| |
Lễ Chúa Phục Sinh A- 20-4-2014
Hãy Sinh Nhiều Hoa Trái (Lc 24:13-35)
Lễ Phục Sinh năm nay rơi vào ngày 20-4-2014. Đây là thời gian của Mùa Xuân thiên nhiên. Ở thời điểm này chúng ta thấy có một sự thay đổi rất lớn là những cành cây khô cằn trụi lá, tưởng đã chết đi bỗng phục hồi sức sống và trổ lá đơm bông, xanh tươi đẹp mắt. Đức Giêsu thật sự đã chết đi và được mai táng trong mộ đá rõ ràng, thế mà 3 ngày sau Ngài đã phục sinh huy hoàng. Thiên nhiên cũng từ bàn tay Chúa làm ra còn lạ lùng như vậy thì chính Thiên Chúa là tác giả của mọi sự sống lại không làm cho chính Ngài phục sinh được sao? Sự kiện Chúa phục sinh trong Phúc Âm bị các Thượng Tế và Biệt Phái bóp méo một cách sơ hở và quá trẻ con. Phúc Âm Thánh Matthêu ghi lại: “Các ông ấy cho lính một số tiền lớn, rồi dặn rằng cứ nói với cấp trên ban đêm chúng tôi lúc đang ngủ thì môn đệ đến lấy xác ông ấy đi.” Vô lý ở chỗ là đang ngủ thì làm sao biết có người đến lấy xác Chúa đi, tức là câu này tạo ra. Rồi tại sao phải cho lính 1 số tiền lớn, phải chăng để mua chuộc, hoặc để ém nhẹm chuyện này đi? Cái vô lý nữa là các băng vải quấn khi liệm xác Chúa đều xếp lại ngay ngắn và để sang một bên. Nếu môn đệ lấy trộm xác Chúa đi thì phải lấy cho mau chứ ai dại gì tháo băng vải rồi xếp lại ngay ngắn như vậy. Phúc Âm còn viết lại trong thời gian đó các môn đệ Chúa đều sợ người Do Thái nên ở trong nhà đóng kín cửa lại. Vậy thì có cho ăn gan cọp mấy ông cũng không dám đến lấy trộm xác Chúa khi mà có lính canh như vậy.
Chúa Phục Sinh là 3 chữ mang lại cho chúng ta sự Vui Mừng, niềm Hy Vọng bởi vì theo Thánh Phaolô “Nếu Chúa không phục sinh thì Đức Tin của chúng ta ra vô ích” Ở nơi Chúa Giêsu có 2 bản tính: Thiên tính và nhân tính, nghĩa là Chúa vừa là người thật vừa là Thiên Chúa thật. Là người thật thì mới có thể chết, là Chúa thật thì việc đền tội cho chúng ta mới có giá trị, vì tội là cái gì xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng cao cả vô cùng, phải có ngôi vị Thiên Chúa vô cùng thì mới đền nổi. Chúng ta vui mừng vì tội của chúng ta đã được tẩy xóa. Nước Trời trước đây đóng lại vì tội Adam phạm, bây giờ mở ra vì hồng ân Đấng cứu thế ban tặng. Bất hạnh biết bao nếu chúng ta sinh ra trong đời này mà cuối cùng không được cứu độ. Chúng ta hy vọng vì Chúa phục sinh là dấu chỉ chúng ta sẽ phục sinh với Ngài sau này.
Cây khô nhưng đến mùa Xuân thì phát sinh ra lá tươi và quả tốt. Thiên nhiên còn có phục sinh. Tại sao tâm hồn chúng ta không phục sinh được? Điều Thiên Chúa đã làm thì đã làm, Ngài làm rất nhiều và rất lớn, nhưng phần chúng ta phải cộng tác, dù sự cộng tác rất bé nhỏ nhưng lại rất quan trọng. Bởi vì “Thiên Chúa dựng nên chúng ta không cần đến chúng ta, nhưng Ngài không thể cứu chuộc chúng ta nếu không có chúng ta.” Không phải vì Ngài bất lực nhưng vì Ngài trọng tự do của mỗi người. Thiên Chúa là Tình Yêu, tình yêu đó ban phát không mỏi mệt nhưng tình yêu đó cũng không bao giờ cưỡng ép.
