September 21, 2018

 

Chúa nhật XXIV TN-B-2018

Mc 8, 27-35

ĐỨC KITÔ LÀ AI ?

Dư luận, như các môn đệ ghi nhận được, tuy chưa rõ đích xác Ngài là ai nhưng cũng tỏ ra đã thấy được những điểm khác người trong giáo huấn và trong hành động của Ngài. Tuy nhiên điều Chúa Giêsu muốn nhắm tới ở đây chính là việc các môn đệ bày tỏ ý kiến của mình về Ngài. Do dó mà Ngài mới đạt thêm câu hỏi thứ hai: Còn các con, các con bảo Thầy là ai?

Qua câu hỏi này, phải chăng Chúa Giêsu đã khởi sự quan tâm tới dư luận của quần chúng về Ngài? Hay Ngài muốn làm một cuộc thăm dò ý kiến về kết quả công việc Ngài đã làm? Không phải là như vậy. Ở đây, Chúa Giêsu muốn chuẩn bị các môn đệ của Ngài đón nhận những điều Ngài sắp nói với các ông về điểm then chốt của sứ mạng Ngài và cũng là điểm khó nuốt đối với mọi người.

Nhân dịp Phêrô tuyên xưng đức tin, một lời tuyên xưng hẳn là tuyệt vời, nhưng rõ ràng còn rất bất toàn, Chúa Giêsu đã nói thẳng với các môn đệ “Thầy là Đấng Mêsia”, nghĩa là: “Con đã theo Thầy từ một năm rưỡi nay, con đã nghe Thầy giảng dạy, con đã chứng kiến những phép lạ Thầy làm, con đã nhìn thấy cách Thầy sống, đối với con Thầy là chứng nhân của Thiên Chúa và của Nước Trời. Vì vậy con đã theo Thầy để Thầy dẫn con đến Thiên Chúa”. Phêrô thành thật bày tỏ kinh nghiệm của mình, và Chúa Giêsu không hề phản đối lời tuyên xưng đức tin của ông.

Ta thấy khi Phêrô vừa tuyên xưng niềm tin xong, Chúa Giêsu tức khắc nói về cuộc Thương Khó. Đây là lần đầu tiên Người nói rõ ra những gì đang chờ đợi Người ở cuối “con đường”. Người sẽ còn ngỏ lời với các ông về đề tài này hai lần nữa (9,31; 10,33-34). Vì các ông đã nhận biết và tuyên xưng Người là Đấng Mêsia, các ông phải được chuẩn bị đi trên con đường mà Đấng Mêsia sẽ rảo qua. Đức Giêsu coi như các môn đệ có khả năng đón nhận lời loan báo này. Nhưng bây giờ lại chính là Phêrô phản đối Người (c. 32). Ông muốn cho Đức Giêsu hiểu rằng lộ trình Người loan báo đó là mộtlộ trình điên rồ, phi lý.

Nhưng Chúa Giêsu cũng đã đẩy ông đi với mộtsự quyết liệt không kém. Lộ trình Người theo là lộ trình Thiên Chúa muốn, nên khi phản đối Người, Phêrô đã trở thành hiện thân của ma quỷ mà chống lại Thiên Chúa. Do đó, trước đây Người đã đổi tên ông là Simôn thành “Phêrô”, một cái tên thuộc sứ mạng, nay Người phải gọi ông là “Satan”, một cái tên phản - sứ mạng, và sau này, có lúc Người lại gọi ông bằng cái tên cũ là “Simôn” (14, 37), một cái tên chứng tỏ sự quay lưng lại với sứ mạng.

Lời tuyên bố của Phêrô là câu trả lời Chúa Giêsu muốn có. Nhưng Chúa cũng nói ngay đó là do Cha trên trời tỏ bày cho, chứ không phải nhờ học hỏi hay nghiên cứu. Phêrô và các Tông đồ được ơn soi sáng, được dạy dỗ và hướng dẫn để hiểu biết sự thật về Đức Kitô, vì các ông là môn đệ Chúa, sẽ tiếp tục sự nghiệp Chúa nơi trần thế. Lời tuyên bố này rõ ràng là một ơn mạc khải, vì chính Phêrô nói ra mà cũng không hiểu tường tận về lời mình nói. Ngay lúc đó Chúa Giêsu đã nói cho các môn đệ về số phận của Người. Chúa nói sẽ chịu đau khổ nhiều, bị bắt, bị hành hạ, bị giết chết, nhưng sau ba ngày sẽ sống lại. Nghe vậy, các môn đệ khó chịu, các ông đã không để ý tới việc Chúa sẽ sống lại, và cho là Chúa thất bại, thua kẻ thù. Vì thế, Phêrô kéo Chúa ra một chỗ và can ngăn Chúa đừng nói vậy, đừng để chuyện đó xảy ra. Vì thế, Chúa Giêsu nổi giận mắng ông: “Satan, hãy lui đi!”.

Tuy nhiên Chúa tiếp lời ông ngày bằng việc loan báo cuộc tử nạn của Ngài và lần đầu tiên, Ngài dạy cho các ông hay rằng Con Người phải đau khổ nhiều… Lúc đó, Phêrô bị sốc đến nỗi ông tự cho phép mình trách móc Thầy. Nhưng Chúa Giêsu liền đưa ông lại đúng vị trí của ông: “Satan, hãy lui lại đằng sau Thầy… con không hiểu gì về kế hoạch của Thiên Chúa”. Rồi Ngài thêm: “Ai muốn đi theo Thầy, thì hãy bỏ mình, vác thập giá mà theo Thầy. Vì ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất”

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: ” Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Phúc Âm, thì sẽ cứu được mạng sống mình” (Mc 8, 34).

Chúng ta tự hỏi: “Từ bỏ” mình có nghĩa gì? Và tại sao ta phải tử bỏ mình?

Thật khó chấp nhận điều Chúa Giêsu yêu cầu là từ bỏ và hy sinh. Sống trong một xã hội được lập trình sẵn, khuyến khích thành công nhanh, tận dụng tối đa làm ít, hưởng nhiều, đỡ tốn thời giờ và sức khỏe, nên không có lạ khi chúng ta làm và nhìn mọi sự theo kiểu con người chứ không theo cái nhìn của Thiên Chúa. Chính Phêrô, chỉ sau khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, ông mới ý thức được rằng, ông phải qua con đường ông đi và sống trong hy vọng.

Cần phải phân biệt, Chúa Giêsu không đòi chúng ta từ bỏ “điều chúng ta là“, nhưng điều “chúng ta đã trở nên“. Chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa thấy tốt đẹp sau khi tạo dựng người nam và người nữ (St 1, 31). Điều chúng ta phải từ bỏ không phải là điều Chúa đã làm, nhưng điều chúng ta lạm dụng quyền tự do làm, cụ thể như: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét và làm biếng… là những khuynh hướng xấu, tội lỗi, bao phủ trên hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Phaolô gọi ảnh biến hình này là “ảnh dưới đất“, ngược với “ảnh trên trời“, giống như Chúa Kitô. Do đó “từ bỏ chính chúng ta“, là từ bỏ ý loài người để mặc lấy ý Chúa, hợp và giống Chúa hơn.

Chúa dạy: “Ai từ bỏ chính mình mang lấy thập giá của mình mà theo Ta”. Thánh giá của chúng ta không có nghĩa là hình khổ đóng đinh theo nghĩa chữ. Trong từ chuyên môn Công giáo, chúng ta nói về những người đặc biệt có những gánh nặng khó khăn phải chịu đựng trong cuộc sống thì người đó đang mang một thánh giá nặng. Chúng ta hiểu rằng thánh giá đối với chúng ta có nghĩa là mất môt công việc, hoặc là mắc một cơn bệnh nặng, hoặc cần thiết làm một hy sinh có ý nghĩa để chăm sóc gia đình hoặc những phần tử trong gia đình đang bị đau khổ hay bị sốc. Thánh giá dành cho cha mẹ có thể là nhìn thấy con cái của mình rời bỏ Giáo Hội hoặc sa vào rượu chè say sưa, hoặc trai gái. Thánh giá đối với con cái có thể là đau buồn trong cuộc sống, thấy cha mẹ say sưa hoặc đau buồn khi họ ly dị khiến cho gia đình tan tác. Thánh giá cho tất cả chúng ta là cái chết của một người thân yêu.

