Suy Niệm của

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

 

+++

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG
Is 7,10-14; Rm 1,1-7; Mt 1,18-24
THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

Chúng ta đang tiến gần tới lễ Giáng Sinh với việc cử hành Chúa Nhật IV Mùa Vọng. Lời Chúa hôm nay giới thiệu với chúng ta chủ đề ‘Đấng Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.’ Chủ đề này như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả ba bài đọc. Chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa của danh hiệu Emmanuen.

1. Emmanuen, hơn cả một tên gọi

Đối với văn hóa Do Thái, tên gọi không chỉ đơn thuần là một từ ngữ, nhưng nó diễn tả một thực tại. Khi một người được đặt tên, thì tên gọi đó đại diện cho người đó. Tên gọi nói lên căn tính và sứ vụ của họ. Họ hành xử theo tên gọi của mình. Vậy, tên gọi Emmanuen có nghĩa là gì?

Trong bài đọc I, tiên tri Isaia giới thiệu với chúng ta nhân vật vua Akhát. Vị vua này đang ở trong thời kỳ mà triều đại ông đang gặp thử thách gian truân. Qua tiên tri Isaia, Thiên Chúa báo cho vua biết rằng: Ta sẽ ở đây với ngươi; Ta sẽ bảo vệ ngươi. Ngươi không cần phải ký kết các giao ước với bất kỳ ông vua nào trên trái đất để bảo vệ dân và triều đại ngươi. Ngươi hãy tin tưởng vào Ta và hãy xin một dấu chỉ. Ta là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu chỉ dưới đáy âm phủ hoặc ở trên trời cao xanh (x. Is 7,10-14). Nghĩa là ngươi có thể xin một dấu chỉ lớn lao nhất, vĩ đại nhất làm bảo chứng rằng Ta sẽ ở với ngươi và bảo vệ ngươi.

Chúng ta hãy nhìn vào điều này: Thiên Chúa sẵn sàng ban tặng một dấu chỉ làm bảo chứng cho vua Akhát. Nhưng Akhát đã từ chối sứ điệp của Thiên Chúa với những lời xem ra rất đạo đức: Tôi không muốn làm phiền lòng Thiên Chúa. Tôi không muốn thử thách Thiên Chúa. Tôi không muốn ép Chúa phải làm cho tôi điều này điều kia. Cách thức của ông từ chối là rất đúng, nhưng ở bên trong, ẩn chứa sự cứng lòng của vua Akhát. Bởi vì, ông thích ký kết các giao ước với vua trần thế hơn là sự hiện diện quan phòng của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc. Chúng ta hãy lắng nghe điều gì đó rất ý nghĩa đã xảy ra ở đây. Thiên Chúa đã đi bước trước, ngay cả khi Akhát từ chối không xin một dấu lạ nào. Thiên Chúa nói rằng: Ta sẽ ban cho ngươi một dấu chỉ. Dấu nào vậy?

“Này đây, người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,14).

Một con trai sẽ được sinh ra như lời đã hứa; tên con trẻ này có nghĩa là Thiên Chúa ở với dân Người và bảo vệ dân bằng sự hiện diện của mình. Như thế, Thiên Chúa là vị Thiên Chúa hiện diện, ở bên cạnh để sẵn sàng đáp cứu, ý nghĩa đó được thể hiện nơi Đấng Emmanuen. Sự hiện diện này được ban cho chúng ta như là một món quà, mặc dầu bị từ chối, Thiên Chúa vẫn luôn đi bước trước: Ta sẽ ở với ngươi vì Ta là Đấng Emmanuen. Nhưng Đấng Emmanuen là ai?

2. Đức Giêsu là Emmanuen

Thánh Phaolô trong bài đọc II nói rằng: Đó là Đức Giêsu Kitô và theo thánh Phaolô, trung tâm điểm của Tin Mừng chính là Đức Giêsu, là con người Chúa Giêsu, chứ không phải là những khái niệm, những ý tưởng, hay những lý tưởng, nhưng là con người Giêsu, Người xuất thân từ dòng dõi vua Đavít. Như thế, Người thực sự là con của Đavít, đến từ dòng dõi vua, Người thực sự là một con người, nhưng cũng theo Phaolô, con người nhân bản này, Chúa Giêsu Kitô có nguồn gốc rất rõ ràng từ dòng dõi vua Đavít, thực sự là Con Thiên Chúa. Điều này được mạc khải nhờ Chúa Thánh Thần sau khi Người phục sinh.

Như thế, Người không phải là một người con bình thường, cũng không phải là một hậu duệ bình thường của Đavít, nhưng Người thực sự là Con Thiên Chúa, Người được Thiên Chúa sai đến giữa chúng ta. Người là Tin Mừng về ơn cứu độ. Người là Tin Mừng về sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính vì thế, thánh Phaolô được Thiên Chúa tuyển chọn làm Tông Đồ để loan báo Tin Mừng này.

Nhưng ở đây có sự liên hệ đến ‘Đấng Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta’ trong Đức Giêsu Kitô. Điều này có tạo nên sự khác biệt không? Thưa rằng: Có, theo thánh Phaolô, để Chúa Giêsu ở với chúng ta, Thiên Chúa ở với chúng ta. Chúng ta phải ở với Chúa Giêsu. Phaolô rao giảng Chúa Giêsu để chúng ta có thể thuộc về Người theo cách thức mà Chúa Giêsu ở với chúng ta. Vậy chúng ta đáp trả thế nào đối với Đấng Emmanuen? Nếu Người ở với tôi và khi đó tôi có muốn ở với Người không? Như thế, tên Người không chỉ là tên gọi, mà là một lời mời gọi: Chúa ở với bạn và bạn cũng sẽ ở với Chúa.

3. Một dự phóng làm đảo lộn

Trong bài Tin Mừng, chúng ta có một trình thuật về sự sinh hạ của Chúa Giêsu, Đấng Emmanuen. Vâng, đó là một câu chuyện rất bình thường. Nhưng tôi muốn tập trung vào điểm này. Chúng ta nói ‘Đấng Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta,’ nhưng trong kinh nghiệm của Đức Maria và thánh Giuse, Đấng Emmanuen đến trong cuộc đời các ngài như là sự quấy rầy làm đảo lộn toàn bộ đời sống bình thường. Không ai trong chúng ta mong muốn dự phóng đời mình bị đảo lộn. Chúng ta không muốn một sự trở ngại nào cả; chúng ta muốn có một sự hoàn thành thật êm ái cho những dự phóng của mình. Nhưng Đức Maria, như chúng ta biết chuyện xảy ra, trong chương trình này của Chúa, Mẹ phải chấp nhận bị xem là phản bội với Giuse, sẽ phải bị hiểu lầm… nhưng có điều gì đó kỳ diệu xảy ra ở đây phải không? Chúa Thánh Thần đến can thiệp, nhờ đó, thánh Giuse quay trở về và sẵn sàng đón nhận Đức Maria là vợ của mình. Ông nhận ra rằng Maria đã có thai bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Thật là một sự can thiệp kỳ diệu! Vì là một người Do Thái trung thành, Giuse muốn tuân theo lề luật và phải từ bỏ Maria. Là một người công chính, ông muốn rút lui trong âm thầm, không muốn công khai tố cáo và kết án bà Maria theo lề luật, bởi khi làm như thế Maria phải chết. Những dự định của ông đã sẵn sàng: tôi sẽ bỏ bà, tôi sẽ li dị bà. Một lần nữa, Thiên Chúa đến can thiệp nhờ một thiên sứ trong giấc mơ:
“Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20).

