người là niềm hy vọng của mỗi con người chúng ta, là Tin mừng cho chúng ta, và cũng là Tin mừng chúng ta cần phải loan báo cho anh em mình, những người còn xa lạ với Thiên Chúa.
Như những tôi tớ trung thành, người con hiếu thảo, mỗi gia đình Ki-tô hữu chúng ta cũng viết lên trang sử cuộc đời mình bằng cách sống vâng nghe và tuân giữ lệnh Chúa truyền, sống tràn đầy niềm vui và hy vọng, sống yêu thương và phục vụ trong tin yêu, phó thác để làm nên một gia đình gương mẫu như thánh gia xưa hầu có thể trở thành chứng tá Tin mừng cứu độ trong cuộc sống.
Có như thế, mỗi năm khi kỷ niệm mừng con Chúa ra đời là mỗi lần lòng chúng ta được tràn ngập niềm vui sướng và biết ơn Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương và vẫn còn yêu thương ta mãi mãi trong cuộc đời. Đấng đã làm nên lịch sử và luôn dẫn dắt quan phòng để lịch sử ấy hướng về cùng đích là chính Người.
Thứ Năm tuần 3 MV.
Tl 13:2-7.24-25a; Lc 1:5-25
TIN VÀO QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA
Ta đang sống trong tuần cao điểm đón mừng Ngôi Hai Giáng Sinh. Chúng ta biết có những nhân vật trong Kinh Thánh liên quanđến Chúa Giêsu, cả trong Cựu ước lẫn Tân ước. Một trong những vị có tương quan gần nhất với Chúa Giêsu Hài Đồng, đó là Thánh Gioan Tiền Hô , mà hôm nay Tin Mừng theo Thánh Luca sẽ thuật lại thời thơ ấu, nói đúng hơn sự thụ thai đặc biệt của bà Ê-li-sa-bét, mẹ của Thánh Gioan Tiền Hô. Gọi Ngài là Tiền Hô vì đó tên gọi theo sứ vụ : dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến.
Từ câu 5 đến câu 7: Giới thiệu về bối cảnh lịch sử xã hội và tôn giáo: Có vua Hêrôđê trị vì, có nhà tư tế thuộc nhóm A-vi-a, có ông Giacaria và cả vợ ông... là người sinh ra Thánh Gioan, tuy họ đang trong thời điểm cao tuổi và hiếm muộn.
Vấn đề son sẻ được nói đến nhiều trong Kinh Thánh. Bà Sara, vợ ông Apraham; bà Anna, vợ ông Encana, bà Isave, vợ ông Giacaria là những người phụ nữ son sẻ đã sinh con và những người con của họ đều là những người được Thiên Chúa chọn và dùng vào công trình vĩ đại của Người. Điều đó cho chúng ta thấy được quyền năng và tình thương của Thiên Chúa được bày tỏ qua sự hèn mọn của con người.
Theo cái nhìn đức tin, mỗi người sinh ra đều có một vai trò và sứ mạng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Cuộc sinh hạ kỳ lạ của Gioan báo trước sứ mạng đặc biệt được trao phó cho ông : vị tiền hô của Đấng Cứu Thế. Gioan được mô tả như các tiên tri: được Thiên Chúa gọi ngay từ lòng mẹ, chính Thiên Chúa đặt tên cho, rượu lạt rượu nồng đều không uống, đầy thần khí và quyền lực của các tiên tri. Gioan sẽ thay mặt Cựu ước để giới thiệu Đức Giêsu của Tân Ước.
Thiên Chúa đã can thiệp vào đời tư của 2 ông bà. Ngài thực hiện chương trình cứu độ của Ngài ngay trong dòng lịch sử nhân loại, với những con người bị coi là một hình phạt, là một điều xỉ nhục. Gia-ca-ri-a đã bắt thăm trúng phiên dâng hương và thay than trên bàn dâng hương trong Nơi Cực Thánh. Đây là một vinh dự hiếm có vì số tư tế quá đông. Người dâng hương sẽ thay mặt toàn dân để dâng lời cầu khẩn lên Thiên Chúa, xin Ngài ban Đấng Mêsia đến Cứu độ nhân loại. Khi vào dâng hương, ông Gia-ca-ri-a gặp một sứ thần của Thiên Chúa đứng bên phải hương án (x.c.11).
