Chúa Nhật Tuần XXVIII Mùa TN B-2018

Kn 7, 7-11; Dt 4, 12-13; Mc 10, 17-27 hoặc 17-30

 

TỪ BỎ

Chàng thanh niên trong trang Tin Mừng hôm nay là con người có đầu óc, biết nhìn xa thấy rộng. Anh có nhiều của cải nhưng anh biết rằng mai đây anh chết đi thì tài sản cũng chẳng còn nghĩa lý gì. Vì thế anh tìm gặp Chúa Giêsu để xin Ngài chỉ giáo cho biết phương cách đạt được sự sống đời đời.

Người thanh niên trong Tin mừng hôm nay là người trẻ đàng hoàng và lương thiện, sống một cuộc sống không có gì đáng chê trách, không có tội lỗi gì đáng phàn nàn, không có tật xấu để sửa sai. Anh là hình ảnh người Công chính Cựu ước chu toàn lề luật. Chúa Giêsu âu yếm nhìn anh và muốn anh tiến thêm một bước nữa để nên người Công Chính Tân Ước: bán gia tài đem bố thí cho người nghèo, sẽ có một kho báu trên trời và hãy theo Người. Đó là điều kiện nên người Công chính Tân ước.

Chúa Giêsu nhìn anh với ánh mắt trìu mến. Khi biết anh đã giữ trọn các giới răn, Chúa "Chăm chú nhìn anh và đem lòng thương". Chúa thương vì thấy chàng trai trẻ thành tâm thiện chí. Chúa muốn giúp anh đi xa hơn trên con đường trọn lành, con đường tìm kiếm, con đường đòi hỏi từ bỏ và quảng đại. Chúa chỉ cho anh thấy con đường: "Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi" (Mc 10, 21).

Đây là điều duy nhất, căn bản và cốt yếu để anh được hạnh phúc, được sự sống đời đời.

Tiền của đã làm cho chàng thanh niên phải bỏ cuộc, không còn đủ sức đi theo Chúa. Chàng đành phải sống một nếp sống bình thường. Bởi sức ràng buộc của nó, tiền của là một trở ngại lớn để vào Nước Trời. Vì thế Chúa Giêsu khuyên chúng ta phải từ bỏ. Sự từ bỏ này mang nhiều hình thức và mức độ khác nhau tuỳ hoàn cảnh mỗi người. Nhưng trong mọi trường hợp, điều không thể thiếu vắng đó là lòng siêu thoát.

Xét cho bằng cùng Chúa Giêsu không lên án người giàu cũng không chúc lành cho người nghèo. Những người "đàn bà thánh thiện" đi theo Chúa, họ là những người giàu có, đem tiền của trợ giúp Ngài và các môn đệ trong công việc truyền giáo, họ đâu bị kết án. Cũng như khi Maria, em của Mattha và chị của Lagiarô, đem bình thuốc thơm mà Giuđa đánh giá đến 300 đồng (công nhật một người thợ thời ấy là một đồng), Ngài không chối bỏ cử chỉ yêu mến đó. Cũng như nhiều lần, Ngài đi dự những bữa ăn sang trọng của người biệt phái giầu có (Lc 7,36-38; Mc 14,3-9), hay những người thâu thuế có tiền (Lc 19,1-10). Vậy, Chúa lên án sự gì?

Chúa lên án sự ham mê tiền bạc. Tiền của hay làm người ta ham mê dính bén. Tiền bạc hay làm cho lòng người ta đen bạc, khó vào Nước Thiên Đàng. Chúa phán: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa". Câu nói ấy có nghĩa làm sao? Đây là một từ ngữ Á đông để chỉ một việc làm rất khó. Sách Talmud của Do thái cũng có một thành ngữ tương tự: "Khó như con voi chui qua lỗ kim!"

Chúa Giêsu lên án những người không biết dùng tiền của, làm nô lệ tiền của. Thật khó cho người giầu, có thể trở nên một Kitô hữu chân thật khi họ coi đồng tiền là chúa tể. Điển hình là người thanh niên hôm nay, anh không dám hay không đành dấn thân theo chân Chúa, như Phêrô và các bạn ông đã làm.

Người giàu có không được cứu độ chẳng phải vì họ giàu, nhưng sự trói chặt của vật chất làm họ nô lệ cho của cải và lãng quên Thiên Chúa. Của cải có thể là cạm bẫy che mất lương tâm, cản trở bước đường đến trọn lành. Người ta thường nói: Người giàu lấy của che thân. Người nghèo lấy thân che của. Đồng tiền liền với khúc ruột. Giàu không phải là tội, nghèo chẳng phải là nhân đức.

Điều quan trọng theo tinh thần Phúc âm là thái độ con người trước của cải vật chất. Chúa Giêsu đã nhiều lần ví những người giàu có như ông phú hộ tích trữ thóc lúa ăn chơi thỏa thích. Hay như ông phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, không để ý đến Lagiarô đói khổ thèm được mấy thứ rơi từ bàn ăn rơi xuống mà vẫn không được (Lc 12, 16-21; 16, 19-26). Thiên Chúa bảo các ông phú hộ đó: "Đồ ngốc, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng sống ngươi" (Lc 12, 20). Khi các phú hộ ở dưới âm phủ, ngước mắt lên kêu: "Ở đây con bị thiêu đốt khổ lắm", Tổ phụ Abraham đáp lại: "Con ơi, hãy nhớ lại, suốt đời con đã được sướng rồi, bây giờ, phải chịu cực khổ thế là phải rồi" (Lc 16, 23-25).

Chỉ có những người có tinh thần nghèo khó Phúc Âm mới là những người tự do, những chứng chân thật sự và quả cảm. Phaolô nói: "Chúng tôi là những kẻ được coi là không mảy may, nhưng lại được mọi sự làm sở hữu" (II Cr 6,10). Và chị Thánh Têrêxa nói: "Từ khi tôi từ bỏ mọi sự, tôi sống thật hạnh phúc, tôi như được sống lại"

Có thể khi nghe đoạn tin mừng hôm nay, nhiều người cho rằng Chúa không nói với tôi, vì tôi vẫn còn nghèo lắm! Tôi đâu có gì để cho! Chúa đang nói với người hàng xóm ích kỷ gần cạnh nhà tôi. Chúa đang nhắc nhở những người giầu có ở trong xứ đạo của tôi. Thế nên, tôi an tâm. Vì Chúa không trách cứ những người nghèo đói như tôi. Vâng, có lẽ nhiều người đã nghĩ như vậy. Có những người cả một đời chưa một lần bố thí cho một ai đó. dù chỉ là một chén cơm, một chút mắm muối gọi là "tối lửa tắt đèn có nhau". Có những người cả một đời chỉ biết dùng đôi tay để nhận lãnh mà quên rằng đôi tay còn có khả năng để trao ban. Có những người chỉ chờ mong anh em nói tốt về mình, nhưng bản thân lại chưa một lần nói tốt cho anh em.