Như thế, Thiên Chúa đã đi bước trước. Thiên Chúa đã ra tay hành động nơi Giuse, để ông không chỉ là chồng của bà Maria, nhưng còn là cha của người con này, ông sẽ đặt tên cho con trẻ là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa cứu độ. Và người con Giêsu này là sự thành toàn, sự viên mãn của lời ngôn sứ Isaia về ‘Đấng Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.’ Ở đây, chúng ta có sự viên mãn của sự hiểu biết về ý nghĩa danh xưng ‘Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta’ như là Đấng đến cứu độ chúng ta. ‘Thiên Chúa ở cùng chúng ta’ không phải như một sự hiện diện tĩnh lặng, khô khan. Nhưng Thiên Chúa hiện diện với chúng ta như là tình yêu, là ơn cứu độ, như là một ai đó gần gũi để hướng dẫn chúng ta tới những điều tốt lành và để bảo vệ chúng ta từ cánh tay yêu dấu của Người.

Như thế, chúng ta đừng quá thất vọng khi gặp phải sự đảo lộn trong cuộc sống của mình. Bạn hãy biết rằng lúc đó Chúa đang muốn đồng hành với bạn và muốn cứu độ bạn. Có thể Thiên Chúa đang hỏi bạn: Ta ở với con nhưng con có ở với Ta không? Đó là câu hỏi mà trong Giáng Sinh năm nay bạn hãy tự trả lời với Chúa. Amen!

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An
http://nguoinguphu.blogspot.com/

Chúa nhật 4 mùa vọng, năm A
THÁNH GIUSE,

NGƯỜI THẦY DẠY TA THEO CHÚA

Một trong nhiều khuôn mặt đáng yêu của mùa Vọng như Đức Mẹ, thánh Gioan Tẩy giả, tiên tri Isaia…, chúng ta lại nhìn thấy hình ảnh thánh Giuse thật tuyệt vời. Hôm nay, Chúa nhật IV mùa Vọng, Hội Thánh cho chúng ta suy niệm về việc Thiên Chúa sai thiên thần truyền tin cho thánh Giuse. Nội dung cuộc truyền tin là thông báo cho thánh Giuse biết bào thai mà Đức Mẹ đang cưu mang không phải là một con người bình thường, nhưng là chính Con Thiên Chúa làm người. Từ câu chuyện truyền tin nhiệm lạ này, ta suy nghĩ về cuộc đời thánh Giuse qua tước hiệu Ngài là Đấng Công Chính. Để rồi sau đó, ta rút ra cho mình bài học công chính của thánh Giuse mà sống một đời công chính như thánh Giuse đã sống.

I. THÁNH GIUSE, ĐẤNG CÔNG CHÍNH.

Thánh Giuse là Đấng Công chính ngay trong chính ơn gọi mà Thiên Chúa đã chọn gọi Ngài: Ngài công chính bởi Ngài được chọn làm cha của Con Thiên Chúa. Con người của sự công chính ấy đã hoàn toàn để cho mình thuộc về Thiên Chúa. Ngài là Đấng Công chính, bởi trên chính dòng thời gian mà Ngài đã sống, không còn phải là thời gian sống của riêng bản thân Ngài, nhưng Ngài đã để Chúa dẫn dắt, Chúa lôi cuốn, Chúa định đoạt hoàn toàn. Có thể nói, thời gian cuộc đời của thánh Giuse là một chương trình được hình thành bởi hai sự chung góp rõ nét: Thiên Chúa và thánh Giuse cùng chủ động! Thiên Chúa làm cho cá nhân thánh Giuse trở thành khuôn mặt được tô điểm đậm nét về sự thánh thiện, về nhân đức của chung cả dòng lịch sử. Còn thánh Giuse đã chủ động cộng tác để cho bàn tay của ơn thánh Chúa khắc sâu một khuôn mẫu tuyệt vời cho muôn đời sau. Khuôn mẫu đó mang tên “Giuse” mà thánh Giuse đã đảm nhận và được sai để đảm nhận.

Nói tóm lại: Chính Chúa đã chiếm hữu Ngài, và Ngài đã để mình hoàn toàn thuận theo đường lối Chúa ấn định. Do sự vâng phục của bản thân trong Chúa, Ngài càng biểu lộ đường lối công chính của mình. Ngài đã biến mình trở thành dụng cụ trong tay Chúa, tùy Chúa tự do thể hiện thánh ý của Chúa.

Về phía Thiên Chúa, không “chịu thua” sự công chính hoàn hảo của thánh Giuse, Thiên Chúa đã làm cho thánh Giuse từ con người phàm trần đến chức vụ làm Cha của Chúa Cứu thế, từ sứ mạng làm người đến ơn gọi cộng tác vào chương trình cứu độ, từ lòng thần phục Thiên Chúa đến tác động quyền năng của Thiên Chúa biến thánh Giuse nên địa vị cao cả, độc nhất vô nhị trên dòng lịch sử cứu độ. Bởi thế, ta thấy nơi thánh Giuse và cuộc đời của Ngài là một chuỗi ơn nhiệm lạ mà Thiên Chúa dành cho Ngài. Chẳng hạn:

- Tuy thánh Giuse chỉ ẩn khuất và chìm lắng trong dòng lịch sử cứu độ, nhưng vị trí của ngài thật cao quý: Ngài là Đấng nuôi dưỡng và gìn giữ Đấng Cứu Chuộc trần gian.

- Ngài chưa từng được thiên thần Chúa ngỏ lời trực tiếp như đã ngỏ lời với Đức Mẹ để mạc khải thánh ý Chúa, nhưng chỉ nhận được mạc khải trong giấc mơ. Nhưng cũng chính vì thế, thánh Giuse càng vỹ đại hơn, bởi điều đó cho thấy đức tin của ngài là một đức tin bất khuất, một đức tin kiên vững. Thiên Chúa đã làm cho đức tin của thánh Giuse chiếu sáng không phải một thời, một giai doạn, nhưng là mãi đến muôn đời sau.

- Thánh Giuse cũng chưa từng được Chúa Giêsu khen ngợi như khen ngợi thánh Gioan Tẩy giả: “Trong số các phàm nhân được sinh ra từ lòng mẹ, không ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả”, nhưng ngài lại rất hãnh diện và hạnh phúc vì Đấng Cứu Chuộc mặc nhiên nhìn nhận ngài là Cha của mình. Con Thiên Chúa chưa bao giờ phản đối khi người Dothái gọi mình là con của Bác Thợ mộc Giuse.

