Chúa nhật Tuần 29 Thường Niên – Năm A
Khánh nhật truyền giáo
CÁCH TRUYỀN GIÁO-
Chúa nhật Truyền giáo-
Chúa nhật 29 TN-A-2023
Bạn là người Công giáo và sống yêu thương, và bạn muốn chia sẻ Tin Mừng với những người quen biết – chẳng hạn các đồng nghiệp. Đó là sống dồi dào trong Đức Giêsu Kitô nơi Giáo hội Công giáo và là điều tốt lành!
Chúng ta thường nghe nói rằng “người Công giáo và các Kitô hữu gây phiền toái, thúc ép, và cực đoan.” Điều này chỉ đúng trong một số ít trường hợp, còn đa số chúng ta đều là những người thân thiện bình thường.
Tuy nhiên, hành động thân thiện khả dĩ chấp nhận không miễn trừ chúng ta đối với việc chia sẻ Tin Mừng. Thật vậy, đó là một trong số ít điều mà chúng ta thực sự phải làm theo lệnh Chúa Giêsu truyền: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28:19-20)
Có nhiều cách để chia sẻ Tin Mừng mà không thúc ép, gây phiền toái và cực đoan. Mục đích là tạo cơ hội để chia sẻ niềm vui về Đức Giêsu Kitô. Cách tốt nhất là “làm bạn với ai đó và đem người đó đến với Đức Kitô.” Hãy thử thực hiện những cách loan truyền Tin Mừng sau đây:
1. SỐNG HIỀN LÀNH VÀ HÒA ĐỒNG
Người hiền lành vui vẻ sẽ thu hút nhiều người khác. Bạn có thể sống vui vẻ và hòa đồng ở mọi nơi mà không gây phiền toái cho ai. Hãy vui cười và sống tích cực. Hãy mặc lấy Đức Giêsu Kitô để nhìn mọi người và mọi thứ bằng con mắt đức tin.
Điều này không có nghĩa là bạn phải tỏ ra ngây ngô. Điều xấu có thể xảy ra, chẳng hạn như đau khổ. Nhưng đối với những người nhìn bằng con mắt đức tin và hiểu biết giáo huấn của xã hội, đau khổ có thể trở thành vinh quang của Thiên Chúa. Niềm vui trong Chúa là sức mạnh của chúng ta. Người ta sẽ “thắc mắc” không hiểu sao bạn lại sống lạc quan trong gian khó như vậy. Đó là tín hiệu tốt!
2. YÊU THƯƠNG THA NHÂN
Đó có thể là điều cũ kỹ gây nhàm chán, nhưng đó lại chính là mệnh lệnh của Đức Kitô: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh emThầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13:34)
Làm sao chúng ta có thể yêu thương tha nhân như Chúa Giêsu yêu thương chúng ta? Có thể chúng ta cho là khó vì không hợp lý. Điều Chúa Giêsu đã làm trên Thập giá vì chúng ta là điều không thể lý giải theo trí tuệ của nhân loại: Chúa Giêsu chịu chết hoàn toàn vì người khác, tức là chúng ta. Như vậy chúng ta cũng phải sống hết mình vì tha nhân. Tại sao? Chúng ta đã được Chúa thương xót thì chúng ta có trách nhiệm và bổn phận phải thương xót tha nhân. Đó là công lý!
3. PHÁT TRIỂN CÁC MỐI QUAN HỆ
Nhiều người không có những người bạn đúng nghĩa, theo cách nói của người Việt là ít “bạn” mà nhiều “bè.” Đó là một thực tế. Đặc biệt là nam giới, thường chỉ ăn nhậu với nhau vậy thôi, chứ thực sự chưa hẳn là bạn.
Bạn bè với nhau có thể do cùng mục đích, cùng quan điểm, cùng sở thích,... Thực ra ai cũng có thể là bạn của nhau, dù khác nhau về niềm tin tôn giáo, nghề nghiệp, sở thích,… nếu có lòng nhân đạo, tình yêu thương. Tình yêu thương vô điều kiện, mà tình bạn là một dạng yêu thương, thế nên tình bạn không đòi hỏi gì cả.
4. KHUYẾN KHÍCH NGƯỜI KHÁC SỐNG TỐT
Nhân chi sơ tính bổn thiện. Sinh ra ai cũng có bản chất tốt. Chúng ta luôn phải cố gắng vươn lên để đạt được điều tốt nhất, và phải nỗ lực tuân theo các giáo huấn của Chúa trong mọi hoàn cảnh, cùng đích là Nước Trời. Lên trời một mình là ích kỷ, nên chúng ta phải kéo người khác cùng lên. Thánh Phaolô nói: “Trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng.” (1 Cr 9:24)
RYAN EGGENBERGER
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)
CƠN GIẬN KHÔNG DỨT
Tôi bối rối trước lý thuyết suông của cơn giận, dường như nó hoàn toàn vượt xa sinh lý không cầu kỳ của cơn giận.
Tôi mơ hồ hiểu rằng có những chất truyền thần kinh hóa học kích thích phản ứng “chiến đấu hoặc bỏ chạy” của chúng ta. Nhịp tim, huyết áp và hô hấp tăng lên. Trong một thời gian ngắn, tâm trí trở nên tỉnh táo hơn và nhanh nhạy hơn.
Một con vật sẽ làm điều gì đó tương tự, nó sẽ chiến đấu hoặc bỏ chạy. Quả thật, chúng ta dường như giống động vật nhất khi chúng ta tức giận. Tuy nhiên, ít là về lý thuyết, có nhiều khả năng kiểm soát hơn. Nhờ sự rèn luyện và kinh nghiệm gian khổ, con người ít nhiều có thể kiểm soát được mức độ và tính chất cơn giận của mình và điều chỉnh nó cho phù hợp với nguyên nhân của nó. Trong khi đó, con vật có hạn chế hơn. Tuy nhiên, nó có thể thể hiện chiến thuật.
Ngoại trừ việc coi đó là biểu hiện của cái ác, điều tôi không hiểu là việc duy trì cơn giận ở trạng thái vĩnh viễn. Tôi nghi ngờ rằng con vật có thể làm được điều này, và nghi ngờ đó là khả năng đặc biệt của con người. Làm sao để “kích động” ngày đêm?
Điều này có vẻ trái ngược với điều kiện đạo đức chín chắn. Con người trở nên giống con vật cảnh giác hơn, trong thực tế giống như một cỗ máy nguy hiểm. Rõ ràng là nó có thể ghét mà không bị đe dọa. Nó chỉ cần sự gần gũi (kể cả vùng lân cận tưởng tượng) của một số người hoặc vật mà họ quyết tâm coi thường.
Sống trong những khu vực thoái hóa hơn của một thành phố Bắc Mỹ, tôi nhận thức được tình trạng thịnh nộ thường trực này ở nhiều người hàng xóm của mình. Trong thời gian ngắn, tôi có thể đổ lỗi cho sự phổ biến của điện thoại di động và “âm nhạc” di động, chủ yếu là điều trước vì hầu như có vẻ đang tức giận bởi sự đồng hành trong tưởng tượng. Nói chung, những gì họ đang nói là câu chuyện không có hồi kết thúc về việc bị áp bức. Điều này thay đổi theo từng khoảng thời gian chửi thề và đe dọa.
Cơn giận của họ liên tục. Họ duy trì nó như thế nào?
Thuốc viên và các loại thuốc khác đôi khi được sử dụng để làm im lặng một cách giả tạo, khiến chúng trở nên vô hại và “an thần.” Các phương pháp này có tác dụng với nhiều “trường hợp tâm thần” có thể chẩn đoán rõ ràng nhất, sau đó được thả ra đường. Ngoài ra, còn có các hoạt động buôn bán tội phạm phân phối các loại thuốc phiện và thuốc giảm đau khác nhau như Fentanyl. Ở mức độ cao nhất, những loại này chữa lành cơn giận vĩnh viễn bằng cách gây ra cái chết ngay lập tức. Tôi được biết người Mỹ đang chết vì “quá liều” như vậy với tỷ lệ 100.000/năm, điều này gây ấn tượng với tôi như một vấn đề y tế.
Nhưng còn tệ hơn nữa. Những cái phanh đạo đức từng quen thuộc với xã hội chúng ta đã được giải phóng và chúng ta đang chạy đua xuống dốc. Giới trẻ dường như gặp nguy hiểm khi học đại học hơn là nghiện ngập.
Tuy nhiên, ít có khả năng giải quyết hơn các vấn đề y tế. Chúng ta không có hoặc không còn thiết bị trí tuệ để đối đầu với nó. Điều kỳ lạ là có thể do chúng ta mất khả năng thể hiện sự tức giận thông thường trước cái ác.
Tôi bắt đầu viết chuyên mục này khi có tin tức về vụ đánh bom của Israel vào một bệnh viện ở Gaza. Trong khi các phương tiện truyền thông như New York Times và BBC loan báo một cách khoa trương dựa trên thẩm quyền của Hamas rằng “500 người đã bị giết,” ngay lập tức tôi nhận ra rằng đó là dối trá.
Chắc chắn rồi, khi ngày đó trôi qua, tôi biết đó là một bệnh viện Kitô giáo trong khu vực Hồi giáo, nhưng điều khẩn cấp hơn là thiệt hại ít hơn nhiều. Ngoài ra, do không có máy bay Israel nào, nguyên nhân được xác định là do tên lửa Hamas bắn nhầm. Bằng chứng về điều này đã có sẵn một cách dễ dàng.
Các chi tiết khác xuất hiện và rất đáng chú ý. Điều ngược lại với câu chuyện truyền thông hóa ra lại là sự thật. Tuy nhiên, để tin vào báo cáo đầu tiên không được kiểm chứng và không thể tin, chính các nhà báo phải bị nhiễm cánh tả, sự cuồng tín Hồi giáo và “ám ảnh sợ hãi.” Bây giờ họ đang phải chịu đựng sai lầm của mình bằng việc nhận biết sự dối trá.
Vì không có gì tế nhị về các cuộc biểu tình ủng hộ Hamas và bài Do Thái đã xảy ra trên khắp thế giới. Israel và người Do Thái bị buộc tội vì những tội ác, từ lịch sử đến hiện tại, phần lớn thậm chí là không chính đáng. “Những lời giải thích” được đưa ra từ lịch sử khu vực, đó là sai lầm khủng khiếp.
