Chúa
Nhật Thường Niên 4 Năm A
R.
Veritas Asia
Ðọc Tin Mừng Mt 5,1-12a
1
Thấy đám đông, Ðức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn
đệ đến gần bên. 2 Người mở miệng dạy họ rằng:
3 "Phúc thay ai có tâm hồn
nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. 4 Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Ðất Hứa làm gia nghiệp. 5 Phúc thay ai sầu
khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. 6 Phúc thay ai khát khao
nên
người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
7 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót
thương. 8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được
nhìn thấy Thiên Chúa. 9 Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì
họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. 10 Phúc thay ai bị bách
hại
vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. 11 Phúc cho anh
em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống
đủ điều xấu xa. 12 Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng
dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.
Gợi
ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
Ðức
Giêsu không chỉ dạy ta về các mối phúc.
Chính Ngài nêu gương sống hạnh phúc.
Bài Tin Mừng hôm nay là khởi đầu của Bài Giảng Trên Núi.
Qua đó tác giả Matthêu cho thấy Ðức Giêsu quả thật là
vị tân lãnh
đạo của dân mới của Thiên Chúa. Như xưa ông Môsê từ núi
Sinai mang mười giới răn của Thiên Chúa công bố cho dân
Ít-ra-en như thế nào, thì nay Ðức Giêsu cũng công bố luật
mới của
Thiên Chúa như được kiện toàn nơi bản thân Người như
vậy. Dân mới
của Thiên Chúa bao gồm tất cả những người được Ðức Giêsu
mời gọi trở nên môn đệ của Người. Lời mời gọi ấy không
loại
trừ
một ai như thấy rõ qua mệnh lệnh cuối cùng của Ðức Giêsu
trước khi về trời, là: "Thầy
đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em
hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép
rửa cho họ
nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy
bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em." (Mt 28,18-20).
Ngay
với bài giảng đầu tiên này đối tượng đã là quảng đại quần
chúng, tuy gần gụi nhất bên cạnh Ðức Giêsu là
các
môn đệ (c.1),
trong đó có bốn người đầu tiên là các ông Anrê, Simon
Phêrô, Giacôbê và Gioan, được Ðức Giêsu gọi trong khi
hành nghề
đánh cá nơi biển hồ Galilê (Mt 4,18-22). Vậy Ðức Giêsu
không đòi
hỏi người nghe phải là những người có trình độ nào
về học thức tuy ơn đức tin đối với Giavê Thiên Chúa phải
được
hiểu ngầm.
Ơn ấy nay phải được nới rộng để qui về Ðức Kitô bởi
lẽ Chúa Cha đã trao phó mọi sự nơi Ðức Giêsu. Và không ai
biết rõ
người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ
Chúa
Cha trừ người
Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho. (x.Mt 11,27).
Ðức
Giêsu cho biết hoàn cảnh thực sự của loài người dưới cái
nhìn của Thiên Chúa. Vậy dựa vào thẩm quyền từ trời cao,
Ðức Giêsu đến cho
biết hoàn cảnh thực sự của loài người dưới cái nhìn
của Thiên
Chúa. Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,16). Ngài không
đứng trung lập
nhưng nghiêng hẳn về những kẻ bé nhỏ; Ngài không
loại bỏ người giầu, nhưng buộc người giầu phải được hoán
cải để
tham dự vào
Tình Yêu Thiên Chúa là đặt mình phục vụ người nghèo.
Chính Ðức Giêsu nêu gương phục vụ suốt đời mà cử
chỉ
quì xuống
rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,1-17) chỉ nói lên
được phần nào
mà thôi.
+
Thực ra, chính cuộc đời hy sinh và tự hạ cho tới cái chết
nhục nhã của Ðức Giêsu biểu lộ tình yêu
Thiên Chúa,
làm nên
Nước của Thiên Chúa. Ai đón nhận cái nghèo đó của
Ðức Giêsu thực sự là đón nhận chính Tình Yêu từ
trời cao
nên sở hữu
được Nước Thiên Chúa.(c.3).
+
Ai chấp nhận gương hiền hậu và khiêm nhường của Ðức Giêsu
(x.Mt 11,28-29) sẽ
được đất hứa làm gia
nghiệp
(c.4).