- Cũng không như thiên tri Isaia, có những lời tuyên bố hùng hồn về thân phận Đấng Cứu Chuộc trần thế, nào là Đấng Mêsia, nào là Đấng Emanuel, Hoàng Tử Hòa Bình, Ông Vua Thái Bình… Thánh Giuse chỉ âm thầm hoàn thành trách nhiệm của mình, nhưng Ngài chính là bằng chứng của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không ai ngờ, đã cứu chuộc Ngài, đã đưa Ngài đến địa vị cao sang đến nỗi Con Thiên Chúa làm người đã khiêm tốn gọi Ngài là “Cha”.

Thánh Giuse, Đấng Công chính đã đón nhận ơn Chúa thật đơn sơ, nhưng cũng thật mãnh liệt. Suốt đời chỉ tắm mình trong ơn Chúa, thánh Giuse trở nên con người của lòng bác ái, và độ lượng vô song. Ngài đã không hề trách móc, phiền hà, hay rắp tâm nghĩ đến việc tố cáo Đức Mẹ như lề luật quy định, khi biết Đức Mẹ đã mang thai.

Bởi thế, với tất cả những gì mà sự công chính nơi thánh Giuse thể hiện, đã khiến Thánh Kinh không tiếc lời, không ngần ngại gọi thánh Giuse là “Người Công Chính”. Còn chúng ta, là đàn con của thánh Giuse, chúng ta tôn xưng Ngài là Đấng Công chính. Nhưng chỉ dừng lại ở việc tôn xưng thôi, chưa đủ. Điều quan trọng cấp thiết mà chúng ta phải làm cho bằng được, đó là sống công chính như thánh Giuse đã sống.

II. NOI GƯƠNG THÁNH GIUSE.

Là con cái của thánh Giuse, đồng nhận lấy ơn cứu độ từ Chúa Kitô, chúng ta cũng hãy để cho mình mỗi ngày một xứng đáng với tước vị làm con Thiên Chúa bằng một đời sống công chính, thánh thiện, yêu mến Chúa như thánh Giuse. Noi gương thánh Giuse, chúng ta nhận ra:

- Về phương diện đức tin. Từ khi được chọn làm cha nuôi Đấng Cứu thế, cuộc đời Thánh Giuse là một hành trình mịt mù của đức tin. Một hài nhi nhỏ bé mỏng manh chạy trốn vua Hêrôđê lại chính là Thiên Chúa tối cao. Một thôn nữ đơn sơ nghèo hèn, không một chút nổi nang, hay sang trọng về địa vị lại là Mẹ của Đấng Cứu Thế. Riêng bản thân thánh Giuse, dù thuộc dòng tộc vua Đavit, nhưng dòng tộc này đã thoái vị từ lâu, thánh Giuse trở thành con người của sự quên lãng, lại được tuyển chọn để trở nên người phục vụ ơn cứu độ đời đời của Thiên Chúa… Chúa làm người trọn vẹn quá đến nỗi thánh Giuse không thể hiểu hết, không kịp để nhận ra điều gì đang diễn ra. Nhưng thay vì thắc mắc, nghi ngờ, hoang mang, thánh Giuse chọn thái độ hoàn toàn thinh lặng chiêm ngắm mầu nhiệm của Thiên Chúa. Thánh Giuse tiếp tục “xin vâng,” mặc dù thánh ý Chúa không luôn luôn rõ ràng mà nhiều khi chỉ là những tiếng vọng mơ hồ giữa giấc chiêm bao.

Là Kitô hữu, hành trình cuộc đời của mỗi chúng ta, dù mọi lúc đều muốn trung thành bước theo Chúa Kitô, nhưng không ít lần, chúng ta cũng đi trong tăm tối mịt mù như những gì Thánh Giuse đã trải nghiệm. Trong gia đình và ngoài xã hội, chúng ta cố gắng sống tốt và thực hành điều tốt nhưng lại phải đối diện với những ganh tỵ, hiểu lầm, gièm pha, vu khống, chống đối... Nhiều khi chúng ta bước đi trong bóng đêm của đức tin với nhiều suy nghĩ hoang mang: Đâu là sự thật, đâu là chân lý và công bằng, Thiên Chúa ở đâu? Noi gương thánh Giuse, chúng ta hãy ngã nhào vào vòng tay của Chúa. Hãy tín thác. Hãy để mặc Chúa dìu đưa và định đoạt cho ta theo thánh ý Chúa.

- Về phương diện đức mến. Tôi thấy ở phương diện này, thánh Giuse dạy tôi nhìn về tương lai nhiều hơn. Bởi chính trong đức mến, và chỉ có đức mến mới làm cho thánh Giuse can đảm bước đi theo tiếng Chúa, mà suốt đời, vẫn không rõ Chúa dắt mình đến đâu. Chỉ có ánh mắt của niềm tin chiếu rọi vào tương lai để thánh Giuse đi theo Chúa, Đấng mà Ngài tin rằng, sẽ “cứu dân mình khỏi tội”.

Trong đức mến, thánh Giuse âm thầm đón nhận thánh ý Chúa. Nếu lúc đó hỏi Ngài rằng, Ngài có thấy kết quả nào nở ra cho cuộc đời Ngài tươi sáng hơn, sau khi đã đặt lòng tin vào Chúa không? Chắc chắn thánh Giuse sẽ cho chúng ta biết rằng, không những Ngài chẳng thấy gì mà còn dấn mình vào trong u tối của sự chờ đợi, của niềm hy vọng xem ra rất xa xôi. Chỉ có tương lai của Hội Thánh, tương về một Quê Hương không biên cương nhưng vĩnh cửu, tương lai của sự cứu độ thành toàn mới cho ta thấy rằng, đức tin của thánh Giuse là đúng. Nhờ đức tin và lòng mến ấy, nhờ ánh mắt biết nhìn vào tương lai của ơn cứu độ mà thánh Giuse được đức tin mách bảo ấy, thánh Giuse đã để lại cho ta cả một chiều sâu nội tâm chứa đầy lòng mến, cả một bề dày kinh nghiệm chứa đầy nỗi trăn trở dằn vặt.

Lòng mến của thánh Giuse dạy ta nhảy vào tương lai đời mình, tương lai của Nước Chúa đang hình thành nơi chính tâm hồn ta bằng những cú nhảy từ cuộc sống hôm nay. Giống như thánh Giuse, ta đi trong hiện tại, nhưng hiện tại của ơn Chúa dường như vẫn chưa bao giờ mở cửa tương lai để ta khám phá, để chiêm ngưỡng. Tương lai vẫn vô định. Tuy nhiên, nếu thánh Giuse đã sống, đã tin, đã yêu mến, chúng ta vẫn sống, vẫn tin, vẫn yêu mến như Ngài. Chính trong tất cả những thăng trầm thời cuộc, ta vẫn cứ hoàn thành ơn gọi của mình, hoàn thành giây phút hiện tại Chúa ban như Chúa muốn, lúc đó, ta phóng mình vào tương lai, có sự nâng đỡ vô cùng của ơn Chúa. Bởi tương lai đời ta không thuộc về đất thấp, nhưng thuộc về trời cao, thì ta càng phải thánh hóa hết chuỗi ngày trên đất thấp này, mới mong tương lai trời cao sẽ thuộc trọn về ta.