Cuộc đời họ vẫn còn thiếu. Thiếu lòng quảng đại. Thiếu tấm lòng chia sẻ, trao ban. Họ cần phải bán đi cái tôi ích kỷ của mình để mở rộng trái tim đến với anh em. Họ cần bán đi một chút nhu cầu của bản thân để chắt chiu từng nghĩa cử tốt với tha nhân. Họ cần bán đi bản tính tự cao tự đại của mình để sống khiêm nhường với tha nhân. Có như vậy, cuộc đời họ mới thực sự có ý nghĩa. Vì giá trị sống ở đời là trở nên có ích cho đồng loại, nếu cuộc đời của chúng ta thực sự không mang lại ích lợi gì cho gia đình, cho xã hội thì cuộc sống đó có dài đến trăm năm vẫn là con số không, hay chỉ là một đời sống thực vật, vì trái tim đã không đủ cung cấp nhựa sống cho cơ thể của mình.

Từ bỏ là mức độ siêu thoát cao nhất, là thái độ chọn lựa Thiên Chúa và Nước Trời làm ưu tiên hàng đầu. Đó là một thái độ tích cực chứ không phải là tiêu cực. Nó không bao hàm sự khinh chê những giá trị vật chất và nhân bản, nhưng biểu thị nỗ lực tìm kiếm những giá trị tâm linh thiết yếu mà nếu thiếu thì ngay cả những giá trị vật chất và nhân bản ấy sẽ bị sụp đổ, bởi vì: Người ta không sống chỉ bằng cơm bánh.

Qua trang Tin Mừng này, Chúa Giêsu muốn dạy ta một bài học quan trọng, đó là phải khôn ngoan dùng những của cải tạm bợ đời này để đổi lấy kho tàng vô tận trên thiên quốc; hay nói một cách bình dân là "bỏ con tép bắt con cá" mà cá đây lại là cá voi! Vì phần bỏ ra rất nhỏ nhưng phần thu lại thật lớn lao. 

Huệ Minh 2018

 

Chúa Nhật 28 Thường Niên Năm B-2015

Kn.7, 7-11; Dt.4, 12-13; Mc.10, 17-30

 

KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC 

          Ta vừa được nghe lại câu chuyện khá thú vị về cuộc gặp gỡ hay nói đúng hơn là cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và chàng thanh niên. 

          Thánh Máccô ghi lại rằng đây là chàng thanh niên nhưng có lẽ chàng thanh niên này lại là chàng rất đặc biệt. Đặc biệt bởi lẽ ở tuổi xuân thôi nhưng anh lại nghĩ đến đời sau. Chính vì thế, anh ta không ngần ngại hỏi Chúa Giêsu : "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?" 

          Nghe câu hỏi thật lý thú, Chúa Giêsu không trả lời ngay câu hỏi của anh nhưng Chúa Giêsu trả lời khác đi một tí : "Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa. Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ". 

          Nghe như vậy, chàng trai cũng hết sức thẳng thắn, chàng bộc bạch : "Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ". 

          Phải nói rằng, có lẽ Chúa Giêsu cũng khá sốc bới lẽ dường như chưa bao giờ trong đời mà Chúa lại gặp một chàng trai trẻ mà lại ngoan ngoãn đạo đức đến như vậy. Nhìn thấy anh và nhất là câu trả lời của anh để rồi ta nhìn thấy ánh mắt của Chúa Giêsu thật dễ thương. Thánh Máccô kể tiếp : Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: "Ngươi chỉ thiếu một điều, là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta". 

          Câu chuyện đang hay bỗng dưng kết thúc và theo như ngôn ngữ bình thường là kết thúc không có hậu bởi lẽ chàng thanh niên đã bỏ đi vì buồn. Không buồn sao được khi anh ta có quá nhiều của cải. 

          Thoạt đầu ta thấy anh ta khôn để hỏi về sự sống đời đời nhưng rồi sau đó xem chừng ra anh ta dại. 

          Ở đời, cần lắm sự khôn ngoan để minh định về cuộc đời, để định hướng cho mình một lối sống. 

          Trang sách Khôn ngoan mà chúng ta nghe ở bài đọc thứ nhất đó chính là lời của Salomon. Ông nổi tiếng thông minh nhất đời, ít là theo ý kiến người Dothái. Không phải tự ông có sự khôn ngoan vượt bực ấy. Ông đã xin cùng Thiên Chúa và Người đã thương ban cho ông vì ông biết quý nó hơn hết mọi sự ở đời. 

          Nói về điểm này, ta thấy ông đã nói đúng. Sách Các Vua quyển I còn kể (3,4-14): khi mới lên ngôi, Salomon đã đến Gabaon, một thánh điện nổi tiếng thời bấy giờ. Ông dâng có cả hàng nghìn tế vật lên Thiên Chúa. Người đã hiện ra với ông và hỏi ông xin gì? Ông khiêm tốn thú nhận mình còn trẻ trung mà phải cai trị một dân tộc "đông đúc"; nên ông không xin điều gì khác ngoài một lòng trí biết nghe lời Chúa để trị dân và phân biệt phải trái mà thôi. 

          Có thể nói rằng may mắn cho ông vì điều ông xin đã đẹp ý Chúa và Salomon đã nhận được ơn khôn ngoan. 

          Câu đầu của đoạn sách hôm nay nhắc lại câu chuyện ấy. Và những câu sau làm chứng Salomon đã nhớ kỹ những lời Chúa phán hôm ở Gabaon. Người bảo: vì ngươi đã xin sự khôn ngoan chứ không xin được sống lâu giàu bền hay là chiến thắng trên quân thù nên Ta se cho ngươi một lòng trí khôn ngoan đến nỗi trước và sau ngươi không có ai trong thiên hạ khôn ngoan bằng ngươi. Salomon đã nhớ lời này. Ông hằng suy niệm. Và hôm nay trong đoạn sách Khôn ngoan chúng ta vừa nghe, ông lặp đi nói lại rằng ông quý sự khôn ngoan hơn hết. Sức khỏe và sắc đẹp, vàng bạc và ánh sáng, tất cả đều như cát mạt sánh với sự khôn ngoan. Ðược nó là có mọi sự vì nó nắm giữ mọi sự trong tay. 

          Ðối với Salomon, khôn ngoan là một sự gì rõ rệt. Ðó là tài cai trị dân theo đúng ý Chúa. Nói đúng hơn đó là ơn trung thành biết lắng nghe lời Chúa và hiểu ý Người để lãnh đạo dân. Sự khôn ngoan đó chắc chắn không dành cho mọi người. Và không phải ai ai cũng cần cầu xin ơn ấy. Khôn ngoan khuyên bảo hết thảy chúng ta ao ước sự khôn ngoan, thì nó muốn nói đến sự khôn ngoan nào? 

