| |
Hãy sống theo quan niệm mới của Đức Giêsu
ĐỌC
LỜI CHÚA
•
Is 35,1-6a.10: (5) Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc
nghe được, (6) kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm
sẽ reo hò.
•
Gc 5,7-10: (8) Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững
chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới.
•
TIN MỪNG: Mt 11,2-11
Đức
Giêsu trả lời câu hỏi của ông Gioan Tẩy Giả
(2)
Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Giêsu
làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: (3) «Thưa Thầy, Thầy
có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi
ai khác?» (4) Đức Giêsu trả lời: «Các anh cứ về thuật lại cho
ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: (5) Người mù xem thấy,
kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người
chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, (6) và phúc thay người
nào không vấp ngã vì tôi».
(7)
Họ đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng:
«Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước
gió chăng? (8) Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc
lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung
điện nhà vua. (9) Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng?
Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ
nữa. (10) Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng:
Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường
cho Con đến.
(11)
«Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa
từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ
nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông».
CHIA
SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1.
Tại sao Gioan Tẩy giả lại sai môn đệ mình đến hỏi Đức Giêsu?
2. Tại sao Đức Giêsu nhắn Gioan: «Phúc thay người không vấp ngã
vì tôi»?
3. Người Kitô hữu – cụ thể là chúng ta – có bị vấp ngã vì Đức
Giêsu không? Vấp ngã thế nào? Chúng ta phải làm gì để không vấp
ngã?
Suy tư gợi ý:
1.
Điều nghi nan và thắc mắc của Gioan Tẩy giả
Một số nhà chú giải cho rằng khi bị thử thách trong tù, Gioan
đâm ra thắc mắc: không biết Đức Giêsu có đích thực là Đấng Cứu
Thế mà các ngôn sứ đã loan báo hay không. Ông thắc mắc vì nếu
quả thật Ngài là Đấng Cứu Thế, thì tại sao người có sứ mạng chuẩn
bị cho Ngài đến là ông lại phải ngồi tù? Lẽ ra ông phải ở ngoài
để cộng tác với Ngài trong việc thành lập Nước Trời mới phải!
Các môn đệ của ông chắc chắn cũng thắc mắc như thế. Vì thế, ông
đã sai người đến trình bày thắc mắc ấy cho Đức Giêsu.
Để
trả lời, Đức Giêsu đã dùng chính những dấu chỉ của ngôn sứ Isaia
về thời Đấng Cứu Thế: «Sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa
thưởng công, phạt tội (…) Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người
điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người
câm sẽ reo hò» (Is 35,4-6). Ngài bảo: «Các anh cứ về thuật lại
cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy,
kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người
chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng». Với những sự kiện
xảy ra mắt thấy đúng như ngôn sứ Isaia mô tả, Gioan có thể xác
định Đức Giêsu là ai. Tuy nhiên, có điều quan trọng mà Đức Giêsu
muốn nhắn nhủ Gioan: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi».
2.
«Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi»
Đức Giêsu được Thánh Kinh mô tả là «một hòn đá làm cho vấp, một
tảng đá làm cho ngã» (Rm 9,33; 1Pr 2,8). Nhưng chính Ngài lại
nói: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi» (Mt 11,6; Lc 7,23).
Thánh Kinh cũng cho biết có rất nhiều người vấp ngã vì Ngài (x.
Mt 15,12; 26,31; Mc 6,3; 14,27; Rm 9,32). Trong Thánh Kinh, «vấp
ngã» có nghĩa là vì một cớ nào đó mà làm điều sai trái, không
đúng, xúc phạm, hoặc không tin hay mất niềm tin vào Thiên Chúa,
vào Đức Giêsu. Khi Gioan bị tù, ông bị thử thách về niềm tin đối
với Đức Giêsu. Dù sao ông vẫn là con người, nên cũng có khuynh
hướng suy nghĩ kiểu loài người. Thánh Thần đã cho ông biết một
cách không minh nhiên – nghĩa là chỉ qua những dấu chỉ – rằng:
Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, và ông có sứ mạng dọn đường cho Ngài.