Câu Chúa Giêsu  hỏi vẫn tiếp tục được đặt ra cho mỗi người chúng ta hôm nay. Và chúng ta có thể như Phêrô, đã trả lời đúng câu hỏi của Ngài với tất cả vốn liếng về Thánh Kinh và thần học, về giáo lý của chúng ta. Thế nhưng trong hành động thì sao? Phải chăng trong hành động chúng ta đã là những người ngăn cản việc thực hiện chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa bằng thái độ khước từ đau khổ, khước từ thập giá mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống thường ngày.

Đức Ki-tô đòi hỏi các môn đệ theo Ngài phải từ bỏ chính mình. “Bỏ chính mình” có phải tự tử không? Hẳn là không! Các nhà hiền triết, các tôn giáo đều kêu gọi từ bỏ cái tôi kiêu căng, ích kỷ, tham sân si, và thậm chí bỏ cả tiền tài lẫn danh vọng nữa. Thế nhưng sự từ bỏ mà Chúa Giêsu kêu gọi không chỉ để hoàn thiện bản thân. Ngài kêu gọi chúng ta từ bỏ mọi sự là để có thể đi theo Ngài, đi theo con đường thập giá mà Ngài đã đi, để trở nên giống Ngài: sống hiền lành, khiêm nhường, khó nghèo, chịu sỉ nhục, ngược đãi, và chết để cứu chuộc nhân loại là những người Ngài yêu mến. Sự bỏ mình đó không huỷ hoại mà dẫn ta đến một cuộc sống dồi dào hơn: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”

Đối với các Kitô hữu, chúng ta xưng tụng Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ. Ta cần lắng nghe của lời Ngài chỉ dạy. Vâng nghe theo lời của Chúa Giêsu là bước theo con đường của Ngài đã đi qua.Đường của Chúa là con đường khiêm hạ, con đường sự thật và con đường khổ giá. Khổ giá sẽ tôi luyện niềm tin. Niềm tin vào Chúa Kitô không phải là học hiểu một số kiến thức, tỏ lòng sùng mộ hay việc cử hành một số nghi lễ, mà chính là sống niềm tin của mình trong cuộc lữ hành trần thế. Ta phải sống đức tin trưởng thành mà chúng ta đã được lãnh nhận qua các Bí Tích trong Hội Thánh. Đức tin là ánh sáng soi đường dẫn chúng ta bước theo gót Chúa Kitô. Thánh Giacôbê tông đồ đã phát biểu rằng: Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết (Giac 2, 17). Lời nói đi đôi với việc làm. Người ta nói: Lời nói mây bay, gương bày lôi kéo. Đời sống đức tin được thể hiện qua cách sống đạo hằng ngày trong ý tưởng, lời nói và việc làm.

Để biết Chúa Giêsu Kitô là ai và đâu là đường lối của Ngài, ta cần phải giũ bỏ những hình ảnh trần tục ta vẫn có về Chúa Kitô, những hình ảnh do con người tạo ra: một Đức Kitô của quyền lực, của thống trị… Ta nên nhớ bài học cùng Ngài: “Anh em hãy học cùng Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.

Vậy thì, đối với tôi, Đức Giêsu Kitô là ai? Sau khi đã tin vào Chúa một thời gian, ta vẫn có thể đặt lại câu hỏi này: Bấy lâu nay, Đức Giêsu là ai đối với tôi? Đức Giêsu không thay đổi, “hôm qua cũng như hôm nay và mãi mãi” Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất. Nhưng mỗi ngày, sau mỗi biến cố, có khi ta lại khám phá ra những nét mới mẻ nơi sự phong phú của Ngài. Đời ta luôn là một chuỗi những câu trả lời cho câu hỏi của Chúa Giêsu: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”. Và cuộc đời của ta sẽ chuyển biến tuỳ theo câu trả lời này của mình.

CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN.
 Is 50, 5-9a; Tv 114, 1-2. 3-4. 5-6. 8-9; Gc 2, 14-18; Mc 8, 27-35.
HỚ !

Chẳng may, lần kia đi xe bị va quẹt xe với một người nọ. Dĩ nhiên là công an đến để xử lý. Lỗi là của người kia nhưng rồi tôi lại là người thiệt thòi vì ... không có người quen.
Chuyện là sau khi đưa về đồn để xử lý vụ tai nạn thì người kia gọi điện cho ai đó quen để rồi chỉ vài phút sau xe của họ được lấy về con xe của tôi bị giữ lại. Quen công an tính ra cũng có lợi !
Đang đứng chờ mua nước mía gần đường Cách Mạng Tháng 8 và Nguyễn Thị Minh Khai tôi cũng chứng kiến cảnh tượng như vậy. Chiếc xe con 4 chỗ biển số tỉnh lạ chui vào thành phố. Chàng công an tuýt còi và chiếc xe con dĩ nhiên là phải tấp vào lề để công an làm việc.
Xuống xe, chàng tài xế chào anh công an hẳn hoi. Nói qua nói lại gì đó, chàng tài xế móc điện thoại ra để gọi cho "ô dù" nào đó và rồi anh ta chuyển điện thoại cho chàng công an. Vài phút sau, chàng công an vui vẻ chào chàng tài xế và chàng tài xế lên xe đi.
Ở đời, người ta vẫn thường nói với nhau "nhât thân nhì thế". Cũng dễ hiểu, người đời người ta vẫn thường sống với nhau như thế và dựa "hơi" người khác.     Và, t hi thoảng ta vẫn nghe "một người làm quan cả họ được nhờ".
Tâm tình này chắc có lẽ cũng giống như tâm tình của các môn đệ hôm nay trong trang Tin Mừng theo Thánh Máccô.
Các môn đệ đã nói về Thầy của mình sau khi Thầy chất vấn "người ta bảo Thầy là ai".
Nghe Thầy hỏi, ai cũng đưa ra những cái tên gọi là "tai to mặt lớn" vì cứ tưởng nghĩ là sẽ "kiếm được chút cháo'. Hơn các đồng môn, Phêrô nói "Thầy là Ðấng Kitô".
Công nhận Phêrô hay : "Chuẩn không cần chỉnh" hay là chỉnh không cần thiết nữa cho câu trả lời quá chính xác.
Chắc trong lòng Phêrô lúc này cũng "nhảy lô tô" hay là khoái chí lắm vì câu trả lời hay của mình. Và, Phêrô cũng như các môn đệ sẽ vui vẻ vì sẽ được hưởng lợi từ Đấng Kitô theo như câu trả lời của thánh Phêrô.
Và, tiếp sau câu trả lời của  thánh Phêrô thì Chúa Giêsu lại cấm các ông không nói cho ai biết về danh tính đó. Hơn thế nữa, Chúa bắt đầu dạy các ông biết Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, sẽ bị các kỳ lão, các trưởng tế, các luật sĩ chối bỏ và giết đi, rồi sau ba ngày sẽ sống lại. Người công khai tuyên bố các điều đó.
Rất giận với những lời lẽ như thế, Phêrô cực kỳ nóng nảy nên đã kéo Người lui ra mà can trách Người
Thật lòng ý của Phêrô rất tốt chứ không phải là xấu nhưng rồi Thầy lại quay lại nhìn các môn đệ và quở trách Phêrô rằng: "Satan, hãy lui đi! vì ngươi không biết việc Thiên Chúa, mà chỉ biết việc loài người". Người tập họp dân chúng cùng các môn đệ lại, và phán: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống mình".
Hớ nặng ! Tưởng chừng mình là đệ tử ruột của Đấng Kitô thì mình sẽ được hưởng lợi nhưng nào ngờ cái lợi của người đệ tử ruột đó lại chính là cây thập giá.
Thật sự, thập giá là điều mà trên đời này chẳng ai muốn cả. Có cho cũng chẳng vác chứ bảo sẵn sàng ! Đừng có hòng vác và có khi vác nặng sẽ vất chứ chẳng ai can đảm để mà vác cả.
Thế nhưng, thật sự, sứ mạng, cuộc đời của Chúa Giêsu đến trong trần gian này là chịu chết, chịu đền tội cho trần gian.
Hình ảnh người tôi trung đã được các ngôn sứ, cách riêng Isaia nói trong trang sách mà chúng ta nghe :  Thiên Chúa đã mở tai tôi mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu. Tôi đã không che mặt giấu mày, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không hổ thẹn: nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn. Ðấng xét tôi vô tội ở gần tôi, ai còn tranh tụng với tôi được? Chúng ta hầu toà, ai là kẻ thù địch của tôi, hãy đến đây! Này đây Chúa là Thiên Chúa bênh đỡ tôi, ai dám kết tội tôi?
Và, trong thư gửi tín hữu Philiphê, khuôn mặt Chúa Giêsu được Thánh Phaolô nói rõ hơn, đặc biệt về căn tính của Chúa Giêsu :
Thánh Phaolô tông đồ trong thư gửi giáo đoàn Philipphê đã nói về thân phận của người Chúa Giêsu :
Ngài, phận là phận của một vì Thiên Chúa,
nhưng Ngài đã không nghĩ phải giằng cho được
chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa.
Song Ngài đã hủy mình ra không,
là lĩnh lấy thân phận tôi đòi,
trở thành giống hẳn người ta;
đem thân đội lốt người phàm,
Ngài đã hạ mình thấp hèn,
trở thành vâng phục cho đến chết,
và là cái chết thập giá! (Pl 2, 6-8)
Và như vậy, người môn đệ chân chính và chân truyền đó là người môn đệ sẵn sàng vác thập giá đời mình để theo Chúa.
Có khi, ta cảm thấy mệt nhoài khi nhìn đến thập giá mà Chúa trao cho ta. Thế nhưng, trong lắng đọng, thập giá mà Chúa trao cho ta nhẹ hơn nhiều người khác lắm.
Và vì thế, ta chỉ xin Chúa thương cho ta thêm sức để đủ sức vác thập giá đời ta theo Chúa cho đến cùng.