Chưa nhìn thấy tương lai, ta cũng không thể nắm chắc một cách hiển nhiên giây phút hiện tại của đời mình. Thôi thì, chỉ xin noi gương thánh Giuse mà ngã vào vòng tay tình yêu của Chúa, để Chúa tiếp tục dìu đưa, để Chúa tự do hoàn thành thánh ý của Chúa trên cuộc đời ta.

Bởi nếu thời gian sống của thánh Giuse là chương trình được hình thành bởi sự chủ động của hai tác nhân: Thiên Chúa và chính bản thân thánh Giuse, thì hôm nay, nếu chúng ta chọn đường lối công chính của thánh Giuse mà sống, ta cũng sẽ tin chắc rằng cuộc đời ta cũng sẽ được vẽ bằng hai nét bút tuyện vời: Sự tác động của ơn thánh Chúa và sự chủ động hội nhập vào ơn Chúa của bản thân ta.

Nhân suy niệm Tin Mừng Chúa nhật IV mùa Vọng, giúp ta lắng nghe câu chuyện truyền tin cho thánh Giuse, để thêm một lần ta khám phá tấm gương thánh thiện, công chính của thánh Giuse mà học đòi bắt chước. Thánh Giuse dạy ta nhiều bài học quý giá. Ngài dạy ta sống trọn niềm tin tưởng và phó thác cho Chúa bằng một tình yêu toàn vẹn, không hề gợn chút nghi nan nào. Thánh Giuse dạy ta biết khiêm nhường, biết yêu đời sống thanh vắng để tìm khám phá thánh ý Chúa. Thánh Giuse dạy ta tìm sống thinh lặng, sống ẩn mình, sống thanh bần trong niềm bình an nhằm đón nhận tất cả mọi biến cố, mọi cảnh huống rơi vào giữa đời mình, gia đình mình. Thánh Giuse còn dạy ta yêu mến Chúa bằng hiến dâng trái tim yêu mến Chúa từng phút giây, trọn cuộc đời của mình… Thánh Giuse còn dạy ta rất nhiều bài học. Mỗi một người, khi chân thành chiêm ngắm thánh Giuse, đều có thể rút ra cho mình một bài học kinh nghiệm sống với Chúa và với con người.

Lm. Vũ Xuân Hạnh 2008

 

NGÀY 19/12

Tl 13,2-7.24-25a; Lc 1,5-25

VIỆC CHÚA LÀM ÔI VĨ ĐẠI!

Đối với những người theo đuổi lý tưởng độc thân linh mục, một trong những hy sinh lớn nhất đó là không có con cái nối dõi tông đường. Khi còn mới đi tu, tôi nghĩ hy sinh tính dục là hy sinh lớn nhất của đời tu, nhưng càng có tí tuổi, tôi đồng ý quan điểm cho rằng: hy sinh lớn nhất của đời linh mục đó là không có gia đình và con cái riêng!

Ngày xưa, gia đình Việt Nam thường đông con, từ 6 đến10 đứa. Bây giờ, các gia đình có ít con hơn, nhưng theo tự nhiên, đôi bạn lấy nhau, là mong muốn có con. Ta gặp những trường hợp vô sinh, thì mới hiểu họ khát khao thế nào để có được một đứa con. Tuy nhiên, quan niệm về gia đình và con cái ngày nay đã thay đổi đến tận gốc rễ và đáng ngạc nhiên. Ở những nước phát triển, nhiều người trẻ chọn lựa sống chung mà không kết hôn, nhiều gia đình trẻ nếu có kết hôn, nhưng họ lại chọn lựa không sinh con. Đó là một điều trái ngược với tự nhiên và cũng rất xa lạ so với Kinh Thánh.

Đối với Kinh Thánh, con cái là hồng ân Thiên Chúa. Phụ nữ lấy chồng, phải sinh con để nối dõi tông đường. Người phụ nữ sinh nhiều con cái được coi là người có phúc trước mặt Thiên Chúa và tha nhân. Còn người son sẻ là một nỗi ô nhục.

Câu chuyện về gia đình ông Manôác trong bài đọc I và gia đình Dacaria hôm nay là những trường hợp son sẻ như thế. Họ lấy nhau đến già nhưng không có con. Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa, họ có thai và sinh con trong lúc tuổi già. Họ xác tín:

“Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người đoái thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời” (Lc 1,25).

Những câu chuyện này được đọc trong Mùa Vọng để dọn đường cho chúng ta đón nhận biến cố Con Chúa làm người, do quyền năng Thánh Thần và được sinh ra bởi Đức Maria đồng trinh. Lời Chúa muốn gửi tới chúng ta thông điệp: “Không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được.” Dacaria và Êlisabét cũng là những mẫu người nổi bật của Mùa Vọng. Chúng ta được mời gọi học hỏi nơi các ngài về lòng tin tưởng sắt son vào quyền năng của Thiên Chúa. Amen!

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An

http://nguoinguphu.blogspot.com

NGÀY 20/12

Is 7,10-14; Lc 1,26-38

CHÚA THÁNH THẦN, LINH HỒN CỦA MÙA VỌNG

Trong thời gian qua, chúng ta đã suy niệm về nhiều nhân vật nổi bật của Mùa Vọng, nhưng có một nhân vật mà chúng ta ít để ý tới, đó là Chúa Thánh Thần. Hôm nay, chúng ta dành thời gian để suy niệm về Người như “linh hồn của Mùa Vọng.”

1. Từ bóng đêm Cựu Ước

Quả thế, Chúa Thánh Thần được ví như “nhà đạo diễn” lão luyện, chuyên nghiệp và hiệu quả đằng sau sân khấu màn kịch cứu độ. Nhưng Người hoạt động quá âm thầm và bí nhiệm, nên con người ít để ý tới. Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy ở đâu có Thần Khí, ở đó có sự sống. Từ thuở hồng hoang, lúc tạo dựng, Thần Khí đã hiện diện (x. St 1,1-2), nhờ đó vũ trụ bắt đầu có sự sống. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa thổi Thần Khí vào lỗ mũi, nhờ đó con người có sự sống (x. St 2,7).

Trong lịch sử dân Chúa, Thần Khí cư ngụ và tác động trên ai, người đó có sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa như Samson, Đavít, Giêrêmia, Isaia… (x. Tl 15,14-19; 1 Sm 16,13). Thần Khí trở thành nguyên lý bên trong, hướng dẫn đời sống của họ (x. Ed 36,25-27). Tiên tri Isaia (sinh 765 TCN) tiên báo từ gốc Giêsê sẽ xuất hiện một Đấng Cứu Thế. Thần Khí Đức Chúa ngự xuống, xức dầu và sai Người đi loan báo Tin Mừng (x. Is 11,1-10). Như thế, Chúa Thánh Thần đã chuẩn bị dân Chúa đón chờ Đấng Cứu Độ giáng trần.