“Những ngày thịnh nộ” được tiến hành khắp thế giới Hồi giáo và các cộng đồng di cư Hồi giáo, nơi sự căm ghét người Do Thái được rao giảng như một loại giá trị tôn giáo, mà còn ở bất cứ nơi nào Cánh Tả thế tục được đặt trong nền chính trị Tây phương.
Những cảnh tượng “phẫn nộ” ở London của Anh và ở Sydney của Australia (nơi đám đông hô vang “Hãy tiêu diệt người Do Thái!”), đặc biệt kinh hoàng. Đám đông khá hỗn loạn.
Điều này có thể gia tăng, vì Israel buộc phải tự vệ bằng vũ khí sát thương trong những ngày tháng tới. Cuộc chiến tranh ở Trung Đông cũng có thể lan rộng từ chiều kích “vùng cát” của nó.
Nó lan rộng do kết quả của cơn giận thường trực vốn là di sản của Thời Kỳ Khai Sáng, của thời đại các hệ tư tưởng chuyên chế và vô thần vốn là nét đặc trưng của đời sống hiện đại, cả Đông phương lẫn Tây phương.
Đây là điều mà Giáo hội Công giáo đang phải đối mặt, cùng với tất cả các tôn giáo khác quan tâm đến sự thật và thần thánh. Như đã từng trải qua trước đây, chúng ta đang trải qua một thời kỳ mà những ảo tưởng chi phối chúng ta trong thời bình đã bị loại bỏ. Sự tin kính là đối mặt trực tiếp với Satan, ngay cả trong môi trường trần thế và vật chất này.
Và chúng ta lạc lối, những người không sẵn sàng đối mặt với thực tế này.
Hai tuần trước, khi các đặc vụ Hamas trên những chiếc dù lượn của họ đến để sát hại hơn một ngàn người, lời thách thức của họ đã được phát sóng. Tôi nhận thấy điều đó trong lời tuyên bố của một bé gái Palestine năm tuổi dễ thương, trong một buổi thuyết trình trên phương tiện truyền thông. Vốn là sản phẩm của sự truyền bá chính trị, cô bé bày tỏ sự vui mừng khi người Do Thái bị giết.
Điều đó, chứ không phải một thượng hội đồng về tính công nghị, là tin tức của thời điểm này. Sự phức tạp của những tranh cãi về thần học và môi trường dẫn đến một thực tế đạo đức đơn giản rất kinh ngạc.
Một mặt là cơn thịnh nộ dường như vĩnh cửu và hành vi giết người tàn ác có chủ đích. Mặt khác là sự khao khát nếu không đạt được hòa bình. Người đọc có thể nhìn thấy điều này nếu người đó không mù lòa.
DAVID WARREN
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ TheCatholicThing.org)
Trưa 21-10-2023
Sở hữu
(Chúa Nhật XXIX TN, năm A-2014)
Không ai lại không có gì sở hữu, hiểu đơn giản là quyền làm chủ. Đó là quyền cơ bản nhất của mỗi con người. Về tài chính, người ta còn có “quyền sở hữu chéo” (ngân hàng này sở hữu ngân hàng khác, doanh nghiệp này sở hữu một doanh nghiệp khác,... mối quan hệ vừa trực tiếp vừa gián tiếp – khái niệm này xuất hiện từ thập niên 1980).
Thiên Chúa ban cho chúng ta thời gian và quyền tự do, chúng ta được quyền sở hữu đó, nhưng chúng ta không làm chủ mà chỉ quản lý. Chúa Giêsu đã nói rõ: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3:27). Thật vậy, khi nói về một tài năng nào đó, người ta dùng chữ “thiên phú” – tức là “trời cho” đó thôi. Tác giả sách Giảng Viên cảm nhận: “Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân biết kính sợ Người” (Gv 3:12-14). Vấn đề quan trọng là người nào đó có tài năng mà còn “biết kính sợ Chúa” hay không, có biết khiêm nhường hay không. Ảo tưởng là “chết chắc”!
Đức Chúa phán với kẻ Ngài đã xức dầu là vua Kyrô: “Ta đã cầm lấy tay phải nó, để bắt các dân tộc suy phục nó, Ta tước khí giới của các vua, mở toang các cửa thành trước mặt nó, khiến các cổng không còn đóng kín nữa” (Is 45:1). Ngài giải thoát ai, người đó thuộc quyền sở hữu của Ngài. Chúng ta cũng được Thiên Chúa cứu độ bằng Giá Máu của Đức Giêsu Kitô, Con Một Yêu Dấu của Ngài, vậy chúng ta cũng thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Đức Kitô, thuộc dòng dõi Áp-ra-ham và được thừa kế (Gl 3:29). Mà những ai thuộc về Thiên Chúa thì phải vâng lời Ngài (Ga 8:47). Đó mới là vấn đề!
Thiên Chúa giải thích: “Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Giacóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta. Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta. Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ, để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta. Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác” (Is 45:4-6). Thiên Chúa nhấn mạnh tính cao cả duy nhất của Ngài bằng cách lặp đi lặp lại: “Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác”. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta chỉ được phép tôn thờ một mình Ngài. Và thật diễm phúc, chúng ta đã nhận ra điều này, để rồi chúng ta đang tôn thờ Ngài và không ngừng nỗ lực học bài học yêu của Ngài. Cũng như dân Ít-ra-en, chúng ta được trở nên dân riêng của Ngài.
Trước đó, Thiên Chúa cũng đã động viên và xác nhận với dân Ít-ra-en: “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta!” (Is 43:1). Ngài cũng đang nói với chúng ta như vậy. Dân Ít-ra-en là “vật sở hữu” của Thiên Chúa, chúng ta cũng thế. Ngày nay cũng có những thứ thuộc về Thiên Chúa, tương tự như Dân Riêng vậy, thuộc quyền sở hữu của Ngài. Ai dám liều mạng mà “đụng chạm” đến những gì của Chúa thì “kẹt lắm” đấy!
Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời. Ngay cả chuyện ăn uống và hưởng những thành quả do công lao khó nhọc mình làm ra, tức là tận hưởng những gì mình sở hữu, đó đã là một món quà Thiên Chúa ban tặng rồi (x. Gv 3:1-12). Vâng, tất cả chỉ là phù vân, chúng ta “chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49:13), chẳng có gì bền vững, chỉ có Thiên Chúa là Đấng vạn đại trường tồn (Tv 102:25). Biết mình hữu hạn, biết Chúa vô hạn, để mà hết lòng tôn thờ và tán tụng Thiên Chúa. Tác giả Thánh Vịnh mời gọi chúng ta: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” (Tv 96:1).
Việc chúng ta ca tụng Chúa chẳng thêm gì cho Ngài, nhưng đem lại ơn cứu độ cho chúng ta (Kinh Nguyện Thánh Thể). Ca tụng Chúa không chỉ là trách nhiệm và bổn phận của chúng ta mà còn là niềm hạnh phúc cho chúng ta: “Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người. Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần, vì chư thần các nước thảy đều hư ảo, còn Đức Chúa, Người sáng tạo trời cao” (Tv 96:3-5). Ca tụng Chúa khi chúng ta may mắn, đó là điều dễ dàng, nhưng ca tụng Chúa ngay cả khi cuộc đời chúng ta không “xuôi chèo mát mái”, đó mới là điều khó thực hiện nhưng lại có giá trị cao.
Thiên Chúa ban cho chúng ta mọi thứ (vật chất và tinh thần) mà chúng ta cứ tưởng là “điều dĩ nhiên”, chúng ta không biết tạ ơn thì thôi, lại còn “so đo” vì cứ thưởng mình không được may mắn như người khác. Thật ra đó là ý mình, không phải Ý Chúa. Quả thật, Thiên Chúa luôn xứng đáng để chúng ta xưng tụng mọi nơi và mọi lúc: “Hỡi các dân các nước, hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang, hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người. Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện, toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan. Hãy nói với chư dân: Chúa là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng” (Tv 96:7-10).
Thiên Chúa sở hữu tất cả, chúng ta chẳng có gì. Vả lại, Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Vậy vì cớ gì mà chúng ta lại không tôn vinh và không tạ ơn Thiên Chúa? Có ai đau khổ bằng ông Gióp? Thế mà trong lúc đau khổ đến tột cùng, mất hết mọi vật sở hữu, từ của cải tới con cái, nhưng ông Gióp vẫn “không hề phạm tội cũng không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” (G 1:22). Thiên Chúa đã nói với Satan về ông Gióp: “Chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó: một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác” (G 1:8). Một tấm gương to lớn và sáng chói để chúng ta soi vào. Cũng chưa đến nỗi nào mà chúng ta đã than trách đủ thứ. Còn lâu thật là lâu chúng ta mới có thể “xách dép” chạy theo Thánh Gióp. Thật vậy, vác thập giá đâu có sướng, đâu có nhàn, không thể cứ tà tà mà vác!
Bổn phận chúng ta không chỉ phải biết tạ ơn và cầu nguyện cho mình mà còn phải tạ ơn và cầu nguyện cho người khác, đồng thời còn phải biết cảm ơn nhau. Thánh Phaolô nói: “Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện, và trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô” (1 Tx 1:2-3). Tình liên đới Kitô giáo thật tuyệt vời!
Thánh Phaolô vừa giải thích vừa xác định: “Anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em, vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa. Anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em” (1 Tx 1:4-5). Thánh Phaolô nói với giáo đoàn Thêxalônica nhưng cũng là nói với chính chúng ta – mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hội đoàn, mỗi giáo xứ, mỗi giáo phận, mỗi tu viện, mỗi chủng viện,...
Nhà có gia phong, nước có quốc pháp. Quốc gia nào cũng có hiến pháp – nhưng hiến pháp phải hợp lòng dân, không thể tự ý ra luật “tùy hứng” rồi bắt người khác thực hiện. Luật có sau con người. Luật vị nhân sinh, luật vì con người. Luật giúp con người sống tốt hơn và giúp duy trì trật tự. Nên giữ luật nhưng đừng câu nệ luật, cứng ngắc theo “chữ đỏ”. Tương tự, tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên. Trong ba người cùng đi cũng có một người là thầy, có khả năng hướng dẫn hai người kia, tức là có thể “làm luật”.