Với ơn thánh Chúa, với sự cộng tác của mỗi người chúng ta có thể sinh ra những hoa quả tốt tức là những việc lành. Việc lành thì không thiếu trong đời sống, chỉ có thiếu lòng muốn và sự hy sinh của chúng ta mà thôi. Tham dự Thánh Lễ mỗi ngày nếu được, đó là 1 việc lành rất tốt. Rồi thăm viếng bệnh nhân, lần hạt Mân Côi, quét dọn nhà cửa, chở con đi học, nấu cơm giặt giũ, nói lời khích lệ, cười với tha nhân, cho tiền kẻ khó, nhẫn nhục chịu bệnh, giúp việc giáo xứ... đó là một số những việc lành có trong tầm tay nếu làm với lòng yêu mến Chúa.
Năm 2013 tôi đọc trên internet một câu chuyện rất hay và cảm động là cô bé 5 tuổi tên là Phoebe Russell đã đi lượm vỏ lon và quyên góp được 3,736.30 đô la trong vòng 2 tháng rồi trao cho ông Paul Ash, giám đốc điều hành ngân hàng thực phẩm (chuyên nuôi ăn những người vô gia cư). Với số tiền này đủ để trang trải 1 bữa ăn cho 17,800 người vô gia cư tại thành phố San Francisco. Công việc như sau: bé nhờ cô giáo lớp mẫu giáo dọn 1 lá thư đơn sơ, rồi chính tay bé viết những chữ nguệch ngoạc gửi đi cho 150 gia đình, bạn bè, trường học và hàng xóm. Thư như sau: “Các gia đình và các bạn thân mến... dự án của tôi là nhằm quyên thật nhiều tiền cho ngân hàng thực phẩm San Francisco. Họ cần tiền. Tôi giúp họ bằng cách gom những vỏ lon soda. Các bạn làm ơn để dành những vỏ lon đó và mang tới trường mẫu giáo With Care”. Kết quả là cô bé nhận được 50 thư trả lời. Rồi những lời bàn tán đồn đi xa và những ngân phiếu gửi về, 5$ , $10, $20... Và chính bé tự tay viết thư cám ơn tất cả những người ủng hộ dù ít hay nhiều. Khi bạn bè ra sân chạy nhảy thì bé bận đếm tiền và viết thư cám ơn. Đó là 1 cách sinh hoa quả tốt. Đó là gương bác ái của 1 em nhỏ 5 tuổi. Còn chúng ta? Chúng ta nghĩ sao? Và chúng ta sẽ làm gì sau Lễ Phục Sinh này?
Kính chúc Quý Vị một mùa Phục Sinh lành thánh và một cuộc đời sinh nhiều hoa trái thơm ngon.
Lm. Phạm Hữu Độ, CMC 2014
PHỤC SINH – THỰC TẾ HAY HUYỀN THOẠI?
(LỄ PHỤC SINH – Năm A)
Cho đến tận ngày nay biến cố Phục Sinh vẫn còn là một huyền thoại đối với con người chỉ thích được “thực mục sở thị” (trông thấy nhãn tiền). Không chỉ ở bên ngoài Ki-tô giáo, mà ngay trong Giáo Hội cũng vẫn còn không ít Tôma-thời-đại cứ đòi được “xỏ ngón tay vào lỗ đinh, thọc bàn tay vào cạnh sườn” Đức Giê-su mới chịu tin. Chuyện đó cũng dễ hiểu, vì bản chất con người là thế. Nói về một chuyện cách xa cả 20 thế kỷ, mà cứ đòi được trực diện quan sát thì quả là không tưởng! Đến ngay như người đương thời, nhất là những kẻ ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ với Đức Ki-tô, được “thực mục sở thị” mà khi biến cố xảy ra cũng không thiếu những suy nghĩ trái chiều.
Xin thử đặt mình vào thời điểm cách đây hơn 2000 năm, với một nhãn quan của một trong những người-còn-hoài-nghi, để nhìn vào hiện tượng “Giê-su Na-da-ret” qua biến cố Phục Sinh. Trước hết, ngay ở chính quê hương Na-da-ret, chàng thanh niên Giê-su là con ông thợ mộc Giu-se khiêm tốn và bà Maria nội trợ hiền lành, cũng không có tiếng tăm gì, chẳng mấy ai biết đến, thậm chí sau một thời gian dài đi xa trở về, chẳng được ai đón tiếp, đến nỗi chàng phải thốt lên: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi" (Mt 13, 57), rồi còn nói: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." (Mt 8, 20).
