Suy Niệm mùa chay, năm A
KHÔNG BIÊN GIỚI
Chúa nhật 3 mùa chay, năm A-2023
By Vũđình Tường
Trên đường về Đất Hứa, dân chúng phàn nàn với tổ phụ Môisen là họ chết khát nơi samạc. Môisen kêu cầu lên Chúa và Chúa phán dậy Môisen làm việc lạ thường. Thay vì chỉ cho ông biết nơi có mạch nước ngầm để đào giếng, Thiên Chúa nói với Môisen dùng cây gậy đang cầm trong tay đập vào tảng đá trước mặt. Lạ lùng thay, nước tuôn ra từ tảng đá khô. Ngoại trừ Thiên Chúa ra, ai có thể làm việc ngoài sức tưởng như thế. Việc không tưởng này lại xảy ra do chính Đức Kitô thực hiện nơi cuộc đời người phụ nữ mà toàn dân kết án bà là người có cuộc sống bất hảo. Sau cuộc đàm thoại tại bờ giếng, Đức Kitô biến con tim sỏi đá của bà thành con tim biết thông cảm, biết đáp trả tình thương. Sự việc xảy ra tại làng Sychar, miền Samarita. Dân làng thất bại trong việc đòi buộc người phụ nữ thay đổi lối sống bê tha, tệ rạc. Không toại nguyện, người ta đưa lời gay gắt chỉ trích, phê bình, chống báng, kết án và cuối cùng là từ chối giao thiệp, tiếp xúc với người phụ nữ. Người phụ nữ cũng không muốn gặp mặt họ bởi bà muốn tránh cái nhìn soi bói, cái liếc khinh khi, cái vẻ mặt khinh bỉ và ngay cả cái thì thầm, kháo mép của người thích buôn điều. Để tránh đụng chạm trên, người phụ nữ chọn lúc nắng nhất, nóng nảy nhất trong ngày đi kín nước giếng, bởi chính đó là lúc vắng người. Sự việc bất thường xảy ra. Hôm nay, từ đàng xa, bà nhìn thấy có người đàn ông ngồi cạnh giếng. Bà không còn chọn lựa, nhà hết nước nên đành phải đến kéo nước. Người đó gốc Do thái, tên là Giêsu. Ngạc nhiên thay, người đó hỏi bà xin nước uống. Ngạc nhiên bởi nhiều lí do. Thứ nhất, người Do Thái không làm bạn với người Samariatanô. Thứ hai, phái nam rất hiếm nhờ phụ nữ giúp, nhất là lại là người lạ; thứ ba dân Chúa chọn không thân thiết với người ngoài tôn giáo.
Có nhiều biến chuyển, thay đổi trong câu chuyện. Thứ nhất, Đức Kitô mở đầu câu chuyện xin người phụ nữ nước uống; sự việc xảy ra chính bà xin ngược lại, bà xin Đức Kitô cho bà nước. Thứ hai, người phụ nữ nói về nước giếng, Đức Kitô nói về nước tâm linh, nước hằng sống. Thứ ba, dân làng trước đây khinh bỉ bà; giờ đây họ lắng nghe bà. Thứ tư, người phụ nữ bỏ gầu múc nước tại bờ giếng ngụ í nói trong tương lai bà không cần nó nữa. Cuối cùng, người phụ nữ từ bỏ lối sống bê tha, tệ rạc, tiến bước theo con đường lành, thánh thiện.
Đức Kitô mở đầu câu chuyện xin bà nước uống. Câu chuyện tiến xa hơn một bước; đi vào đời tư người phụ nữa. Từ đó chuyện nước giếng tiến đến chuyện nước tâm linh, nước hằng sống. Sau cùng đến loại nước thượng hảo hạng đó là nước trường sinh- Nước hằng Sống. Nước hằng sống mang í nghĩa nước đó không phải chỉ giúp cho con người có sự sống thường, mà nước đó còn có sức mạnh ban sự sống trường sinh. Để nhận được sự sống trường sinh cần thay đổi lối sống. Nuớc suối, nước sông chảy cuốn trôi rong rêu, cát bụi cùng mọi thứ trong sông. Nước trường sinh là nước hằng sống; nước chảy cuốn theo 'rác rưởi' cuộc đời người phụ nữ, rửa sạch bụi đời bà; xoá tan quá khứ bà; và ban cho bà cuộc sống mới tươi mát, trong lành.