Đây là một cuộc thần hiện thường xảy ra trong Cựu Ước. Ông bối rối và sợ hãi (x.c.12) đó cũng là tâm lý thường tình khi con người đối diện với lãnh vực Kinh Thánh. Sứ thần đã trấn an ông “ Đừng sợ...” . Sau đó sứ thần loan báo cho ông một Tin Mừng : ông sẽ có một con trai. Niềm mong mỏi mà ông chờ bấy lâu, nay Thiên Chúa đã thực hiện. Nhưng tên con trẻ sẽ đặt theo ý của sứ thần, vì đó là một sứ mạng cao cả dành cho con trẻ. Sự sinh ra của con trẻ sẽ làm cho nhiều người vui mừng, kể cả ông bố nữa. Vì ngoài sự vui mừng trong nỗi hiếm muộn, sứ vụ của con trẻ sẽ dẫn đưa nhiều người về cùng Thiên Chúa và chuẩn bị mọi tâm hồn sẵn sàng đón Chúa. Để được như vậy, bà mẹ phải kiêng cữ rượu và các chất có men, ý nói về nếp sống hy sinh khổ hạnh của vị tiên tri của Chúa.
Sau khi được giải thích kỹ càng và chuyện người son sẻ có con cũng đã xảy ra trong thời Cựu Ước như Sam son (x. Tl 13,4.7.14), nhưng ông Gia-ca-ri-a đã nghi ngờ quyền năng của Chúa : “Dựa vào đâu mà tôi biết điều ấy ? Vì tôi đã già và bà nhà tôi cũng lớn tuổi”. (c.18). Sự nghi ngờ của ông đã làm cho sứ thần phải xưng danh tánh và kết quả ông “bị câm” như là một dấu hiệu cho chính ông và người khác. Thái độ của ông không phải là thái độ của Ap-ra-ham (x. St 15,8). Cha của lòng tin, là tổ phụ của ông.
Theo truyền thống Do Thái, vị thượng tế dâng hương không ở lâu trong cung thánh, vì dân lo âu và vì đó là nơi Thiên Chúa hiện diện, nên rất đáng sợ. Nên khi thấy ông Gia-ca-ri-a ở lâu trong đó, họ không khỏi thắc mắc (x.c.21). Đợi đến lúc ông ra khỏi, thắc mắc của họ đã có đáp số, đó là thấy ông chỉ ra hiệu mà không nói được và họ biết là ông đã thấy điềm lạ trong nơi Cực Thánh. Ông trở về nhà và bà Ê-li-sa-bét đã thụ thai, bà nói : “ Thiên Chúa đã thương cất nỗi hổ nhục mà tôi phải chịu...” (c.25). Một lời nói như một hành vi ca tụng Tình Yêu Thiên Chúa đã thương đến phận người hèn mọn.
Là người chuẩn bị cho Dân Chúa đón Đấng Cứu Thế đến, Gioan cũng là mẫu gương giúp chúng ta sống tâm tình Mùa Vọng, đồng thời khích lệ chúng ta trở thành người dọn đường cho tha nhân đến với Chúa. Chúng ta được mời gọi để dọn dẹp con đường lòng mình cho đẹp, cho thẳng và sửa đổi đời sống cho phù hợp với sứ mạng cao cả là dẫn đưa người khác đến với Chúa.
Trang Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta biết tin tưởng vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa. Niềm tin tưởng đó phải được thể hiện qua việc sống công chính thánh thiện, sống tinh thần phục vụ noi gương ông Giacaria và bà Elisabeth. Với niềm tin tưởng và phó thác, chúng ta xin Chúa cho chúng ta cảm nhận được quyền năng và lòng thương xót của Chúa được thể hiện trong gia đình của chúng ta.
Thứ Sáu tuần 3 MV.
Is 7:10-14; Lc 1:26-38
CON MUỐN CẤT CAO LỜI CA CẢM TẠ
Thiên Chúa muốn bước vào trong thế giới của chúng ta để ban cho chúng ta ơn cứu độ. Kế hoạch cứu độ của Ngài được chuẩn bị lâu dài từ thời Cựu Ước, và tỏ rõ đầy đủ trong thời Tân Ước.