Những lời phát biểu của chàng, nếu không là những câu chuyện dụ ngôn khó hiểu, thì cũng chỉ là những lời tréo cẳng ngỗng, nếu không muốn nói là nghịch thường, phi lý. Chẳng hạn như: “Hãy để người chết chôn người chết” (Lc 9, 60); "Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.” (Mt 10, 34-35); “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”. (Mt 5, 44); ”Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10, 39). Đó là chưa kể – nói theo đám kinh sư, luật sĩ Pha-ri-sêu – Người còn nói “phạm thượng” nữa (Lc 5, 21), dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa (Lc 22, 70; Ga 13, 34), rồi còn tự coi mình vừa là con lại vừa là Chúa của vua Đa-vit (Lc 20, 41-44 ). Chưa hết, về giao du, sinh hoạt, Người chỉ chuyên “ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi” (Mt 9, 10-11).
Nếu không được ở liền bên Đức Giê-su hàng ngày, mà chỉ được nghe thuật lại những lời nói và hành động như nêu trên, chắc chắn sẽ cho Người chỉ là một chàng trai tự phụ, đại ngôn vậy thôi. Đám kinh sư và luật sĩ Pha-ri-sêu chống đối Người cũng là vì thế. Khoan thử nói đến những người ở bên ngoài Giáo Hội, mà hãy nói thẳng vào những người đã tin và đi theo Đức Giê-su như tìm đến một cứu cánh cho cuộc đời. Họ đi theo Đức Giê-su vì tin rằng mình sẽ trở nên những kẻ "lưới người như lưới cá". Rồi thì ngày ngày được nghe lời dạy bảo, được chứng kiến biết bao nhiêu phép lạ, mà vẫn còn bán tín bán nghi (khi thì coi Thầy mình đúng là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật; khi thì lại coi Thầy là ma, là bị quỷ ám – Mc 3, 22 ; Lc 24, 37-39 ; Ga 8, 52 ; 10, 20...). Theo Thầy ròng rã 3 năm liền mà đến giờ phút quyết định, thì bỏ mặc Thầy mướt mồ hôi máu khi cầu nguyện trên núi Cây Dầu, còn mình thì thản nhiên ngủ khì (Mt 26, 36-45). Đến khi Thầy bị bắt giải đi thì chẳng thấy ai đi theo, ngoài một Phê-rô lảng vảng bên ngoài nhà Cai-pha, để rồi thì chối phăng Thầy 3 lần liền trong một đêm chỉ vì một đứa tớ gái vặn hỏi.
Trên đường lên Núi Sọ, cũng chẳng thấy môn đệ nào đi gần bên (để được như Si-mon – một dân quê xa lạ – vác đỡ thập giá, hoặc như một Vê-rô-ni-ca trao khăn cho Người lau mặt đầy máu), nếu có đi theo cũng chỉ ở xa xa hoặc lẫn trong đám người hiếu kỳ. Cho đến khi Đức Giê-su chết trên thập giá và được mai táng, thì hầu như chẳng còn một ai tin rằng Thầy mình sẽ sống lại. Ngay đến sáng ngày thứ ba, các phụ nữ – sau khi được chứng kiến Đức Ki-tô Phục Sinh hiện ra – đến báo tin cho các môn đệ (trong đó có Phê-rô) mà các ngài vẫn còn chưa tin hẳn và một lần nữa lại tưởng Người là ma! (“Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin… Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: "Bình an cho anh em!" Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” – Lc 24, 11…37). Thậm chí cho đến lúc trắng đen rõ ràng rồi, vậy mà vẫn còn một Tô-ma "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (Ga 20, 25).