Uống nước giếng sẽ còn khát dài dài; nhận nước trường sinh sẽ không còn phải kéo nước nữa bởi nước đó trở thành nguồn sống phát ra từ cõi lòng. Đức Kitô nói với người phụ nữ,
'Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời'. Gn 4,14.
Người phụ nữ từ nay không cần gầu kéo nước nữa. Đức Kitô biết rõ quá khứ bà nhưng Ngài không trách móc, cũng không kết án, cũng không to tiếng. Chính những điểm này khuyến khích, cổ động bà cởi mở hơn, thổ lộ cõi lòng đau khổ, uất ẩn chất ngất, thầm kín trong tim. Người phụ nữ thành khẩn thú nhận bà mong mỏi nước hằng sống nhưng không biết làm cách nào để có được. Đức Kitô nói với bà hãy đi gọi chồng bà ra gặp Ngài. Bà thành thật thú nhận,
'Tôi không có chồng'.
Đức Kitô nói với bà,
'Chị nói tôi không có chồng, là sự thật'. Gn 4,17.
Sự thật không những đã giải thoát chị, mà còn giúp chị từ từ nhận ra chân lí. Chị nói với Đức Kitô
'Thưa Ngài, tôi biết Ngài là một ngôn sứ' Gn 14,19.
Từ đó chị tỏ lộ thêm kiến thức nơi thờ phượng đấng Thiên Sai. Điều này cho biết điều chị học từ nhỏ đã không bị quên lãng. Nó bị lơ là, không thực hành nhưng không bị lãng quên. Đức Kitô nhẹ nhàng hướng dẫn chị về việc thờ phượng. Ngài nói với chị cách thờ phượng chính đáng nhất.
'Thiên Chúa là Thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật' Gn 4,24.
Nghe Đức Kitô giảng giải, đức tin chị tiến một bước dài. Chị nhận biết Ngài là Đấng Thiên Sai- Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Đức kitô tỏ lộ cho chị biết
'Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây'. Gn 4,25
Người phụ nữ vui mừng chạy về làng vừa thông báo vừa tự thú.
Có một Đấng, phải là Đấng Thiên Sai, mới biết rõ tất cả những gì tôi đã làm trong quá khứ (Gn 4,29). Dân làng kéo đến đông đảo. Họ lắng nghe Ngài và đồng lòng kết luận,
'Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết Người thật là Đấng Thiên Sai' Gn 4,42.
Người phụ nữ hoán cải, con tim chân thành của bà dẫn người khác đến cùng Đức Kitô.
TiengChuong.org
Boundary Crossing
On their way to the Promised Land, the chosen people complained to Moses that they had no water. Moses appealed to God. Instead of telling Moses where to dig a well, God told him to strike the rock. Surprisingly, the water gushed out from the rock. Only the Almighty God can do such an impossibility. This incredibility is going to happen at Sychar. Jesus changes the 'stony' heart of the woman to be the heart of flesh. All the villagers fail to change her 'immoral way' of life. They punish her by refusing to associate with her. She herself avoids some sort of 'unfriendly look' from her own people, and protests their negativity by whispering about her behaviour. She chooses the hottest time of the day, and also a quiet time, to draw water from the village well. From afar, she sees a man sitting next to the well. She has no alternative because she needs water. His name is Jesus, and he asks her for a drink. She feels that it is rather an unusual request; because Jews don't associate with Samaritans; men don't seek help from women, and the 'chosen people' aren't friend of the pagan.