Trong những ngày cuối của Mùa Vọng này, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Tin Mừng về biến cố truyền tin, để chúng ta hiểu được rằng đã đến lúc Ngôi Lời Thiên Chúa giáng sinh làm người, trong cung lòng của Mẹ Maria. Thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến với Mẹ Maria và gửi cho Mẹ một sứ điệp quan trọng từ trời cao. Chúng ta hãy lắng nghe cuộc đối thoại giữa thiên thần Gabriel và Mẹ Maria :
"Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà.” Mẹ Maria rất ngỡ ngàng, bất ngờ với lời chào của thiên thần. Mẹ Maria đã không hề nhận ra, vì Mẹ như những người Do Thái khác của “Mùa Vọng”, Mẹ đã ngước mắt lên cao cầu xin, trông đợi Vị Cứu Tinh sặp ngự đến. Nhưng thiên thần Gabriel trấn tĩnh Mẹ : "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. (31) Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. (32) Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. (33) Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."
Không có ai khác ngoài Mẹ Maria trở thành “nhân vật” quan trọng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa : Mẹ được mang thai bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, và sẽ sinh hạ Con Đấng Tối Cao.
Việc hệ trọng này không phải do ý muốn của loài người, nhưng bởi ý định của Thiên Chúa.
Mẹ Maria được Thiên Chúa chọn làm nhân vật cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Và từ nay, Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa, và là Mẹ của loài người chúng ta. Thiên thần nói với Mẹ : "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa.”
Nếu trong Gioan tẩy giả, chúng ta có thể thấy điều cần thiết của chúng ta để chuẩn bị đường lối của Thiên Chúa, thì trong Đức Maria, chúng ta cần chuẩn bị cho Ngài đến với chúng ta trong một biến cố vĩ đại.
Ta vừa nghe Mẹ Maria đáp lại lời thiên thần Gabriel bằng hai tiếng “Xin vâng.”
Ngay sau tiếng Xin Vâng này, Đức Maria được Thánh Thần ngự xuống, và Con Thiên Chúa bắt đầu tiến trình làm người ở đời (c. 35). Ngài từ từ có trái tim, khuôn mặt, vân tay riêng… Đấng Cứu Độ sung sướng trở nên một sinh linh nhỏ bé, để nói cho nhân loại biết về sự cao quý của một thai nhi. Đức Maria trở thành Hòm Bia Thiên Chúa, nơi Ngôi Hai hiện diện.
Ta ít khi nghĩ đến thời gian Mẹ Maria mang thai. Thời gian cưu mang chẳng bao giờ nhẹ nhàng hay dễ dàng. Để có thể sinh ra Đức Giêsu cho môi trường ta đang sống, cũng cần thời gian thai nghén lâu dài và vất vả. Chúng ta phải mang Ngài trong lòng mình, kiên nhẫn và chăm chút để Ngài lớn lên, trước khi sinh Ngài cho thế giới.
“Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là mẹ tôi” (Mc 3, 35).
Sứ điệp của thiên thần cho Mẹ Maria là sứ điệp của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Trong Mẹ, chúng ta thấy lời đáp trả của lòng tin. Mẹ Maria đưa ra cho chúng ta xem bức tranh của niềm tin, đó là một lời đáp trả ân sủng của Thiên Chúa. Đức tin không phải là một cái gì đó chúng ta sở hữu, nhưng một cái gì đó sở hữu chúng ta. Đức tin là lời đáp trả sự vâng phục đối với Thiên Chúa được biểu lộ trong cuộc sống của chúng ta. Trong Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải có kinh nghiệm về Thiên Chúa như tình yêu và sự cho đi; đó là ân sủng. Ân sủng là tình yêu chăm sóc của Thiên Chúa đã làm cho chúng ta. Tình yêu này không phải là hời hợt và tình cảm ủy mị, nhưng là cả một kế hoạch yêu thương Thiên Chúa ban cho nhân loại, qua biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người.
Ta chuẩn bị ngày lễ Chúa Giáng sinh. Chúng ta hãy học nơi Mẹ Maria bài học của lòng tin.