Trình thuật Mt 22:15-21 nói về việc sở hữu. Một hôm, những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy. Không chỉ vậy, họ còn cấu kết với phe Hêrôđê, ông vua nham hiểm và hèn nhát. Quả thật, họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hêrôđê đến nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?” (Mt 22:16-17). Đó là những người “miệng nam-mô mà bụng một bồ dao găm”. Kinh khủng thật!
Tuy nhiên, vải thưa không thể che mắt thánh! Chúa Giêsu biết tỏng họ có ác ý, nên Ngài nói thẳng: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình? Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!”. Họ thường xuyên bị Chúa Giêsu trách mắng thẳng mặt và nguyền rủa, thế mà họ vẫn cứ trơ trơ. Họ thản nhiên đưa cho Ngài một quan tiền. Ngài vừa chỉ đồng tiền vừa hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây?”. Họ đáp tỉnh queo: “Của Xêda”. Trơ trẽn thật đấy! Bấy giờ, Ngài bảo họ: “Thế thì của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mt 22:21). Cái gì của ai thì trả cho người đó. Câu trả lời của Chúa độc đáo quá! Nghe vậy, họ ngạc nhiên lắm, nhưng đành lẳng lặng bỏ đi!
Cái gì của người khác, tức là không thuộc quyền sở hữu của mình, chớ có “mong muốn” hoặc rờ tới. Điều mà Thiên Chúa đã nghiêm cấm trong Thập Giới: “Chớ lấy của người” và “chớ tham của người” (Giới Răn thứ bảy và thứ mười). Thế nhưng có một số người có khái niệm lệch lạc thế này: “Cho không lấy, thấy không xin, kín thì rình, hở thì rinh”. Nguy hiểm quá! Cuộc sống có nhiều dạng sở hữu, nhưng cần phải biết phân biệt rạch ròi: Cái gì thuộc về trần tục, và cái gì thuộc về tâm linh. Đừng lầm lẫn để rồi râu ông nọ lại đem cắm cằm bà kia. Vâng lời quyền bính thế gian cũng là vâng lời Thiên Chúa, nếu khoản luật đó hợp với công bình và bác ái.
Thánh Phaolô nói về nhà chức trách: “Làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi, vì chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa để giúp bạn làm điều thiện. Nhưng nếu bạn làm điều ác thì hãy sợ, vì họ mang gươm không phải không có lý do. Thật vậy, họ là người thừa hành của Thiên Chúa để giáng cơn thịnh nộ của Người xuống kẻ làm điều ác. Vì lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm” (Rm 13:3-5). Ở đây là “lương tâm ngay lành”. Cũng nên lưu ý loại “lương tâm chai cứng”, lệch lạc, không đủ mức phân biệt phải hoặc trái. Loại lương tâm này rất nguy hiểm, vì mất cảm thức tội lỗi. Những người thuộc tổ chức IS (Islamic State – Nhà nước Hồi giáo) giết người dã man vì họ cho đó là “điều chính nghĩa” (sic!). Thậm chí họ còn hành hạ cả các trẻ em vô tội. Mới đây, có khoảng 70.000 trẻ em bị hành hạ dã man. Niềm tin tôn giáo của họ lệch lạc nên họ bất nhân quá!
Thánh Phaolô đã dặn dò đệ tử Titô: “Anh hãy nhắc nhở cho ai nấy phải phục tùng và tuân lệnh các nhà chức trách, các người cầm quyền, phải sẵn sàng làm mọi việc tốt, và đừng chửi bới ai, đừng hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người” (Tt 3:1-2). Những mệnh lệnh cách rất mạnh mẽ, dù theo thể phủ định hoặc xác định!
Tất cả là phù vân. Mọi thứ sẽ qua đi. Ngay cả những gì sở hữu cũng không thuộc về chúng ta mãi mãi, kể cả sự sống: “Chúa lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104:29). Những gì chúng ta sở hữu và thuộc về chúng ta là nhân đức. Loại “vật sở hữu” này rất quan trọng, gọi là “công trạng”, vì đó sẽ là chứng cớ hùng hồn bênh vực cho chính chúng ta, chỉ nhờ đó mà chúng ta được trở thành Công Dân Nước Trời – dĩ nhiên trước tiên phải nhờ công cuộc cứu độ của Đức Giêsu Kitô. Có Chúa là có tất cả, Thánh Tiến sĩ Thomas Aquinas rất khôn ngoan khi cầu xin: “Con chỉ muốn Chúa thôi!”. Đó là điều duy nhất mà mỗi chúng ta phải nỗ lực để khả dĩ “sở hữu” mãi mãi!
Hôm nay là ngày Khánh nhật Truyền giáo, ngày cổ vũ ơn thiên triệu linh mục và dâng hiến, nói đơn giản là “ơn gọi đi tu”. Ngày Thế giới Truyền Giáo được Đức Piô XI khai sinh từ năm 1926, và theo truyền thống thường rơi vào Chúa Nhật áp chót của tháng 10, năm nay là ngày 19-10-2014. Hôm nay cũng là ngày tuyên Chân phước cho ĐGH Phaolô VI (triều đại giáo hoàng từ 21-6-1963 tới 6-8-1978), người được mệnh danh là “Giáo hoàng Trầm tư”.
Trong sứ điệp Khánh nhật Truyền giáo năm nay, ĐGH Phanxicô chia sẻ: “Nhân Ngày Thế Giới Truyền Giáo này, tôi nghĩ đến các Giáo hội địa phương. Đừng bao giờ để mình mất đi niềm vui của việc loan báo Tin mừng! Tôi mời gọi anh chị em hãy chìm mình trong niềm vui của Tin Mừng và nuôi dưỡng một tình yêu có thể thắp sáng lên niềm ơn gọi và sứ mạng của anh chị em. Tôi thúc bách mỗi người trong anh chị em nhớ lại, như thể anh chị em đang thực hiện một cuộc hành hương nội tâm, ‘mối tình đầu’, mối tình mà Đức Chúa Giêsu Kitô đã sưởi ấm con tim anh chị em, không phải để nhớ nhung, nhưng là để luôn ở lại trong niềm vui. Các môn đệ của Chúa đã luôn ở lại trong niềm vui khi họ ở với Ngài, thực thi ý Ngài và chia sẻ với người khác đức tin, niềm hy vọng và đức ái tin mừng”. Và ngài nhắc nhở thêm: “Hãy hướng về Mẹ Maria, mẫu gương loan báo tin mừng khiêm nhường và với trọn niềm vui, chúng ta hãy dâng lên lời cầu nguyện của chúng ta để Giáo hội có thể trở nên mái nhà cho tất cả mọi người, một người mẹ cho tất cả mọi dân tộc và có thể sinh ra một thế giới mới”.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết nhận thức đúng đắn về niềm tin và quyền sở hữu của chúng con. “Ngày là của Chúa, đêm cũng là của Chúa” (Tv 74:16), “trời là của Chúa, đất cũng là của Chúa” (Tv 89:12), chúng con chẳng có gì, xin triệt tiêu tính kiêu ngạo trong chúng con và đổ vào trái tim chúng con đầy “máu yêu thương” để chúng con NÊN MỘT (Ga 17:20-23) theo Tôn Ý Con yêu Dấu của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
THUẾ ĐỜI - CN 29 TN-2023
Thuế là nhiệm vụ người dân đối với nhà nước, nhưng đôi khi có những thứ thuế nặng nề hoặc vô lý khiến dân chịu khổ. Ngày xưa có loại “thuế thân” – còn gọi là thuế đinh, một thứ thuế của chế độ phong kiến thời quân chủ, đánh theo mức cố định mỗi người, ai cũng phải nộp bằng hiện vật hay hiện kim. Sưu dịch cũng là loại thuế thân, nhưng đóng bằng sức lao động.
Tại Việt Nam, đời nhà Lý có lệ mỗi năm khai số hộ – gọi là đơn số, đàn ông 18 tuổi gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại nam. Thuế đinh được “bổ” theo đinh bộ hay hộ tịch mỗi làng. Thuế thân thời này căn cứ theo số ruộng của mỗi người, ai không có ruộng thì không phải nộp.
Về sau, người Pháp tiếp tục áp dụng thuế thân ở Việt Nam cho đến năm 1945. Thuế thân thời Pháp thuộc đánh vào các “suất đinh” – đàn ông từ 13-53 tuổi, trừ những người làm trong bộ máy chính quyền và một số trường hợp được miễn khác.
Trình thuật Mt 22:15-21 kể: Một hôm, những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy. Không chỉ vậy, họ còn cấu kết với phe Hêrôđê – kẻ nham hiểm và hèn nhát. Quả thật, họ sai các đệ tử của họ cùng đi với những người theo phe Hêrôđê đến nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?” Ra vẻ chân thành nhưng chỉ là mưu mô xảo quyệt. Miệng cầu nguyện mà bụng lắm dao găm. Kinh khủng thật! Những kẻ nham hiểm như vậy vẫn có ở mọi thời, mọi nơi.
Vải thưa không thể che mắt thánh. Sự thật mãi là sự thật. Chúa Giêsu biết mưu kế của họ nên Ngài nói thẳng: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình? Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!” Họ thường xuyên bị Chúa Giêsu không chỉ trách mắng mà còn nguyền rủa, nhưng họ cứ trơ trơ. Họ vẫn thản nhiên đưa cho Ngài một quan tiền. Ngài vừa chỉ đồng tiền vừa hỏi họ hình và danh hiệu của ai. Họ trả lời tỉnh queo: “Của Xêda.” Tồi tệ và trơ trẽn! Ngài bảo họ: “Thế thì của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.” Cái gì của ai thì phải trả cho người đó, vì đó là quyền sở hữu của họ, không ai có quyền chiếm hữu bất cứ thứ gì của người khác – dù vật thể hay phi vật thể. Chúa trả lời quá độc đáo. Họ rất ngạc nhiên, và đành im lặng bỏ đi thôi.
Đụng chạm quyền sở hữu của người khác là có tội. Có hai điều Thiên Chúa đã nghiêm cấm: Chớ LẤY của người và chớ THAM của người. (Giới Răn 7 và 10) Thế nhưng có người lại khái niệm lệch lạc thế này: “Cho không lấy, thấy không xin, kín thì rình, hở thì rinh.” Nguy hiểm quá! Cuộc sống có nhiều dạng sở hữu, nhưng cần phải biết phân biệt rạch ròi: Cái gì thuộc về trần tục và cái gì thuộc về tâm linh. Đừng lầm lẫn kẻo mang họa. Nếu khoản luật đó hợp với công bình và bác ái thì phải thi hành.
