Suy Niệm Thường Niên
Chúa nhật 26 Thường niên, năm A
Lm Vũđình Tường
CHÚA NHẬT 26 TN-A
Tuần 26 thường niên, năm A
Lm Vũđình Tường 2020
HỒI TÂM
Dụ ngôn người cha nói với hai người con đi làm vườn nho là dụ ngôn nói về Thiên Chúa sai Kitô hữu đi làm nhân chứng Tin Mừng. Trong dụ ngôn này nhắc đến hồi tâm, thống hối trở về củng Chúa là điều cần thiết. Hồi tâm bắt đầu bằng việc lắng nghe lời Chúa, từ đó dẫn đến hồi tâm thống hối, ăn năn. Thống hối ăn năn bằng cách từ bỏ nếp sống cũ, bắt đầu nếp sống mới, đặt căn bản trên lời Chúa, yêu thương, tha thứ, giao hoà. Đức Kitô nói với lãnh tụ Đền Thờ vào giới Trưởng Lão về dụ ngôn hai người con. Theo truyền thống chuyện hai người con trong Cựu Ước luôn là những chuyện bi thương, đau khổ. Thí dụ như hai anh em Cain và Abel là chuyện anh em giết nhau. Chuyện Giacóp và Esau là chuyện tranh giành vật chất, thế lực. Chuyện Giuse và các anh ông là chuyện ghen tị. Đức Kitô hỏi các vị lãnh đạo Đền Thờ và giới Trưởng Lão, người con nào làm theo lời cha mình. Trong dụ ngôn này không thấy phân biệt con trưởng hay con thứ mà chỉ nói đến hai con. Cũng không thấy nhắc đến người con thưa không nghe lời cha nên người cha mới sai người con khác. Cả hai đều được sai đi làm vườn nho. Người cha nói với hai con đi làm vườn nho cho ông. Người thứ nhất đáp 'Thưa Ngài, con sẽ đi' nhưng anh ta không đi. Người con kia đáp 'Con không đi' nhưng sau đó anh ta hồi tâm và đi làm theo í cha. Vậy người con nào làm theo í cha. Tất cả đều đồng í người con hồi tâm đi làm vườn nho là người con làm theo í cha. Về ngôn từ thì người con đáp 'Thưa Ngài, con sẽ đi' là người con vâng lời cha. Người con đáp 'con không đi' là trái í cha. Về hành động thì người con vâng lời cha là người con hồi tâm thống hối, đi làm vườn nho. Như thế cả hai đều vâng lời: một người vâng lời trên lí thuyết, một người vâng lời trên hành động, thực hành. Hay ngược lại cả hai đều trái í cha. Một trái trên lí thuyết, một trái trên hành động. Theo tinh thần dụ ngôn trên thì vâng lời trên lí thuyết chính là không vâng lời, không có giá trị. Vâng lời trên hành động mới là thực tế, mới chính thực là vâng lời. Chính câu Đức Kitô hỏi nói rõ điều này. Người con nào làm theo í cha? Không phải là nghe mà hành động, thực hành í cha chính là điều Đức Kitô chú trọng đến. Câu trả lời đúng là người con hồi tâm, đi làm vườn nho. Để làm cho rõ nghĩa hơn, Đức Kitô nhắc đến thành quả rao giảng của Gioan Tiền Hô, để rõ người con nào làm theo í cha, người con nào không. Gioan Tiền Hô đi trước mở đường cho Đấng Cứu Thế. Đám đông tin là ông được Thiên Chúa sai đi làm công việc mở đường. Đức Kitô hỏi lãnh tụ Đền Thờ và giới Trưởng Lão: Phép rửa của Gioan đến từ trời hay do loài người? Nếu trả lời đến từ trời, nhóm lãnh tụ Đền Thờ và Trưởng Lão sẽ không thể giải thích tại sao họ không tin lời Gioan rao giảng để thống hối. Nếu trả lời Gioan rao giảng là do con người trần thế, họ sẽ bị đám đông phản đối, và mất sự hỗ trợ từ đám đông. Đức Kitô tiến thêm một bước nữa Ngài nói với họ. Nhóm thu thế, và nhóm mà các ông gọi họ là kẻ tội lỗi, là những người ăn chơi đến nghe Gioan rao giảng và thống hối. Lúc đầu nhóm này lắng nghe lời Chúa nhưng từ chối sống yêu thương, tha thứ. Khi nghe Gioan rao giảng họ ăn năn, thống hối, hồi tâm, xin nhận phép rửa từ Gioan là dấu chỉ của thành tâm thống hối. Lãnh đạo Đền Thờ và giới Trưởng lão, các vị tự nhận là người công chính, là môn đệ của Môisen (Gioan 9,29). Không những các vị từ chối làm theo lời Gioan hướng dẫn, các vị còn hạch sách Đức Kitô. Chất vấn Ngài ai cho phép ông làm như thế? Bởi đâu mà ông dám xử dụng quyền hành như vậy? Mat 21,23. Đức Kitô dùng dụ ngôn hai người con nói cho lãnh tụ Đền Thờ và giới Trưởng Lão biết là quí vị vâng lời Thiên Chúa trên lí thuyết. Quí vị rao giảng lời Chúa cho người khác thực hiện, còn chính quí vị không thực hành điều Thiên Chúa truyền dậy. Quí vị không phục vụ trong khiêm nhường. Quí vị không yêu thương đồng loại. Như thế qúi vị có lối sống của người con thưa với cha mình 'Thưa Ngài, con sẽ đi' nhưng trong tâm thì không đi. Nhóm thu thuế và kẻ ăn chơi không vâng lời Thiên Chúa qua lí thuyết, nhưng họ khiêm nhường nhận tội, nhận mình sai và thống hối, trở về cùng Thiên Chúa. Nhóm này đại diện cho người con thưa với cha mình 'Con không đi' nhưng sau đó hồi tâm, thành tâm đi làm vườn nho. Thiếu yêu thương đồng loại và thiếu thực thi công bằng, bác ái thì không thể nào biện minh là quí vị làm theo í Thiên Chúa là chủ vườn nho. Chúng ta xin ơn biết sống làm theo í Chúa, yêu Chúa, pục vụ tha nhân.