Mẹ luôn tin tưởng vào Chúa, điều đó giúp cho Mẹ bước đi kiên vững, không sợ hãi, chán nản và đơn côi. Đối với chúng ta cũng vậy, chúng ta đón nhận ơn đức tin, và nhờ lòng tin này chúng ta bước đi từ nỗi thất vọng, u ám của cuộc đời đến niềm vui, sự tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào tình thương của Thiên Chúa.
Đức tin giúp chúng ta khám phá ra rằng: tất cả chúng ta được Thiên Chúa yêu thương, được Ngài tuyển chọn, và được Ngài ban phúc lành.
Mỗi người chúng ta đón nhận được ơn đức tin, và tin vào tình thương của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Con Thiên Chúa Giáng Sinh làm người thì chúng ta hãy sống và giữ niềm tin ấy. Niềm tin của chúng ta có “khả năng” lớn lao, là được “cưu mang” Chúa Giêsu trong tâm hồn và cuộc sống của mỗi người chúng ta.
Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy cất cao lời ngợi khen Chúa vì Ngài cũng làm cho chúng ta biết bao kỳ công. Ơn vĩ đại nhất chính là ơn cứu độ. Hành vi cao thượng hơn cả đó chính là sự quảng đại, tha thứ của Thiên Chúa trên mỗi người.
Cất cao lời tạ ơn Chúa còn giúp cho chúng ta nhận ra mình yếu đuối và đang được Thiên Chúa thương yêu. Đồng thời cũng bày tỏ lòng sám hối, biết ơn với Thiên Chúa là nguồn mạch mọi ơn lành.
Thứ Bảy tuần 3 MV.
Kn 2:8-14; Lc 1:39-45
QUAN TÂM NGƯỜI KHÁC NHƯ MẸ
Đời người là một cuộc hành trình, và cuộc hành trình nào cũng là một cưu mang: mơ ước được gặp gỡ, chia sẻ, sống trong tự do, xây dựng đời sống, do đó cuộc hành trình nào cũng chứa đựng nhiều hăm hở.
Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, đon đả ra đi lên miền Sơn Cước. Đức Maria đã chỗi dậy, vì cưu mang con trong lòng. Cưu mang con trong lòng cũng có nghĩa là nuôi dưỡng một niềm vui bất tận: đứa con càng lớn, niềm vui càng tăng.
Niềm vui nào cũng đòi được chia sẻ. Đức Maria đã không cất giữ trong lòng niềm vui vừa cưu mang, nhưng Người đã vội vàng đem niềm vui đến cho người khác.
Đích điểm cuộc hành trình của Đức Maria là một miền núi. Núi cao là nơi trắc trở, nhưng cũng thường là nơi hẹn hò giữa Thiên Chúa và con người. Và cũng từ cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, con người mới có thể đến với người khác.
Khi biết tin chị họ mang thai, Mẹ Maria vội vã lên đường thăm viếng. Cuộc thăm viếng của Mẹ đã mang lại niềm vui lớn lao cho bà Ê-li-sa-bét. Niềm vui đó không đến chỉ bởi tình nghĩa, sự quan tâm yêu thương mà Mẹ danh cho bà nhưng bởi sự hiện diện của Hài Nhi Cứu thế trong cung lòng Mẹ. Bà đang rất khao khát Chúa, còn Mẹ thì có Chúa trong lòng.
Mẹ Maria đã có tương giao nghĩa thiết với Thiên Chúa, nên Mẹ đã sống cuộc đời Mẹ cách vẹn toàn, sung mãn dù cuộc đời có nhiều bấp bênh, thử thách. Mẹ cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng; nhờ vậy, Mẹ trở thành Đấng Đầy Ơn Phúc. Cũng thế, gia đình ông Dacaria, nhất là Gioan Tẩy Giả, đã được đầy tràn niềm vui ơn cứu độ nhờ gặp gỡ Con Thiên Chúa Làm Người mà Đức Mẹ đã mang đến cho gia đình ông.
Qua cuộc viếng thăm nầy, chúng ta thấy, Đức Maria đã chuẩn bị đón mừng Con Thiên Chúa giáng trần trong đức tin, đức cậy, đức mến và tâm tình tạ ơn thắm thiết. Phải chăng đó là mẫu gương chuẩn bị đón mừng Chúa Giáng Sinh của chúng ta.