Tuân theo quyền bính thế gian cũng là vâng lời Thiên Chúa, nhưng chỉ với điều đúng đắn. Alfred Einstein nói: “Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu.” Con người có hai phần – hồn và xác, thế nên cũng có hai dạng trách nhiệm, không thể lẫn lộn. Thánh Phaolô nói về nhà chức trách: “Làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi, vì chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa để giúp bạn làm điều thiện. Nhưng nếu bạn làm điều ác thì hãy sợ, vì họ mang gươm không phải không có lý do. Thật vậy, họ là người thừa hành của Thiên Chúa để giáng cơn thịnh nộ của Người xuống kẻ làm điều ác. Vì lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm.” (Rm 13:3-5) Ở đây đề cập “lương tâm ngay lành” chứ không nói tới “lương tâm lệch lạc.”
Lương tâm bị “chai cứng” hoặc “lệch lạc” là loại lương tâm không thể phân biệt phải – trái. Đó là loại lương tâm nguy hiểm, vì không còn cảm thức tội lỗi. Ngày nay có những người tự xưng là thuộc tổ chức IS (Islamic State – Nhà nước Hồi giáo), họ giết người rất dã man vì cho đó là “chính nghĩa,” là “thánh chiến.” (sic!) Ngay cả các trẻ em vô tội cũng bị họ sát hại dã man. Đã từng có đợt họ hành hạ dã man khoảng 70.000 trẻ em. Niềm tin tôn giáo lệch lạc nên hóa bất nhân!
Thánh Phaolô dặn dò Titô rạch ròi: “Anh hãy nhắc nhở cho ai nấy phải phục tùng và tuân lệnh các nhà chức trách, các người cầm quyền, phải sẵn sàng làm mọi việc tốt, và đừng chửi bới ai, đừng hiếu chiến, nhưng phải hiền hòa, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người.” (Tt 3:1-2) Các mệnh lệnh cách rất mạnh mẽ.
Mọi thứ sẽ qua đi. Tất cả cũng chỉ là phù vân. Sinh ra tay trắng, không mang gì vào trần gian, chết cũng trắng tay, chẳng mang gì ra được. (1 Tm 6:7) Chắc chắn không có gì trường tồn ở thế gian này, ngay cả những gì chúng ta đang sở hữu cũng không thuộc về chúng ta mãi mãi, thậm chí kể cả sự sống: “Chúa lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi.” (Tv 104:29) Những gì chúng ta sở hữu và thuộc về chúng ta mãi mãi chính là các nhân đức, đặc biệt là đức ái. Loại “vật sở hữu” này rất quan trọng, gọi là “công trạng,” vì đó sẽ là chứng cớ hùng hồn bênh vực cho chính chúng ta, chỉ nhờ đó mà chúng ta được trở thành Công Dân Nước Trời – dĩ nhiên trước tiên phải nhờ công cuộc cứu độ của Đức Giêsu Kitô.
Thánh LM TS Tôma Aquinô (1225-1274) rất khôn ngoan khi cầu xin: “Con chỉ muốn Chúa thôi!” Đó là điều duy nhất mà ai cũng phải nỗ lực để khả dĩ “sở hữu” mãi mãi. Thánh TS Gioan Thánh Giá (1542-1591), khi Chúa hỏi “muốn phần thưởng gì,” ngài trả lời: “Xin cho con chịu ĐAU KHỔ và chịu SỈ NHỤC vì Chúa.” Đó là dạng sở hữu rất đặc biệt, đồng thời cũng là trách nhiệm và bổn phận. Có một loại thuế đặc biệt mà chúng ta phải nộp cho Thiên Chúa là tình yêu: Mến Chúa – Yêu Người. Có Chúa thì có tất cả, không có Ngài thì “trắng tay” mọi sự.
Nói về bổn phận phải thực hiện, người Việt có câu: “Ăn cây nào, rào cây nấy.” Người ta cũng có cách nói khác: “Của thiên trả địa.” Đó là nói về tình trạng sở hữu, nhưng mang nghĩa xấu, ý nói rằng cái gì không là của mình thì không thể giữ được, tương tự kiểu nói: “Của phi nghĩa có giàu đâu!”
Không ai lại không có gì sở hữu, hiểu đơn giản là “quyền làm chủ.” Quyền sở hữu liên quan bổn phận, vậy thì ai cũng có bổn phận. Quyền sở hữu là quyền cơ bản nhất của mỗi con người. Thời gian và tự do là đặc ân Chúa ban, nghĩa là chúng ta có quyền sở hữu hai thứ đó. Nhưng chúng ta KHÔNG LÀM CHỦ mà CHỈ QUẢN LÝ, vì chính Chúa Giêsu minh định: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.” (Ga 3:27) Thật vậy, khi nói về một tài năng nào đó, người ta dùng chữ “thiên phú” – tức là “trời cho” đó thôi. Tác giả sách Giảng Viên cảm nhận: “Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân BIẾT KÍNH SỢ NGƯỜI.” (Gv 3:12-14) Vấn đề quan trọng là người nào đó có tài năng mà còn biết kính sợ Chúa mà khiêm nhường hay không. Vả lại, Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15:5) Ảo tưởng thì chết chắc!
Vua Kyrô là người được Thiên Chúa xức dầu, Ngài nói về ông: “Ta đã cầm lấy tay phải nó, để bắt các dân tộc suy phục nó, Ta tước khí giới của các vua, mở toang các cửa thành trước mặt nó, khiến các cổng không còn đóng kín nữa.” (Is 45:1) Ngài giải thoát ai, người đó thuộc quyền sở hữu của Ngài. Chúng ta cũng được Thiên Chúa cứu độ bằng Giá Máu của Đức Giêsu Kitô, Con Một Yêu Dấu của Ngài, vậy chúng ta cũng thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Đức Kitô và mặc lấy Đức Kitô, (Gl 3:27) thuộc dòng dõi Ápraham và được thừa kế. (Gl 3:29) Những ai thuộc về Thiên Chúa thì phải vâng lời Ngài. (Ga 8:47) Đó là bổn phận và trách nhiệm, là “thuế” phải nộp cho Ngài.
Thiên Chúa giải thích: “Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Giacóp, và của người Ta đã chọn là Israel, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta. Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta. Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ, để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta. Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác.” (Is 45:4-6) Thiên Chúa nhấn mạnh tính cao cả duy nhất của Ngài bằng cách lặp đi lặp lại: “Ta là Đức Chúa, KHÔNG CÒN CHÚA NÀO KHÁC.” Minh nhiên là chúng ta chỉ được phép tôn thờ một mình Ngài, mọi thứ khác đều là ngẫu tượng. Như dân Israel, chúng ta được là dân riêng của Ngài. Thật diễm phúc vì chúng ta nhận biết Ngài, tôn thờ Ngài, và không ngừng nỗ lực học bài học yêu của Ngài.
Là phàm nhân, chúng ta hoàn toàn bất xứng, bởi vì “con tim là tro bụi, hy vọng hèn hơn đất, cuộc đời tệ hơn bùn,” (Kn 15:10) nhưng Thiên Chúa vẫn quan tâm, chăm sóc và hết mực yêu thương chúng ta, Ngài còn khuyến khích chúng ta như đã động viên dân Israel xưa: “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta!” (Is 43:1) Chúng ta cũng vậy. Ngày nay có những thứ thuộc về Thiên Chúa, tương tự như dân Israel. Đó là những thứ thuộc quyền sở hữu của Ngài, không ai có thể “đụng chạm” đến. Chúng ta thật diễm phúc: “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8:5)
Mọi sự ở dưới bầu trời này đều có lúc, mọi việc đều có thời. Ngay cả chuyện ăn uống và hưởng những thành quả do công lao khó nhọc mình làm ra, tức là tận hưởng những gì mình sở hữu, điều đó đã là một món quà Thiên Chúa ban tặng rồi. (x. Gv 3:1-12) Tất cả chỉ là phù vân, chúng ta “chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết,” (Tv 49:13) chẳng có gì bền vững, chỉ có Thiên Chúa là Đấng vạn đại trường tồn. (Tv 102:25) Biết mình hữu hạn, biết Chúa vô hạn, để mà hết lòng tôn thờ và tán tụng Ngài. Cảm nhận niềm hạnh phúc này, Thánh Vịnh gia không thể lặng im nên đã mời gọi: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” (Tv 96:1)
Việc chúng ta ca tụng Chúa chẳng thêm gì cho Ngài, nhưng đem lại ơn cứu độ cho chúng ta. Ca tụng Ngài không chỉ là trách nhiệm và bổn phận của chúng ta mà còn là niềm hạnh phúc của chúng ta: “Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người. Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần, vì chư thần các nước thảy đều hư ảo, còn Đức Chúa, Người sáng tạo trời cao.” (Tv 96:3-5) Ca tụng Chúa khi chúng ta may mắn thì dễ thực hiện, nhưng ca tụng Chúa ngay cả khi cuộc đời chúng ta không “xuôi chèo mát mái” là điều khó thực hiện, nhưng làm được vậy mới có giá trị cao. Trong đau khổ tận cùng, ông Gióp vẫn rạch ròi đặt vấn đề với người vợ vô tâm vô tính: “Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao?” (G 2:10)
Sinh ra tay trắng, chẳng có hành lý gì vào đời, nhưng Thiên Chúa vẫn ban cho chúng ta mọi thứ (cả vật chất lẫn tinh thần), thế mà chúng ta vô tâm cho rằng đó là “dĩ nhiên,” đã không biết tạ ơn mà còn “so đo” cho rằng mình không được may mắn như người khác. Thật ra đó là ý mình, không phải Ý Chúa, đôi khi chúng ta chỉ muốn ép Chúa theo ý mình mà thôi.
Thiên Chúa luôn xứng đáng để chúng ta xưng tụng mọi nơi và mọi lúc. Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi: “Hỡi các dân các nước, hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang, hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người. Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện, toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan. Hãy nói với chư dân: Chúa là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.” (Tv 96:7-10) Thật hạnh phúc khi nhận biết và xưng tụng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa duy nhất, không có Đấng nào khác. Đó là sự thật minh nhiên và chắc chắn.