Tuy nhiên, chính cái mâu thuẫn nội tại trong con người các môn đệ lại là một bằng chứng sống động nhất cho biến cố Phục Sinh. Thật thế, khi người ta mang một tâm trạng hoài nghi thì khó lòng làm cho người ta tin tưởng được. Chẳng thế mà thế giới đã có cả một chủ thuyết hoài nghi hiện diện (không tin vào bất cứ sự gì, nên sống hôm nay không cần biết đến ngày mai). Nhưng nếu đến một lúc nào đó, được "nghe", được "thấy tận mắt"" ("thực mục sở thị"), được "chiêm ngưỡng", tay được "chạm đến" (như trường hợp Gio-an thánh sử – 1Ga 1, 1), tâm trạng hoài nghi thực sự được gỡ bỏ; thì lúc đó niềm tin của họ sẽ kiên định không gì lay chuyển nổi. Cho nên có thể nói: Nếu không vì cái tâm trạng hoài nghi đã từng dằn vặt tâm trí trước đó, thì khi được gột rửa (được thanh tẩy "trong Thánh Thần và lửa" – Mt 3, 11), niềm tin của các môn đệ tiên khởi không thể kiên định được đến độ dám đem cả sinh mạng của mình ra để làm chứng cho mầu nhiệm Phục Sinh. Nói cách khác, đức tin có vượt qua được thử thách mới trở nên kiên định (Gc 1, 3), vàng được thử lửa (1Pr 1, 7) mới thật sự là vàng ròng.
Đến ngay như Đức Giê-su Thiên Chúa nếu không trải qua cuộc Khổ Nạn (với những vết đòn roi trên thân xác, mão gai trên đầu, dấu đinh ở chân tay và nhất là vết thương ở cạnh sườn bị lưỡi đòng tội ác đâm thấu con tim) thì sự Phục Sinh của Người cũng chẳng còn ý nghĩa gì. Vì thế, vấn đề đặt ra với người Ki-tô hữu ngày hôm nay khi bước vào Tuần Thánh, chuẩn bị cử hành Tam Nhật Vượt Qua, không chỉ là tưởng niệm cuộc khổ nạn của Đức Giê-su Ki-tô và ăn mừng Lễ Phục Sinh đánh dấu mầu nhiệm Vượt Qua vinh hiển của Người, mà còn là làm sao vượt qua được chính mình trên hành trình dương thế, ngõ hầu tiến về được quê Trời vui hưởng hạnh phúc đời đời. Một cách cụ thể, chúng ta chỉ có thể đạt được ước vọng đó khi chúng ta được “cùng chết với Đức Ki-tô” (thử thách, thử lửa). Và chỉ có “cùng chết với Đức Ki-tô” thì mới được “cùng sống lại với Người”. Cụ thể hơn, cần phải vượt qua được bản chất “sợ chết” cố hữu của con người. Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi loài người, vậy thì tại sao loài người lại không sẵn sàng chết vì tội lỗi của chính mình, để hy vọng được thực sự “sống lại” trong Nước Trời vinh quang?
Mỗi năm chỉ có một Mùa Chay 40 đêm ngày hãm mình ép xác, ăn năn sám hối. Mỗi Mùa Chay cũng lại chỉ có một lần cử hành Tam Nhật Vượt Qua. Ngoài ý nghĩa trọng đại của Tam Nhật Vượt Qua như đã dẫn ở đầu bài viết, tôi cứ muốn nghĩ thêm rằng tôi phải thực hành (không chỉ là cử hành) cho kỳ được công cuộc vượt qua được Mùa Chay của bản thân tôi, của cuộc đời tôi. Và nhất là làm thế nào để mỗi năm thêm một lần tôi ghi dấu được cuộc vượt qua bằng một cái mốc thời gian trong cuộc đời. Tôi phải sống làm sao cho đúng với ý nghĩa “sống là chấp nhận vượt qua, vượt qua mọi cám dỗ ngọt ngào, mọi đam mê thấp kém, vượt qua mọi gian lao nguy hiểm, mọi thử thách nghiệt ngã – vượt qua được chính mình”. Cuộc sống của tôi không chỉ là mỗi năm một lần cử hành Tam Nhật Vượt Qua, mà phải là thực hành liên lỉ cuộc “bách-niên-vượt-qua”, cho tới ngày tới được cùng đích của cuộc đời. Ở đó, chính Người-đã-chết-cho-tôi, đã Vượt-Qua-sự-chết-vì-tôi, sẽ dang rộng vòng tay đón nhận tôi để tôi được cùng-sống-lại-với-Người.