          Đây là câu hỏi không dễ trả lời chút nào cả. Theo dõi sách Khôn ngoan từ đầu tới cuối, chúng ta thấy tác giả không bao giờ định nghĩa sự khôn ngoan bằng những công thức cụ thể. Dường như khôn ngoan là một huyền nhiệm. Người ta phải cố gắng mon men tới gần. Và tùy như mức cải tạo thực hiện được khi tiến lên với đức khôn ngoan, người ta mới hiểu thêm được và lãnh nhận dần được ơn cao cả này. 

          Và cuối, ta có thể nói, khôn ngoan chính là Thiên Chúa, là thần trí của Người, là sự sống của Người, không phải như một thực tại ở xa chúng ta, nhưng đang muốn đến với chúng ta để làm cho chúng ta nên khôn ngoan hơn, tức là thánh thiện hơn và do đó hạnh phúc hơn. 

          Qua đây, ta lại có cơ hội để nhìn lại mình để xem ta khôn ngoan ở mức độ nào và khôn ngoan như thế nào ? Ta khôn ngoan theo kiểu thế gian hay khôn ngoan theo kiểu người đời. 

          Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,
mạnh giỏi chăng là được tám mươi,
mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,
cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.
Cơn giận Ngài, ai lường được sức mạnh,
trận lôi đình, ai hiểu thấu căn nguyên ?
Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.

(Tv 89, 10-12) 

          Cuộc đời con người là như vậy. Dù giàu dù nghèo và gia tài kếch xù như chàng thanh niên đi chăng nữa cũng sẽ phải ra đi, sẽ phải khuất chứ không thể nào lột da sống đời để hưởng thụ. Chính vì thế, ta lại cần đi tìm sự khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa. Khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa đó là ta được mời gọi bán mọi sự để theo Chúa. 

          Vẫn là con người, vẫn mang trong mình những bám víu của trần gian. Ta lại xin Chúa thêm ơn cho ta để ta từ bỏ những gì làm cho ta không thanh thoát, những gì làm ta không đến gần Chúa được.

Huệ Minh


Lạc đà có thể chui qua lỗ kim

Nếu Bill Gates hôm nay đi lễ tại các nhà thờ Công giáo, chắc hẳn phải giật mình vì một so sánh của Chúa Giêsu gây thất vọng cho kẻ có tiền: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Đàng”.

Nhưng, có 2 cách để con lạc đà có thể chui qua lỗ kim:

(1) làm cho lỗ kim thật to.

(2) thu con lạc đà lại thật nhỏ.


1. Lỗ kim to


Ta từng thấy thế giới của những vật khổng lồ, như chiếc bánh Trung Thu năm nào tại Maximart đủ cho 10 ngàn người. Bánh tét tại Nha Trang dài đủ cho 5.000 người, thì một cây kim khổng lồ, với lỗ kim thật to, thì có đến 2 con lạc đà, một bướu hay hai bướu cũng băng qua lọt, chứ đừng nói gì một con.

Vậy người giàu có nếu muốn lọt vào Nước Trời, thì cũng hãy làm cho lỗ kim rộng ra. Rộng là quảng. Rộng ra là quảng đại. Tiền chỉ lo thu vào mà không cho đi, thì chẳng khác gì làm lỗ kim thu nhỏ lại. Một ngón tay cũng không chui lọt, chứ đừng nói cả bàn tay, cả con người.

Giakêu Trưởng ty Quan thuế, giàu nứt đố đổ vách, làm sao chui lọt lỗ kim, nếu ông không thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”. Giakêu đã nới rộng lỗ kim 4 lần, nên dễ dàng để ơn cứu độ lọt vào nhà.

Trên bia mộ trong một nghĩa trang kia có khắc mấy dòng chữ sau đây cũng đáng cho chúng ta suy nghĩ :

Những gì tôi có, nay đã thuộc về người khác.

Những gì tôi đã mua sắm, nay người khác hưởng dùng.

Những gì tôi đã cho đi, nay thuộc về tôi.

Chính những cái mình cho đi, mình quảng đại ban phát, thì mới làm cho lỗ kim rộng rãi ra thêm, hầu con lạc đà có thể chui lọt. Và như thế, người càng giàu có càng ban phát càng dễ vào Nước Chúa. Khi cho đi là lúc nhận lãnh (Thánh Phanxicô).

2. Thu nhỏ con lạc đà lại

Chắc một số người trong chúng ta đã từng đi xem triển lãm về thế giới thu nhỏ lại gọi là miniature, nơi mà trên một cọng tóc, người ta khắc được cả một đoàn lạc đà, và ở đầu một cây kim khâu, nằm gọn 3 chú lạc đà nơi lỗ kim nhỏ. Dĩ nhiên muốn xem chúng phải dùng kính lúp hoặc hiển vi. Vậy muốn lạc đà chui qua lỗ kim khâu, hãy thu nhỏ con lạc đà lại.

Thu nhỏ lại là nó đang lớn biến nó thành nhỏ. Có một bộ phim mang tựa đề tương tự: Tôi đã thu nhỏ con tôi. Có nhiều cách thu. Có nhiều cách biến. Riêng đối với tiền của, có một cách biến nó thành nhỏ là: đổi ngôi cho nó. Nó đang làm chủ, oai nghi bệ vệ, hãy biến nó làm tôi, làm đầy tớ trong tay. Nếu để tiền của làm chủ, đừng hòng chui lọt lỗ kim. Nhưng nếu biến nó thành tên đầy tớ hèn mọn, nhỏ bé, ta sử dụng thế nào tùy ý ta, ta sai nó đi đâu nó đi đó, ta chuyển nó cho ai, nó nghe theo, vậy là ta có thể cho nó đi qua lọt tủm vào lỗ kim nhỏ.

Địa chỉ mà ta sai phái đồng tiền đi tới đã được Chúa nói rõ trong đoạn Tin Mừng khi âu yếm nhìn chàng thanh niên giàu có: “Anh chỉ thiếu một điều, là bán hết của cải đem phân phát cho kẻ nghèo”. Địa chỉ là kẻ nghèo chứ không phải cửa sau của các bậc quyền thế.

Vậy là, thu nhỏ con lạc đà, đối với tiền của, sẽ là câu nói ta thường nghe: “Tiền bạc là tên đầy tớ tốt, nhưng là một ông chủ xấu”. Mà không chỉ xấu, ông chủ này còn ác độc nữa, có thể giết chết ta như chơi.