2. Đến bình minh Tân Ước

Đến thời Tân Ước, sự kiện nổi bật mở màn cho thời đại cứu độ là biến cố Truyền Tin. Biến cố này được thực hiện nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa sai thiên thần Gabrien đến truyền tin cho Đức Maria rằng bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Đức Maria thắc mắc:

“Việc ấy xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” (Lc 1,34).

Sứ thần đáp:

“Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ tỏa bóng trên bà; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).

Quả thế, để Con Chúa giáng trần, Chúa Thánh Thần đã chuẩn bị một cung lòng tinh tuyền, thánh thiện và xứng đáng cho Người ngự. Đó là cung lòng Đức Maria vô nhiễm nguyên tội. Mẹ được gọi là Đấng đầy ơn phúc vì Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Như thế, ở đâu có Thần Khí Thiên Chúa, ở đó có sự thánh thiện và ân sủng dồi dào.

Đặc biệt, biến cố Ngôi Lời nhập thể là kiệt tác của Chúa Thánh Thần! Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Maria; Người nhào nặn cách nhiệm lạ nhân tính kết hợp với Ngôi Lời trong dạ Thánh Nữ Đồng Trinh.

Nếu không có Chúa Thánh Thần, ai có thể can thiệp để Con Thiên Chúa nhập thể cách lạ lùng như thế? Sự đồng trinh và việc không biết đến việc vợ chồng là dấu chứng về nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu.

Theo cái nhìn đó, trong lời nguyện của mình, thánh Phanxicô Assisi gọi Đức Maria là Hiền Thê của Chúa Thánh Thần. ( Cf. O Von Asseldonk, Maria sposa dello Spirito Santo in S. Francesco d’Assisi, in Credo in Spiritum Sanctum, Città del Vaticano 1983, II, 1123-1132.)

Nơi Đức Maria, Thiên Chúa thực hiện giao ước tình yêu và sự kết hợp hôn phối giữa Thiên Chúa với Dân Người mà Đức Maria là hình ảnh Evà mới, Dân mới là Giáo Hội Người.

Nếu Đức Maria được đầy ơn phúc thì Đức Giêsu cũng luôn đầy Thánh Thần. Từ khi sinh hạ đến lúc về trời, Chúa Giêsu luôn sống trong, theo và nhờ Thánh Thần. Bởi nguyên lý sống của Đức Giêsu không gì khác là Thánh Thần (x. Ga 1,33; Lc 10,21-24; Mt 4,1; Mc 1,12; Lc 4,1). Trước khi về trời, Đức Giêsu trao Thánh Thần là quà tặng cánh chung cho Giáo Hội. Từ biến cố Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần trở thành linh hồn và sự sống của Giáo Hội xuyên suốt thời gian.

3. Và mùa vọng cuộc đời

Xét cho cùng, cuộc đời là một Mùa Vọng. Con người tự bản chất khát khao, trông chờ Thiên Chúa như nai rừng mong mỏi nguồn nước trong (x. Tv 42,2). Bởi con người được dựng nên cho Đấng Tuyệt Đối. Hành trình tìm kiếm đó phải được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, Đấng gợi mở tới sự vô biên và điều cao cả. Nếu Thánh Thần là linh hồn và nguyên lý sống của các nhân vật Mùa Vọng, thì Người cũng là linh hồn và nguyên lý của đời sống Kitô hữu.

Thánh Tôma Aquinô đã diễn tả ý nghĩa đó trong một từ mới: Chúa Thánh Thần là lex nuova – luật mới của người Kitô hữu, luật đó được viết vào lòng chúng ta. (Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 106, a. 1c.)

Theo đó, Chúa Thánh Thần như một người thợ kiên nhẫn vô cùng sáng tạo nhào nặn, uốn nắn toàn bộ đời sống con người chúng ta trở nên con người mới theo hình ảnh Đức Kitô. Người làm cho Chúa Giêsu được nhập thể và được sinh ra lần thứ ba trong lòng mỗi người tín hữu, khi Người làm chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Người (x. Rm 13,14) và làm cho Chúa Kitô được “nên hình trong cung lòng chúng ta” (Gl 4,19).

Điều kiện để Thánh Thần hoạt động nơi chúng ta chính là sự mở lòng ra với Người, để cho Người hướng dẫn và ngoan ngùy với dự phóng của Người như Đức Maria đã có trong biến cố truyền tin.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến và biến đổi lòng trí chúng con trở nên những “môn đệ đích thực của Linh Mục Tối Cao là Chúa Kitô.” Amen!

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An

http://nguoinguphu.blogspot.com/

 

NGÀY 21/12
Dc 2,8-14; Lc 1,39-45
GIÁNG SINH, MÙA TÌNH YÊU

Chúng ta đang rất gần với lễ mừng Con Chúa giáng trần. Có thể gọi Giáng Sinh là lễ tình yêu, lễ Thiên Chúa giao duyên với con người qua Ngôi Lời Nhập Thể. Trong ý nghĩa đó, một cách rất thú vị, Giáo Hội chọn sách Diễm Ca để chúng ta đọc trong ngày phụng vụ ưu tiên này. Vì rất ít cơ hội để suy niệm tác phẩm này, nên chúng ta cần dừng lại để chú giải và tìm hiểu ý nghĩa bài đọc I (Dc 2,8-14).

Tôi còn nhớ, có lần đi dự lễ khấn dòng về, có một thầy nhận xét khi nghe các nữ tu đọc bài đọc từ sách Diễm Ca. Thầy nói: “Lễ khấn lễ khót gì mà cứ đọc chuyện anh anh em em, yêu đương tình tứ trong thánh lễ.” Có lẽ phản ứng đó phản ánh tâm thức của người Việt vốn quen tách biệt và đối lập cái đạo đức với cái phàm tục, coi tình yêu nhục thể là điều cấm kỵ, và bất xứng với những gì là thánh thiêng đạo đức. Điều này làm cho chúng ta nhớ lại số phận long đong của sách Diễm Ca.

Quả thật, cuốn thiên tình sử này có một số phận và đời sống rất long đong ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, nó là tập thơ được tranh luận sôi nổi nhất, có khi bị liệt vào loại sách ‘index’, sách cấm. Nhưng cuối cùng, giá trị và vẻ đẹp của nó lên ngôi và khẳng định vị trị của mình với thời gian như quả quyết của Rápbi Akiba, một bậc thầy Do Thái: “Cả thế giới này không sao sánh được với cái ngày mà khúc Diễm Ca được ban cho Ítraen.”