 

Thứ Hai Tuần XXIV TN

Lc 7, 1-10

HÃY CÓ LÒNG TIN NHƯ VIÊN BÁCH QUẢN

Qua trang Tin Mừng hôm nay, chúng ta chứng kiến một lòng tin mạnh mẽ của viên đại đội trưởng ngoại giáo.

"Xin Ngài chỉ nói một lời". Lời thỉnh cầu của viên bách quản gợi lại câu Thánh vịnh 106: "Thiên Chúa sai lời của Ngài đi chữa trị". Qua lời thỉnh cầu này, viên bách quản mặc nhiên nhìn nhận Chúa Giêsu thực sự đến từ Thiên Chúa và lời của Ngài là lời quyền năng và hữu hiệu. Lời thỉnh cầu của viên bách quản thể hiện một niềm tin sâu sắc, đến độ đã được Giáo Hội lặp lại mỗi ngày trong Thánh lễ, để nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của lời Chúa, cũng như bổn phận rao truyền lời Chúa trong cuộc sống chúng ta.

Với lời thỉnh cầu này, viên bách quản mặc nhiên nhìn nhận Chúa Giêsu thực sự đến từ Thiên Chúa và lời của Ngài là lời quyền năng và hữu hiệu. Lời thỉnh cầu của viên bách quản thể hiện một niềm tin sâu sắc, đến độ đã được Giáo Hội lặp lại mỗi ngày trong Thánh lễ, để nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của lời Chúa, cũng như bổn phận rao truyền lời Chúa trong cuộc sống chúng ta.

Biết Chúa Giêsu là người đầy quyền năng, ông đại đội trưởng đã đến xin Người chữa cho người đầy tớ của ông bị chứng tê bại nặng. Trước thái độ tin tưởng của viên đại đội trưởng, Chúa Giêsu hết sức thán phục và khẳng định với đám đông dân chúng: “Tôi nói cho các ông hay: ngay cả trong dân Israen, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế”. Theo nguyên tắc của Do Thái giáo, đại đội trưởng là một người ngoại đạo sẽ bị loại ra khỏi Vương quốc; và nếu một người Do Thái vào nhà một kẻ ngoại đạo sẽ bị coi là kẻ ô uế.

Nơi viên đại đội trưởng này, ngoài đức tính can đảm, khôn ngoan của các đại đội trưởng Roma, ông còn là người yêu thương đầy tớ, đang khi thời ấy đầy tớ bị coi như một đồ vật! Với Chúa Giêsu, ông tỏ ra rất khiêm tốn: xin Ngài đừng đến nhà mình vì biết người Do Thái không được phép đến nhà người ngoại giáo. Ông còn chứng tỏ một niềm tin mạnh mẽ: là sĩ quan, ông hiểu rằng mệnh lệnh của ông phải được thi hành ngay tức khắc, huống chi lệnh truyền của Chúa Giêsu! Rốt cuộc, ông đã nhìn thấy kết quả điều mình tin: người đầy tớ được chữa lành.

“Đức tin làm cho mọi sự có thể, còn tình yêu làm mọi sự trở nên dễ dàng.” Sở dĩ viên đại đội trưởng Roma ấy hạ mình đến với một thầy rápbi Do Thái vì ông thương mến người đầy tớ. Sở dĩ người đầy tớ được lành bệnh vì chủ của anh có một niềm tin mãnh liệt. Với lòng tin và lòng mến Chúa, mọi sự sẽ trở nên có thể và dễ dàng với mỗi người chúng ta.

Khi chữa lành cho người bệnh, cả Chúa Giêsu và viên đại đội trưởng đều vượt qua những ranh giới của luật Do Thái. Điều đó cho thấy Chúa Giêsu đã làm tất cả vì lòng thương xót, còn viên đại đội trưởng thể hiện niềm tin mãnh liệt vào quyền năng và tình thương Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã chữa bệnh từ xa, Ngài biểu hiện tình thương có khả vượt qua khoảng cách của địa lý, của không gian và thời gian. Vì thế ông đại đội trưởng chưa về đến nhà thì nghe tin báo người đầy tớ đã khỏi hẳn bệnh.

Thái độ tin tưởng của ông đại đội trưởng khác hẳn với thái độ cứng tin của những người Do Thái. Phép lạ này là lời hứa cho tất cả chúng ta, những ai có lòng tin đều được Chúa chữa lành. Thiên Chúa luôn yêu thương chăm sóc hết mọi người không phân biệt dân tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo. Điều quan trọng là chúng ta phải thực sự khát khao được Chúa chữa lành. 

Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, ta thấy niềm tin được xây dựng trên lời quyền năng của Thiên Chúa, hẳn phải nói lên lời của Ngài hơn bao giờ hết. Ngày nay, có biết bao viên bách quản đang chờ đợi một lời nói can đảm, chân thật và hữu hiệu từ các Kitô hữu. Trong một xã hội chỉ có những lời của hận thù, đố kỵ, thì lời của các Kitô hữu phải là lời của yêu thương, hòa giải và tha thứ. Lời của Chúa là lời chân thật và hữu hiệu, lời ấy không chỉ được các Kitô hữu nói bằng môi miệng, mà còn phải được nhập thể vào cuộc sống của họ. 

Trên hành trình thiêng liêng chúng ta sẽ không tránh khỏi những lúc bị thử thách, không thể trốn chạy những đau đớn bệnh tật. Như Chúa Giêsu luôn tỏ lòng thương cảm với những yếu đuối của con người, chúng ta cũng hãy mở lòng ra đón nhận tất cả trong sự tin tưởng phó thác. Chúa Giêsu ôm lấy cuộc đời, mang vác lấy gánh nặng của con người mà giương cao lên thập giá. Tình yêu thương con người dạy chúng ta chấp nhận những phiền hà rắc rối của người bên cạnh, dám chịu thương tích vì người khác, dám chấp nhận thất bại để tôi luyện và trưởng thành trong đức tin.

Tin Mừng Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có lòng thương xót như Đức Giêsu. Sẵn sàng giúp đỡ những người đang cần đến chúng ta, mặc cho họ là ai, cùng niềm tin với chúng ta hay không...! Mặt khác, sự xuất hiện và hành động của viên sĩ quan trong bài Tin Mừng hôm nay cũng nhắc ta bài học về tình yêu không biên giới, đã thương xót thì không phân biệt chủ - tôi, giai cấp... Đồng thời cũng mời gọi chúng ta hãy đặt niềm tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa trong sự khiêm nhường, tín thác.