+
Ai chấp nhận nỗi sầu khổ của Ðức Giêsu tại vườn Ghết-sê-ma-ni
(x.Mt 26,36-46) là nỗi sầu
khổ cứu
mình khỏi tội, người
đó sẽ được chính Thiên Chúa ủi an (c.5)
+
Ai ước ao giữ trọn đức công chính theo gương Ðức Giêsu (x.Mt
3,15), người đó sẽ được Thiên
Chúa cho
thoả lòng
(c.6).
+
Ai biết noi gương Ðức Giêsu, Ðấng đã xin với Thiên Chúa Cha
tha cho những kẻ đóng
đinh mình
trên thập
tự, người
đó đã
được Thiên Chúa xót thương vì được Ngài
cho nên giống Con của Ngài (c.7).
+
Mối phúc được nhìn thấy Thiên Chúa phải là mối phúc do chính
Ðức Giêsu thông ban
theo
lời Người
tuyên bố
rằng: "Không
ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và
kẻ mà người Con muốn mạc khải cho (c.8;
x.Mt
11,27).
+
Mối phúc làm con Thiên Chúa (c.9) nhất thiết cũng phải do
chính Ðức
Giêsu là "con
yêu dấu của Thiên Chúa" (Mt 3,17); chính nhờ tham dự vào sự sống, sự chết và sự sống lại của Ðức Giêsu,
ta xây dựng bình an đích thực và dự
phần vào tư cách làm Con Thiên Chúa
của Ðức
Giêsu.
+
Mối phúc cuối cùng (cc.10-12) chỉ là việc ta kết hiệp mật
thiết với
chính
Ðấng thiết
lập nên
Nước
Thiên Chúa
nơi bản
thân Ngài là Ðức Giêsu Kitô: "Nào
Ðức Kitô chẳng phải chịu đau khổ
rồi mới được vinh quang ư?" (Lc 24,25).
Vậy
bài giảng về các mối phúc thật ra cũng chỉ qui về một mối
phúc chính
là
tình yêu
Thiên Chúa
hiện
thân nơi
Ðức
Giêsu làng
Nadarét. Tình yêu ấy khi xuất hiện
trong bối cảnh văn hoá xã hội Do
thái đã chọn
đứng về
phiá người
nghèo.
Ðức
Giêsu đứng về phía người nghèo
Luca cho thấy Ðức Giêsu nhắm thẳng
đám người nghèo đó khi nói với
họ: Phúc cho
anh em
là những kẻ
khó nghèo,
vì Nước
Thiên
Chúa là của anh em. Phúc cho
anh em, những người đang đói khát,
vì anh em
sẽ được
no lòng. Phúc
cho anh em,
những
người đang
phải than khóc, vì anh em sẽ
được vui cười. Phúc cho anh em, những
người
đang bị ghét
bỏ, hất
hủi, sỉ nhục (x.Lc
6,20-22).
Liền
sau đó, Luca đưa ra những lời
báo dữ đối với những người
giầu có,
no phỉ,
những
kẻ đang
vui
sướng cười
cợt, đang được
thiên hạ tán dương (x.Lc 6,24-26).
Nhưng
Ðức Giêsu đã không dừng lại ở lối nói suông. Người
minh chứng
bằng
hành
động cụ
thể về nội
dung Nước Thiên
Chúa dành
cho người nghèo, bằng cách
bày tỏ lòng ưu ái đặc biệt
hai thành
phần
thời
đó đang bị
gạt
ra bên
lề xã hội,
đó là
những người
bệnh tật và những người không
có quyền công dân.
Các
sách Tin Mừng nêu hai loại người bệnh, đó là kẻ
tàn tật
và kẻ bị quỉ
ám. Tàn tật
gồm những
chứng
bệnh
có
thể quan
sát được như mù, què và
những thứ bệnh da liễu, nhất là
phong hủi.
Ðó là những người hết còn
lao động được, nên xã hội
kể là
thành phần "ăn
hại" vì sống dựa vào người khác.