Diễm Ca cũng là cuốn sách được nhiều giáo phụ ưa thích, được các nhà tu đức như Gioan Thánh Giá làm sách gối đầu giường, một cuốn sách đã đào tạo nên những vị thánh nổi tiếng và đóng góp lớn cho nền linh đạo Kitô giáo.

Chúng ta đi vào ý nghĩa bản văn. Diễm Ca là một thế giới thơ, đầy biểu tượng, với những lời yêu thương bóng bẩy. Theo Giáo Phụ Origene chú giải dựa trên học thuyết 4 ý nghĩa Kinh Thánh, trích đoạn Diễm Ca mà chúng ta vừa nghe diễn tả những ý nghĩa sau đây:

1) Theo nghĩa văn tự, Diễm Ca diễn tả tình yêu nồng nàn, mãnh liệt và rất nhân bản của một đôi trai gái. Xét về phương diện tự nhiên, đó là một cuộc tình đẹp, thơ mộng, được Thiên Chúa chúc phúc, không có gì là xấu xa, tội lỗi.

2) Theo nghĩa phúng dụ của Do Thái giáo, chàng là hình ảnh của Thiên Chúa, hay của Đấng Mêsia. Còn nàng là hình ảnh của dân Ítraen. Tình yêu của chàng và nàng là hình ảnh diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Người. Thiên Chúa đã yêu dân riêng như chàng yêu nàng, như chàng đi tìm kiếm nàng và nàng khát khao chờ đợi chàng. Bởi thế, người Do Thái đọc Diễm Ca trong lễ Vượt Qua và tối thứ Sáu hằng tuần trước ngày Sabát.

3) Theo nghĩa tiên trưng, hay nghĩa thiêng liêng Kitô giáo, chàng là hiện thân của Đức Kitô và nàng là đối tượng tình yêu của Người, là Hội Thánh. Đức Kitô là hôn phu và Hội Thánh là hiền thê của Người. Đức Kitô đã yêu thương, thanh tẩy và hiến mình cho Hội Thánh, trở thành kiểu mẫu cho tình yêu vợ chồng như được nói trong Ep 5,24-25. Vì thế, các Giáo Phụ không ngớt lời ca tụng mầu nhiệm Nhập Thể như cuộc hôn lễ của Đức Kitô với Hội Thánh Người.

4) Cuối cùng, theo nghĩa luân lý hay nghĩa ứng dụng liên quan đến tâm hồn chúng ta: Chàng là Đức Kitô luôn yêu quý và thiết tha với mọi tâm hồn tín hữu, đặc biệt các tâm hồn đã tận hiến cho Người. Nàng là tiền ảnh ưu việt của Đức Maria và là lý tưởng tình yêu mà chúng ta được mời gọi dành cho Đức Giêsu.

Khi những tâm hồn tận hiến từ bỏ đời sống gia đình, đôi bạn, để chọn lựa đời sống độc thân dâng hiến, đó là một chọn lựa đi vào giao ước hôn phối thiêng liêng với Đức Giêsu. Họ không dấn thân cho một cái gì, một ý tưởng, hay cho hệ thống luân lý, nhưng cho một Con Người, để suốt đời yêu mến và phụng sự Người trên hết mọi sự. Theo đó, ơn gọi độc thân dâng hiến là cách thế đích thực để diễn tả tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Thánh Têrêxa Hài Đồng đã yêu mến Chúa như nàng yêu chàng và ngài quả quyết: “Ơn gọi của con chính là tình yêu.” Nếu đời tu không đi vào con đường tình yêu này, không sống và diễn tả tình yêu là trung tâm điểm của ơn gọi dâng hiến, thì có nguy cơ chúng ta chỉ là những “công chức tôn giáo” xét về chức năng; còn xét về đời sống, chúng ta dễ trở thành những “trai già, gái già” khô khan và vô cảm trong tương quan liên vị.

Vì thế, trong khi trông chờ Con Chúa giáng sinh, xin Chúa Thánh Thần là tình yêu, đốt lên trong lòng chúng ta ngọn lửa yêu mến Chúa và khát khao tìm kiếm Chúa, như Người đã thực hiện trong lòng Đức Maria hôm nay khiến Mẹ lên đường chia sẻ niềm vui có Chúa với người chị họ mình. Amen!

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An
http://nguoinguphu.blogspot.com/

 

NGÀY 22/12
1 Sm 1,24-28; Lc 1,46-56
TÂM TÌNH CỦA ĐỨC MARIA TRONG KINH MAGNIFICAT

Hôm nay, chúng ta suy niệm về Đức Maria, nhân vật nổi bật thứ hai của Mùa Vọng, sau Chúa, qua bài ca Magnificat. Trong lời kinh này chúng ta rút ra ba tâm tình chính yếu của Đức Mẹ.

1. Tâm tình ngợi khen

Trước hết, tâm tình ngợi khen: Đức Maria đã ca tụng và tạ ơn Thiên Chúa vì ân huệ và những điều cao trọng mà Người đã làm cho Mẹ. Ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn đồng trinh trọn đời, ơn làm Mẹ Thiên Chúa, và sau này ơn vinh hiển cả hồn cả xác. Tất cả là do lòng thương xót của Chúa, do Đấng Cứu Độ ban, nên Mẹ luôn sống trong tâm tình cảm tạ và ngợi khen Chúa. Đó là tâm tình chính yếu mà phụng vụ Kitô giáo dội lại trong mỗi cử hành. Bởi lẽ mọi ân huệ được ban cho chúng ta phát xuất từ Thiên Chúa. Nên phải luôn ca tụng và ngợi khen Chúa như Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.”

2. Tâm tình hoan hỷ

Tâm tình thứ hai là vui mừng hoan hỷ: “Linh hồn tôi hớn hở trong Chúa.” Với biến cố truyền tin, Đức Maria sống mầu nhiệm nhập thể như thể là một biến cố thần hiện ở mức độ cao nhất và nó làm cho Mẹ trở thành kiểu mẫu về một tâm hồn “nhiệt thành nhờ Thánh Thần” (x. Rm 12,11). Đó là lễ Hiện Xuống của Mẹ. Mẹ được đầy Thánh Thần, tràn ngập niềm vui thánh thiện trong lòng. Chúng ta không thể hiểu được những hành vi và lời nói của Đức Maria trong cuộc viếng thăm bà Êlisabét nếu không ở trong ánh sáng của kinh nghiệm thần bí mà không có gì so sánh được. Đức Maria là người đầu tiên có kinh nghiệm về “niềm hoan lạc trong Thánh Thần” và lời kinh Magnificat là chứng tá tuyệt vời nhất về điều này. Từ khi Mẹ cưu mang Chúa trong lòng, Mẹ ở trong tình trạng tràn đầy niềm vui và hoan lạc trong Thánh Thần. Mặc dầu có Chúa và tin vào Chúa không có nghĩa là Mẹ được miễn trừ mọi nỗi buồn, đau khổ; trái lại, Mẹ bắt đầu bước vào một hành trình bất trắc và phải chịu thử thách quyết liệt, nhưng Mẹ đã vượt qua tất cả, nhờ sự tin tưởng phó thác một cách sâu thẳm vào Chúa. Dù lắm chông gai thử thách, tâm hồn Mẹ vẫn bình an và hoan hỷ trong Chúa. Bởi vì Chúa là bến đỗ mà Mẹ đã cắm neo cuộc đời mình. Mẹ vui mừng vì thấy quyền năng và ơn cứu độ của Chúa được thực hiện trong cuộc đời.