Sự khiêm nhường, tin tưởng tuyệt đối của viên sĩ quan khi xưa, nay đã trở thành mẫu mực cho mọi người chúng ta, đến nỗi trong phụng vụ thánh lễ đã lấy lại lời này như một tâm tình của con cái Giáo Hội khi chuẩn bị đón nhận Mình Thánh Chúa vào trong tâm hồn của mình: "Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh".

Thứ Ba tuần XXIV TN

Lc 7, 11-17

LÒNG CHẠNH THƯƠNG

Trong cuộc sống công khai, chắc chắn Chúa Giêsu đã chứng kiến nhiều cái chết cũng như tham dự nhiều đám tang. Nhưng việc Ngài làm cho kẻ chết sống lại được Tin Mừng ghi lại không quá ba lần: một em bé gái con của vị kỳ mục trong dân; Lazarô em trai của Marta và Maria; người thanh niên con của bà góa thành Naim. Cả ba trường hợp chỉ là hồi sinh, chứ không phải là phục sinh theo đúng nghĩa, bởi vì cuộc sống của những người này chỉ kéo dài được thêm một thời gian nữa, để rồi cuối cùng cũng trở về với bụi đất.

Trang Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh đến phép lạ được thực hiện do tình thương của Chúa. Trước cảnh bà góa đang đau đớn vì cái chết của đứa con trai duy nhất, “Chúa chạnh lòng thương,” cho anh sống lại và “trao anh ta cho bà mẹ.” “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” để đem sự sống cho dân mình, không chỉ sự sống lại của thân xác thể lý, nhưng cả sự sống thần thiêng của Thiên Chúa. Sự sống đời đời ấy không phải nơi thế giới bên kia, nhưng đã bắt đầu ngay hôm nay.

Ta thấy Tin Mừng ghi lại biến cố Chúa Giêsu phục sinh người con trai bà góa thành Nain, để minh chứng Ngài là Đấng Messia, là Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Phép lạ này phát xuất từ con tim yêu thương của Chúa Giêsu. Tất cả mọi người hôm đó chẳng ai mở lời xin Chúa giúp chữa lành. Ngài cứu giúp chỉ vì Ngài động lòng trắc ẩn, động lòng thương trước những khổ đau của con người. Khổ đau lớn nhất trên đời là mất đi người thân trong gia đình. Người thân đây lại là người con trai duy nhất của người mẹ góa. Nỗi đau của bà mẹ góa thật là to lớn. Chúa Giêsu chạnh lòng thương trước cảnh mẹ goá con côi, tre già khóc măng non. Chúa Giêsu cứu sống người con trai để đem lại cho bà niềm vui hy vọng cho cuộc sống: “Chúa Giêsu trao anh ta cho bà mẹ”.

Người góa phụ, như một “đứa con thinh lặng”, chẳng thốt lên một lời nào. Bà không cầu xin được giúp đỡ; tác giả không nói rằng bà góa ấy có lòng tin vào Chúa Giêsu, hay bà đã đi theo Người, hoặc là bà đã nghe biết về Chúa Giêsu và quyền năng của Người. Chẳng có yêu cầu trông mong nào đối với phép lạ ấy. Không, đây là một câu chuyện về sự khó khăn túng thiếu của con người.

Thế nhưng, điều đó chưa phải là đã kết thúc, như người ta vẫn nói: “nhìn vậy chứ không phải vậy” (hoặc tất cả những chứng cứ chưa nói lên được điều gì). Cái chết không phải là kết thúc câu chuyện bà góa và của cả chúng ta nữa. Bởi lẽ, Chúa Giêsu đã đến và trông thấy nhu cầu của con cái Chúa đang lặng thầm. Người cho đứa con trai của bà góa được sống lại, và hơn thế nữa, Người còn cho bà góa cũng được sống lại. Nỗi đau buồn hiện tại của bà đã được cất khỏi, bà lại có niềm hy vọng vào tương lai 

Trong cảnh tang thương đó, bà đau buồn khóc lóc thảm thiết, đến nỗi rất đông dân thành đã đi tiễn biệt con của bà, thì Chúa Giêsu cũng xuất hiện đứng bên quan tài. Với quyền năng của Thiên Chúa đầy lòng thương xót những người cùng khổ như bà góa này, và với con tim nhạy bén trước đau khổ của loài người, Chúa Giêsu đã mủi lòng thương, khẽ an ủi bà : “Bà đừng khóc nữa”, rồi sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Chúa Giêsu nói : “Này người thanh niên, ta bảo anh : Hãy chỗi dậy” ! Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ. mọi người đều kinh ngạc và tôn vinh Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng thấy chạnh lòng thương đối với bà góa có một người con trai mới chết đem đi chôn. Chúa Giêsu hiểu thấu tâm trạng của bà : mất chồng, mất người con nâng đỡ mình trong tuổi già, thiếu người bênh vực, sống cô đơn… Tuy không ai xin Ngài làm phép lạ cứu sống đứa con ấy, nhưng chính Ngài đã ra tay, Ngài khuyên bà đừng khóc nữa, truyền cho người thanh niên chỗi dậy và trao anh ta cho mẹ nó.

Chúa Giêsu đã không đến để làm cho con người được trường sinh bất tử ở cõi đời này, đúng hơn, Ngài đưa con người vào cuộc sống vĩnh cửu. Nhưng để đi vào cuộc sống vĩnh cửu thì điều kiện tiên quyết là con người phải kinh qua cái chết. Chết vốn là thành phần của cuộc sống và là một trong những chân lý nền tảng nhất mà Chúa Giêsu đến nhắc nhở cho con người. Mang lấy thân phận con người là chấp nhận đi vào cái chết.

Chính Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi số phận ấy. Thánh Phaolô đã nói về thái độ của Chúa Giêsu đối với cái chết: "Ngài đã vâng phục cho đến chết và chết trên Thập giá". Ðón nhận cái chết và đi vào cõi chết như thế nào để cuộc sống có ý nghĩa, đó là điều Chúa Giêsu muốn bày tỏ cho con người khi đi vào cái chết.

Chúa Giêsu đã vâng phục cho đến chết. Ðón nhận cái chết, Ngài đã thể hiện cho chúng ta thấy thế nào là một cuộc sống sung mãn, Ngài đã chứng tỏ cho chúng ta thấy thế nào là một cuộc sống có ý nghĩa và đáng sống. Ðón nhận cái chết như ngõ đón vào vinh quang phục sinh, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy điểm đến và vinh quang đích thực, đó là sự sống vĩnh cửu. Ngài đã vâng phục cho đến chết. Vâng phục của Ngài là vâng phục trong tin tưởng, phó thác, trong khiêm tốn và yêu thương; đó là điều mang lại ý nghĩa cho cuộc sống và làm cho cuộc sống trở thành đáng sống.

Thiên Chúa luôn hiện diện và đồng hành với chúng ta trong cuộc sống, nhất là khi gặp buồn đau, khó khăn, tai ương hoạn nạn, đau yếu bệnh tật… như trường hợp bà mẹ góa thành Nain. Chúa Giêsu an ủi bà “đừng khóc nữa”. Ngài đã làm cho con bà sống lại và trao cho bà. Niềm vui sướng trở lại với bà. Người Kitô hữu không được chán nản, ngã lòng trước những đắng cay cuộc đời, vì Thiên Chúa là người Cha luôn ở với chúng ta, giúp đỡ, an ủi chúng ta.

Sự kiện con trai bà góa thành Na-im được Ngài cho sống lại là hình bóng báo trước biến có vô cùng lớn lao hơn. Biến cố đó là cốt lõi của đạo, là trung tâm điểm của Kitô giáo. Đó là nhờ sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu mà tất cả cúng ta được giải thoát khỏi cái chết muôn đời.

Qua phép lạ này, noi gương Chúa Giêsu, chúng ta hãy học để biết thông cảm với mọi người, chúng ta không thể dửng dưng trước những đau khổ của con người, vì qua phép Rửa tội, chúng ta là những chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô. Thánh Phaolô đã thâm hiểu chân lý này khi ngài khuyên nhủ tín hữu Rôma : “Anh em hãy vui củng kẻ vui, khóc cùng kẻ khóc” (Rm 12, 15), vì trong một thân thể, bất cứ một chi thể nào cũng có tương quan đến chi thể khác.