Có thể ai cũng đã quen với lối diễn tả sống đức tin vào sự Phục Sinh là chết đi con người cũ của mình để sống đời sống mới trong Thánh Thần. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: Nói thì thật dễ, và chính vì tưởng dễ như vậy nên mới vênh vang tự đắc; nhưng làm thế nào để có thể “chết đi con người cũ của mình” mới là thiên nan vạn nan. Và vì thế, để thực hiện sống niềm tin Phục Sinh cách thực tế và sống động, chỉ có một bí quyết, đó là: “Lý do khiến anh em vênh vang chẳng đẹp đẽ gì! Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao? Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. Quả vậy, Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ.” (1Cr 5, 6-8).
Vâng, người Ki-tô hữu “ăn mừng đại lễ Phục Sinh” cũng có nghĩa là sống mầu nhiệm Phục Sinh, sống với “lòng tinh tuyền và chân thật”. Cuộc đời Ki-tô hữu là một tiến trình “loại bỏ men cũ để trở thành bột mới”. Cuộc loại bỏ và trở thành ấy diễn ra trong mọi quyết tâm và nỗ lực là “trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô” (“Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết.” – Pl 3, 10-11).
Tóm lại, để sống trọn hảo Mùa Chay thánh 2014, người Ki-tô hữu hãy mau mắn đáp lại mong ước của vị Cha Chung (ĐTC Phan-xi-cô): “Anh chị em thân mến, ước gì Mùa chay này thấy được toàn thể Giáo Hội sẵn sàng và mau mắn làm chứng cho những người đang sống trong tình trạng lầm than vật chất, luân lý và tinh thần: làm chứng về sứ điệp Tin Mừng, được tóm tắt trong việc loan báo tình thương của Chúa Cha từ bi, sẵn sàng ôm lấy mỗi người trong Chúa Ki-tô. Chúng ta có thể thi hành điều ấy theo mức độ chúng ta được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, Đấng đã trở nên nghèo và làm cho chúng ta được giàu sang bằng cái nghèo của Ngài. Mùa Chay là mùa thích hợp để cởi bỏ, làm cho chúng ta tự hỏi đâu là điều chúng ta có thể chịu thiếu để giúp đỡ và làm cho người khác trở nên phong phú nhờ cái nghèo của chúng ta.”
Quả thật “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại.” (Rm 6, 4-5). Và chỉ đến khi đó, tôi mới thật sự vui mừng mà hoà chung tiếng hoan ca với mọi người: Chúa đã sống lại hiển vinh! Alleluia! Alleluia! Ôi, lạy Chúa! Con đã tự ru mình vào những cám dỗ ngọt ngào của ba thù, đã tự kết án mình, đã chết vì chính tội lỗi của con. Xin cho con vượt qua được mọi nỗi thống khổ trần ai, vượt qua được chính mình, để được cùng sống lại với Ngài trong ngày sau hết. Amen. Alleluia! Alleluia!
JM. Lam Thy ĐVD.
Câu chuyện phục sinh
Phần 1
Một đám đông chào đón người đàn ông bước vào thành phố. Họ cổ vũ và ca ngợi ông khi ông bước vào cổng thành. Nhưng ngay sau đó, cũng đám đông ấy yêu cầu cái chết của người đàn ông này. Ông sẽ phải chết. Nhưng cái chết của ông không phải là kết thúc của câu chuyện. Trong thực tế, nó sẽ bắt đầu với một câu chuyện mới - những câu chuyện của một phép lạ dành cho tất cả mọi người. Các Kitô hữu trên toàn thế giới kỷ niệm sự kiện này vào Lễ Phục Sinh. Mỗi mùa xuân, các Kitô hữu nhớ và kể lại câu chuyện này. Đó là câu chuyện Phục Sinh.
Câu chuyện bắt đầu khoảng 2000 năm trước đây tại thành phố Jerusalem, ở tỉnh La Mã cổ đại của Palestine. Đây là kỳ nghỉ Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Trong kỳ nghỉ này, người dân hồi tưởng cách mà Thiên Chúa dẫn họ thoát khỏi ách nô lệ của hàng trăm năm trước. Nhiều người Do Thái tập trung ở Jerusalem để mừng phép lạ Lễ Vượt Qua. Vào ngày này, một người tên là Đức Giêsu và các môn đệ của Người đang chuẩn bị đi vào vào thành phố để ăn mừng Lễ Vượt Qua.