3. Tâm tình khiêm tốn

Tâm tình thứ ba là khiêm tốn: Sự khiêm hạ của Đức Maria sau nhập thể xuất hiện như một trong những phép lạ vĩ đại nhất của ân sủng. Làm sao Đức Maria có thể kham nổi sức nặng của tư tưởng này: “Bà là Mẹ Thiên Chúa! Bà là Đấng Cao Cả nhất trong mọi loài thụ tạo!”
Lucifer không thể giữ được sự căng thẳng này một cách đúng đắn và tính kiêu ngạo đã làm nó chao đảo, nên nó đã gục ngã. Còn Đức Maria không như thế. Mẹ luôn giữ mình khiêm nhường, khiêm hạ, như không có gì xảy ra trong cuộc sống mình. Mẹ luôn xác tín rằng mình chỉ là “phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới.” Nếu có là gì đều do ân sủng, do lòng thương xót của Chúa, do “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Thánh Bênarđô chào Mẹ: “Lạy Mẹ Đồng Trinh, nữ tử của Con Mẹ. Mẹ càng khiêm nhường càng được tán dương hơn bất cứ thụ tạo nào khác.”

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An
http://nguoinguphu.blogspot.com/

NGÀY 23/12
Ml 3,1-4.23-24; Lc 1,57-66
GIOAN TẨY GIẢ,VỊ NGÔN SỨ CAO CẢ NHẤT

Trong ngày áp lễ Giáng Sinh, chúng ta suy niệm về sứ vụ ngôn sứ của Gioan Tẩy Giả như là người dọn đường cho Chúa đến qua trình thuật về ngày sinh nhật của ông. Gioan đã làm gì mà được đề cao như là một ngôn sứ vĩ đại nhất?

Trước hết, kế tục con đường các ngôn sứ, Gioan Tẩy Giả xuất hiện như là tiếng kêu trong hoang địa thức tỉnh lương tâm con người:
“Hãy dọn sẵn đường cho Đức Chúa” (x. Lc 3,4-6).

Gioan kêu gọi dân chúng sám hối và chịu Phép Rửa để được ơn tha tội. Ông không lôi kéo người ta về với mình, nhưng ông hướng họ tới chân lý là Đức Kitô. Ông đã lớn tiếng chống lại những áp bức và bất công xã hội. Ông đề nghị:
“Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng phải làm như vậy” (Lc 3,11).

Ông cũng yêu cầu những người thu thuế:
“Các anh không được đòi hỏi gì quá mức đã ấn định” (Lc 3,11).

Và ông còn dám chỉ tay vào vua Hêrôđê mà nói rằng:
“Ngài không được phép lấy bà ấy” (Mt 14,4).

Hơn hết, ông đã chỉ ngón tay mình về phía Đức Giêsu và nói:
“Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).

Theo đó, Gioan Tẩy Giả đã khai mở một hình thức mới mẻ của ngôn sứ Kitô giáo. Trong khi các ngôn sứ khác loan báo ơn cứu độ trong tương lai, ông cho thấy ơn cứu độ trong hiện tại, lúc này, tại đây nơi Đức Kitô. Tất cả những điều đó làm nên sự vĩ đại của Gioan.

Như thế, chúng ta dễ dàng nhận ra tính chân thực của một ngôn sứ: đó là người thúc đẩy sự thay đổi, lên án những bất công, dám chỉ tay chống lại những lạm dụng trong mọi hình thức của các quyền lực tôn giáo, chính trị, kinh tế, quân sự v.v…

Khi nói về ngôn sứ thật và ngôn sứ giả thời nay, Thomas Merton, một bậc thầy tu đức nổi tiếng ở Mỹ, đưa ra những tiêu chuẩn để phân định:
“Ngôn sứ giả là người rao giảng về mình, kéo người khác đến với mình và chạy theo thị hiếu của đám đông. Ông làm ngôn sứ để được giàu có và nổi tiếng, thích đưa ra câu trả lời hoặc một hướng đi dễ dàng. Còn ngôn sứ thật là người rao giảng chân lý và hướng người khác tới chân lý, ông chấp nhận chịu đau khổ vì ơn gọi ngôn sứ, ông nói cho chúng ta biết chúng ta là ai, và thách thức chúng ta hơn là làm cho chúng ta cảm thấy hài lòng với chính mình.” (Morgan C. Atkinson – Jonathan Montaldo, Soul Searching. The Journey of Thomas Merton, Johngarrattpublishing, p. 91-92.)

Tất cả những điều này muốn nói gì với chúng ta hôm nay? Trước hết, sứ vụ ngôn sứ của Gioan nhắc chúng ta nhớ lại sứ vụ ngôn sứ của mỗi người Kitô hữu mà hôm nay đang có nguy cơ bị lãng quên hoặc bị lệch đường. Chúng ta cần phải giữ cả hai phương diện với nhau của sứ vụ ngôn sứ: một đàng, ngôn sứ là người vì công lý xã hội và đàng khác, ngôn sứ là người loan báo Tin Mừng. Nếu việc loan báo về Chúa Kitô mà không được đồng hành bởi những cố gắng để cải thiện đời sống con người, có lẽ sứ vụ ngôn sứ sẽ không thiết thực và thiếu sự khả tín.

Nhưng nếu chúng ta chỉ thi hành sứ vụ ngôn sứ vì công lý mà không hướng tới việc rao giảng Tin Mừng và không có sự gặp gỡ sống động với Lời Chúa, chúng ta sẽ sớm đối diện với những giới hạn bản thân và kết thúc chỉ như những người chống đối hay “người gây rối trật tự công cộng!”

Từ tấm gương của Gioan Tẩy Giả, chúng ta học biết rằng việc loan báo Tin Mừng và đấu tranh cho công lý cần phải gắn liền và liên kết với nhau. Sống trong xã hội mà gian dối và lừa lọc lên ngôi, thật đáng quý trọng nếu mỗi người chúng ta được Tin Mừng Chúa Giêsu thúc đẩy dám đấu tranh cho sự tôn trọng sự thật, nhân vị và phẩm giá con người; dám lên tiếng chống lại những bất công xã hội. Nhờ đó, nhân quyền được tôn trọng, môi trường sống được an toàn để mỗi người có thể “nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.” Nhưng chúng ta cũng phải noi gương Gioan Tẩy Giả không làm ngôn sứ như là một người gây rối xã hội mà là như một sứ giả Tin Mừng “để làm cho tâm tư người ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17). Đó là cách thức thi hành sứ vụ ngôn sứ như là một cách thế loan báo Tin Mừng, và dọn đường cho Chúa đến trong cuộc sống hôm nay. Amen!