Đức Maria có một đức tin chắc chắn và sâu sắc. Chính Elisabeth đã khẳng định: “ Phúc cho Chị là kẻ đã tin rằng, lời Chúa phán cùng Chị sẽ được thực hiện”. Thử hỏi chúng ta có luôn luôn tin tưởng vào Lời Chúa không ?- Thay vì tranh luận, bàn cãi, hay nghi ngờ, chúng ta hãy nỗ lực học hỏi, đào sâu, và đem ra thực hành. Xin vâng theo thánh ý Chúa. Điều đó phải chăng đối với chúng ta đôi khi khó lòng chấp nhận hay không ?-
Đức Maria có một đức cậy kiên vững, khi thốt lên:” Thiên Chúa nhớ lại lời ngài đã hứa”. Thiên Chúa không bao giờ đánh lừa, gian dối. Ngài luôn luôn thực hiện lời ngài đã hứa. Vì thế, chúng ta hãy luôn tin tưởng. Ngài sẽ đến cứu giúp, sẽ trao ban hạnh phúc, nếu chúng ta hết lòng trung tín, cậy trông.
Đức Maria là mẫu gương bác ái tuyệt hảo. Ngài không đã quản ngại đường sá xa xôi, cách trở. Đến giúp đỡ Elisabeth trong thời kỳ thai nghén. Và nhất là tỏ cho bà biết mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Chúng ta hãy luôn nhớ rằng, Thiên Chúa ở trong chúng ta nhờ ân sủng của ngài. Vì thế, chúng ta hãy cố gắng giúp cho người khác nhận ra Thiên Chúa và hạnh phúc của ngài, bằng lời nói, cử chỉ, hành động và cách sống của chúng ta.
Sau cùng, Đức Maria đã tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa, khi cất tiếng ngợi khen, vì đã đoái thương đến thân phận khiêm hạ của ngài: “ Linh hồn tôi tung hô Chúa”. Cũng vậy, Thiên Chúa cũng đã làm cho chúng ta biết bao điều kỳ diệu. Chúng ta hãy luôn luôn biết cám ơn ngài bằng một đời sống yêu thương bác ái.
Sống ở đời, người ta phải có tương quan, liên đới. Nhưng trong tương quan, liên đới với những người xung quanh, bạn và tôi đã mang gì đến cho họ? Có khi nào sau cuộc gặp gỡ, trao đổi với ta, họ trở về nhà với tâm hồn nặng trĩu những dằn vặt, đau đớn bởi những lời nói, cử chỉ, hành động thiếu tình bác ái, vị tha của ta? Mẹ Maria đã mang Chúa Cứu Thế đến cho gia đình ông Dacaria. Ta cũng được mời gọi đem Chúa là niềm vui ơn cứu độ đến với những người xung quanh, chứ không phải mang đến cho họ những hiềm khích, chỉ trích gây đau đớn, khổ sầu cho họ.
Trong một thế giới đầy dẫy những khổ đau, thì cần lắm những tâm hồn đạo đức cưu mang Chúa và những đôi chân nhiệt thành ra đi lan truyền lòng xót thương của Chúa cho con người. Nhân loại hôm nay đang thiếu những tâm hồn vui tươi và bình an trong một lối sống tự nhiên và giản dị, những tâm hồn khiêm tốn, độ lượng, tĩnh lặng nhưng đầy yêu thương. Phương dược để xoa dịu nỗi lòng nhân thế là cuộc gặp gỡ giữa lòng thương xót của Thiên Chúa và kiếp nhân sinh cần được xót thương. Cuộc sống mỗi người cần có một lý tưởng để vươn đến. Lý tưởng nào đẹp cho bằng đời dấn thân phục vụ. Phục vụ còn ý nghĩa gì, nếu không phải là cho tha nhân niềm vui, bình an và tình yêu của Chúa.
Mùa vọng là mùa của cưu mang, của cất bước ra đi. Chúng ta hãy để Đức Kitô lớn lên trong tâm tư, suy nghĩ, hành động của chúng ta. Cùng với Đức Kitô, chúng ta hãy ra đi đến với người khác. Cùng với Đức Kitô, chúng ta hãy biến mọi gặp gỡ hằng ngày thành những trao đổi của yêu thương, phục vụ, quên mình, tha thứ và vui tươi.