There are twists and turns in this story. First, Jesus asks the woman for a drink; it turns out she is the one who asks for a drink. Second, the woman talks about the physical water, while Jesus talks about different kinds of water, the spiritual water. Third, her villagers judge her badly, they now listen to her. Fourth, the woman leaves her drawing bucket at the well which indicates the significant change in her life; and finally, her 'immoral way of life' changes to the way of compassion and love.
Jesus initiates the conversation by asking the woman for a drink. It then moves to the next level, the living water, and finally arrives at the highest level, the everlasting water. The living water implies both a life-changing, and also eternal life. It is life-changing because it is running water, flowing water, not stagnant water. Flowing water brings freshness and purification. It will purify the woman's life; that erase her past life as we see it later on. Drinking water from the well will get thirsty again, but the living water Jesus gives
'will never be thirsty again' because the living water 'will turn into a spring inside him, welling up to eternal life' Jn 4,14.
This indicates the woman no longer needs the bucket to draw water. Jesus knew of her past. He told her about it, without judging or condemning her; and that encouraged her to review her entire life and make changes. The woman desires to receive living water; but doesn't know how. When Jesus asks her to call her husband; her honesty reveals her inner life; she replies that
'I have no husband'.
Jesus tells her
'You are right Jn 4,17'.
The truth sets her free. The woman begins to see the stranger as a prophet.
'I see you are a prophet'.
Her faith in Jesus moves to the next level, from being a prophet to being the Messiah. She expresses her desire for the true way of worship. The case is now reversed; it is she who asks Jesus for living water. Jesus told her the true way of worship,
'The kind of worshipper the Father wants. God is spirit, and those who worship must worship in spirit and truth' Jn 4,24.
Her faith in Jesus is deepened, and is able to bear the truth; that Jesus is the Messiah- The Christ. Jesus reveals himself to her, saying,
'I who am speaking to you'. Jn 4, 25.
The woman is truly honest, making a public confession,
'He told me all I have ever done'. Jn 4, 29.
This news made the villagers come to Jesus. They listened to him and confess that
'He really is the saviour of the world'. Jn 4,42
The woman's conversion of the heart brings Jesus to others.
Nước hằng sống
Lm Vũđình Tường 13/Mar/2020
Kéo nước từ giếng sâu là việc làm khó nhọc, gánh nước leo đồi về nhà càng vất vả hơn, nhất là gánh vác vào buổi trưa hè. Giếng đầu làng là nơi thu nhập và truyền bá tin tức trong ngày. Thời gian người ta chờ nhau kéo nước cũng là lúc tin tức trong làng được truyền miệng. Người phụ nữ thành Samarita đi kéo nước vào buổi trưa vì lúc đó vắng người. Bà hy vọng tránh không bị lôi kéo vào sinh hoạt đó. Bà cũng hy vọng không có ai ở đó. Ngạc nhiên thay, ba thấy Đức Kitô đang ngồi bờ giếng từ lúc nào, và Ngài xin bà nước uống. Việc Đức Kitô xin bà nước uống cho biết Ngài không đồng í với luật lệ trọng nam, khinh nữ và coi thường dân ngoại thời đó. Theo luật, đàn ông không được nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Do Thái giáo không nhờ vả dân ngoại. Xin nước uống người phụ nữ dân ngoại là điều cấm kị. Cuộc đối thoại giữa Đức Kitô và người phụ nữ tiến triển qua ba giai đoạn. Đức Kitô mổ đầu, xin nước uống cho đỡ khát; tiếp đến người phụ nữ chân thành xác nhận những gì Đức Kitô biết về quá khứ bà đều đúng, và cuối cùng bà trở thành môn đệ Đức Kitô. Bà rất ngạc nhiên khi Đức Kitô xin bà nước uống vì đó là điều tối kị. Đức Kitô cho biết nếu bà biết Ngài là ai thì chính bà xin Ngài ban cho nước uống, chứ không phải Ngài xin bà. Điều này gây thắc mắc hơn nữa, bởi giếng nước sâu, Ngài không có gầu múc nước làm sao có thể lấy được nuớc. Đức Kitô cho biết nước Ngài ban là nước hằng sống, không bao giờ cạn. Dù không hiểu bà cũng xin Ngài ban cho nước không hề cạn. Đức Kitô nói với bà, hãy về gọi chồng bà ra đây. Bà tự thú bà không có chồng. Câu tiếp theo khiến nhiều học giả Kinh Thánh giải thích người phụ nữ thay đổi niềm tin như thay áo, bà đã phục vụ năm bảy vị thần khác nhau và không hài lòng với vị thần nào, ngay cả vị thần bà đang tôn kính. Số học giả khác không đồng í với giải thích trên. Tuy nhiên không ai có thể chối cãi một thực tế là Đức Kitô không hề kết án, cũng như nhắc đến tội của bà.