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An
http://nguoinguphu.blogspot.com/

NGÀY 23/12
Ml 3,1-4.23-24; Lc 1,57-66
KHÔNG AI CAO TRỌNG HƠN GIOAN TẨY GIẢ

Một trong những nhân vật của Mùa Vọng đó là Gioan Tẩy Giả, ông nổi bật như một tượng đài của Mùa Vọng. Chính Chúa Giêsu cũng ca ngợi vị tiên tri này:
“Tôi nói thật với anh em, trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11,11).
Tại sao Gioan có sự cao trọng và được Chúa ca ngợi như thế? Đây là câu trả lời cho câu hỏi đó dựa trên ba lý do chính sau đây:

1. Vì một con người đặc biệt

Gioan Tẩy Giả là một con người được sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt; lớn lên ông sống một đời sống khiêm tốn, khắc khổ, và hy sinh; tất cả đời sống hoàn toàn trong sa mạc cho Thiên Chúa. Gioan Tẩy Giả và các môn đệ của ông đã can đảm đi ngược với trào lưu của con người thời đó là chạy theo sự dễ dãi, hưởng thụ và thế tục. Con người ông hội tụ những phẩm tính quý báu của một tiên tri.

2. Vì sứ vụ đặc biệt

Gioan Tẩy Giả là một sứ giả, một tiên tri thu hút dân chúng. Ông xuất hiện như là tiếng kêu trong hoang địa “hãy dọn đường cho Chúa đến.” Ông chính là người dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Ông rao giảng và làm chứng cho Đấng Cứu Thế nhưng dân chúng tưởng ông là chính Đấng Cứu Thế. Nhưng ông không rao giảng về mình, không tìm kiếm vinh quang cho mình. Ông rao giảng Đức Kitô và giới thiệu Người cho dân chúng. Ông quả quyết:
“Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30).
“Tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,27).

Quả thật, Gioan Tẩy Giả vĩ đại bởi vì ông rất khiêm tốn.

3. Vì cái chết đặc biệt

Có nhiều người rao giảng chân lý, nhưng có mấy người dám chết vì chân lý. Gioan Tẩy là một trong số những người đó. Ông dám nói sự thật và chấp nhận phải trả giá bằng cái chết đau đớn. Ông bị chặt đầu ở trong tù. Cái chết của ông là lời chứng hùng hồn nhất của một vị ngôn sứ đích thật đã dám sống chết cho chân lý. Tiêu chuẩn để lượng giá một ngôn sứ thật và ngôn sứ giả hệ tại ở điều này: Ngôn sứ thật là người dám nói sự thật vì lợi ích chung, dù phải chịu đau khổ và phải chết vì sự thật, trong khi ngôn sứ giả chỉ chạy theo thị hiếu người nghe, vì lợi ích bản thân và nhượng bộ trước khó khăn thử thách.

Như thế, Gioan Tẩy Giả là mẫu gương cho mỗi người chúng ta hôm nay. Để trở thành người rao giảng, trước hết chúng ta phải trở thành một người có một đời sống thánh thiện, người sống những gì mình rao giảng, người có nơi mình những đức tính tốt như khiêm tốn, khó nghèo, đơn giản và khổ chế. Chúng ta hãy học nơi Gioan là tránh không rao giảng mình, tìm kiếm mình, nhưng tìm kiếm vì vinh quang Thiên Chúa. Cuối cùng, chúng ta học nơi Gioan bài học can đảm để chấp nhận những hy sinh vì sứ vụ rao giảng chân lý Tin Mừng. Amen!

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An
http://nguoinguphu.blogspot.com/

NGÀY 24/12
2 Sm 7,1-5.8b-12.16; Lc 1,67-79
DACARIA, NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Hôm nay là ngày cuối cùng của Mùa Vọng, chúng ta suy niệm về nhân vật cuối cùng của mùa này là ông Dacaria.
Trong tiếng Do Thái, Dacaria có nghĩa là “Thiên Chúa nhớ đến.” Ông là cha của Gioan Tẩy Giả, một tư tế theo dòng tộc Aarôn (x. Lc 1,67-79), là chồng của bà Êlisabét, người chị em họ của Đức Maria.

Dacaria và Êlisabét là những người công chính trước mặt Thiên Chúa. Họ luôn trung thành tuân giữ lề luật của Thiên Chúa. Tuy nhiên, hai ông bà sống với nhau đến lúc già mà vẫn không có con.

Khi ông đang lo việc tế tự trong đền thờ, một thiên thần hiện ra với ông và báo tin:
“Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin: bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan” (Lc 1,13).

Nhưng Dacaria nghi ngờ về lời thiên thần báo tin, nên ông bị câm cho đến ngày con trai ông được sinh ra. Chính ông là người đặt tên cho con trẻ là Gioan theo lời thiên thần truyền. Trong ngày đó, miệng ông được mở ra, ông được Thánh Thần tác động, liền chúc tụng Thiên Chúa và nói tiên tri về Gioan qua bài ca Benedictus là bài Tin Mừng hôm nay.

Trong bài ca này, Dacaria ngợi khen Thiên Chúa đã đoái thương và đã đến viếng thăm dân Người. Thiên Chúa là trung tâm của lịch sử. Chính Người đã đi bước trước trong mọi biến cố lịch sử. Người đã đến gần, viếng thăm và cứu độ dân Người khỏi mọi sự khốn cùng nên Người đã sai Con Một Người đến với dân của Người, nhập thể làm người để cứu dân Người khỏi quyền bính của ma quỷ và tội lỗi.

Dacaria còn nói tiên tri về Gioan:
“Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: Con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” (Lc 1,76-77).

Đây là sứ vụ dọn đường, sứ vụ tiền hô của Gioan Tẩy Giả cho Đấng Cứu Thế đến.

Sau nữa, Dacaria ca tụng Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, Đấng trung tín giữ lời hứa với tổ phụ là sai Đấng Cứu Thế đến để cứu giúp chúng ta, soi sáng cho những ai ngồi trong tối tăm và dẫn chúng ta bước vào đường nẻo bình an.

Như thế, tâm tình tạ ơn của Dacaria phải là tâm tình của mỗi người chúng ta trong mỗi ngày sống và trong suốt cuộc đời. Đó là lý do tại sao Giáo Hội chọn đọc lời ca Benedictus này mỗi ngày trong kinh Sáng. Chúng ta hãy luôn tạ ơn Thiên Chúa vì tình thương của Người dành cho chúng ta qua việc sai Con Một xuống làm người để cứu độ chúng ta. Đó là hồng ân lớn lao nhất mà Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại. Giáng Sinh là cử hành biến cố trọng đại đó. Chúng ta hãy hân hoan để đón mừng ngày Con Chúa chào đời. Amen.

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê - Nghệ An
http://nguoinguphu.blogspot.com/

December 21, 2022