THƯƠNG QUÁ KHOAI LANG ƠI ! by Nguoi Giong Trom 12/18/2019
Trưa nay có việc, mình vào vùng núi Lửa Chư Đang Ya. Gần đến giờ cơm, nhìn thấy đĩa khoai lang vừa mới luộc nằm trên gác chạng, cô nấu cơm mời khoai lang nóng.
Vừa thổi vừa ăn củ khoai theo lời mời. Quả thật, khoai lang mật trồng ở vùng đất cạnh núi lửa thì ngon đâu nơi nao bằng. Cắn 1 miếng nó ngọt đến tận cổ. Thế nhưng rồi củ khoai cầm trên tay càng lúc càng “biến dạng” trở thành đắng !
Vốn dĩ “nhiều chuyện” nên hỏi cô mời khoai : “Cô ơi ! Khoai này bao nhiêu 1 ký ạ !” – “Dạ ! Mấy bữa 7 ngàn 1 ký, nay còn 5 ngàn à !”
Thử hỏi khoai 5 ngàn đồng 1 ký mà không đắng mới lạ !
Và, cũng thử hỏi công trồng cho đến khi nhổ và làm đất thì giá 5 ngàn 1 ký có phải là bán lưng cho đất và bán mặt cho trời với cái giá rẻ mạt không ?
Nhìn dĩa khoai lang ngon lắm nhưng không thể nào cắn nỗi vì thương dân mình quá ! Thử hỏi như thế không khổ sao được ?
Và, dường như chả chỉ phải có khoai lang bị “đắng” nhưng tất cả rau củ quả cũng như quả chuối, quả cam và thịt lợn cùng chung số phận như thế.
Những ngày chưa đại dịch, ra chợ Phù Đổng mua heo ngon với giá 9 chục ngàn 1 ký. Nay sau đại dịch và heo bắt đầu khan hiếm thì nhảy vọt đến tận trăm ba. Đem câu chuyện heo lên giá kể cho người Sài Gòn cũng như người Bến Tre thì người Sài Gòn và người Bến Tre cho biết ở trển heo lến đến 200 ngàn đồng 1 ký.
Vậy đó ! Năm hết và Tết lại đến gần. Tiền làm ra thì không có mà tiền lặng lẽ ra đi lại rất nhiều.
Lại một đêm khó ngủ vì hình ảnh của những củ khoai lang “đắng” vùng núi lửa Chư Đang Ya chìm vào theo trong giấc mộng.
Thương quá bác nông phu ơi ! Biết bao giờ bác mới hết khổ và đất nước mới hết nghèo.
Buồn và thật đắng cho những mảnh đời 1 nắng 2 sương mà cái khổ cứ ôm chầm người nông phu như không hề muốn buông tha.
Trên đường ra bến xe để về với “ly cà phê Ban Mê” có việc thì người anh ngao ngán cho những gia đình trong làng nơi Anh ở đến đất cũng không còn mà bán ! Rồi đây dân mình sẽ sống thế nào với cảnh nghèo và thoát nghèo.
Nhìn bề ngoài tươi cười như vậy nhưng trong lòng tan vỡ bởi ngổn ngang đâu đó nhiều mảnh đời bất hạnh.
Con trẻ đẻ ra chưa đầy 6 tháng vướng trong mình chứng bệnh tim bẩm sinh. Mảnh đất còn lại của gia đình phải cay đắng rời khỏi tay khổ chủ với giá 80 triệu bạc. Và những ngày tới đây gia đình phải đối mặt với bao chi phí khi đứa trẻ lên bàn mổ. Mà chưa nói lên bàn mổ, chỉ cần đi đi lại lại giữa Sài Thành phồn hoa đô thị và làng nghèo ở phố núi thôi cũng đủ ná thở. Cả chuyện ăn chuyện uống ở cái đất phồn hoa đó cũng chưa chắc có bởi lẽ với người đồng bào quả là điều quá khó !
Trăn trở mãi với cuộc đời ! Dằn vặt mãi với những phận người thương đau.
Thôi thì tất cả cứ phó thác và tín thác trong sự quan phòng của Trẻ Bé Giêsu mà toàn dân đang nóng lòng chờ mừng ngày Giáng Sinh Cứu Thế. Vẫn tin rằng những người đã chịu khổ ở đời này chả lẽ Chúa lại để họ khổ ở đời sau sao ?
