| |
TRONG BÓNG
TỐI SỰ CHẾT
“Ông
đã được báp tem chưa? Chúng tôi đến đây giúp ông chịu phép báp
tem.” Đó là câu hỏi mà nhiều người Việt Nam chúng ta thỉnh thoảng
vẫn được nghe hỏi bởi một số anh chị em Tin Lành, nhất là giáo
phái Giêhôva, với một tập tài liệu bằng Việt và Anh ngữ in rất
đẹp mang tự đề “Tháp Canh”. Hoặc anh chị em thuộc giáo phái Các
Thánh Hữu Ngày Sau theo Mormon.
Điều
mà những Kitô hữu chúng ta nếu để ý thấy là những người đến với
chúng ta, họ đến bằng một nhiệt tình rất thiết tha, chân thành,
và cũng rất sùng mộ. Họ đến không được lần này, họ sẽ tìm dịp
đến lần sau. Nếu họ không có cơ hội nói nhiều, họ chỉ xin nói
với chúng ta một vài câu giới thiệu rồi để lại những tài liệu
và kiên trì chờ chúng ta cho phép. Họ chỉ cần bước vào nhà chúng
ta là họ có thể nói với chúng ta hàng giờ về Chúa Giêsu (Đấng
Christ), về tin mừng của Ngài, về ngày cánh chung, về việc chịp
phép Báp tem (Rửa Tội). Điều này trái ngược hoàn toàn với quan
niệm và lối sống đạo của nhiều Kitô hữu, là giữ đạo để lên Thiên
Đàng. Việc truyền giáo, việc rao giảng Tin Mừng, việc đạo là để
mấy ông cha, bà phước. Tiếc một điều là lối suy nghĩ và sống đạo
ấy lại hợp với lối suy nghĩ, sống đạo, và giảng đạo của một số
các chủ chăn.
Tại
tổng giáo phận kia, nơi có đông đồng hương Công Giáo Việt Nam,
một hội đoàn trẻ được thành hình. Nó hoàn toàn phù hợp với tôn
giáo, và trong tinh thần mật thiết kết hợp với Giáo Hội, truyền
đạo cho thành phần trẻ. Nhưng tâm huyết, lòng nhiệt thành, và
tinh thần hoạt động của những người chủ trương cũng như của giới
trẻ đã bị một số linh mục thẳng tay dẹp bỏ. Lý do chính là không
muốn bận bựu., hoặc không muốn có thêm những gì vẫn đã có sẵn
trong sinh hoạt giáo xứ, cộng đoàn từ trước.
Hơn
2000 năm trước, Con Thiên Chúa đã giáng trần và đã trở thành ánh
sáng của muôn dân. Thánh Kinh đã ghi lại lời của Isaia làm chứng
về Ngài: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển,
bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang. Dân ngồi trong bóng
tối tăm, đã thấy ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng đã xuất hiện cho
người ngồi trong bóng tối sự chết” (Mt 4:15-16).
Ánh
sáng cứu độ như vậy đã rọi chiếu vào những vùng tăm tối, nhưng
ánh sáng ấy sau hơn 2000 năm, ở vào thời đại chúng ta đang sống
vẫn chưa chiếu xa khỏi nhiều khuôn viên nhà thờ, nhiều khung cửa
nhà số đông các Kitô hữu. Người ta cứ đọc kinh rang rang, rước
sách linh đình, rầm rộ, đền tạ liên miên. Các linh mục vẫn cứ
ngồi tòa ngất ngư vào những dịp Giáng Sinh, Phục Sinh. Nhưng rồi
chỉ có thế. Nếu có ai hỏi thêm về giáo lý của Giáo Hội, về tinh
thần Kitô Giáo, về đời sống của Giáo Hội, và về Chúa Giêsu thì
không biết.
Sau
gần 2 giờ tranh luận về Giáo Lý liên quan đến lòng sùng mộ Đức
Trinh Nữ Maria, một giáo dân đã hỏi vị linh mục: “Vậy cha đã đọc
những điều này trong sách Giáo Lý của Giáo Hội chưa?” Vị linh
mục trả lời “chưa có giờ đọc” với lời giải thích: “Chỉ đọc chung
chung những điều về tín lý, luân lý, còn về Đức Mẹ thì không đọc
bao giờ”.
Sống
đạo như vậy, giảng đạo như vậy, thì chẳng lạ gì mà ánh sáng của
Ơn Cứu Độ cho đến nay vẫn còn luẩn quẩn bên trong các nhà thờ,
chung quanh các khuôn viên thánh đường, và nhà của nhiều tín hữu.