Chúa Giêsu là một tiên tri và là người thầy vĩ đại. Người đã thực hiện nhiều phép lạ và dạy người ta làm thế nào để sống một cuộc sống tốt lành. Chúa Giêsu nói rằng Người đã được sai đến bởi Thiên Chúa. Người đến để cứu vớt tất cả mọi người thoát khỏi những ảnh hưởng tội lỗi của họ.
Nhiều người yêu mến Chúa Giêsu. Tuy nhiên, nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo thì không. Những điều Chúa Giêsu đã nói và đã làm khiến cho các nhà lãnh đạo tức giận. Họ tin rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm những điều Chúa Giêsu dẫn giải.
Khi Chúa Giêsu đến Jerusalem, Người cưỡi một con lừa bình dị. Nhưng những người chào đón Người như một vị vua. Họ trải áo mình trên mặt đất trước mặt con lừa của Chúa Giêsu. Họ đã lấy những nhành cọ và lót đường cho con lừa. Họ cổ vũ và hô vang ca ngợi.
“Phúc thay con Vua David!”
"Hosanna! Hãy ngợi khen!”
“Hosanna Nước Trời cao trọng!”
“Phúc thay những ai đến nhân danh Chúa.”
Chúa Giêsu tiếp tục đi cho đến khi Người đến ngôi đền thờ uy nghi. Trong lễ Vượt Qua, yêu cầu người ta phải dâng của hy tế lên Thiên Chúa. Nhưng bên trong ngôi đền thờ, mọi người không cầu nguyện và hy tế. Họ đã mua bán đủ mọi thứ. Họ đã biến nó thánh một cái chợ. Chúa Giêsu trở nên giận dữ. Và Người đã xô đổ vài cái bàn. Người nói với họ đền thờ là nơi để phụng thờ Thiên Chúa - không phải là nơi để kiếm tiền. Sau sự việc này, các nhà lãnh đạo tôn giáo quyết định họ cần phải bịt miệng Chúa Giêsu. Vì Người đã gây rắc rối cho họ.
Trong những ngày kế tiếp, Chúa Giêsu tiếp tục giảng dạy về Thiên Chúa và thực hiện các phép lạ. Nhưng người nào đó sắp phản bội Chúa Giêsu. Đó là một trong những môn đệ của Người, hoặc tông đồ. Tên người môn đệ ấy là Judas. Một đêm Judas đi đến các nhà lãnh đạo tôn giáo. Khi ông đến gần, họ nói:
“Chúng tôi biết ông! Ông là Judas. Ông là một môn đệ của Chúa Giêsu. Người hay gây phiền hà cho người khác ... Thế ông đến đây làm gì?”
“Tôi có một thỏa thuận với các ngài. Các ngài sẽ cho tôi những gì nếu tôi giao nộp Chúa Giêsu cho các ngài?”
"Ông đừng quan trọng việc đó. Ông có nói thật cho chúng tôi không? Điều đó có thể được dễ dàng.”
“Vâng. Các ngài sẽ cho tôi những gì nếu tôi làm điều đó?”
Các nhà lãnh đạo tôn giáo đồng ý trả cho Judas 30 đồng xu bạc để phản bội Chúa Giêsu.
Vào đêm đầu tiên của lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu và các môn đệ tụ tập cùng nhau dùng bữa. Khi họ đang ăn, Chúa Giêsu nói với họ rằng một trong số họ sẽ phản bội Người. Các môn đệ tất cả đều trở nên rất buồn. Họ hỏi người đó là ai. Nhưng Chúa Giêsu không nói cho họ biết. Sau đó, Chúa Giêsu đã lấy một ít bánh trên bàn. Người tạ ơn Thiên Chúa. Rồi Người bẻ thành từng miếng. Người trao bánh cho các môn đệ. Người nói:
“Hãy cầm lấy, và ăn. Đây là biểu tượng của xác thịt ta.”
Sau đó, Chúa Giêsu cầm chén rượu trên bàn. Một lần nữa, Người tạ ơn Thiên Chúa. Rồi Người đưa chén cho từng môn đệ và nói:
“Tất cả các con hãy uống chén này. Đây là biểu tượng của máu ta. Một biểu tượng của lời hứa giữa Thiên Chúa và con người. Nó được đổ ra để tha thứ tội lỗi của nhiều người. Sau khi ta chết, các con hãy làm những việc này để nhớ đến ta.”