Thứ Tư tuần XXIV TN

Lc 7, 31-35

ĐỪNG CỐ CHẤP – HÃY NHƯ TRẺ THƠ

Người biệt phái, luật sĩ thường coi mình là trung tâm, là thước đo là tiêu chuẩn để phê phán người khác. Họ cố chấp trước cái hay, cái tốt, cái thành công của người khác. Với ông Gioan Tẩy giả mà mọi người kính phục, lắng nghe, ca tụng như một ngôn sứ, thì người biệt phái, luật sĩ cũng lên tiếng chống đối. Rồi đến lượt Chúa Giêsu Đấng Thiên Sai, rao giảng chân lý một cách có uy quyền, Ngài làm nhiều việc phi thường, người biệt phái và luật sĩ cũng phê phán chê trách. Trang Tin Mừng này Chúa Giêsu chê trách họ thề nào, chúng ta suy niệm để nhìn lại bản thân mà cải thiện chính mình.

Chúa Giêsu ví những người thuộc thế hệ của Ngài với lũ trẻ ngồi chơi ngoài chợ (cc. 31-32). Các nhóm chơi với nhau, í ới gọi nhau. Một nhóm bày ra trò chơi đám cưới, thổi sáo, thổi kèn để mong nhóm kia nhảy múa. Nhưng nhóm kia đã không tham gia. Sau đó nhóm này bèn chơi trò đám ma, hát những bài ca buồn não nuột. Nhưng nhóm kia vẫn chẳng khóc than thương tiếc. Hẳn là chẳng vui gì khi có sự thụ động, lạnh nhạt như vậy. Dụ ngôn trên đây nói đến một số người khó chiều, bướng bỉnh. Dù thế nào thì họ cũng đứng ngoài, không chịu nhập vào cuộc chơi. Họ chẳng thích cả trò đám ma lẫn đám cưới.

Qua dụ ngôn này, Chúac Giêsu muốn nói đến những người ở thời của Ngài. Họ có nét tương tự như lũ trẻ ngồi ngoài chợ. Khi Gioan Tẩy giả đến mời gọi họ sám hối ăn năn, đời sống khổ hạnh của vị ngôn sứ này đã khiến họ từ khước (Lc 7, 30). Đơn giản vì họ không thích khóc than hay hoán cải. Gioan ăn chay nên không ăn bánh, không uống rượu (c. 33). Lối sống của ông phù hợp với lời ông giảng về việc Nước Trời gần đến. Nhưng lối sống khác thường ấy lại bị xem là một triệu chứng tâm thần. Người ta đã coi ông là bị quỷ ám, nên ít người tin vào lời giảng của một người như thế.

Mong chờ Ðấng Cứu Thế, nhưng không chấp nhận những thể hiện của thời cứu thế; trông đợi Ðấng Cứu Tinh, nhưng phải là Vị Cứu Tinh do mình tạo ra, đó là thái độ của những người Do thái thời Chúa Giêsu. Thái độ ấy cũng là cơn cám dỗ triền miên của các Kitô hữu thời đại chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta". Chúng ta mang danh hiệu Kitô, chúng ta muốn làm môn đệ Ngài, nhưng có lẽ chúng ta chưa từ bỏ chính mình để chấp nhận và sống theo giáo huấn của Ngài.

Với người biệt phái và luật sĩ Chúa Giêsu nói: vậy tôi phải ví người thế hệ này với ai? Lời nói của Chúa Giêsu biểu lộ tâm trạng xót xa của Chúa, trước sự cứng tin của những kẻ không chấp nhận giáo huấn của Ngài, đồng thời Ngài cũng tạo nên một ý thức cho người nghe.

Để diễn tả sự cố chấp đó, Chúa Giêsu mượn trò chơi hát đối của trẻ em Do Thái ngồi chơi ngoài chợ làm dụ ngôn. Trò chơi này được chia làm hai phe để xướng đáp phù hợp. Phe một hát những bài ca bi ai, thì phe hai hát đáp lại bằng cử điệu đấm ngực than khóc: phe một cất giọng ca vui vẻ giả làm đám cưới, thì phe hai phải vui mừng nhảy nhót.

Nhưng nhiều khi gặp những trẻ khó tính theo ý riêng hay có sự cố bất hoà với nhau, thì chúng không đối đáp theo lệ đã quen của trò chơi, khiến cho trò chơi mất ý nghĩa và mất vui “phe một thổi sáo mà phe hai không nhảy múa”. Chúa Giêsu áp dụng ý nghĩa trò chơi: ông Gioan tẩy giả sống khổ hạnh, nêu cao tinh thần sám hối, và rao giảng sự sám hối , thì những kẻ chống đối cho ông là người điên, bị quỷ ám, nên họ không đón nhận lời ông rao giảng và không ăn năn sám hối. Còn Chúa Giêsu sống hoà đồng, bình dị với mọi người, cùng ăn cùng uống với mọi người, diễn tả tình thương cứu độ nên được dân chúng mến phục, thì họ lại bảo Ngài sống bê tha, buông thả, tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và người tội lỗi, nên họ đã không tin nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, không đón nhận lời giáo huấn của Ngài.

Nhưng đức khôn ngoan đã được tất cả con cái biện minh cho. Con cái của đức khôn ngoan là những người tin nhận Đức Giêsu Kitô, là người thể hiện ý định của Thiên Chúa, họ là con cái Thiên Chúa. Chính việc họ tin nhận Đức Kitô đã biện minh rằng Chúa Giêsu chính là Đấng cứu thế, và những người cố chấp là sai lầm. tuy ông Gioan và Chúa Giêsu có hai đường lối khác nhau nhưng cả hai đều cùng chung một mục đích là loan báo thời cứu độ đã đến, cả hai cùng phục vụ thánh ý của Thiên Chúa qua sứ vụ tiền hô của Gioan và sứ vụ cứu thế của Đức Kitô. Chúa Giêsu khiển trách và vạch rõ sai lầm của những người cố chấp, đặc biệt là nhóm biệt phái kinh sư. Chúa Giêsu đã áp dụng một phương pháp sư phạm khôn khéo và một cách thức tế nhị, đúng như người ta thường nói: “với người khôn thì nói mánh với người dại thì đánh đòn”.

Qua việc Chúa Giêsu than trách những người Dothái, chúng ta cũng nghe Chúa dạy chúng ta rằng: khi chúng ta làm bất cứ việc gì trong sứ vụ nào, chúng ta cũng không tránh khỏi những sự chê bai chống đối của người khác, làm cản trở công việc của chúng ta, chúng ta cần bình tĩnh và can đảm chịu đựng, vượt qua để trung thành với sứ vụ như Gioan tẩy giả, như Đức Kitô đã nêu gương cho chúng ta. Chúng ta cũng bắt chước Chúa Giêsu luôn yêu thương tôn trọng, tế nhị với người khác khi chúng ta cần sửa sai cho họ một điều gì.

Với thái đô cứng cỏi và kiêu ngạo của những Kinh sư và Pharisêu giúp chúng ta tự hỏi rằng chúng ta có thái độ, có cái nhìn như thế nào về Chúa Giêsu khi sống trong một thế giới vật chất và quyền lực đang chi phối ta?. Chắc chắn có những lúc chúng ta cũng yếu đuối, cứng lòng tin như những kinh sư và Pharisiêu. Thích đi tìm những nhược điểm của giáo lý, của Lời Chúa để bắt bẻ hơn là biểu lộ một thái độ khiêm tốn để tìm ra thánh ý của Thiên Chúa muốn nói với ta đang sau đó. Thiên Chúa luôn hiện diện hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Ngài đang ở giữa tôi và anh chị em, Ngài đang sống giản dị, gần gũi và hòa đồng với dân để trao ban sức mạnh, sự sống và ân sủng. Ta hãy trở nên khiêm nhường và dễ dạy trong đức tin để nhận ra Ngài và làm theo thánh ý của Ngài.