Cả nới rộng lỗ kim hay thu nhỏ con lạc đà cũng quy về điểm này: đổi tiền. Đến một nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành tiền đang lưu hành tại nước đó. Tiền của ta trên trái đất chẳng có giá trị gì trên trời, nếu nó không đổi thành việc lành. Đó là ý nghĩa Lời Chúa nói với chàng thanh niên giàu có: cho đi gia sản của anh để nhanh tay mua được Nước Trời.
NCM

 

Thứ Hai Tuần XXVIII Mùa TN Năm chẵn

Gl 4, 22-24. 26-27. 31 - 5, 1; Lc 11, 29-32

ĐỪNG NGOAN CỐ

Trang Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe đọc lại trên đây có thể được ta hiểu trong khung cảnh sự ngoan cố không tin của những người Do Thái, nhất là của những vị lãnh đạo đầy ác ý và ganh tị với Chúa.

Những người Do Thái trong tin mừng hôm nay Chúa lên án là “dòng giống gian ác”. Bởi lẽ sau khi được nghe Chúa giảng, tận mắt thấy những phép lạ Chúa làm cho người mù, cho người chết sống lại, cho người bị quỷ ám … họ vẫn cứng lòng không tin vào Chúa là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Trái lại họ cắt nghĩa sai lạc về hành động của Chúa là “dựa vào thế quỷ mà trừ quỷ” (Lc 11, 15 ). Họ đòi Chúa thực hiện cho họ một dấu lạ như thời xuất hành hay như thời tiên tri Êlia.

Tuy nhiên Chúa không chiều theo đòi hỏi của họ. Bởi vì những phép lạ Chúa làm không phải để thoả mãn tính hiếu kỳ của họ nhưng để cho thấy sứ mạng của Chúa và qua đó mời gọi họ hoán cải.

          Sự ăn năn hối cải là bước đầu tiên cần thực hiện để đón nhận sứ điệp Tin Mừng của Chúa, không có phương thế nào khác để thay đổi sự ngoan cố của con người, bằng chính lời mời gọi người đó khiêm tốn hối cải, thoát ra khỏi những tật xấu và thái độ tự mãn tự kiêu, thoát ra khỏi những ác ý của họ. Dân thành Ninivê đã được Chúa nhắc lại để nêu gương vì họ đã tỏ ra mau mắn đáp lại lời rao giảng của tiên tri Giôna mà ăn năn thống hối.

Ta hôm nay thì sao? Chúng ta có thái độ như thế nào trước những dấu lạ Chúa thực hiện trong cuộc đời ta, để mời gọi ăn năn hối cải trở về tin nhận Chúa. Ðức tin không phải là kết luận đương nhiên của những dấu lạ nhưng là hồng ân nhưng không Thiên Chúa ban cho những tâm hồn khiêm tốn, biết ăn năn hoán cải vì những lỗi lầm của mình.

Ta sẽ dễ rơi vào tình trạng mê tín nếu chúng ta chỉ xin hết điều này đến điều khác mà không hoán cải đời sống của mình.

Thật vậy tất cả những phép lạ Chúa làm ở bất cứ thời đại nào cũng đều nói lên tình thương của Thiên Chúa dành cho con người. Qua đó Chúa mời gọi con người tin vào Chúa và hoán cải đời sống của mình. Con người ngày nay ít hoán cải, thậm chí không hoán cải vì tự ái, vì cái tôi của mình quá lớn. Họ gạt Thiên Chúa ra khỏi đời sống của họ. Chúng ta đang sống trong những ngày đầu mùa chay. Đây là thời gian thuận lợi để chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của mình mà xin ơn hoán cải. Xin ơn hoán cải để chúng ta biết tin tưởng vào Chúa, tin vào tình yêu tha thứ của Người. Xin ơn hoán cải để ta nhận ra những yếu đuối của bản thân mà biến đổi đời sống theo ý Chúa. Đó chính là phép lạ mà Chúa thực hiện trong cuộc đời ta.

Ngày nay, không thiếu những người thách thức Thiên Chúa. Cũng như những người Biệt phái, họ đòi Thiên Chúa phải làm một dấu lạ cụ thể nào đó, họ mới tin nhận Ngài. Nhưng mãi mãi, Thiên Chúa sẽ không bao giờ hành động như thế. Ngài mãi mãi vẫn là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài đã nhập thể làm người và sống cho đến tận cùng thân phận làm người. Cái chết trên Thập giá vốn là tuyệt đỉnh của thân phận làm người, do đó đã trở thành dấu lạ cả thể nhất mà Thiên Chúa đã thực hiện, đó là dấu lạ của tình yêu.

Con người ở thời đại nào cũng dễ nhạy cảm khi nghe nói về phép lạ. Thế nên khi biết ở đâu có phép lạ là họ đến. Họ tới đó có thể để thỏa mãn tính hiếu kỳ, để khám phá hay để xin một điều nào đó. Việc chúng ta sùng kính trước các phép lạ Chúa cho xảy ra là một điều tốt. Tuy nhiên ta sẽ dễ rơi vào tình trạng mê tín nếu ta chỉ xin hết điều này đến điều khác mà không hoán cải đời sống của mình.

Thật vậy tất cả những phép lạ Chúa làm ở bất cứ thời đại nào cũng đều nói lên tình thương của Thiên Chúa dành cho con người. Qua đó Chúa mời gọi con người tin vào Chúa và hoán cải đời sống của mình. Con người ngày nay ít hoán cải, thậm chí không hoán cải vì tự ái, vì cái tôi của mình quá lớn. Họ gạt Thiên Chúa ra khỏi đời sống của họ. Ta đang sống trong những ngày đầu mùa chay. Đây là thời gian thuận lợi để chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của mình mà xin ơn hoán cải. Xin ơn hoán cải để ta biết tin tưởng vào Chúa, tin vào tình yêu tha thứ của Người. Xin ơn hoán cải để ta nhận ra những yếu đuối của bản thân mà biến đổi đời sống theo ý Chúa. Đó chính là phép lạ mà Chúa thực hiện trong cuộc đời ta.

Thiên Chúa vẫn tiếp tục bày tỏ dấu lạ cả thể ấy. Trong trái tim mỗi người, Thiên Chúa đã đặt vào đó sức mạnh vĩ đại nhất là tình yêu. Sức mạnh ấy không ngừng nung nấu con người; sức mạnh ấy đang được thể hiện qua những nghĩa cử mà chúng ta có thể bắt gặp mỗi ngày.

 

Thứ Ba Tuần XXVIII Mùa TN 

 BÀI ĐỌC I: Gl 4, 31b - 5, 6 (Hl 5, 1-6); Lc 11, 37-41

BỎ ĐI LỐI SỐNG HÌNH THỨC

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại một người Pharisêu mời Chúa Giêsu đến nhà dùng bữa. Vừa vào nhà, Chúa Giêsu “liền vào bàn ăn”: nghĩa là Ngài không rửa tay trước. Nhóm Pharisêu coi các nghi thức thanh tẩy rất quan trọng, không phải vì lý do vệ sinh mà vì lý do luân lý, nhằm tẩy xóa những ô uế mà ta có thể vô tình bị lây nhiễm khi tiếp xúc với những kẻ tội lỗi. Trong câu chuyện này, không phải Chúa Giêsu quên, mà đó là lập trường cố hữu của Ngài (x. 11,14-29). Dĩ nhiên người pharisêu ấy ngạc nhiên và thầm khó chịu trong lòng.