Ngay sau khi bà xác định bà không có chồng, câu chuyện đổi sang việc thờ phượng. Đức Kitô hướng dẫn bà về cách thờ kính Thiên Chúa. Không phải cách hay nơi thờ phượng, hay núi thánh mà là tâm tình thờ phượng phải chatn thành. Việc thờ phượng Thiên Chúa chính đáng nhất là tôn thờ với tất cả tấm lòng và trong sự thật. Vì hướng dẫn trên mà học giả Kinh Thánh giải thích chữ 'chồng' ở đây không đồng nghĩa như nghĩa thông thường xã hội dùng. Người phụ nữ đón nhận giải thích về cách tôn thờ chính đáng Đức Kitô đưa ra. Bà cũng cho biết cách thờ phượng đó chỉ một mình Đấng Messiah hướng dẫn khi Ngài đến. Đức Kitô nói với bà chính Ngài là Đấng Messiah. Đúng lúc đó thì các môn đệ Đức Kitô đi mua ăn trưa trở về và cuộc đối thoại bị gián đoạn. Cuộc đối thoại biến sang giai đoạn ba, giữa Đức Kitô và đám đông dân làng. Người phụ nữ về làng thông báo cho mọi người biết tại bờ giếng bà gặp một vị xem ra vị này là Đấng Cứu Thế bởi Ngài có thể nói những việc thầm kín quá khứ đời bà. Vì niềm tin phóng khoáng, đổi thần, thay thánh, của bà mà nhiều người không tin lời bà nói. Ngạc nhiên thay, lần này người ta tin và họ kéo nhau ra giếng gặp Đức Kitô. Sau khi nghe Đức Kitô, họ tin Ngài là Đấng Cứu Thế. Đám đông nói với bà. Chúng tôi tin Ngài là Đấng Cứu thế không phải do lời bà loan báo mà chính mắt chúng tôi đã thấy, tai chúng tôi đã nghe Ngài giải thích, và chúng tôi tin. Dù giải cuộc sống bà thích thế nào chăng nữa, bà chính là người loan báo Tin Mừng cho dân làng, và những điều bà loan báo minh xác sự thật- Đức Kitô là Đấng Cứu Thế.
Người phụ nữ tin vào Đức Kitô vì bà chân thành lắng nghe, cởi mở cõi lòng và bà khẩn khoản xin Đức Kitô ban cho nước hằng sống. Bà không hiểu rõ nước hằng sống là gì? Điều này cho biết tin theo Đức Kitô không phải có các câu trả lời cho thắc mắc về đức tin, mà chính là yêu mến Ngài. Tin theo Đức Kitô giúp thoả mãn khát khao của tâm hồn, giúp con tim tìm được bình an ngay trong cảnh hỗn loạn, và giúp sống trong hy vọng. Với bà, ơn không ngoan Đức Kitô trao cho dư thừa, không cần phải tìm nguồn khôn ngoan nào khác.