Còn "bị quỉ ám" chủ
yếu là những người mắc
bệnh tâm thần, động kinh,
dễ té xỉu và được kể
là bị quỉ vật. Người câm và
điếc cũng được kể là
bị quỉ ám. Người phụ
nữ còng lưng thì được kể là
bị "quỉ còng" ám (x.Lc 13,10-15). Chẩn bệnh kiểu đó khiến ta nực cười nhưng nó cho thấy não
trạng của người thời
ấy kể bệnh nhân nằm dưới
quyền
lực của ma quỉ nên thường
xuyên bị coi là ô uế
nên không được tham
gia việc thờ phượng nơi
Ðền Thờ.
Khi
chữa bệnh Ðức Giêsu phục hồi lại
phẩm giá
của bệnh
nhân, cho
họ được
tham gia
Nước Thiên
Chúa.
Họ không
còn bị gạt
ra bên lề nữa, nhưng
ở ngay tâm điểm của
Tình Yêu Thiên
Chúa.
Ngoài
hạng người bệnh tật, nhiều thành phần
khác cũng
bị gạt sang
một bên,
thời Ðức Giêsu.
-
Thứ nhất là đàn bà, con trẻ : Hoàn
cảnh
phụ nữ
tại Áp-ga-nit-tăng
ngày
nay chỉ
là hình
ảnh nối
dài của
phụ nữ vùng Trung
Ðông xưa. Họ phải
nhốt mình trong
nhà. Khi
ra đường,
họ phải lấy
khăn che mặt và
không được mở miệng nói
với đàn ông.
Vợ lệ
thuộc chồng
tới mức
có thể
bị chồng
sa thải
vì bất cứ
lý
do nhỏ bé nào,
chẳng hạn như nấu cơm khê.
Sự
kiện Ðức Giêsu cho một số phụ
nữ tháp
tùng Người
trên
đường đi
rao giảng
Tin
Mừng cùng
với nhóm
Mười Hai, quả
là điều mới
mẻ về Nước Thiên
Chúa. Cũng là
điều gây ấn
tượng không
nhỏ khi
Ðức Giêsu
đòi
các môn
đệ phải hoán
cải để trở
nên như
trẻ nhỏ thì mới
được vào Nước
Thiên Chúa
(Mt 18,9).
-
Thứ hai là những người làm
nghề
bất lương:
Hạng người
này bao gồm
không
những người
thu thuế như
Lêvi (Mc
2,14), mà
cả những người
chép
mướn, những
người thợ dệt (hai
loại này
bị ngờ là "bất
hảo" vì tiếp cận với phụ nữ), người đổi tiền, cầm đồ, đánh cờ, chăn súc vật (mang
tiếng cho súc
vật ăn lấn
sang đất kẻ
khác).
Vậy
để hưởng
các mối phúc
thật như
Ðức Giêsu
dạy
ta hôm nay,
ta cần
nhìn thẳng
bản thân
Ngài như
chính Ngài
thể hiện
các mối phúc đó.
Không có
điều gì Ngài
dạy ta mà
Ngài
lại không
làm gương cho ta.
Không
có giá trị
nào
về Nước Thiên
Chúa được
Ngài nêu lên,
mà chính
Ngài không trả
giá bằng
việc hy sinh
chính mạng
sống mình: "Không
có tình yêu
nào cao cả
hơn tình
yêu của người
đã
hy sinh tính
mạng vì bạn
hữu của mình." (Ga 15,13).
Một
số câu hỏi gợi ý
1.
Bạn đọc Mt
5,1-12
và Lc
6,20-26
về các
mối phúc
thật
thì nhận
thấy
những khác
biệt
nào? Tại sao?
2.
Ðức Giêsu
không
dạy
ta
về bất cứ
mối
phúc nào mà
chính
Ngài
lại
không
nêu
gương
cho
ta. Bạn
thấy
tấm
gương nào
của
Chúa Giêsu
về
các mối
phúc
giúp
bạn
hơn cả?
3.
Khi
Ðức
Giêsu
nói "Phúc
cho
anh
em
là
những
người
nghèo"
(Lc
6,20),
Người
có
ý
nói
về:
Bệnh
nhân?
Người
tàn
tật?
Kẻ
bị
quỉ
ám?
Ðàn
bà
và
trẻ
con?
Người
thu
thuế?
Người
chép
mướn?
Người
thợ
dệt?
Người
đổi
tiền?
v.v.
Tại
sao?
Trích Radio Veritas Asia