Việc rửa tay trước khi dùng bữa là một nghi thức, là một nếp sống theo truyền thống chứ không phải là một giới răn bắt buộc. Ðây là một nghi thức tự nó không có tính cách bắt buộc tuyệt đối. Nhưng những người biệt phái đã có thái độ câu nệ vào đó một cách thái quá, đến độ dùng nó như là một mẫu mực để phán xét giá trị của một người. Chúa Giêsu không để mình phải lệ thuộc vào một nghi thức bề ngoài này, và đối với Ngài, tâm hồn trong sạch, tuân giữ luật Chúa là điều quan trọng hơn. Chúa Giêsu đã trách thái độ giả hình của người Pharisiêu: "Các ngươi lo rửa tay, rửa chén dĩa cho sạch, mà không lo thanh luyện tâm hồn trong sạch, để tâm hồn mình đầy sự gian ác, mánh mung".

Như thế, tương quan của Chúa Giêsu với những người Pharisêu không quá căng thẳng như chúng ta tưởng ; hơn nữa, mời nhau đến dùng bữa tại nhà, là dấu chỉ của một sự thân thiện đặc biệt. Tuy nhiên, cứ mỗi lần như thế, Chúa Giêsu lại mạc khải sự “khác biệt thần linh” của ngài đối với những người Pharisêu và qua họ, đối với chúng ta và với cả loài người.

Ta thấy qua việc này Chúa Giêsu đưa ra một bài học về những cái bên ngoài và bên trong: bên ngoài là việc tuân thủ những quy định về nghi thức; bên trong là lòng đạo đức thật. Nhóm Pharisêu chỉ chú trọng tới cái bên ngoài và bỏ quên cái bên trong.

Ông Pharisêu thật có lý khi lấy làm lạ, vì Chúa Giêsu không rửa tay trước bữa ăn. Đó không chỉ vì lý do vệ sinh, nhưng rửa tay còn là một nghi thức thanh tẩy. Phải thanh tẩy, hay nói rộng hơn, phải chuẩn bị mình, cả bên trong lẫn bên ngoài, trước khi dùng bữa, bởi vì bữa ăn là ân huệ Thiên Chúa ban. Cũng giống như nghi thức sám hối khi chúng ta bắt đầu cử hành Thánh Lễ, và cũng giống như nghi thức rửa tay của linh mục trước khi bước vào nghi thức truyền phép.

Quan niệm và tâm thức của những người Biệt phái thời Chúa Giêsu coi các phong tục, tập quán, luật lệ là cốt tủy của việc thờ phượng Thiên Chúa và có giá trị như trọng tâm của tôn giáo, do đó những ý nghĩa cao thượng khác của niềm tin và tôn giáo cũng như những giá trị luân lý quan trọng hơn hầu như bị chôn vùi dưới lớp bụi dầy đặc của những luật lệ rườm rà tỉ mỉ; tâm thức này đưa họ đến việc giữ đạo vụ hình thức. Câu trả lời của Chúa Giêsu hướng con người vào những giá trị bên trong, quan tâm đến điều cốt yếu là sự trong sạch của lương tâm và tâm hồn.

Ta thấy người Do thái đã vượt xa chúng ta trong việc nhận ra ơn huệ Thiên Chúa, vì đối với họ, bàn ăn đời thường là “bàn thánh”, và bữa ăn hằng ngày cũng là một ơn huệ trọng đại Thiên Chúa ban từ thủa tạo thiên lập địa và được hiện tại hóa mỗi ngày (St 1, 29 ; Tv 136, 25). Do đó cần phải được thanh tầy trước khi dùng bữa. Hành vi chuẩn bị mình để đón nhận ơn huệ Thiên Chúa ban, là bữa ăn hằng ngày, quả thật là một hành vi vừa đẹp, vừa đúng và vừa hay.

Thật thế, cũng giống như chúng ta cử hành các nghi thức, với thời gian, các nghi thức đánh mất đi ý nghĩa đích thực, và chỉ còn là hình thức bên ngoài. Tệ hại hơn nữa, người ta còn nghĩ rằng nghi thức này làm cho người ta tự động, như ma thuật, trở nên thanh sạch trước mặt Thiên Chúa ! Chúa Giêsu không chống lại những nghi thức thanh tẩy, nhưng chống lại thái độ duy nghi thức, chỉ dừng lại ở việc thanh tẩy bên ngoài, ở vẻ đẹp bên ngoài : “Nhóm Pharisêu các người, bên ngoài chén dĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà”.

Lời nói và đời sống của một số người Biệt phái giống như lời ngôn sứ Isaia nói : "Dân này kính Ta trên môi trên miệng, nhưng lòng họ lại xa Ta" (Is 29,13) hay như một số Thánh Vịnh đã viết : "Miệng thì chúc phúc cầu an, mà lòng nguyền rủa chứa chan những lời." (62, 5); "Miệng họ phỉnh phờ Chúa, lưỡi họ lừa dối Người" (78,36). Đức Kitô không chấp nhận lối sống đó. Ngài muốn có sự hài hòa giữa cái bên ngoài với cái bên trong. Lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau.

“Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.” Nhiều khi ta lo chăm chút dáng vẻ đạo đức bên ngoài mà bên trong vẫn bị rỗng tuếch. Nhưng ngược lại cái bên trong tốt sẽ tác động, thổ lộ, diễn tả ra bên ngoài. Nét mặt tươi vui, hiếu hòa là dấu chỉ tâm hồn trong sạch, sự thanh thoát, lòng yêu mến từ bên trong phát ra. Lòng bác ái vị tha bên ngoài còn nói lên sự trong sạch từ bên trong.

Thiên Chúa biết sự kiêu căng, sự tham lam và hung ác của con người. Ngài khuyên con người hãy sống "hiền lành và khiêm tốn" (Mt 11, 29) để không có hành vị xấu làm hại tha nhân. Cần loại trừ chúng để không dẫn đến tội như hãm hại, giết người... Đi xa hơn nữa, Ngài kêu gọi : "Hãy đem những cái bên trong ra mà bố thí, thì mọi sự sẽ nên trong sạch cho các ông". Để "bố thí" những lời nói, việc làm đầy tình thương, điều trước tiên, mọi người phải học nơi Chúa những điều tốt, rồi đem chúng ra thực hành.

Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại cách thức và mức độ giữ đạo và hành đạo của chúng ta. Ước gì chúng ta dần dần từ bỏ những cách thức giữ đạo hình thức, để đi vào chiều sâu của việc sống đạo với một lương tâm trong sạch, một tâm hồn quảng đại và ý hướng ngay lành.

 

Thứ Tư Tuần XXVIII Mùa Thường Niên Năm chẵn

Gl 5, 18-25; Lc 11, 42-46

CÓ SAO SỐNG VẬY

Trong Do thái giáo, luật đóng thuế thập phân trên những sản phẩm con người làm ra là một hành động tôn giáo để nhìn nhận quyền tối cao của Thiên Chúa. Theo luật Môsê được ghi trong sách Thứ Luật, thì chỉ buộc trả thuế thập phân trên những sản phẩm chính là gạo, rượu, dầu, con vật đầu lòng. Thế nhưng, có lẽ vì quá sốt sắng, những Luật sĩ và Biệt phái muốn áp dụng thuế thập phân cho những sản phẩm nhỏ, không cần thiết như: bạc hà, thì là, rau húng.

Tin Mừng hôm nay ghi lại hai lời kết án của Chúa đối với thái độ vụ hình thức. Trước hết là việc giữ luật bên ngoài thật tỉ mỉ, mà không có lòng đạo đức thật, không thi hành công bằng và tình yêu thương.

Thiên Chúa chính là sự hiệp nhất và tình yêu. Những ai sống theo tinh thần này là sống theo thánh ý của Thiên Chúa. Chúng ta cần đặt mình trước sự thương xót và lòng bác ái của Thiên Chúa, đó là con đường duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi. Chúng ta cần hướng về Thiên Chúa để xin Người ban cho hồng ân cứu rỗi mà Người đã hứa ban cho toàn thể nhân loại, không kể đó là người Kitô hay dân ngoại, người công chính hay người tội lỗi. Vì tất cả chúng ta đều cần tới tình yêu thương và sự thương xót của Thiên Chúa, là vị Cha chung của tất cả chúng ta ở trên trời.

Tình yêu vốn chẳng có biên giới. Đây chính là điều làm nên nét đẹp và sức quyến rũ của tình yêu: nó làm cho ta hạnh phúc, nhưng chẳng bao giờ khiến ta mãn nguyện. Ai nói rằng mình đã yêu đủ thực là người chưa yêu. Chúa Giêsu đã gói gọn tất cả các luật lệ nơi con người vào một điều duy nhất: mến Chúa – yêu người (Mc 12, 33).

Như vậy, tình yêu chính là nguyên nhân và cùng đích của tất cả lề luật, và do đó, nó trường cửu, trong khi cách nó được thể hiện ra bên ngoài có thể thay đổi theo thời gian hoặc khác nhau giữa các nền văn hóa. Ngay từ những ngày đầu, thánh Phaolô nhắn nhủ với các tín hữu Rô-ma rằng: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa, cái gì là tốt, cái gì là hoàn hảo.”(Rm 12, 2)

Như vậy, ai phán xét và kết án những người khác là lòng bị bất công vì chính mình cũng thuộc vào cùng một lỗi lầm, hay nói cách khác, tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi như nhau. Mặt khác, thái độ lên án người khác gây ra sự chia rẽ giữa chúng ta với những người khác. Ngay cả trường hợp chúng ta có làm được những công nghiệp tốt lành đi nữa thì hành động này của chúng ta cũng không làm cho Thiên Chúa hài lòng. Một công nghiệp tốt lành có tác động làm cho mọi người được hiệp nhất với nhau chứ không tạo nên sự chia rẽ.

Ba lời lên án của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có cùng một điểm chung là sự mù quáng. Vì mù quáng, các Luật sĩ và Biệt phái chẳng những không được vào Nước Trời, mà còn cản trở những ai muốn vào đó; vì mù quáng, họ chỉ muốn khoe khoang lòng nhiệt thành tông đồ của họ, chứ không thực sự nhằm đến ơn cứu rỗi của những người họ muốn đưa về cùng Chúa; vì mù quáng, họ thay đổi luật Chúa theo ý riêng để có lợi cho cá nhân, chứ không thực sự màng đến luật Chúa.

ó là ba lời kết án của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã tự ví mình như người chăn chiên nhân lành đi tìm chiên lạc, như thầy thuốc cần cho bệnh nhân, như một Vị Thiên Chúa quyền năng sẵn sàng tha thứ và giải phóng con người tội lỗi. Thế nhưng, Ngài đã không sợ đưa ra những lời kết án mạnh mẽ, thẳng thắn: "Khốn cho các ngươi", không phải vì Ngài không còn lòng nhân từ và tha thứ, nhưng vì sự cứng lòng chai đá của con người đã đến mức tột cùng; không hoán cải khỏi thái độ giả hình, mù quáng, lạm dụng tôn giáo, con người không thể hưởng được tình yêu thương nhân từ của Thiên Chúa.

Có thể nói rằng cả ba điều đáng trách trên đều xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa hơn, đó là thiếu tình yêu thương. Vì chưa yêu Chúa đủ, những người Pharisiêu và các kinh sư chỉ chăm chú, xét nét hình thức bên ngoài mà quên đi bổn phận chính yếu với Thiên Chúa. Vì chưa yêu tha nhân đủ, họ thích khoe khoang, coi mình hơn người khác, thiếu đồng cảm với những mảnh đời khốn khó không có điều kiện giữ đạo như họ.

Ðối diện với sự gian dối và bất lương của những người pharisiêu và các nhà thông luật, Chúa Giêsu đã không ngần ngại lên tiếng khiển trách họ. Thái độ thích khoe khoang và cái bề ngoài công chính, giả tạo nhưng bên trong lòng thì chứa đầy những gian xảo của những người pharisiêu hay như hành động chèn ép và áp bức của các nhà thông luật đối với người dân bần cùng là cội rễ của các bất công xã hội. Chúa Giêsu không có chủ ý kết án những người pharisiêu và những nhà thông luật, ngược lại, Ngài chỉ muốn khiển trách để cảnh tỉnh lương tâm của họ, để họ lắng nghe lời Ngài là Con Thiên Chúa mà trở về con đường ngay thẳng.

Chúa Giêsu dạy cho họ biết rằng chỉ có một điều luật lớn nhất vượt lên trên mọi Lề Luật khác đó là luật mến Chúa yêu người. Những ai sống theo luật yêu thương này là thực hành ý muốn của Thiên Chúa. Thánh Phaolô tông đồ trong thư gởi các tín hữu Rôma nhắc nhở rằng: "Tất cả chúng ta cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa, vì chúng ta không thể tự mình trở nên công chính trước mặt Người". Thánh Phaolô cũng lên tiếng cảnh giác những người tự cho mình là công chính mà không cần tới lòng thương xót của Thiên Chúa, và từ đó nảy sinh ra thái độ xét đoán người khác. Người nói: "Còn bạn, hỡi người xét đoán những kẻ làm điều đó trong khi chính mình cũng làm như vậy. Bạn tưởng mình khỏi sẽ bị Thiên Chúa xét xử sao?"