Ông đã tin điều đó. Nhưng khi ngồi tù một thời gian quá dài, ông
đâm ra nghi ngờ niềm tin ấy. Vì nếu quả thật Ngài là Đấng Cứu
Thế, thì ông đang phải là cánh tay mặt của Ngài, sát cánh bên
Ngài để cùng Ngài hành động!
Nếu ông mất niềm tin đó, thì ông đã vấp phạm vì Ngài. Nhưng Đức
Giêsu đã gián tiếp cho ông biết niềm tin của ông vào Ngài là chính
xác. Nhờ đó, ông không mất niềm tin. Vì thế, Ngài khen ông: «Trong
số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy
giả». Ông cao trọng vì cho đến lúc đó, ông là người đầu tiên được
vinh hạnh góp phần trực tiếp vào sứ mạng cứu thế của Con Thiên
Chúa, và ông đã hoàn thành sứ mạng của mình cách hoàn hảo. Tuy
nhiên, ông vẫn là người của Cựu ước, não trạng của ông vẫn là
não trạng của thời Cựu ước. Não trạng Cựu ước là: sự công chính
được xây dựng trên việc giữ trọn lề luật, thực hành các nghi thức
tôn giáo, và làm những điều tốt đẹp. Ông không có cơ hội hấp thu
những giáo huấn mới cao cả của Đức Giêsu để có một não trạng mới:
sự công chính được xây dựng trên tình yêu. Vì thế, sự công chính
của ông không cao bằng sự công chính của những người sống đúng
tinh thần Tân ước. Do đó, Ngài mới nói: «Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất
trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông» (xem thêm Mt 5,20).
3. Tinh thần mới của Tân ước so với Cựu ước
Đức Giêsu đến để khai mạc Nước Trời tại trần gian, mà Gioan là
người dọn đường. Nước Trời, xét về mặt xã hội, là một xã hội lý
tưởng, trong đó mọi người đối xử với nhau bằng yêu thương đích
thực. Nhờ đó, mọi người được hạnh phúc. Thật vậy, thế giới này,
cũng như Giáo Hội mà Đức Giêsu lập ra, chỉ có thể hạnh phúc và
trở thành Nước Trời khi mọi người biết yêu thương nhau. Hiện nay,
thế giới cũng như Giáo Hội, có rất nhiều tiêu cực, đau thương,
chính vì các thành viên không yêu thương nhau.
Đức Giêsu đến đem lại cho thế giới một tinh thần mới, một lề luật
mới xây dựng trên yêu thương. Tiêu chuẩn mới của sự công chính
là tình yêu, khác với tiêu chuẩn cũ trong Cựu ước. Thật vậy, Thánh
Kinh cho biết «Người đã huỷ bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới
luật» (Ep 2,15) và lập ra luật mới cho kỷ nguyên mới: «Thầy ban
cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau» (Ga
13,34). Đức Giêsu chính là tư tế mới thay cho các tư tế cũ của
Cựu ước, mà «một khi chức tư tế thay đổi, thì nhất thiết phải
thay đổi Lề Luật» (Dt 7,12). Dựa trên tinh thần mới của Tân ước,
thánh Phaolô đã nói rất rõ và rất nhiều lần rằng chính đức tin
mới làm cho con người nên công chính (x. Rm 1,17; 5,1; 9,30.32;
Gl 3,8.11.24; Dt 11,7) chứ không phải việc giữ luật (Rm 3,20-21.28;
4,13; 9,31; Gl 2,16.21; 3,11; 5,4), hay những việc làm tốt đẹp
(x. Rm 4,5-6; 9,32; 11,6). Mà mục đích và tinh hoa của đức tin
lại là đức ái, vì theo cũng thánh Phaolô, đức ái cao trọng hơn
đức tin và đức cậy (x. 1Cr 13,13). Đức Giêsu cũng xác nhận tình
yêu quan trọng hơn các lễ nghi tôn giáo: «Yêu mến Thiên Chúa (…)
và yêu người thân cận (…) là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và
hy lễ» (Mc 12,33; x. Mt 5,23-24); «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần
lễ tế» (Mt 9,13; 12,7). Tất cả những thứ tốt đẹp đó là biểu hiện
tất nhiên phải có của tình yêu. Nhưng nếu chỉ có những biểu hiện
ấy ở bên ngoài chứ không có cốt tủy bên trong là tình yêu, thì
những biểu hiện ấy chỉ là giả dối, hoàn toàn vô giá trị trước
Thiên Chúa.