TiengChuong.org
Everlasting water
Drawing water from a well is hard work, and carrying it up hill, under the heat, is even more challenging. A village well is a hub of information. News from all over the place came in and out would be shared by people, who came to draw water. A Samaritan woman came to draw water at noon to avoid the crowd. She expected a quiet time, but to her surprise, Jesus was there. By asking the woman for water to drink, Jesus demonstrated his rejection of Judaism's customs and male superiority, that it was improper for a man to talk to a woman in public; worse even, when a man asked for hospitality from a woman. Jews certainly would have nothing to do with the gentiles. The dialogue between Jesus and the woman had three phases. It began about the thirst for natural water, and it went deeper for her to open up her past life, and ended up with her having faith in Jesus. Water is necessary to sustain life, but it will not satisfy one's heart. Our hearts thirst for true love and everlasting peace. God alone can satisfy that thirst. Jesus employed the symbolic language- living water- to talk about the need of a human heart. Jesus initiated the conversation by asking the Samaritan for a drink. What? A man asked a woman for a drink. Jesus went on to say, if she knew who he was, it would be her asking him for water, not him asking her, and he would give her the everlasting water. The woman was more curious to understand Jesus, and wondered how could Jesus, without a bucket, draw water from the deep well? We humans love to make claims of possession; the woman claimed that Jacob gave her people the well. Jesus agreed: Yes, the well is yours; but God (I) provide the water. She had her faith in Jacob, Jesus helped her to open it up. He told her that it was not the place, but who and how one worshipped that was important: 'true worshippers will worship the Father in spirit and truth'. Jesus invited the woman to look deep into her life by telling her, 'Go and call your husband and come back'. Seeing that Jesus was able to reveal the secrets of her past, she believed Jesus was a prophet. The dialogue moved from physical water to spiritual water. Jesus talked to her about true worship. She responded that when the Messiah comes, he will teach them to worship in spirit and truth. Jesus revealed his identity to her, by telling her, that He actually is the Messiah. Jesus' apostles returned from the market, and the conversation came to an abrupt end. The village well is the centre of information exchange. Not realizing that she became a missionary for Jesus, the woman rushed back to her village, telling others about Jesus, and inviting them to meet the man, whom she suspected was the Messiah, because he was able to reveal her past life. The woman was well known for her way of life, and her villagers would doubt the truthfulness of her word. Surprisingly they believed her, and came to meet Jesus. Later on her villagers told her, they believed in Jesus not because of her story, but because they themselves had heard him, and had come to believe, that He is the Messiah, thus validating her words. We don't know her name, but we do know that her faith came via dialogue with Jesus, and she made a change of heart. For her, having faith in Jesus was not about having all the answers, but God's love satisfied her heart. She listened and believed in Jesus, and she was satisfied. For her having faith in Jesus was enough, and she would need no other source of wisdom. 2020
Sản xuất tại gia (cn 3 mùa chay-a-2014)
Lm Vũđình Tường
Con người dù lớn hay nhỏ, dù già hay trẻ đều cần có thực phẩm và nước uống để nuôi thân. Thức ăn, nước uống trở thành nhu cầu không thể thiếu. Ăn uống không chưa đủ mà còn cần tình yêu để sống thảnh thơi, hạnh phúc. Chỉ có người thành tâm yêu ta mới có thể trao tặng tình yêu chân chính. Ngoài ra những tình yêu khác đều là lợi nhuận. Bản chất của lợi nhuận là thương mại vì thế có tình trạng buôn bán tình yêu.