Với trang Tin Mừng hôm nay, mỗi người chúng ta hãy xét lại chính mình. Có lẽ chúng ta đang sống cách của người Biệt Phái xưa. Lối sống mà Chúa Giêsu chê trách: chỉ giữ cặn kẽ những điều luật dạy một cách giả hình mà không theo tinh thần của Lề Luật là biết yêu mến Thiên Chúa và sống chân thật. Ðức Giêsu không bác bỏ việc chúng ta giữ Luật, nhưng phải giữ với lòng yêu mến chứ đừng hình thức. Ngài cũng lên án tính huênh hoang tự cao tự đại, và chỉ biết hưởng thụ còn trút tất cả những khó khăn cho người khác.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên chứng nhân cho Chúa qua hành động tốt của mình. Nói cách khác, muốn dạy người khác điều gì, chính chúng ta phải là những người đã sống và cảm nghiệm trước khi khuyên bảo người khác. Làm tất cả vì vinh danh Chúa, chứ không phải lấy Chúa làm “bình phong” để “tô son chát phấn” nhằm đề cao danh dự, tiếng tăm cho bản thân mình.

 

Thứ Năm Tuần XXVIII Mùa TN

2 Tm 4, 9-17a; Lc 10, 1-9

THỰC THI LỜI MỜI TRUYỀN GIÁO

Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Hình ảnh về mùa gặt hái đã được các ngôn sứ dùng để chỉ Nước Thiên Chúa sau này. Thời kỳ sau cùng là thời kỳ gặt hái thu lượm, nghĩa là lúc Thiên Chúa đến phán xét trong ngày tận thế. Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh này trong dụ ngôn cỏ lùng và lúa. Giai đoạn sau cùng của lịch sử đã bắt đầu với việc Nước Thiên Chúa đến; tất cả đều sẵn sàng, nhưng thiếu thợ gặt. Thế giới ngày nay như một cánh đồng mênh mông, nơi có rất nhiều linh hồn sẵn sàng đón nhận Nước Trời nhưng phải có người chỉ đường cho họ. Chúa muốn cứu thế gian và Ngài kêu gọi sự cộng tác của con người. Lời kêu gọi của Ngài vẫn có giá trị và khẩn cấp trong mọi thời đại.

Ngày hôm nay việc loan báo Tin mừng có còn cấp bách nữa không? Sự cấp bách đó vẫn còn và còn nhiều hơn nữa vì thế giới hơn 6 tỉ người, trong đó người Công giáo sốt sắng chưa được 1 tỉ. Còn rất nhiều người chưa biết Chúa, chưa hưởng được các Bí tích Chúa Giêsu đã lập ra. Nhân loại còn nhiều người đang chìm trong u tối, chưa nhận ra con đường dẫn đến lối trường sinh.

Lúa chín đầy đồng nhưng phải có thợ đi gặt về. Nước Chúa cần có những người thợ nhiệt thành, quên mình, đem bình an đến cho tha nhân. Loan báo Tin Mừng là việc làm cao quý Chúa giao cho chúng ta. Tuy nhiên, việc rao giảng Tin Mừng cho người khác đòi hỏi phải có sự chuẩn bị trước về kiến thức cơ bản, cách truyền đạt, lối giải thích dễ hiểu để cho người nghe dễ tiếp thu, dễ đón nhận.

Lời mời gọi truyền giáo là đề tài xuyên suốt của Chúa Giêsu trong hành trình sứ vụ của Ngài. Từng lời nói, hành động đều làm toát lên đặc tính này.

Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là một hành trình: Sinh ra ngoài đường, sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng ngoài đường. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Công đồng Vaticanô II cũng long trọng khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng qủa quyết: “Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc”

Nhờ tiếp xúc với người dân, Chúa Giêsu có thể nhận thấy đời sống thực tế của họ. Thánh sử Mátthêu nói rõ: “Thấy dân chúng đông đảo, Ngài chạnh lòng thương, vì họ lầm than, vất vưởng, như chiên không người chăn dắt”. Ðứng trước thảm trạng này, Chúa Giêsu gợi ý để các môn đệ của Ngài suy tư: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít”.

Chúa Giêsu cho ta thấy truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng. Đó là thành phần ưu tuyển. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ không có tên tuổi rõ ràng. Đó là một đám đông không xác định. Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia vào việc truyền giáo.

          Chúa sai các môn đệ ra đi vì “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Thợ gặt ít nên điều đầu tiên các môn đệ phải làm là “xin chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về”. Đồng lúa chín ở đây được hiểu là cánh đồng nhân loại đang khao khát ơn cứu độ, mong mỏi được nghe loan báo Tin Mừng, được ơn tha thứ và giao hòa cùng Thiên Chúa, nhất là được giải thoát khỏi mọi tội lỗi và sự chết. Cánh đồng lúa chín ở đây còn được hiểu là đoàn chiên bơ vơ không người chăn dắt nên cần những mục tử tốt lành. Chủ mùa gặt là Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và mong muốn cho mọi người được cứu độ. Muốn được cứu độ, nhân loại phải nhận biết Thiên Chúa là chân lý và Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa sai đến.

Chúa Giêsu nói cho các Tông đồ và các môn đệ của Ngài và nhờ các ngài nói lại cho chúng ta. Khi chúng ta trở thành môn đệ Chúa thì có bổn phận nói lại cho anh em mình biết niềm hạnh phúc đó. Nguồn suối trường sinh từ Thiên Chúa thì không bao giờ cạn, ai đến lấy bao nhiêu tuỳ thích. Càng nhiều người đến thì dòng suối càng tràn đầy hơn. Vì vậy chúng ta đừng sợ thiệt thòi khi tiết lộ cho anh em mình về Tin Mừng đó, mà phải dành nhiều thời giờ để loan báo cho anh em tin vui trọng đại này.

Ngày nay, Giáo Hội đang hết sức mời gọi con cái mình dấn thân trong đời sống tu trì, truyền rao Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Thời nào cũng có những người nhiệt tâm làm sáng danh Chúa, đem nhiều người vào nước Chúa. Tuy nhiên, số người chưa biết Chúa vẫn còn quá nhiều. Vì vậy, Chúa đòi mỗi người chúng ta hãy gấp rút lo việc truyền giáo. Chúng ta thương anh em mình thì không thể nhẫn tâm ngồi nhìn họ sống mồ côi, không biết Chúa là Cha. Vì không biết Cha, họ hay lỗi phạm điều răn Chúa và dần dần đi đến hư mất.