Tất cả là của Chúa, chúng ta chẳng có gì, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm nên trò trống gì, chỉ là đồ vô tích sự. (x. Ga 15:5 và Lc 17:10) Không có lý do gì mà chúng ta lại không tôn vinh và không tạ ơn Thiên Chúa. Có ai đau khổ bằng ông Gióp? Thế mà trong lúc đau khổ đến tột cùng, mất hết mọi sự, từ của cải tới con cái, nhưng ông vẫn “không hề phạm tội cũng không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa.” (G 1:22) Thiên Chúa xác nhận với Satan về ông Gióp: “Chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó: một con người vẹn toàn, ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác.” (G 1:8) Đó là 4 “điểm son” của Thánh Gióp, đồng thời là một tấm gương lớn sáng chói để chúng ta soi vào. Cuộc đời có khi chưa đến nỗi nào mà chúng ta đã than trách đủ thứ. Còn lâu chúng ta mới có thể “xách dép” chạy theo Thánh Gióp. Vác thập giá đâu có sướng, đâu có nhàn, không thể cứ tà tà mà vác rồi đòi hỏi đủ thứ cho mình.
Chúng ta không chỉ phải biết tạ ơn và cầu nguyện cho mình mà còn phải tạ ơn và cầu nguyện cho người khác, đồng thời còn phải biết ơn nhau. Đó là trách nhiệm và bổn phận. Thánh Phaolô cho biết: “Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện, và trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô.” (1 Tx 1:2-3) Đó là sợi dây liên đới trong tình yêu Kitô giáo.
Thánh Phaolô vừa giải thích vừa xác định: “Anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em, vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa. Anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em.” (1 Tx 1:4-5) Lời này cũng nói với chính mỗi chúng ta.
Nhà có gia phong, nước có quốc pháp. Quốc gia nào cũng có hiến pháp – nhưng hiến pháp phải hợp lòng dân, không thể tự ý ra luật “tùy hứng” rồi bắt người khác thực hiện, theo kiểu “luật rừng.” Luật có sau con người. Luật vị nhân sinh, luật vì con người, giúp con người sống tốt hơn và duy trì trật tự. Nên giữ luật nhưng đừng câu nệ luật, cứng ngắc theo “chữ đỏ.” Tương tự, người ta nói rằng “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên.” Trong ba người cùng đi cũng có một người là thầy, có khả năng hướng dẫn hai người kia – tức là có thể “làm luật.” Dù là luật gì cũng không thể để “hành hạ” người khác, mà phải vì yêu thương.
Theo truyền thống Công giáo, Chúa Nhật áp chót của tháng Mười là ngày Khánh Nhật Truyền Giáo, ngày cổ vũ ơn thiên triệu linh mục và dâng hiến. Ngày Thế Giới Truyền Giáo được ĐGH Piô XI khai sinh từ năm 1926.
Lạy Thiên Chúa, ngày và đêm là của Ngài, (Tv 74:16) trời và đất cũng là của Ngài, (Tv 89:12) chúng con chẳng có gì, xin triệt tiêu tính kiêu ngạo trong chúng con và xin đổ máu hồng thương xót đầy tim mọi người để tất cả NÊN MỘT (Ga 17:20-23) theo Thánh Ý Ngài, xin ban ơn thông minh để chúng con sáng suốt biết việc phải làm như Ngài muốn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THu 2023
DANH HỌA VAN GOGH và VIỆC TRUYỀN GIÁO
Danh họa Vincent Van Gogh (1853-1890) đã từng sống với các Kitô hữu ở vùng Borinage (Bỉ) năm 1897. Ông thấy các thợ mỏ ở đó phải làm việc cực nhọc mà lương thấp. Gia đình họ phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày. Ông thấy có vẻ bất công vì ông được sống an nhàn.
Một chiều tối lạnh lẽo, ông thấy một người đàn ông bước đi khó nhọc đến chỗ mình. Van Gogh đưa ông già nằm lên giường, rồi lấy quần áo cho ông già. Van Gogh cũng đã giúp nhiều phụ nữ và trẻ em bị bệnh. Có người cho ông ở trong căn phòng sang trọng nhưng ông từ chối. Ông nói đó là cơn cám dỗ mà ông phải vượt qua để sống vì người nghèo. Ông cho rằng nếu muốn người ta tin mình thì mình phải chia sẻ với họ. Hành động luôn có sức lôi cuốn hơn lời nói suông: “Đức Tin không có hành động là Đức Tin chết” (Gc 2:17 và 26).
Danh họa Van Gogh không là nhà truyền giáo, nhưng ông đã truyền giáo bằng chính hành động cụ thể của ông. Đó là việc làm thiết thực và cấp bách.
Thánh Phanxicô Assisi thường nói với các tu sĩ của ngài: “Đi nơi đâu cũng cứ rao giảng. Hãy dùng lời nếu cần”. Người ta luôn cẩn thận “lắng nghe” những hành động của bạn, nhưng bạn đã, đang và sẽ “nói” gì với họ?
TRẦM THIÊN THU
Cách truyền giáo
RYAN EGGENBERGER
Bạn là người Công giáo và sống yêu thương. Bạn muốn chia sẻ Tin Mừng với những người quen biết, chẳng hạn các đồng nghiệp. Đó là sống dồi dào trong Đức Giêsu Kitô nơi Giáo hội Công giáo và là điều tốt lành!
Chúng ta thường nghe nói rằng người Công giáo và các Kitô hữu gây phiền toái, thúc ép, và cực đoan. Điều này chỉ đúng trong một số ít trường hợp, còn đa số chúng ta đều là những người thân thiện bình thường.
Tuy nhiên, hành động thân thiện khả dĩ chấp nhận không miễn trừ chúng ta đối với việc chia sẻ Tin Mừng. Thật vậy, đó là một trong số ít điều mà chúng ta thực sự phải làm theo lệnh Chúa Giêsu truyền: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28:19-20).
Có nhiều cách để chia sẻ Tin Mừng mà không thúc ép, gây phiền toái và cực đoan. Mục đích là tạo cơ hội để chia sẻ niềm vui về Đức Giêsu Kitô. Cách tốt nhất là “làm bạn với ai đó và đem người đó đến với Đức Kitô”. Hãy thử thực hiện những cách loan truyền Tin Mừng sau đây:
1. Sống hiền lành và hòa đồng
Người hiền lành vui vẻ sẽ thu hút nhiều người khác. Bạn có thể sống vui vẻ và hòa đồng ở mọi nơi mà không gây phiền toái cho ai. Hãy vui cười và sống tích cực. Hãy mặc lấy Đức Giêsu Kitô để nhìn mọi người và mọi thứ bằng con mắt đức tin.
Điều này không có nghĩa là bạn phải tỏ ra ngây ngô. Điều xấu có thể xảy ra, chẳng hạn như đau khổ. Nhưng đối với những người nhìn bằng con mắt đức tin và hiểu biết giáo huấn của xã hội, đau khổ có thể trở thành vinh quang của Thiên Chúa. Niềm vui trong Chúa là sức mạnh của chúng ta. Người ta sẽ “thắc mắc” không hiểu sao bạn lại sống lạc quan trong gian khó như vậy. Đó là tín hiệu tốt!
2. Yêu thương tha nhân
Đó có thể là điều cũ kỹ gây nhàm chán, nhưng đó lại chính là mệnh lệnh của Đức Kitô: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh emThầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34).
Làm sao chúng ta có thể yêu thương tha nhân như Chúa Giêsu yêu thương chúng ta? Có thể chúng ta cho là khó vì không hợp lý. Điều Chúa Giêsu đã làm trên Thập giá vì chúng ta là điều không thể lý giải theo trí tuệ của nhân loại: Chúa Giêsu chịu chết hoàn toàn vì người khác, tức là chúng ta. Như vậy chúng ta cũng phải sống hết mình vì tha nhân. Tại sao? Chúng ta đã được Chúa thương xót thì chúng ta có trách nhiệm và bổn phận phải thương xót tha nhân. Đó là công lý!
3. Phát triển các mối quan hệ
Nhiều người không có những người bạn đúng nghĩa, theo cách nói của người Việt là ít “bạn” mà nhiều “bè”. Đó là một thực tế. Đặc biệt là nam giới, thường chỉ ăn nhậu với nhau vậy thôi, chứ thực sự chưa hẳn là bạn.
Bạn bè với nhau có thể do cùng mục đích, cùng quan điểm, cùng sở thích,... Thực ra ai cũng có thể là bạn của nhau, dù khác nhau về niềm tin tôn giáo, nghề nghiệp, sở thích,… nếu có lòng nhân đạo, tình yêu thương. Tình yêu thương vô điều kiện, mà tình bạn là một dạng yêu thương, thế nên tình bạn không đòi hỏi gì cả.
4. Khuyến khích người khác sống tốt
Nhân chi sơ tính bổn thiện. Sinh ra ai cũng có bản chất tốt. Chúng ta luôn phải cố gắng vươn lên để đạt được điều tốt nhất, và phải nỗ lực tuân theo các giáo huấn của Chúa trong mọi hoàn cảnh, cùng đích là Nước Trời. Lên trời một mình là ích kỷ, nên chúng ta phải kéo người khác cùng lên. Thánh Phaolô nói: “Trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng” (1 Cr 9:24).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)
Loan báo Tin Mừng
Chúa Giêsu nói: “Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân” (Mc 16:15). Đó vừa là lời mời gọi vừa là mệnh lệnh đối với mọi người, không trừ ai, cả nam-phụ-lão-ấu!
LÀM SAO LOAN BÁO TIN MỪNG?
Có 3 điều cần phải làm để chia sẻ Phúc âm:
1. Chuẩn bị tinh thần. Hãy học hỏi Lời Chúa, đọc thêm các tài liệu hữu ích để bổ sung kiến thức: “Hãy cố gắng ra trước mặt Thiên Chúa như một người đã được thử luyện, một người thợ không có gì phải xấu hổ, một người thẳng thắn dạy lời chân lý” (2 Tm 2:15).
2. Chuẩn bị tâm hồn. Hãy cầu xin Chúa ban cho trái tim đầy lòng trắc ẩn để cứu giúp người khác: “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3:9). Hãy cầu xin Chúa thắp lửa nhiệt thành để nhận biết những điều cần thiết trong mối quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu: “Anh em sẽ sống được như Chúa đòi hỏi, và làm đẹp lòng Người về mọi phương diện, sẽ sinh hoa trái là mọi thứ việc lành, và mỗi ngày một hiểu biết Thiên Chúa hơn” (Cl 1:10).