TiengChuong.org
Repentance
The parable of the two sons talks about the need to repent. In this parable, repentance began with the openness to listen to the word of God, and that led to change. Changing means a person denounces their former way of life to adopt a new way, God's way. This change will restore broken relationships, and once again allow us to become God's children, and befriend others. Jesus told to the Chief Priests, and the Elders the parable of the two sons. Jesus reminded them to learn from their traditions. The story of Abel and Cain was the story of manslaughter; the story of Jacob and Esau was the story of power struggle; the story of Joseph and his brothers was the story of jealousy. Jesus asked the Chief Priest and the Elders which son did the father's will. There was no mention of 'younger or elder son, but simply sons'. A man asked both his sons to work in his vineyard. 'Certainly, Sir' was the sweet answer from one but he didn't do it; the other gave a blunt response ' I will not go', and afterwards thought about it and went. Verbally, the son who said 'Certainly Sir' to the father was considered as the obedient son; and the one who responded 'I will not go' was considered as the disobedient son. Obedience in this parable was not about verbal responses, but it was the action that counted. The question asked clearly about the action, 'which of the two did the father's will?' v.31. The one who repented and acted upon the father's will was the correct answer. To make the parable more noticeable, Jesus gave the hint, 'who did the father's will?', and 'who did not do the father's will?', by reminding them of John the Baptist's teaching. John went before Jesus to prepare the way for Jesus. People believed John was sent from God. They flocked to hear what John had to say, and repented. John called them to repent. Coming to him they confessed their sins and asked for the Baptism as the sign of their repentance. Tax collectors and prostitutes came to John, and received John's Baptism. The Chief Priests and the Elders refused to accept John's preaching, 'the pattern of true righteousness' v. 32. Jesus put pressure on them by asking them: what would you say: John's Baptism came from heaven, or man? Mat 21,25 This question put them in big trouble. If their answer was John's Baptism came from heaven, then why not believe him. If their answer was John's Baptism came from man, they would upset the crowds, and lose their support, because the crowds believed John's Baptism came from God. Jesus went on to tell them, the tax collectors and prostitutes repented at the preaching of John the Baptist. Their original lifestyle's answer had been a 'no' to the kingdom, and through John's preaching, they repented, and believed in God. The Chief Priests and the Elders claimed to be virtuous, declaring they 'were disciples of Moses' John 9,29. They themselves refused to take to heart John's preaching. Further, they challenged Jesus' authority and power. 'What authority have you for acting like this? And who gave you this authority? Mat 21,23. Jesus used the parable of the two sons, exposing the Chief Priests and the Elders' failure to be what they claimed to stand for. They claimed they stood for God, but were true only in word, not in action. Their teaching and their appearance stood for God, but deep in their hearts there was no desire to love God and to serve others. Lacking love and kindness in action would be hard for them to claim they did the father's will.