4. Chiều kích mới của sám hối
Vì thế, ta cần khám phá chiều kích mới của sám hối trong sứ điệp
Gioan. Sám hối không chỉ là nhận ra và sửa đổi những sai trái
trong cách hành động, mà còn là sẵn sàng từ bỏ những quan niệm
cũ, nề nếp cũ, để đón nhận những quan niệm mới cao cả hơn, đúng
đắn hơn của Đức Giêsu, đồng thời sống phù hợp với quan niệm mới
đó. Sở dĩ giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái vấp ngã vì Đức Giêsu,
chính vì họ không chấp nhận được những quan niệm mới của Ngài,
cho rằng Ngài là kẻ phá đạo và giết chết Ngài.
Điều
đáng buồn cho thế giới hiện nay là Đức Giêsu đã đến những 2000
năm nay để đưa ra những quan niệm mới về sự công chính, thế mà
rất nhiều Kitô hữu thời nay vẫn chưa hấp thụ được giáo huấn mới
với quan niệm mới, lề luật mới của Ngài. Họ vẫn đặt rất nặng tiêu
chuẩn công chính cũ của Cựu ước, mà coi rất nhẹ tiêu chuẩn công
chính mới của Ngài là tình yêu thương. Sự giáng lâm của Đức Giêsu
cách đây 2000 năm vẫn còn là vô ích, là dư thừa đối với họ. Và
như thế, một cách nào đó họ đã vấp phạm vì Ngài. Đành rằng việc
giữ luật lệ, thực hành các nghi thức tôn giáo, và làm những việc
tốt lành vẫn cần thiết và ích lợi, nhưng đó không phải là điều
cốt yếu của việc sống đạo. Đó chỉ là những phương tiện tốt và
hữu hiệu để giúp ta thực hiện điều cốt yếu của đạo Chúa là yêu
thương nhau mà thôi. Chúng chỉ là những biểu hiện tất yếu của
tình yêu chứ không phải là tình yêu.
Ngay
cả việc cầu nguyện, nếu việc cầu nguyện không đem lại hiệu quả
là tăng trưởng tình yêu thương trong lòng ta – là mến Chúa yêu
người hơn – thì chắc chắn việc cầu nguyện ấy không đẹp lòng Thiên
Chúa. Muốn biết chúng ta có cầu nguyện đúng hay không, thì hãy
nhìn vào hiệu quả của cầu nguyện. Nếu cầu nguyện đem lại cho ta
sức mạnh, bình an, niềm vui và hứng khởi để có thể hy sinh cho
Thiên Chúa và tha nhân nhiều hơn, thì chúng ta đã cầu nguyện đúng
cách. Nếu không, chúng ta cần phải thay đổi cách cầu nguyện vì
đã cầu nguyện không đẹp lòng Thiên Chúa. Rất nhiều khi chúng ta
đã tỏ ra ích kỷ, thiếu tình thương, lấy «cái tôi» của mình là
trung tâm khi cầu nguyện. Cầu nguyện như thế chỉ làm tăng tính
ích kỷ của mình thôi! Có những câu Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa
chán ngán những buổi cầu nguyện, những nghi thức tôn giáo rỗng
tuếch tình yêu của con người (x. Is 1,11-17; Am 5,21-24; Gr 14,11-12).
Ấy thế mà biết bao Kitô hữu suốt đời cầu nguyện, dâng lễ theo
kiểu ấy! Hoặc cố giữ luật, cố làm những việc lành phúc đức, không
phải do tình yêu thúc đẩy, mà chỉ nhắm để được Thiên Chúa thưởng
công, để được mọi người khen ngợi. Thiết tưởng để đón Chúa đến,
chúng ta cần phải sám hối về cách sống đạo kiểu ấy!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, trong mùa Vọng này, xin cho con hiểu được tinh thần mới
mà Đức Giêsu đã rao giảng từ 2000 năm nay, nhưng chính con vẫn
chưa hiểu được và áp dụng. Xin hãy đổi mới quan niệm và cách sống
của con trong mùa Vọng này.
Nguyễn
Chính Kết
|
|