Đây là lối sống đạo và hành đạo mà theo tư tưởng của một linh
mục truyền giáo tại Uùc là “giữ đạo” hiểu theo một nghĩa đen thuần
túy. Giữ chứ không “sống đạo”, “hành đạo” và “truyền đạo”. Và
đây cũng là lý do tại sao Đức Gioan Phaolô II, trong dịp mở màn
Thiên Niên Kỷ III, Ngài đã hô hào Giáo Hội và mọi Kitô hữu là
“Hãy thả lưới chỗ nước sâu” tức là hãy đi ra khỏi con người ích
kỷ, khỏi gia đình họp hòi, khỏi giáo xứ nhỏ nhoi, mà vươn tới
những anh chị em đang cần được soi dẫn và ánh sáng Cứu Độ chiếu
soi, để cùng đem họ về với Chúa. Vì đây chính là ơn gọi của Giáo
Hội cũng như của mỗi Kitô hữu khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội: “Hãy
đi khắp cùng bờ cõi trái đất và công bố Tin Mừng cho muôn dân”
(Mc 16:15).
“Ngồi
trong bóng tối sự chết”. Lời Thánh Kinh hôm nay nhắc nhở mỗi Kitô
hữu chúng ta về 2/3 dân số trên thế giới giờ này vẫn chưa một
lần được nghe nói về Chúa Giêsu, về ơn cứu độ và sự giải phóng
tâm linh của Ngài. Và như vậy, liệu chúng ta có muốn đem ánh sáng
cứu độ của Ngài đến với những anh chị em còn đang trong bóng tối
của tội lỗi, của Satan, và sự chết không? Nếu có, trước hết chúng
ta phải để ánh sáng ấy chiếu sáng tâm hồn và cuộc đời mình. Rồi
bằng một lòng nhiệt thành, sốt sắng, chúng ta mang ánh sáng ấy
đến với những anh chị em quanh mình, thay vì để ánh sáng này luẩn
quẩn bên trong nhà thờ, khuôn viên giáo đường, tại phòng khách
nơi có bàn thờ Chúa, bàn thờ Đức Mẹ. Nhưng ánh sáng ấy là gì?
- Là những lời nói
dịu dàng, cử chỉ thân ái, tinh thần phục vụ của người vợ, người
chồng, người cha, người mẹ trong gia đình.
- Là sự thủy chung
và tôn trọng nhau trong đời sống hôn nhân, gia đình.
- Là lòng yêu mến,
chân thành thánh hoá của đời tận hiến.
- Là sự kính trọng,
tôn kính và hiếu thảo của những người con.
- Là tư cách đứng
đắn, ngay thẳng và liêm khiết trong giao tiếp thường ngày với
mọi người.
- Là công bằng và
thành thật trong cách thức làm ăn, buôn bán, và đối xử với mọi
người.
- Là lòng thương xót,
vị tha, và kính trọng đối với mọi người, nhất là những người
nghèo khổ, bệnh tật và già yếu.
- Là lòng yêu mến
chân thành đối với Thiên Chúa và Giáo Hội.
T.s.
Trần Quang Huy Khanh 2005
Hãy hối cải !
Trần
Mỹ Duyệt 2008
"Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17). Nước trời đã ở giữa nhân loại và ở giữa chúng ta như lời giới thiệu
của Gioan Tiền Hô: "Đây Chiên Thiên Chúa. Đấng xóa tội trần gian" (Jn 1:29). Vậy tại sao Chúa Giêsu còn nói: "Nước trời đã gần đến"?
Thật
ra, Chúa đã từ trời xuống thế, và từ mặt đất xuống dòng sông
Giođan như một dấu chỉ hòa tan, và hội
nhập với nhân loại. Từ trời xuống đất, Ngài mặc lấy xác phàm
nhân loại. Từ trên bờ, bước xuống dòng sông Giođan là Ngài mang
lấy những yếu đuối và tội lỗi của nhân loại. Những vẫn còn một
cái gì đó, một sự ngăn cản nho nhỏ từ phía con người khiến Ngài
phải lên tiếng: "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17).
Khi
nói với con người những lời ấy, Ngài muốn con người cho Ngài
một cơ hội để Ngài hoàn tất công việc cứu
chuộc của Ngài. Để Ngài được đến và ở với mỗi người một cách
tận tình, tận nghĩa. Vì dòng sông kia đã cuốn trôi tất cả những
gì làm ngãng trở từ phía Ngài đối với con người. Nói một cách
rõ ràng, là Ngài muốn con người quay trở về với ơn gọi và cuộc
sống con cái Chúa của mình.
Từ
sau ngày Nguyên Tổ phạm tội, con người đã đi theo một hướng mới,
và hướng đi ấy cứ mỗi ngày
kéo con
người xa dần Thiên Chúa. Xa dần tình thương của Thiên Chúa.
Đó là hướng đi về phía Satan, hướng đi phản nghịch. Hướng đi
của
người con hoang đàng sau này được chính Ngài đề cập đến trong
dụ ngôn người cha hiền hậu.
Chúng
ta trong vai trò làm cha mẹ hẳn là đã có kinh nghiệm này. Ai
mà chẳng đau lòng khi có một
người con
phản loạn, bỏ nhà đi hoang, đắm chìm vào cuộc sống sa đọa như
hút sách, nghiện ngập, đĩ điếm, trộm cướp. Những gì sẽ xẩy ra
cho những cha mẹ này, nếu không phải là nước mắt, là buồn tủi,
là chờ mong. Và khi người con ấy ăn ăn hối cải, trở lại với cuộc
sống bình thường, để tâm vào việc học hành, xây dựng tương lai
thì còn niềm vui nào hơn đối với những cha mẹ sầu khổ ấy. Đúng
là: "Con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay tìm thấy" (Lc 15:24). Chỉ có những ai đã làm cha mẹ và đã trải qua những giây phút chờ
đợi người con đi hoang trở về mới cảm nhận cách đầy đủ và thấm
thía lời nói ấy.