Khi đi làm tông đồ, và bản thân chúng ta cần khổ chế như Gioan tiền hô và cũng cần sống hoà đồng như Đức Kitô để tạo tình thân với mọi người, thuận lợi cho việc rao giảng. Chúng ta cũng cần nhìn lại bản thân trong cách sống khó hoà nhập với người khác, với Lời Chúa, với lời khuyên của Hội Thánh, đôi khi chúng ta cũng có thái độ sống khó đồng tình, khó cộng tác, không hiệp thông để tương trợ lẫn nhau làm cho bản thân, cộng đoàn không thăng tiến. Có khi làm hỏng việc chung nữa. Trong đời sống chung chúng ta cũng tránh sự phê phán lên án người khác theo khuôn mẫu tiêu chuẩn, thước đo của mình, để tránh bớt sự sai lầm của mình, cản trở đời sống, công việc của người khác và sự thăng tiến cũng như lợi ích chung.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta mặc lấy sự khôn ngoan của con cái Chúa, đó là sự khôn ngoan của trẻ thơ luôn biết sống khiêm tốn và tin tưởng. Xin Ngài củng cố chúng ta trong tâm tình ấy, để chúng ta luôn được trung thành với giáo huấn mà Ngài đã ủy thác cho Giáo Hội.

Thứ Năm tuần XXIV TN

Lc 7, 36-50

HÃY SÁM HỐI !

Có được bình an trong tâm hồn là điều quí giá nhất Chúa Giêsu mang lại cho con người. Nhưng để có được bình an ấy, điều kiện tiên quyết là con người phải có lòng sám hối.

Sám hối vốn là nội dung chủ yếu trong sứ điệp của Chúa Giêsu. Lời đầu tiên của Ngài khi bắt đầu sứ vụ công khai là: "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng". Ngài đến là để khơi dậy lòng sám hối của con người; Ngài đến là để hòa giải tội nhân với Thiên Chúa. Cái chết của Ngài trên Thập giá không phải là cái chết của nhà cách mạng hay chính trị gia, mà thiết yếu là để đền bù tội lỗi con người.

Trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Luca ghi lại một sự kiện được diễn tả tỉ mỉ về người phụ nữ tội lỗi tìm gặp Chúa Giêsu. Khởi đầu là hoàn cảnh của người phụ nữ trong tâm trạng ảo não tuyệt vọng của kẻ sống trong tội, nhưng kết thúc là ra về trong tâm trạng an bình, hân hoan.

Chúa Giêsu đến nhà một người Biệt Phái dùng bữa, cho chúng ta bài học về lòng bao dung của Chúa, để mời gọi chúng ta cũng phải sẵn lòng mở rộng vòng tay thân ái, cư xử thân thiện với hết mọi người, bất kể họ là ai, đang ở trong địa vị nào dù thấp kém, dẫu dị biệt về văn hóa, tín ngưỡng, hay khác biệt về màu da… để từ đó chúng ta sẽ nhận ra mọi người đều là anh em, con cùng một Cha trên trời, và mọi người có bổn phận phải cư xử với nhau trong tình bác ái anh em.

Trang Tin Mừng hôm nay kể rõ người phụ nữ đã biết mình là kẻ tội lỗi, nhận ra sự cần thiết của sự trở về và đã tìm gặp Chúa Giêsu. Bà đã chuẩn bị chu đáo cho việc quan trọng này, từ tâm hồn cho đến vật chất để thể hiện lòng mình, bất chấp những con mắt định kiến ích kỷ, những lời dị nghị, bất chấp sự khinh bỉ của những người đang hiện diện xung quanh. Bà đã thể hiện trọn vẹn lòng sám hối ăn năn. “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều”. Chúa Giêsu đã công khai bênh vực hành động của người phụ nữ này. Với câu chuyện hai con nợ kể cho Simon nghe, Ngài nhấn mạnh : càng cảm nhận được ơn tha thứ, con người càng được thôi thúc thể hiện lòng yêu mến nhiều hơn.

Người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay đã nhận ra sự cần thiết của sám hối. Bất chấp những lời dị nghị, bất chấp sự khinh bỉ của người xung quanh, bà đã thể hiện một cách chân thành và trọn vẹn lòng sám hối của mình. Chúa Giêsu đã nói lên ý nghĩa hành động của người phụ nữ này như sau: "Bà đã được tha nhiều, vì bà đã yêu mến nhiều". Càng cảm nhận được ơn tha thứ, con người càng được thôi thúc thể hiện lòng yêu mến nhiều hơn.

Quan sát người phụ nữ tội lỗi gần bên Chúa Giêsu, chị lặng thinh không thốt một lời, mọi ngôn từ giờ biến thành hành động: “Đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm” (Lc 7, 38). Chị gạt bỏ mọi rào cản để đến gần Chúa Giêsu và ở lại bên Ngài. Đức tin sống động nơi chị khởi đi từ lòng mến thiết tha. Chị đặt trọn niềm cậy trông vào Chúa Giêsu là nguồn cội của tình yêu thương tha thứ.

          Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về lòng sám hối ăn năn vì những tội lỗi, thiếu xót đã xúc phạm đến Chúa, đến tha nhân và nơi chính bản thân. Thiết nghĩ, chỉ khi chúng ta thật lòng trở về bên Chúa Giêsu, chúng ta mới khám phá được tình yêu thương và sự thứ tha của Thiên Chúa. Hơn ai hết, Thánh Phêrô đã có kinh nghiệm này để rồi ngài quả quyết: “Tình yêu phủ lấp muôn vàn tội lỗi” (1Pr 4, 8).

Thật vậy, người phụ nữ tội lỗi được Chúa Giêsu tha thứ để lại cho ta một bài học quý giá về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa để chúng ta luôn biết quay trở về mỗi khi lầm lỗi và biết sống tha thứ, cảm thông với tha nhân.

Lịch sử Giáo Hội được tô điểm bằng lòng sám hối thể hiện qua tình mến. Cuộc đời của bất cứ vị thánh nào cũng đều bắt đầu bằng lòng sám hối, nghĩa là ý thức sâu xa về tội lỗi của mình. Nhưng sám hối không chỉ là ý thức về tội lỗi của mình. Có lẽ không ai ý thức được hành động phản bội của mình cho bằng Yuđa, nhưng ý thức ấy chưa hẳn là sám hối. Phêrô cũng đã chối Thầy, nhưng nơi ngài lòng sám hối không chỉ dừng lại ở ý thức tội lỗi, nhưng đã biến thành tình yêu thương; Phêrô đã nói lên lòng sám hối bằng ba lần thưa với Chúa: "Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa".

Trong suốt dòng lịch sử, Giáo Hội đã được tô điểm bằng lòng sám hối thể hiện qua tình mến của các thánh. Trong bài đọc thứ nhất, Thánh Phaolô tông đồ đã nhấn mạnh : “Tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.” Từ một sự trở lại với Chúa tưởng như khó có thể xảy ra, Thánh Phaolô đã ngày một yêu mến nhiều hơn,để rồi Ngài thực hiện biết bao kỳ tích trong việc truyền giáo. Cuộc đời của bất cứ vị thánh nào cũng đều bắt đầu bằng lòng sám hối.

Với lòng ý thức sâu xa về tội lỗi của mình, chúng ta tìm về với Chúa, thể hiện lòng ăn năn và hoán cải, trong lòng không còn tiếc nuối những gì trong quá khứ, những gì đã có. Dẫu là bình bạch ngọc, dầu thơm quý giá. Hành động thể hiện lòng yêu mến cách tích cực với Chúa.

Cũng sám hối, nhưng thể hiện như cách của Giu-đa thì không thể hiện được lòng sám hối đích thực. Nó triệt tiêu đi sự trở về và lòng yêu mến cần có với Chúa. Và cũng với lòng sám hối, Phêrô đã không dừng lại ở thâm tâm ghét tội lỗi của mình vì đã chối thầy, mà đã xoay biến thành lòng yêu mến nhiệt thành với Chúa đúng như những lần thưa lên với Chúa Giêsu : “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa”. Hành động của Phêrô sau đó đã mạnh mẽ đáp báo với lòng tin yêu của Thầy Chí Thánh, và có sự tương tác, lòng mến của Phêrô ngày một mãnh liệt hơn, sự thể hiện ra hành động đến tột bậc là chết vì lòng tin, cậy, mến Chúa.

Thật đáng để mọi người suy gẫm và lo lắng, nếu loài người dần đánh mất đi nhận thức về tội lỗi, về lòng sám hối. Nói những lời nói, làm những hành động gớm ghê mà dửng dưng, xem như không mảy may suy nghĩ lại. Con người ngày một hời hợt với ý thức tội lỗi, thì đương nhiên con người không còn cảm nhận được thế nào là ơn tha thứ của Chúa, và thế là cũng đánh mất sự cảm thông với người khác. Lúc ấy sự khoan dung tha thứ cho tha nhân là điều xa vời khó tránh khỏi.