Tin vào cha
Lm Vũđình Tường 9/25/2014
Phúc âm Thánh Luca 15 và Mathêu 21 bắt đầu ngụ ngôn tình yêu người cha dành cho con vả cách người con đáp trả tình yêu đó nhưng kết quả cuối cùng chính là nhấn mạnh đến sự tha thứ. Người con trai trẻ tin vào lòng từ ái của cha mình nhưng không chung niềm tin về cuộc sống như cha anh mong đợi. Anh tin cha anh rộng lượng đến độ khi anh đòi chia nửa gia tài cha anh sẽ chiều theo. Đúng thế, cha anh chia cho phân nửa gia tài. Có tiền trong tay anh tung cánh bay cao, lìa xa cha và người anh. Khi đòi chia gia tài anh chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm đến nỗi thương tâm của cha anh và người khác bởi anh chiều theo tính ích kỉ. Ích kỉ là chỉ nghĩ đến mình, lo cho mình, thoả mãn í muốn mình, không quan tâm đến cảm xúc của người khác. Ích kỉ là nguyên nhân gây chia rẽ, gây thương tích cho tình cảm con người. Nó ảnh hưởng đến cách ứng xử của ta trong cuộc sống, thiếu cảm thông với thân nhân, thiếu tình thương đồng loại và vắng bóng nhân ái trong hoàn cảnh thương tâm. Kiềm chế tính vị kỉ, ích kỉ, là điều rất khó. Kẻ ít, người nhiều khó ai tránh khỏi bệnh chung của nhân loại. Bản chất sanh ra đã ít nhiều mang tích ích kỉ. Ích kỉ không phải là tham lam mà là coi mình trọng hơn mọi người. Cả hai người con trong dụ ngôn này đều ích kỉ, quan tâm đến cá nhân mình nhiều hơn là quan tâm đến tình thương cha họ dành cho.
Có tiền trong tay là cơ hội giúp người con bỏ nhà ra đi, chạy theo những giấc mơ thầm kín anh từ lâu ước mong thực hiện. Quả thực tiền bạc giúp anh sống vương giả một thời gian cho đến khi hết tiền, cuộc sống vương giả cũng bay theo. Không còn tiền anh mất tất cả. Đầu tiên là những lời tâng bốc, ngon ngọt của bè lũ bu theo nịnh bợ, kiếm ăn. Sau đó anh mất luôn tư cách con người. Thực ra tư cách này mất từ khi anh lao vào chốn ăn chơi, coi thường đạo đức nhưng nó chưa thể hiện rõ ràng cho anh thấy, anh phải chờ cho đến khi khánh kiệt, không còn gì lúc đó anh mới nhận ra mình sai lầm. Tư cách con người bị xuống bùn đen khi anh xin đi chăn heo thuê và đói, thiếu cả cám heo để ăn. Anh sống trong cô đơn, tủi nhục. Giờ đây anh rõ mộng khác thực. Mộng đưa ra nhiều hứa hẹn có điều kiện. Không tiền mộng suốt đời chỉ là mộng. Ngay cả khi có tiền nó cũng chỉ là những hào quang chớp nhoáng, vinh quan bề ngoài và sớm tàn lụi. Trái lại, tình thương cha anh dành cho cũg có điều kiện. iều kiện không phải là tiền để thực hiện nhưng cần tình thương, vâng lời thực hiện theo í cha sống yêu thương.
Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu con Gn 13,34
Thiên tai, đói khổ, cô đơn mở mắt người thanh niên trẻ giúp anh phân biệt khác biệt giữa tình yêu cha anh dành cho và hứa hẹn hão huyền trong cuộc sống. Tình yêu cha anh không những chăm sóc, lo lắng và còn tha thứ khi anh lầm lỗi trong khi cuộc sống xã hội đã không tha mà còn tìm cách, nếu anh có tiền thì lừa gạt, nếu anh không tiền thì gạt ra ngoài, vứt bỏ. Nhận biết này giúp anh can đảm, mạnh dạn đứng dậy đi về cùng cha xin tha thứ. Một lần nữa anh lại đánh giá sai lầm tình yêu cha anh dành cho. Anh hy vọng về tạ tội và xin được làm công cho cha nhưng người kha khoan dung hơn những gì anh ước mơ. Trông thấy con trở về ông ông choàng đón nhận người con hoang trở về. Cho anh mặc áo mới, giầy mới là dấu chỉ tước vị người con trong gia đình. Ông lại mở tiệc mừng con về nhà bằng an.
Chúng ta là con cái Thiên Chúa. Dùng ngôn gnữ thánh Phaolô diễn tả chúng ta là kẻ thừa tự trong nước trời. Thiên Chúa là người cha nhân từ rộng lượng hơn chúng ta tưởng tượng, tha thứ nhiều hơn là bắt lỗi và luôn mong chờ, sẵn sàng đón nhận chúng ta trở về. Hãy mạnh dạn tiến về nhà cha để đón nhận lại tình nghĩa tử, cha con.
Đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô là con đường duy nhất dẫn đến cuộc sống trường sinh.
Lm Vũđình Tường
TiengChuong.org
September 23, 2020