3. Chuẩn bị cách thức. Hãy cầu nguyện. Hãy xin Chúa ban cho bạn lòng can đảm nói về Chúa cho những người mình gặp. Hãy xin Chúa ban cho bạn sự khôn ngoan để bạn có thể làm cho họ những điều họ cần. Hãy cầu xin cho mình là “sứ giả” đã được chuẩn bị để có thể nói với cả lòng nhiệt thành.
LÀM SAO NGƯỜI TA NGHE?
“Làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng?” (Rm 10:14).
Bạn đã đưa ai đến với Đức Kitô? Nếu chưa, tại sao vậy? Có thể bạn nghĩ rằng Thiên Chúa không thể dùng bạn theo cách này, vì bạn có sở trường khác, và điều đó chỉ dành cho một số người được đặc ân để đưa người khác đến với Đức Kitô. Nhưng nếu vậy, tại sao sứ vụ loan báo Tin Mừng được trao cho mọi Kitô hữu? Đức Kitô đã kêu gọi: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28:19). Nghĩa là tất cả chúng ta đều được kêu gọi để loan báo Tin Mừng.
Thật mầu nhiệm khi Thiên Chúa chọn con người để trao sứ vụ loan báo Tin Mừng, họ là những người giao tiếp với Phúc Âm, những sứ giả của Thiên Chúa.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Jesus.org và Crosswalk.com)
Hiền hòa và thanh bần
Từ 13-5 tới 13-10-1917, Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ chăn cừu (Lúcia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto) tại làng Fátima (Bồ Đào Nha) và đưa ra ba Mệnh Lệnh. Một trong ba mệnh lệnh đó là: “Canh tân đời sống”. Nghĩa là phải bỏ lối sống cũ xấu xa mà thực hiện lối sống mới tốt lành hơn. Chắc chắn ai cũng cần cải thiện đời sống, cải thiện càng sớm càng tốt, vì ai cũng là kẻ xấu, là tội nhân: “Không có ai nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa” (Mc 10:18). Vả lại, chính Chúa Giêsu đã gọi chúng ta là kẻ xấu: “Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao? (Lc 11:13).
HIỀN HÒA
Hiền hòa là hiền lành, hiền từ, hiền hậu. Hiền lành là mối phúc thứ nhì trong Tám Mối Phúc (Bát Phúc): “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5:3). Ngược với hiền lành là gây hấn, hung dữ, tà tâm.
Hiền hòa cũng là một nhân đức, và có liên quan nhân đức khiêm nhường. Cả hai nhân đức này rất quan trọng, như những viên đá góc tường cần thiết trong tòa nhà nhân đức và đời sống. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã có lần khuyến khích: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29). Lời khuyến khích này cũng là lời cảnh báo. Cuối cùng, ai “học thuộc lòng” và thực hành được hai nhân đức này sẽ “được nghỉ ngơi bồi dưỡng” trong Đức Giêsu Kitô. Đó là hệ lụy tất yếu vậy!
Khi đặt chúng ta vào cuộc đời, Chúa Giêsu cũng đã dạy chúng ta “phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10:16). Người hiền lành thì luôn có tâm hồn đơn sơ, sống chân thật, không ích kỷ, không tìm tư lợi, nhưng sẵn sàng quên mình, biết dấn thân và biết sống vì người khác. Đó là quyết tâm khiêm nhường của Ngôn sứ Gioan: “Người [Chúa Giêsu] phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3:30).
Về cách sống hiền hòa, Joubert đã khuyến cáo: “Hãy hiền dịu khoan dung với hết mọi người, trừ bản thân mình”. Cao thượng biết bao! Điều đó có nghĩa là đừng khó với người khác, mà hãy khó với chính mình. Dù cũng chỉ là phàm nhân như chúng ta mà ông còn biết sống như vậy thì thật đáng khâm phục. Hiền hòa cũng có phần nào liên quan nhịn nhục và chịu đựng, đó là biết vui vẻ chấp nhận sự thua thiệt, hiền lành và chịu thua thiệt chứ không là nhu nhược.
Ngược lại, hiền lành lại chính là sức mạnh, bởi vì chẳng có ai chống lại người hiền lành. Người hiền lành không tách rời khỏi cái tổng thể, chính cái toàn thể đó là sức mạnh không gì có thể chống lại. Tiền nhân nói: “No mất ngon, giận mất khôn”. Thật chí lý, bởi vì “tảo cấp tắc bại sự” (nóng tính thì hỏng việc), đồng thời đó cũng là tự hại mình.
Người hiền lành là người khôn ngoan. Nói về người vợ đảm đang, sách Châm Ngôn nói: “Nàng khôn ngoan trong lời ăn tiếng nói và dịu hiền khi dạy dỗ bảo ban” (Cn 31:26). Kinh Thánh nói về phụ nữ, nhưng cũng là nói về mọi người, chẳng trừ ai. Hiền lành phải phát xuất từ thâm tâm, không thể giả bộ. Nếu không thật lòng thì có lúc cũng lộ chân tướng, như chiếc kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra vậy. Kinh Thánh đã dẫn chứng: “Những bà mẹ vốn dịu hiền âu yếm lại đang tay nấu thịt con mình, biến chúng thành của ăn” (Ac 4:10). Chất đồng thau không bao giờ có thể hóa thành vàng được!
Tác giả nữ Stef Penney đã viết cuốn “The Tenderness of Wolves” (Sự Hiền Hoà Của Sói – dịch giả: Diệp Minh Tâm, NXB Văn Hóa Saigon). Sách kể về một vụ giết người bí ẩn diễn ra tại Canada vào thế kỷ 19, khắc họa bức chân dung về dòng người nhập cư tới vùng bắc Ontario, thuộc Canada. Đó là vùng đất lạnh lẽo và khắc nghiệt, chấp chới giữa lằn ranh sinh – tử (sống – chết). Có những điều bí ẩn, mưu mô, mê đắm, dũng cảm, xấu xa, đầy kịch tính trong sự sinh tồn giữa vùng đất mênh mông và xa lạ đó. Tác giả Penney tạo ra những nhân vật, người ta tin là thật, từ các yếu tố rời rạc nhau trong một bối cảnh lịch sử để làm sáng tỏ những bí ẩn, cũ cũng như mới. Điều đó cho thấy sự hiền hòa rất cần thiết trong cuộc sống.
Thánh Phaolô cũng động viên chúng ta: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà, rộng rãi, Chúa đã gần đến” (Pl 4:4-5). Lời mời gọi này cũng là lời cảnh tỉnh chúng ta phải mau chấn chỉnh cách sống trong thời gian Thiên Chúa còn chờ đợi vì thương xót.
Thời gian là lúc Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi chúng ta ăn năn sám hối. Nếu còn cứng lòng, đó là chúng ta lợi dụng lòng thương xót của Ngài. Kitô hữu nào cũng biết chắc rằng “Thiên Chúa giàu lòng nhân hậu” (Tv 62:13) và Ngài luôn “nhân hậu đối với kẻ khó nghèo” (Tv 68:11). Nhưng không thể thấy vậy rồi chúng ta không mau sớm canh tân đời sống, cứ tưởng chủ chưa về, cứ tưởng chàng rể đến chậm, để rồi chủ về bất ngờ và chàng rể đến sớm. Lúc đó, không ai có thể kịp xoay xở, vì Đèn Đức Tin lu mờ, Dầu Yêu Mến cũng chẳng còn đủ mà thắp sáng. Tất cả đã muộn rồi!
THANH BẦN
Thanh bần là nghèo khó hoặc khó nghèo – chứ đừng “khó (mà) nghèo”. Nghèo khó trái ngược với giàu sang, thịnh vượng. Nghèo khó còn gọi là nghèo khổ – vì nghèo mà khổ, hai trạng thái thường đi đôi với nhau.
Chúa Giêsu luôn “chạnh lòng thương” người nghèo khổ. Thiên Chúa coi nghèo khó là nhân đức, Ngài đặt nghèo khó mối phúc thứ nhất trong Tám Mối Phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:2). Chúa Giêsu không nói suông, chính Ngài đã nêu gương sống nghèo cả đời: Sinh ra trong cảnh nghèo là Hang Belem, sống nghèo khó với Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse, ba năm rong ruổi khắp nơi trong hoàn cảnh nghèo khó, chịu chết nghèo khó trên Thập Giá. Chúa Giêsu đúng là Đệ Nhất Hàn Vương, dù là Vua nhưng Ngài còn nghèo hơn cả những người nghèo nhất trên thế gian này.
Thánh Phanxicô Assisi, vị lập Dòng Anh Em Hèn Mọn (OFM, Ordo Fratum Minorum), đã noi gương sống nghèo như Thầy Giêsu, nghèo đúng nghĩa theo nghĩa đen chứ không hề “bóng gió” chi cả. Giáo hoàng đương nhiệm là một tu sĩ Dòng Tên, nhưng lại “khoái” tinh thần nghèo của Thánh Phanxicô, nên ngài đã chọn Tông hiệu là Phanxicô, và ngài cũng đang thể hiện “phong cách nghèo” một cách rõ nét.
Trong kinh “Chúc Tụng Các Nhân Đức” (Lobpreis der Tugenden), Thánh Phanxicô viết: “Đức nghèo khó làm cho tất cả tính tham lam của cải, tính hà tiện nhỏ nhoi và những lo lắng thế sự đời này phải bẽ mặt xấu hổ. Thái độ sống khiêm hạ nhu mì sẽ làm cho tính kiêu căng tự cao tự đại và tính ngạo mạn của thế gian phải bẽ bàng xấu hổ”. Tinh thần khiêm nhường, hiền hòa và nghèo khó của Thánh Phanxicô rõ nét trong “Kinh Hòa Bình”, một kinh nguyện bất hủ vì giàu chất nhân đức.
Chúa Giêsu là “vị vua nghèo”, Thánh Phanxicô có thể coi là “hoàng tử nghèo”, còn Giáo hoàng Phanxicô cũng có thể coi là “đại ca nghèo” – vì ngài đã có tinh thần nghèo khó từ khi còn là giám mục ở Argentina. Không ai muốn “bị” nghèo nhưng cái nghèo lại được đề cao. Nghèo khó là một trong ba lời khấn chính của các tu sĩ: Vâng lời, Nghèo khó, Khiết tịnh (Thanh tuân, Thanh bần, Thanh khiết). Phải thể hiện thật chứ không thể giả bộ hoặc chỉ nói suông!