Các môn đệ đã làm tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói với họ. Họ không biết Chúa Giêsu muốn nói về điều gì. Nhưng họ đã hát lên một bài ca chúc tụng Thiên Chúa. Sau đó, họ đã rời khỏi ngôi nhà.
Sau bữa ăn ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ đi đến một nơi gọi là vườn Cây Dầu. Ở đó, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chúa. Chúa Giêsu biết Judas sẽ phản bội Người. Người biết Người sẽ chết và đó sẽ là một cái chết nhục hình đau đớn. Chúa Giêsu không muốn trải nghiệm một cái chết đau đớn. Nhưng Người biết rằng cái chết của Người sẽ cứu nhân loại. Chúa Giêsu đã sống một cuộc sống hoàn hảo. Người không bao giờ phạm tội. Nhưng Người đã chọn cái chết để cứu vớt nhân loại từ những hậu quả tội lỗi của họ. Trong một giờ đồng hồ, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chúa. Người cầu xin Thiên Chúa:
“Lạy Cha, Thiên Chúa, nếu có thể, hãy cất sự khổ đau này cho con. Nhưng hãy thực hiện những gì Cha muốn, không phải những gì con muốn.”
Cầu nguyện xong, Chúa Giêsu trở lại với các môn đệ. Nhưng Người thấy họ đang ngủ! Người tỏ vẻ tức giận và hỏi sao không canh thức. Một lần nữa, Chúa Giêsu rời khỏi nhóm để một mình cầu nguyện. Sau khi cầu nguyện, Người trở lại với các môn đệ. Và một lần nữa Người thấy họ đang ngủ! Người trở lại cầu nguyện lần thứ ba. Nhưng khi Người trở lại lần thứ ba, Người gọi các môn đệ:
“Các con vẫn còn ngủ và nghỉ ngơi sao? Nhìn xem! Thời gian gần đến. Hãy đứng dậy, đi thôi! Ở đây có người sẽ phản bội ta.”
Judas đến cùng với một đám đông mang theo vũ khí. Đám đông không biết người nào là Chúa Giêsu. Vì vậy, Judas nói với họ rằng ông sẽ hôn Chúa Giêsu để xác định Người. Judas nhìn thấy Chúa Giêsu. Ông đi đến Chúa Giêsu và nói:
“Chào mừng Chúa Giêsu.”
Ông đã cho Chúa Giêsu một nụ hôn. Chúa Giêsu trả lời:
“Này bạn, hãy làm những gì bạn đến để làm.”
Ba người lính tách khỏi đám đông đến bắt Chúa Giêsu. Người bình thản đi với họ. Các môn đệ đều bỏ chạy.
Ngay sau khi bị bắt, Chúa Giêsu đứng trước quan tổng trấn. Vị lãnh đạo La Mã này sẽ ra quyết định trừng phạt Chúa Giêsu. Các nhà lãnh đạo tôn giáo nói với quan tổng trấn rằng Chúa Giêsu đã gây rắc rối. Họ nói với ông ta rằng Chúa Giêsu cho rằng mình là vua!
Viên tổng trấn không biết mình phải giải quyết như thế nào. Ông biết Chúa Giêsu vô tội. Nhưng có vẻ như những người này muốn Chúa Giêsu phải chịu chết. Ông đứng trước đám đông dân chúng, lên tiếng hỏi:
“Các người muốn ta phải làm gì với người đàn ông vô tội này? Các người muốn muốn ta hành xử như thế nào với Giêsu?”
“Đóng đinh ông ta!”
“Nhưng ông ta đã làm gì?”
“Đóng đinh ông ta! Đóng đinh ông ta đi!”
Vì vậy, viên tổng trấn đã thực hiện theo đám đông những gì họ muốn. Ông ta đã kết án Chúa Giêsu phải chịu chết - chết trên thập giá.
Đây không phải là kết thúc của câu chuyện. Chúa Giêsu sẽ phải đối mặt với cái chết. Nhưng những gì làm cho câu chuyện này trở nên quan trọng đối với các Kitô hữu?
Jos. Tú Nạc, NMS
April 16, 2014
|
|