Chúa luôn mời gọi chúng ta trở về và sám hối. Ngài sẵn lòng ban cho chúng ta sự bình an tâm hồn như lời Ngài phán hứa : “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban bình an của thầy cho các con…”. Xin Chúa cho chúng ta luôn được bình an trong tâm hồn.

Thứ Sáu tuần XXIV TN

Mt 9, 9-13

THEO CHÚA NHƯ MATTHÊU

Trải dài lịch sử cứu độ, ta thấy lòng cảm thông và tha thứ của Thiên Chúa được thể hiện qua không biết bao nhiêu cuộc gặp gỡ của Ngài với các tội nhân cũng như những bài dụ ngôn của Ngài. Tha thứ thiết yếu có nghĩa là tạo ra một cơ may cho người khác. Với người thu thuế tên là Lêvi, Chúa Giêsu đã kết nạp ông vào hàng ngũ các môn đệ của Ngài. Với Gia kêu, thủ lãnh của những người thu thuế, Ngài đã đến tận nhà viếng thăm. Với người đàn bà phạm tội ngoại tình, Ngài đã nói với tất cả tâm tình trìu mến: Chị hãy về, và đừng phạm tội nữa. Với Phêrô, người môn đệ thân tín phản bội, Chúa Giêsu đưa mắt nhìn với tất cả cảm thông và thương mến.

Lời mời gọi của Chúa vẫn luôn vang vọng và tha thiết: “Hãy theo Ta”. Tâm tình đáp trả còn tùy thuộc ở thái độ của mỗi người chúng ta.

Khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu rao giảng rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 4,17). Chúa không thụ động chờ đợi con người ăn năn sám hối, nhưng luôn tìm kiếm những người tội lỗi để mời gọi họ đổi mới đời sống của mình. Chúa gọi Matthêu, một người thu thuế, trở nên tông đồ của Chúa. Chúa đồng bàn với những người tội lỗi để thánh hóa cuộc đời của họ.

Matthêu là một trong nhóm 12 tông đồ. Ngài là nhân viên thu thuế, được Chúa Giêsu gọi lúc ngồi ở bàn thu thuế. Theo Pa-pi-as (Giám Mục thành Hieropôlis khoảng năm 138) thì Matthêu cũng được gọi là Lêvi, đã soạn Phúc Âm bằng tiếng Aram, nhưng bản đó đã bị thất lạc. Hiện người ta chỉ tìm được những bản bằng tiếng Hy Lạp.

Nhờ tiếp xúc với Chúa Giêsu, Matthêu đã dứt khoát với quá khứ tội lỗi của mình và biết bao nhiêu con người tội lỗi khác cũng nhận được ơn thứ tha để hoán cải. Tất cả đều do tình yêu của Chúa Giêsu đối với các tội nhân. Chúa đi bước trước và đến tìm gặp con người trong vũng lầy tội lỗi. Chúa tạo nên cơ may để tội nhân làm lại cuộc đời. Phần của con người là đón nhận lời mời gọi của Chúa để làm mới lại cuộc sống mình.

Chúa kêu gọi Matthêu làm môn đệ khi Người đi ngang qua bàn thu thuế của ông. Matthêu đã chỗi dậy và đi theo Người. Sự đáp ứng của Matthêu rất mau mắn và quảng đại. Có lẽ ngài đã nhiều lần được gặp Thầy Chí Thánh, và chỉ chờ đợi cơ hội quan trọng này mà thôi. Ngài đã không chần chừ trong việc từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Chỉ một mình Thiên Chúa biết tại sao Người lại tuyển chọn Matthêu, và cũng chỉ một mình thánh nhân mới có thể cho chúng ta biết ngài đã nhận thấy điểm gì nơi Chúa Giêsu đến nỗi đã lập tức rời bàn thu thuế để đi theo Người. Thánh Gioan Kim Khẩu nói, Chúng ta thấy vì sự vâng phục mau mắn và trọn vẹn mà Matthêu đã tức khắc từ bỏ tất cả tài sản thế gian để đi theo Chúa khi được kêu mời đúng lúc.

Điều Thiên Chúa cần nơi con người là “lòng nhân” chứ không phải là “lễ tế”. Chính lòng mến chân thành làm nên giá trị con người trước mặt Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã từng đánh giá cao người đàn bà góa nghèo dâng cúng chỉ có hai đồng tiền kẽm nhưng với tất cả tấm lòng chân thành (Mc 12, 41-44). Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Matthêu, một người bị giới lãnh đạo Dothái giáo loại trừ và xem là hạng người tội lỗi, để làm môn đệ của Ngài. Vì Chúa thấu rõ con người ông hơn bất kỳ ai và ông cũng đã biết mau mắn, chân thành đáp lại lời mời gọi yêu thương của Ngài.

Nước Trời chỉ dành cho những ai biết sám hối ăn năn. Không ai trong chúng ta dám tự phụ cho rằng mình là người công chính không cần hối cải. Thiên Chúa luôn dủ lòng xót thương những con người tội lỗi. Ngài vẫn dang rộng đôi tay để đón chờ sự trở lại của mỗi người chúng ta. Tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta hãy chân thành nhìn nhận những tội lỗi của mình, can đảm xưng thú tội lỗi và sẵn lòng để Chúa đến biến đổi đời ta. Chính khi có Chúa trong cuộc đời, chúng ta sẽ trở nên con người mới, nên con cái trong nhà Chúa.

Cuộc sống của người được mời gọi theo Chúa Kitô, như tất cả chúng ta đều thấy, không thể giống như cuộc sống của người anh trong dụ ngôn người con hoang đàng. Anh ta trung thành sống bên cha, làm việc chăm chỉ, và không phung phí tài sản của cha.

Tuy nhiên, anh ta thiếu niềm vui và đức ái đối với em trai mới sám hối trở về của anh. Anh ta là biểu tượng rõ nét của loại người công chính nhưng không hiểu được niềm vui được sống bên Chúa và tình thân với tha nhân. Phụng sự Chúa tự thân là một phần thưởng đúng nghĩa, bởi vì phụng sự Chúa là được cùng Người cai trị. Thiên Chúa muốn chúng ta phụng sự trong vui tươi, chứ không miễn cưỡng, bởi vì Thiên Chúa yêu thương người hiến dâng vui tươi. Lúc nào cũng có rất nhiều lý do để vui tươi, tạ ơn và hạnh phúc khi chúng ta được hiến thân cho Chúa và tích cực đáp lại tiếng gọi của Người.

Chúa Giêsu, Ngài muốn lòng nhân từ của chúng ta dành cho nhau hơn là những hy lễ thiếu tình yêu. Ngài muốn chúng ta có cái nhìn cảm thông với người tội lỗi hơn là cái nhìn khắc khe, kết án. Điều này, chính Chúa đã thực hiện cho ông Lêvi hôm nay. Chúa đã đi bước trước đề ngỏ lời cùng ông. Chúa đã mở ra cho ông một con đường trở về nẻo chính đường ngay. Chúa cũng mời gọi chúng ta hôm nay hãy lấy lòng nhân từ mà đối xử với nhau. Đừng kết án nhau. Đừng xua đuổi nhau, nhưng biết dùng tình yêu để cảm hoá anh em. Ai cũng có lầm lỗi. Ai cũng có thiếu sót. Đôi khi chỉ vì hoàn cảnh mà sa ngã, phạm tội. Hãy giúp nhau làm lại cuộc đời. Hãy tạo cho nhau điều kiện môi trường tốt để tránh xa dịp tội. Hãy dùng tình thương để góp ý xây dựng cho nhau thay vì kết án nặng lời với nhau.

Chúa Giêsu Kitô đến bên từng người chúng ta – cho dù chúng ta đang sống trong độ tuổi hoặc hoàn cảnh nào – và ánh nhìn của Chúa tiếp xúc với ánh mắt chúng ta một cách cá biệt. Người mời gọi chúng ta bước theo. Trong hầu hết các trường hợp, Chúa để chúng ta lại giữa trần gian, công việc, và gia đình. Hãy suy nghĩ về điều Chúa Thánh Thần đã phán, và hãy để ta biết sợ hãi và tri ân. Người đã tuyển chọn chúng ta trước khi tạo dựng thế gian để chúng ta nên thánh thiện trước mặt Người.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại cách sống đạo của mình để biết đến với Chúa với cả tấm lòng, để dành cho Chúa chỗ nhất trong cuộc đời mình. Chính Chúa phải vượt lên trên công việc của Chúa.