CUNG CÁCH SỐNG CỦA NHỮNG TẤM LÒNG … QUẢNG ĐẠI
Có khi nhiều người thấy ai đó vui vẻ chia sẻ với người nghèo hàng tỉ đồng cứ ngỡ họ xài hoang phí nhưng …
Tối qua, sau khi rời khỏi Linh Địa Mẹ Măng Đen, bên bếp lửa hồng ấm cúng của tình Chúa – tình Mẹ và tình người, ca sĩ Xuân Trường bộc bạch : “May quá ! Có bữa cơm như thế này là nhất rồi ! Nhiều lần chị Phương dặn là đừng có ăn mì ở khách sạn ! Đắt lắm”
Hỏi ra thì đó là chị Phương Hồng Quế – người chia sẻ nhiều dự án cho những vùng ngèo – dặn em mình. Chị biết em mình hay đi đây đi đó và nghỉ ở khách sạn nên dặn như vậy.
Đúng thế ! 1 gói mì ăn ở nhà khác xa ở khách sạn.
Cũng thế ! 1 ổ bánh mì ở ngoài sân bay giá bèo hơn ở sân bay.
Ca sĩ Phi Nguyễn “khoe” luôn : “Hôm nọ đói quá, mua phiếu tô phở giá 155 ngàn. Trả lại không được và đành ăn tô phở chát”.
Vừa rồi, hai anh em chúng tôi ăn 2 ổ bánh mì với giá 130 ngàn trong sân bay quá đắng !
Mới đây, 2 bố con nọ “quất” 2 cốc cà phê ở sân bay Nội Bài cũng chả rẻ hơn ai.
Thật sự thì bí lắm mới ăn mì gói khách sạn hay phở sân bay. Bản thân bỉ nhân chả bao giờ ngó đến trừ hôm nọ ăn 2 ổ bánh mì cay quá cay.
Hóa ra chị Phương chắt chiu từng đồng để chia sẻ chứ không hề chia sẻ của dưa của thừa. Lòng của chị thật bao la và trân quý.
Cũng thế, một người khá nổi do anh chia sẻ không chần chừ với những ai tìm đến với anh, cách riêng với những bệnh nhân tim và mù. Anh không ngần ngại chia sẻ : “Cả đời chưa bao giờ dám ăn tôm hùm hay uống rượu sang. 2 đứa con nó còn dặn ba nó là tiết kiệm chứ không xài phung phí”.
Quả thật ! Anh dư tiền mua xe đời mới nhưng ngược lại, chả có gì trong tay. Anh sống thật nghèo và bình dị nhưng lỡ “mang tiếng” quảng đại nên cũng khó nói. Ngày ngày chỉ bữa rau bữa cá chứ không hề xa sỉ cao sang. Anh dùng phương tiện đi lại là taxi để giảm thiểu ít là 10 triệu đồng cho 1 tháng. Anh nói rằng tiền tiết kiệm đó lại giúp thêm cho người nghèo.
Thế đó ! Chưa hẳn những người quảng đại lại là những người tiêu xài phung phí. Có lẽ, họ “phung phí” cho người nghèo còn chính bản thân họ chả có chi.
Bỉ nhân cũng vậy thôi, vẫn luôn ý thức những đồng tiền góp nhặt của bao người để khi tiêu pha gì đó là hết lòng cân nhắc.
Và, nhiều lần đi ăn với ai đó, bỉ nhân chọn phương án thanh toán để rồi nhiều người nghĩ bỉ nhân giàu. Dạ thưa em không giàu ! Em trân trọng tình bạn và “gánh” vác thôi chứ không như ai kia nghĩ.
Đời ! Vẫn là sự tự do chọn lựa để sống : có những người nghèo nhưng tiêu xài hoang phí và ngược lại, có những người họ được quyền tiêu pha nhưng họ e dè chi phí.
Trân quý Cô Phương Hồng Quế, trân quý anh chàng đại gia không có xe con, trân quý những tấm lòng chuyên lo cho người nghèo và không hề nghĩ chi đến bản thân. Dòng đời vẫn trôi và cuộc đời vẫn thế, nhưng đâu đó ta bắt gặp được những tấm lòng thật trân quý. 12-2019
December 7, 2025