Bước
vào đời sống công khai, bắt đầu sứ mạng rao giảng Tin Mừng, Chúa
Giêsu đã bày tỏ sự mong đợi và nỗi khát
mong để thấy con người trở lại quay về với thân phận và cuộc
sống ngày nào của mình. Nước trời đã gần đến. Chỉ còn một khoảng
cách nhỏ, rất nhỏ và khoảng cách ấy lại thuộc về phía con người.
Không như những cha mẹ bình thường nhiều khi vì lỗi lầm, vì cách
cư xử và vì thiếu hiểu biết đã tạo nên những lý do khiến con
cái bỏ nhà đi hoang và rơi vào những cạm bẫy của xã hội. Thiên
Chúa là cha nhân lành, và là người cha hoàn toàn, Ngài biết phải
làm gì để đem lại hạnh phúc cho con cái mình: hạnh phúc đời này
và hạnh phúc vĩnh cửu. Do đó, khi nhìn thấy con cái bỏ xa mình
mà đi theo những bóng hình ngoại lai, phủ nhận tình thương, và
cam chịu bỏ mất hạnh phúc mà Ngài đã sắm sẵn từ đời đời, thì
lòng người Cha ấy không thể không thổn thức, và xao xuyến. Nếu
có thể nói to hơn được, chắc Chúa Giêsu cũng đã nói: "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17).
Kinh
nghiệm thường ngày cho ta thấy điều này, người con có thể phủ
nhận và khinh chê tình thương của cha mẹ, nhưng cha mẹ ít
khi từ chối và bỏ rơi con mình, dù nó là những đứa con yếu đuối,
bệnh tật, và hư hỏng. Hằng ngày, tôi vẫn thường xuyên gặp gỡ
những cảnh này, và không thể bồi hồi, xúc động khi nhìn thấy
những người cha, người mẹ đau khổ tìm kiếm những phương pháp
trị liệu cho con mình, mặc dù, vẫn biết rằng sự cố gắng ấy cũng
chỉ là rất ít ỏi. Sự quan tâm, lo lắng ấy nhiều khi làm phiền
và gây khó chịu cho những người có trách nhiệm. Nhiều khi người
cha hay người mẹ bất chấp những điều có thể gây phiền toái cho
kẻ khác vì nghĩ đến con mình. Thí dụ, một người mẹ vì quá lo
lắng cho con nên bà đã gọi điện thoại cho hầu hết những người
có trách nhiệm trong một chương trình cung cấp dịch vụ cho các
trẻ em khuyết tật tâm lý và thể lý. Bà gọi người này không được,
lại gọi người khác đến nỗi làm xôn xao, và hoang mang cho mọi
người. Những người có trách nhiệm như tôi, chỉ khuyên bà hãy
bình tĩnh và nhẫn nại chờ
cho hồ sơ được hoàn tất, nhưng sự nhẫn nại ấy cũng không có nơi
bà.
Vậy
khi Chúa Giêsu nói "hãy
hối cải", có nghĩa là Ngài muốn chúng ta quay nhìn vào chính mình, vào cuộc đời mình,
và vào Ngài. Hãy nhìn xem, và hãy nghiệm xét xem có ai bằng Chúa
mình không? Ai đã tạo dựng, và sẵn sàng chết để cho mình được
sống không? Từ đó, Ngài cũng muốn chúng ta hiểu hơn về những
giá trị của cuộc sống tạm dung này. Hiểu được những "chúa" của những của cải vật chất, danh vọng này là ai? Sự hiểu biết này sẽ làm cho
chúng ta "quay trở lại".
Lý
thuyết về sự trở lại, sự hối cải thì bao giờ cũng hấp dẫn và
hợp lý. Nhưng áp dụng và thực hành những
lý thuyết ấy thì lại không mấy hấp dẫn và hợp lý, nhất là đối
với chúng ta những ai chỉ nhìn và cảm nhận những giá trị bên
ngoài của cuộc sống.
Nước
Trời đã gần đến! Từ ngày Chúa giáng sinh làm người, Ngôi Hai
Thiên Chúa đã mang nước Trời xuống với
con
người. Rồi ngày Ngài dìm mình trong dòng sông Giođan thức là
Ngài lại một lần nữa đem nước Trời đến với nhân loại. Vậy chỉ
còn một cách duy nhất là "hối cải" tức là dừng lại, suy nghĩ lại, và sửa sai lại những gì mình đã nghĩ, đã làm,
và đã sống sao cho phù hợp với Tin Mừng của nước Trời, và lúc
ấy nước Trời sẽ ở giữa lòng mọi người.
|
|