Ngày hôm nay, Chúa cũng đang mời gọi mỗi người chúng ta hãy làm tông đồ cho Chúa. Thế nhưng, tôi có đáp lại lời mời gọi của Chúa cách thành tâm, thiện chí hay không ? hay tôi còn đang vướng víu bởi những của cải vật chất làm cho tâm hồn tôi trở nên nặng trĩu trước lời kêu gọi của Chúa. 

Chúa đã không chê trách người tội lỗi, nhưng Chúa đã cảm thông, tha thứ và còn kêu mời họ đi làm tông đồ cho Chúa. Xin cho chúng ta biết noi gương Chúa, biết tha thứ, quảng đại, bao dung với anh em chúng ta và xin Chúa ban cho chúng ta một tinh thần hăng say để đáp lại lời kêu mời của Chúa bằng một đời.

 

Thứ Bảy tuần XXIV TN

Lc 8, 4-15

HÃY SINH HOA KẾT QUẢ NHƯ LÒNG CHÚA MONG MUỐN 

          Chúa Giêsu đã dùng những một hình ảnh nhà nông để diễn tả mầu nhiệm Nước Trời. Cùng một thứ hạt giống, cùng được gieo như nhau, nhưng gieo xuống rồi có mọc lên được hay không, trổ sinh bông hạt nhiều hay ít là tuỳ ở đất: Mảnh đất đó là sỏi đá hay gai góc, được cày bừa chăm sóc hay bị bỏ bê, sẽ đem lại kết quả khác nhau vào cuối vụ mùa. Đối với Lời Chúa cũng thế. Thiên Chúa như ông chủ hào phóng gieo Lời Ngài vào mọi mảnh đất tâm hồn, không loại trừ ai. Lời gieo vào đôi tai có trổ sinh bông hạt là hành động của đôi tay hay không là tuỳ ở người nghe, có đón nhận với tâm hồn sẵn sàng và đôi tay rộng mở để thực hành Lời Chúa.

 “Người gieo hạt giống ra đi gieo hạt giống mình. Và đang khi gieo, có hạt rơi xuống bên vệ đường, bị người ta chà đạp và chim trời đến ăn đi. Hạt khác rơi trên đá sỏi, vừa mọc lên liền héo đi, vì không có đất ẩm. Hạt khác rơi vào bụi gai, và gai góc cùng mọc lên, bóp nghẹt nó. Hạt khác rơi vào đất tốt, đã mọc lên và kết quả gấp trăm” (Lc 8, 5-8).

          Dụ ngôn “người gieo giống” là một trong bảy dụ ngôn Chúa Giêsu dùng để nói về Nước Trời. Thiên Chúa chính là người gieo giống. Mỗi người là những mảnh đất. Hạt giống Nước Trời là lời giảng dạy của Chúa Giêsu. Hạt giống Nước Trời được gieo vãi vào nơi: vệ đường, sỏi đá, bụi gai và đất tốt. Nhưng chỉ nơi đất tốt hạt giống mới trổ sinh bông hạt và làm cho công khó của người gieo giống không trở nên vô ích.

          Mỗi Kitô hữu được mời gọi trở nên “mảnh đất tốt bền vững” cho hạt giống Lời Chúa sinh hoa kết quả dù trong tâm hồn vẫn thường tồn tại những môi trường đất khác nhau, có khi là mảnh đất tốt, nhưng cũng có khi chỉ là vệ đường, sỏi đá, bụi gai. Để trở thành đất tốt đón nhận hạt giống Lời Chúa, cần có một tâm hồn khao khát lắng nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ mà kiên trì thực hiện; là đi con đường Chúa Giêsu đã đi : “từ bỏ mình, vác thánh giá hằng ngày theo Chúa” và sống giới răn mến Chúa – yêu người.

Mỗi khi đọc Tin mừng này mỗi người chúng ta phải tự vấn lương tâm trước Thiên Chúa :

Là hạt giống gieo trên vệ đường : nếu tâm hồn tôi là mảnh đất vệ đường, có nghĩa là mảnh đất trơ trơ, chai lì, không cuốc xới bao giờ, cũng không vun tưới đó là tôi đã hoàn toàn để cho ma quỷ làm chủ tâm hồn mình, tôi không chịu rèn luyện, không hy sinh, không cố gắng nghe theo Lời Chúa dạy qua nhiều cách khác nhau.

Là mảnh đất sỏi đá : tôi không có lập trường vững chắc, ai nói hay là ngả theo.

Là mảnh đất có nhiều gai góc : Người nhà nông chúng ta thấy rõ điều này là khi chúng ta gieo lúa thì bao giờ cỏ gai cũng mọc mau hơn là lúa. Nếu hạt giống có mọc lên được thì cũng bị gai làm chết nghẹt hoặc cây sẽ vàng, èo uột và không thể sinh hoa trái được. Đó là tâm hồn ngổn ngang đầy những tính mê nết xấu, mà ta không cố gắng diệt trừ thì Lời Chúa không thể tồn tại và có kết quả được.

Là mảnh đất tốt : may mắn cho  hạt giống rơi nhằm mảnh đất tốt là tôi luôn phải cuốc xới, tưới nước,  chăm bón từng ngày. Tâm hồn là mảnh đất tốt là khi nghe Lời Chúa người ấy thành tâm thiện chí tin yêu và đem ra thực hành ngay cả những khi cuộc sống của họ gặp khó khăn gian khổ, thử thách. Nhờ đó Lời Chúa sinh hoa kết qủa thật dồi dào (gấp trăm).

Một điều thật trớ trêu: đang khi Thầy loan báo cuộc khổ nạn thì trò lại tranh giành địa vị cao thấp. Cách cư xử của Chúa Giêsu thật tế nhị: Ngài không xen vào  cuộc tranh luận, mà Ngài đợi về đến nhà mới hỏi. Ngài cũng chẳng nặng lời với các ông. Cách giáo dục của Chúa Giêsu cũng thật khéo léo: Ngài không dập tắt tham vọng của các môn đệ. Ngài thanh lọc và hướng tham vọng ấy lên cao hơn.

Để thay cho tham vọng thống trị, Chúa Giêsu hướng các ông đến lòng khát khao phục vụ. Thay cho tham vọng vun quén mọi sự cho bản thân, Ngài hướng các ông đến ước muốn xả thân cho người khác. Trong Nước của Chúa Giêsu, người lớn nhất là người phục vụ hết mình nhất.

          Họa sĩ Van Gogh nói rằng: “Cuộc đời là thời gian gieo trồng, chứ chưa phải là mùa gặt hái”. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi thấy Thiên Chúa, được ví như người gieo giống, đã gieo cách kiên trì, rộng rãi đến độ hoang phí các hạt giống Lời Chúa.

Chúng ta cần cày xới, vun tưới thửa đất tâm hồn chúng ta mỗi ngày bằng cách chúng ta đặt niềm tin vững chắc vào Lời Chúa, luôn cố gắng loại bỏ những đam mê, tật xấu để hạt giống Lời Chúa sinh hoa trái dồi dào hầu nước Chúa mỗi ngày được lan rộng tới mọi tâm hồn.

Hạt giống Lời Chúa là yếu tố chính của dụ ngôn. Hạt giống này tự nó có sức trổ sinh hoa trái, nhưng khi được gieo vãi thì gặp những hoàn cảnh đối nghịch tùy vào thái độ chấp nhận cộng tác của con người lãnh nhận Lời Chúa. Người gieo giống ở đây là chính Thiên Chúa, Ngài gieo vãi khắp nơi, trao ban nhưng không ơn cứu rỗi cho mọi người. Thiên Chúa có sáng kiến trước, nhưng con người cũng cần cộng tác vào: hai yếu tố này không thể bỏ qua được.

Hôm nay chúng ta nói đến thân phận của hạt giống rơi vào bụi gai, tiêu biểu cho thái độ đón nhận Lời Chúa thường gặp nơi chúng ta. Bụi gai tượng trưng cho nỗi bận tâm về chuyện đời, về ham mê của cải, công ăn việc làm khiến cho cây Lời Chúa chết nghẹt.

Huệ Minh 14-9-2015.