Câu người ta thường nói ‘bác ái bắt đầu tại gia đình’ câu này ám chỉ gia đình là nơi thực hành đức ái. Như thế bác ái không phải tự nhiên mà có mà là phải học hỏi và thực hành. Gia đình là trường đầu tiên và là trường tốt nhất dậy sống và thực hành đức ái. Như thế bác ái sản xuất tại gia. Gia đình thiếu thực hành đức ái là hoả lò và những ai lớn lên trong hoả lò đều, nếu làm nhỏ trở thành tội phạm xã hội; nếu làm lớn trở thành tội đồ dân tộc bởi hành động của họ thiếu yêu thương, vắng tha thứ. Lịch sử thế giới ghi nhận nhiều tội đồ dân tộc xuất thân từ gia đình thiếu đức ái. Lớn lên trong hoàn cảnh con người đối xử dã man với nhau nên về sau thành thân họ cũng hành xử vô cùng độc ác với đồng chủng và đồng loại.
Vui lòng, hăng say làm việc vặt trong nhà là thực thi Đức ái. Dù là việc cỏn con nhưng hiệu quả của chúng lại rất lớn bởi vì những việc cỏn con kia thể hiện tình yêu qua hành động. Người ta không thể nhìn thấy tình yêu nhưng qua hành động yêu thương làm rung động con tim người khác. Khi một thành viên trong gia đình cố gắng sống tinh thần bác ái người đó vừa làm giầu cho chính mình vừa mang lại nguồn vui cho gia đình và hạnh phúc thay những bạn nào được trở thành bạn những người giầu tinh thần bác ái.
Chu toàn bổn phận chưa hẳn là thực thi bác ái nhưng sống thực thi bác ái lại hoàn thành tốt đẹp hơn những gì bổn phận đòi hỏi bởi làm với tâm tình yêu mến. Việc làm với tâm tình yêu mến giúp kẻ đau khổ được ủi an, người sầu muộn cảm thấy an ủi, kẻ cô đơn tìm được chỗ dựa và kẻ tuyệt vọng sống hy vọng. Người thực thi bác ái thường nhìn thấy tình người quan trọng và không để cho lỗi lầm nếu có, dị biệt mầu da, chủng tộc và khác biệt về chính kiến ngăn trở việc thực thi đức ái.
Đức Kitô thực hiện những điều này tại bờ giếng bên làng cho người phụ nữ thành Samarita ra đó múc nước. Chính Ngài tiến đến bắt đầu câu chuyện, xin chị cho nước uống. Từ nước giếng dẫn chị đến nước trường sinh. Đức Kitô gây ngạc nhiên cho chị phụ nữ và các tông đồ vì Ngài đàm thoại với người xứ Samarita, phạm vào luật cấm kị thời đó.
Đức Kitô xin chị nước uống bởi đi đường dài, trời nắng, Ngài khát. Ngày nay Ngài còn khát không phải nước giếng mà khát khao cho mọi người đến cùng Ngài. Ngài đã lập lại điều này trên thập tự. Ta khát. Khát khao đến với các tâm hồn từ chối đón nhận Ngài. Kẻ từ chối đón nhận Ngài thường hận Ngài vì lời Ngài mời họ tin theo chạm tự ái. Họ muốn lãnh đạo đâu muốn tin theo. Đức Kitô khát khao đến thăm nhà những Kitô hữu. Ngài khát khao đến trọ đêm nhà bạn. Ngài sinh nơi đồng vắng mùa đông nên Ngài ước ao được đón vào nhà mà không bị xua đuổi. Ngài khát khao nghe tiếng bạn nói, tiếng bạn cười, hơi thở ngập ngừng của người già cả, tiếng ngáy ngủ ngon của người suốt ngày vất vả lao nhọc, tiếng thở dài của kẻ có điều phiền muộn. Đức Kitô khát khao ban cho bạn nước trường sinh. Những ai chân thành đón nhận Ngài đều nhận được nước trường sinh không bao giờ cạn vì nước đó như lời Ngài nói sẽ trở thành suối nước trong từ tâm hồn, dẫn bạn đến suối nước trường sinh.
Chị phụ nữ thành Samarita đã cho Đức Kitô nước giếng, Ngài cám ơn cho lại nước trường sinh, thoả mãn lòng chị ước mơ...
Lm Vũđình Tường 2014
March 14, 2023