Người nghèo nói chẳng ai nghe, còn người giàu nói gì cũng được người khác nghe, vì “miệng nhà giàu có gang, có thép”. Đó là “phong cách thế tục”, còn đối với Thiên Chúa thì không như vậy, mà hoàn toàn trái ngược. Thật vậy, đối với người nghèo, chúng ta phải thông cảm và chia sẻ, không được coi thường, vì họ cũng là con người với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền – đặc biệt là vì họ cũng là con cái của Thiên Chúa. Thật vậy, “tất cả đều là anh em với nhau” (Mt 23:8).
Văn hào Victor Hugo (1802–1885, Pháp) đã nhận xét: “Ba vấn đề lớn nhất của thế kỷ này: sự tha hóa của người đàn ông trong nghèo khổ, sự khuất phục của người phụ nữ bởi cơn đói, sự teo mòn của trẻ nhỏ vì bóng tối”. Ông nhận xét về thời đại của ông – thế kỷ XIX, nhưng nhận xét đó vẫn đúng trong thời đại của chúng ta ngày nay – thế kỷ XXI.
Đúng là Chúa Giêsu nói rằng “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Ngài chú trọng “tinh thần nghèo khó”, đừng để lòng “dính líu” tới của cải vật chất ngay khi ngồi trên đống vàng, chứ Ngài không khuyến khích người ta cam chịu nghèo nàn và khổ sở. Người ta có thể viện vào cớ đó để ung dung hưởng thụ. Thực tế cho thấy rõ người ta nói rất hay, nói đâu ra đấy, nói nghe có vẻ “thanh thoát” lắm, nhưng cuộc sống người ta lại chẳng “nghèo” chút nào! Chúa Giêsu không chỉ sống “tinh thần nghèo khó” mà Ngài còn sống nghèo khó đúng theo nghĩa đen. Chúng ta cảm thấy thế nào?
Các tu sĩ Phật giáo có thói quen hay là dùng cách tự xưng “bần tăng”. Rất tốt. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở “danh xưng” thì cũng chẳng có gì đáng nói. Tuy nhiên, ít ra cũng là cái để người ta phải “kiềm chế” cho xứng với chức vị của mình. Người có tâm hồn nghèo khó thì vui thích sống tinh thần nghèo khó, và cũng chẳng ngại thể hiện lối sống nghèo khó. Chuyện kể rằng...
Tại tu viện kia có hai thầy dòng nổi tiếng là nhân đức, nhất là về lòng khiêm tốn và kiên nhẫn. Hai thầy chung sống trong một căn nhà nhỏ bé, lo việc cầu nguyện, chăm sóc vườn rau và vườn cây ăn trái. Hai thầy chuyên cần làm việc, đào mương dẫn nước, chăm sóc kỹ lưỡng, thế nên vườn tược lúc nào cũng xanh tươi và cành cây nặng trĩu những trái ngon quả ngọt, nhờ vậy mà có cái để chia sẻ với các thầy ở các tu viện khác. Không chỉ có vườn cây xanh tốt mà còn không thiếu những khóm hoa đẹp, lúc nào cũng tươi nở muôn màu muôn sắc dành để dâng tiến Chúa trong nhà nguyện của tu viện.
Tiếng thơm nhân đức của hai thầy đã đến tai cha bề trên đã cao niên. Một hôm, cha quyết định tới thăm hai thầy để có dịp chứng kiến tận mắt những nhân đức thánh thiện của hai thầy. Vừa trông thấy bóng dáng cha bề trên, hai thầy vội vàng ra cửa đón tiếp một cách vui vẻ, thân tình. Sau mấy phút cầu nguyện trong nhà nguyện, cha bề trên ngỏ ý muốn đi thăm ruộng vườn. Hai thầy vui vẻ dẫn cha bề trên đi xem khắp vườn và chỉ cho thấy từng loại cây ăn trái, từng luống rau, từng khóm hoa,... Cha bề trên vừa bước đi vừa nhăn nhó, tỏ vẻ khó chịu, rồi trách khéo là vườn quá đẹp đối với những kẻ tu hành. Rồi cha bề trên lại dùng cây gậy chống trên tay mà đập vào những cây bắp cải, cây rau xà lách và những bụi hoa gần hai bên lối đi. Trước cử chỉ khác lạ xem như điên rồ của cha bề trên, hai thầy vẫn giữ thinh lặng, không tỏ vẻ hoặc nói lời phản ứng.
Xem vườn tược xong thì gần tới giờ cơm trưa, cha bề trên đang ngồi nghỉ mệt dưới bóng cây, mồ hôi nhễ nhại. Hai thầy đến quì trước mặt ngài và thưa: “Thưa cha, nếu cha cho phép, chúng con sẽ đi thâu nhặt những lá rau không bị hư nát để dọn bữa ăn thanh đạm và mời cha dùng với chúng con”.
Vừa nghe nói vậy, mắt cha bề trên như sáng lên, vì ngài đã nhận ra nhân đức cao quí của hai thầy: Khiêm nhường, hiền hòa, và nghèo khó. Ngài đứng dậy mở rộng vòng tay ôm lấy hai thầy và vui vẻ nói: “Cảm tạ Thiên Chúa, vì thực sự Thần Khí Chúa đang ngự giữa các con ở nơi đây”.
Và chắc hẳn nhiều người còn nhớ ĐGM Paul Raymond Marie Marcel Piquet LỢI (1888–1966, Pháp), Giám mục tiên khởi Giáo phận Tông Tòa Nha Trang (Giáo phận Đông Đàng Trong). Ngài được mệnh danh là “Mục tử Nhiệt thành, Khó nghèo và Nhân hậu”. Mồ côi mẹ lúc mới 6 tuổi, cậu Marcel đặt trọn tình yêu và lòng tín thác vào Người Mẹ trên trời là Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm.
Khi sắp mãn lớp Terminal (tương đương lớp 12) tại Tiểu chủng viện Notre Dame des Champs, ngày 15-09-1908, ngài xác quyết ơn gọi truyền giáo của mình trong thỉnh nguyện thư gởi cha Giám đốc Đại chủng viện Thừa sai Bièvres như sau: “Con không có những tài năng lớn lao, cũng không có những nhân đức cao cả. Nhưng con biết rằng Chúa Nhân Lành gọi con trong Ơn gọi Truyền giáo. Hành trang đức hạnh con mang theo không có những phẩm tính cao quí, nhưng con hiến dâng tất cả những gì con có. Đó là thiện chí của con. Ước muốn quyết liệt của con là sau này trở nên một công cụ hữu dụng trong tay các Bề Trên”. Những lời chân thật và khiêm nhường quá, phải là một tâm hồn thánh thiện mới có được ý tưởng như vậy!
Ngài thụ phong linh mục ngày 27-11-1912, rồi lên đường truyền giáo tại Việt Nam, cụ thể là ngài đặt chân lên miền truyền giáo Qui Nhơn ngày 29-12-1912. Từ đó, ngài lấy tên Việt Nam là Lợi.
Ngày 11-11-1943, ngài được bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Qui Nhơn, được tấn phong giám mục tại nhà thờ Chính toà Qui Nhơn, qua việc đặt tay của Khâm Sứ Toà Thánh là ĐGM Drapier. Ngày 23-06-1961, ngài nhậm chức Giám mục Chính tòa Giáo phận Nha Trang với phương châm: “Ut in omnibus maxime ametur Deus” (Để Thiên Chúa được hết lòng yêu mến trong mọi sự). Trên huy hiệu giám mục có Chiên Con cầm cờ chiến thắng. Ngài qua đời tại Saigon ngày 11-07-1966, an táng tại Nhà thờ Chính toà Nha Trang ngày 18-07-1966.
ĐGM Paul Raymond Marie Marcel Piquet LỢI đúng là một tấm gương sáng để chúng ta cùng soi chung vậy!
TRẦM THIÊN THU
Con đường Tình yêu: Nhận biết Ơn gọi
(Theo Thánh Thomas Aquinas, Thánh Inhaxiô, và Chân phước GH Gioan PhaolôII)
Tác giả Joseph Bolin
Đối với người Công giáo, có 2 cách chọn đường đi trong cuộc sống. Người ta có thể bắt đầu bằng suy nghĩ về mục đích sống, và suy nghĩ về điều gì sẽ hữu ích nhất trong việc đạt mục đích đó, hoặc người ta có thể tự vấn về điều Thiên Chúa muốn mình làm trong cuộc sống. Các phương pháp này khác nhau và bổ túc lẫn nhau, nhưng chỉ khi nào sách về ơn gọi áp dụng 2 phương pháp khác nhau cơ bản này. Cuốn sách này nhằm kiểm tra 2 phương pháp cơ bản này đối với vấn đề ơn gọi, những thuận lợi và những nguy hiểm tiềm ẩn của mỗi phương pháp, và đề nghị cách nhìn đơn giản về những ơn gọi tìm cách duy trì những lợi ích của mỗi phương pháp. Không như đa số những sách khác về ơn gọi, sách này không là một luận thuyết thần học hướng dẫn những người trí thức, cũng không là sách hướng dẫn ơn gọi, mà gồm những lời khuyên chi tiết về cách chọn ơn gọi. Hơn nữa, sách này tìm cách đưa ra viễn cảnh sâu xa mà đơn giản và khả dĩ tiếp cận về ơn gọi, cho cả những người tìm kiếm ơn gọi và các vị linh hướng về ơn gọi để có nền tảng vững chắc, có thể hình thành phán đoán tốt về những tình huống đặc biệt mà họ đang xử lý.
Bất kỳ phương pháp nào chúng ta áp dụng cho ơn gọi thì sự tập trung chú ý vẫn phải là tình yêu. Mỗi ơn gọi phải được tập trung xoay quanh tình yêu, vì chính nhờ tình yêu mà chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, và mọi người tìm thấy sự viên mãn nơi Ngài. Do đó, đời sống chúng ta sẽ hoàn thiện hơn, tới mức mà tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn. Yêu cầu cơ bản để sống trong tình yêu là chúng ta tuân giữ các giới răn. Thánh Gioan nói: “Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Ngài” (1 Ga 5:3). Thêm vào các giới răn, chúng ta được trao những lời khuyên hữu ích để phát triển trong tình yêu. Nhưng chính tình yêu phải luôn luôn duy trì tiêu chuẩn mà cách chọn lựa của chúng ta được đo lường. Yếu tố quyết định trong ơn gọi là sự hiến dâng để theo đuổi sự phát triển không ngừng trong tình yêu. Cường độ của tính kiên định của sự quyết tâm theo đuổi sự thánh thiện bằng cách dùng phương tiện chúng ta sử dụng, đó là điều rất quan trọng hơn cả phương tiện chúng ta chọn. Chẳng hạn, nên tìm kiếm sự thánh thiện trong hôn nhân toàn tâm toàn ý hơn là tìm kiếm sự thánh thiện trong đời sống tu trì toàn tâm toàn ý. Nhưng khi hiến dâng, chúng ta sẽ phát triển trong tình yêu chắc chắn hơn và mau chóng hơn nếu chúng ta sống theo cách thích hợp với việc phát triển trong tình yêu, chẳng hạn bằng cách sống theo lời khuyên Phúc âm (evangelical counsels).
Khi chọn con đường riêng để sống sẽ dẫn đến tình yêu, phương pháp của thánh Thomas là suy nghĩ về sự tốt lành khách thể và tính khả dĩ của cách sống. Chẳng hạn, ngài nói rằng không cần phải suy nghĩ lâu dài trước khi quyết định đi tù, vì “như thế chắc chắn tốt hơn” và “vì những người đi tu không dựa vào sức mạnh riêng mình”1 nhưng tin cậy Thiên Chúa ban sức mạnh cần thiết để mình sống ơn gọi đó. Nhưng người ta phải tìm kiếm ý muốn đi tu từ Thiên Chúa, thánh Thomas nói rằng nếu ước muốn đó chân thật, vì ý hướng tốt, đó là từ Thiên Chúa. Không thành vấn đề nếu Thiên Chúa có là nguồn trực tiếp của động thái đó hoặc tìm cách lôi kéo ai đó đi tu hay không. Thậm chí nếu chính ma quỷ là nguồn trực tiếp của ý muốn này thì chính ý muốn đó vẫn tốt, và cuối cùng vẫn từ Thiên Chúa.
Thánh Teresa Avila đã sống và hành động theo các quy luật này của thánh Thomas. Bà thấy điều gì tốt thì nhất quyế làm. “Mặc dù tôi không tiếp tiếp tục có ý muốn làm nữ tu, tôi vẫn thấy đó là cách tốt nhất và an toàn nhất, và cứ dần dần, tôi quyết định bắt mình ấp ủ điều đó”2 Bà tiếp tục nói về cách mà Thiên Chúa thưởng cho “sự mãnh liệt” như vậy (x. Mt 11:12) với chính điều đó. “Khi tôi đã quen, Thiên Chúa liền cho tôi hiểu và cách Ngài ủng hộ những người ép buộc chính mình trong việc phụng sự Ngài”3
Tương phản với thánh Thomas, thánh Inhaxiô Loyola mới đầu coi đó là “tìm kiếm Ý Chúa”. Thánh Inhaxiô đưa ra “3 cách” để người ta có thể chọn cách sống hợp với Ý Chúa: (1) Khi người ta có kinh nghiệm trực tiếp về điều chắc chắn là Ý Chúa, và điều đó hướng dẫn người ta về cách sống; (2) Khi mà nhờ nhiều kinh nghiệm và sự tìm kiếm sự tác động của Chúa Thánh Thần, người ta hiểu rằng Chúa Thánh Thần đang mời gọi hoặc lôi kéo người ta vào cách sống nào đó, hoặc ý muốn đó phát xuất từ Chúa Thánh Thần; (3) Khi bắt đầu bằng một thái độ tách biệt đối với các tạo vật, và nếu có thể, bằng sự yêu thích những gì phù hợp hơn với Ý Chúa, người ta cẩn trọng chọn cách sống đó là cách pụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn.
Mỗi phương pháp này đều có thuận lợi riêng và nguy cơ riêng. Phương pháp của thánh Thomas có thuận lợi về khách quan hơn, do đó ít có khả năng lừa dối, nhưng cũng có nguy cơ là quá trừu tượng, và do đó quá xa rời thực tế và sống kết hiệp với Thiên Chúa. Phương pháp của thánh Inhaxiô có thuận lợi là riêng tư hơn, nhưng cũng có nguy cơ là ơn gọi sẽ được coi là gánh nặng bắt buộc (obligatory burden) bị Thiên Chúa áp đặt, không là lời mời gọi tự do sống tình yêu lớn lao hơn. Thánh Anphong Ligouri và Von Balthasar có vẻ có sai lầm này, vì quá nhấn mạnh vào đặc tính riêng của ơn gọi.
Nhưng dù 2 phương pháp này có những điểm khác biệt cơ bản, cuối cùng chúng vẫn tương thích. Một mặt nó khách quan tốt hơn để theo Ý Chúa hơn theo ý mình. Một mặt cho thấy khi chúng ta tìm kiếm Ý Chúa, chúng ta sẽ nhận thấy có những cái để xác định Ý Chúa không chỉ đặc biệt mà còn tổng quát và khách quan. Như vậy thánh Anphong, theo phương pháp tổng quát của thánh Inhaxiô, không cói các dấu hiệu của Ý Chúa là điều phải có để người ta nuôi dưỡng ý hướng tu trì; người ta chỉ cần 2 dấu hiệu như thánh Thomas yêu cầu: Ý hướng vừa tốt lành vừa kiên định, và không trở ngại.
Nếu chúng ta áp dụng trường hợp người ta không trở ngại, và dịnh hướng tích cực – phải thích hợp cách sống – rồi chúng tacó những điều kiện chính mà Giáo hội đòi hỏi về ơn gọi. Về yếu tố đầu tiên, ý muốn kiên định và muốn có cách sống đặc biệt (giả sử cách chọn đó hợp pháp và tốt lành), là cần thiết cho ơn gọi, mà thánh Phanxicô Salê nói rằng ước muốn kiên định như thế chính là ơn gọi. Tuy nhiên, đối với sự kiên định của ơn gọi, chúng ta vẫn cần điều kiện thứ ba, nghĩa là sự chấp thuận của Giáo hội. Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta tới sự thánh thiện đơn giản là những cá nhân, mà là các thành viên của Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì thế, nhiệm vụ của Giáo hội là trắc nghiệm và phê chuẩn ơn gọi, nhất là ơn gọi tu trì và linh mục.
Các phương pháp của thánh Thomas và của thánh Inhaxiô không chỉ tương thích về lý thuyết, mà còn liên kết tới một mức nào đó theo phác thảo về ơn gọi của chân phước GH Gioan Phaolô II. Theo mô tả của ngài, ơn gọi luôn bắt đầu với Chúa Kitô, Đấng đến với mỗi cá nhân trong tình yêu, hướng dẫn người đó tìm ra cách sống thích hợp với tình yêu đó. Khi cầu nguyện đối thoại với Chúa Kitô, ngài đã kiểm tra những trường hợp riêng của ngài để tìm ra con đường sống mà ngài có thể biến nó thành tặng phẩm của mình trong tình yêu.
Phương pháp kết hợp này có thể là cách tốt nhất để suy nghĩ về ơn gọi. Mục đích cuối cùng của sự suy nghĩ cân nhắc nên đáp lại tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, ưu tiên việc “tìm kiếm” ơn gọi, hoặc “quyết định” cách sống, chúng ta phải cố gắng ưu tiên thanh luyện tâm hồn mình, để yêu thật và tìm kiếm Chúa trên hết mọi sự, và đưa tình yêu vào việc chọn cách sống. Chỉ khi đó chúng ta mới sử dụng tặng phẩm Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta – khối óc và con tim – để quyết định về cách sống.
Khi tìm kiếm ơn gọi, yếu tố này hay yếu tố khác – khối óc hoặc con tim – có thể giữ vai trò chủ đạo. Mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng ý chí: sau khi suy nghĩ và cân nhắc các yếu tố thích hợp, chúng ta có thể biết cái gì là phương tiện tốt nhất để thực hiện tình yêu và phát triển trong tình yêu, và hãy chọn phương tiện đó. Hoặc mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng con tim: trong vài cách có thể cái nào cũng tốt để thực hiện tình yêu và phát triển nó trong tình yêu, chúng ta có thể chọn cách mà chúng ta có khuynh hướng nhiều – không theo xu hướng thoáng qua, nhưng là khuynh hướng bền vững, nghĩa là theo tình yêu đích thực.
Khi suy nghĩ và chọn cách sống, chúng ta nên luôn nghĩ rằng con đường chúng ta chọn không là ý muốn riêng mình, mà là thiết kế của Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta ở một vị trí riêng trong thế giới, cho nên chúng ta có thể chọn con đường riêng để đến với Chúa. Và như vậy, sau khi đã chọn con đường để sống, chúng ta nên tạ ơn Chúa về tình yêu của Ngài, cơ hội và lời mời gọi yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta.
Ý muốn kiên định nên theo cách chọn lựa của chúng ta. Ý muốn kiên định này sẽ làm cho chúng ta có thể tận hiến để thực hiện việc yêu mến Chúa và tha nhân theo cách chúng ta đã chọn, và kiên trì trong mọi khó khăn. Ý muốn kiên định này là muốn phụng sự Thiên Chúa theo cách sống mà thường tạo ra sự bình an tâm hồn. Sự bình an tâm hồn liên quan cách chọn riêng là dấu hiệu kiên định của ơn gọi, và có thể được gọi là dấu hiệu của ơn gọi.
Phương pháp trực tiếp này là cách tiếp cận ơn gọi. Giữa cách của thánh Thomas và của thánh Inhaxiô, thực sự có nhiều cách khác mà chúng ta có thể dùng để chọn cách sống. Vấn đề là thanh tẩy tâm hồn chúng ta, chân thành sống vì tình yêu lớn lao hơn, luôn tuân phục các giáo huấn của Giáo hội và tuân theo sự cẩn trọng Kitô giáo, đồng thời cởi mở theo sự tác động của Chúa Thánh Thần, dù Ngài đưa dẫn chúng ta đi đâu. Việc tìm kiếm và theo đuổi ơn gọi không nên là máy móc hoặc xử lý lo âu, mà là sống và vui mừng với Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự” (1 Ga 3:20).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ PathsOfLove.com)
1 St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae II-II 189:10
2 St. Teresa of Avila, Autobiography, Ch. 3
3 Ibid., Ch. 4
October 31, 2023