Thế giới này đang cần ơn bình an Chúa ban. Chúng ta hãy đem bình an của Chúa đến cho mọi người. Bình ancủa Chúa không như thế gian ban tặng. Bình an của Chúa làm cho lòng mỗi người tràn đầy bác ái, sẵn sàng hy sinh bản thân cho người khác bớt phần khổ sở. Bình an của Chúa làm lương tâm thoải mái. Chỉ những ai có lòng yêu mến Chúa thật sự mới có được loại bình an này.

Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù; rất cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, của tha thứ. Thế nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”.

Và như vậy việc truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người giáo dân. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có khả năng cho đi, nhận lãnh, sống chan hoà với người khác.

Với tất cả những điều đó, mọi người, từ người già tới em bé, từ người bình dân ít học đến những bậc trí thức tài cao học rộng, từ người khoẻ mạnh đến những người đau yếu bệnh tật, tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.

 

 

Thứ Sáu Tuần XXVIII Mùa TN

Ep 1, 11-14; Lc 12, 1-7

ĐỪNG SỢ !

Sống ở đời, có lẽ ai trong cúng ta cũng có nhiều lần trải qua những nỗi lo sợ, hay bản thân cũng từng trải qua những giờ phút đen tối trong cuộc đời. Bởi vì, chúng ta phải chân nhận một điều rằng: cuộc sống luôn có những cam go, gian truân và thử thách...đứng trước những hoàn cảnh như thế ai mà chẳng lo lắng, sợ hãi.

Có nhiều mãnh lực đang đe dọa mạng sống con người. Thiên nhiên, muông thú v.v. đều dễ dàng áp đảo con người bé nhỏ và yếu đuối. Nhưng những mãnh lực không đáng sợ bằng chính con người.Vì sợ hãi có người chấp nhận mọi điều kiện để bảo toàn mạng sống, dù phải bán rẻ linh hồn, danh dự v.v. Nhiều người chỉ vì sợ hãi, không dám làm gì, chỉ khoanh tay nhìn thời sự xoay vần. Ðúng là hạng chết nhát ! Tệ hơn nữa, nỗi sợ hãi còn đẩy nhiều người vào con đường gian ác, ngu xuẩn, phản bội.Trước những sợ hãi phi lý đó, Ðức Giêsu trấn an : "anh em đừng sợ người ta." (Mt 10, 26) 

Quả thế, họ không đáng sợ, dù họ có dùng đủ thứ cực hình đối với chúng ta chăng nữa, thì cũng chỉ đến giết chết được chúng ta là cùng, rồi sau khi chúng ta đã chết, họ chẳng còn làm gì được chúng ta nữa. Mà sự sống của chúng ta ở trần gian này thì sớm muộn gì cũng phải có ngày chấm dứt, có kéo dài thì cũng chỉ trăm năm là cùng. Cho nên, những đau khổ mà họ gây ra cho chúng ta cũng sẽ qua đi. Nhưng rồi vì những cực hình đó mà  chúng ta sẽ được vinh phúc muôn đời.

Cung giọng trang Tin Mừng nói về số phận các tông đồ đậm màu sợ hãi: “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn...” Cũng những từ giết chết, khước từ, bí mật, kinh hãi, sợ sệt...

Thời nào cũng thế và ngày nay cũng vậy, ta vẫn cảm nghiệm như vậy. Giống như Giêrêmia và các tông đồ, Hội Thánh vẫn chịu bách hại đến mức độ tử đạo. Chỉ những thợ gặt trá hình ngon ngọt với thế gian là được an bình. Tiên tri Giêrêmia đã tuân thủ lời Chúa kêu gọi, cảnh cáo các vua chúa quan quyền, các thế lực đền thờ, và toàn thể nhà Giuđa sẽ bị trao vào tay đế quốc Babylon nếu không ăn năn trở về với Thiên Chúa. Họ đã bịt tai, tẩy chay, bắt bớ, đánh đòn và giam ông vào ngục tối, bắt đeo gông cùm. Giêrêmia không ngờ mình phải chịu số phận nặng nề đến thế khi vâng lệnh làm ngôn sứ. Ông nói, ông đã bị Thiên Chúa “lừa” vào sứ vụ: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con và Ngài đã thắng, suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con”. Ông phàn nàn một cách cay đắng số phận làm ngôn sứ cho Chúa trong một thế giới ương ngạnh. Bây giờ ông muốn im lặng cũng chẳng được, bởi lời Ngài như bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt.

          Theo Chúa, người môn đệ cũng phải chịu đồng một số phận như Chúa. Không còn con đường nào khác. Ngay trong chính bản thân, những xâu xé, giằng co cũng là chuyện không thể tránh được. Thế nhưng Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy an tâm, bởi vì Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta. Ngài không cất khỏi chúng ta những chống đối, đau khổ và sự chết. Ngài chỉ cho chúng ta thấy đâu là ý nghĩa của đau khổ, đâu là cùng đích của cuộc đời. Hơn nữa Chúa còn đưa ra những lý do để cho các môn đệ an tâm. Chẳng có gì phải sợ, vì các quan quyền thế gian cùng lắm thì chỉ giết được thân xác của chúng ta chứ không thể giết được sự sống của chúng ta.

Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời ta lại thấy ta được Chúa là Đấng quan phòng luôn yêu thương săn sóc bảo vệ chúng ta, nên chúng ta có lý do để tin tưởng Chúa và không phải sợ hãi quá đáng, đến như chim sẻ, chẳng đáng là gì mà Chúa còn săn sóc nuôi dưỡng chúng, phương chi chúng ta là con cái Chúa.

Hơn nữa, Chúa còn săn sóc chúng ta cách tỉ mỉ đến nỗi những sợi tóc trên đầu chúng ta cũng được đếm cả rồi, và không một sợi tóc nào của chúng ta rớt xuống mà không phải do quyền phép Chúa. Cho nên, Chúa bảo chúng ta đừng sợ, nếu chúng ta tin tưởng cậy trông nơi Chúa, chúng ta sẽ được Chúa luôn săn sóc bảo vệ.

Khuynh hướng của con người là ham sống và sợ chết; nhưng nếu con người hiểu những gì sẽ xảy ra sau khi chết, con người sẽ dễ dàng chấp nhận cái chết hơn. Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ biết những điều này: “Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy được biết: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa. Thầy sẽ chỉ cho anh em biết phải sợ ai: hãy sợ Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục.

Thật vậy, Thầy nói cho anh em biết: anh em hãy sợ Đấng ấy.” Vì thế, nếu phải chấp nhận cái chết để làm chứng cho Chúa, thì con người cũng phải làm vì biết họ sẽ nhận lại cuộc sống trong Vương Quốc đời sau.

Nhìn lại cuộc đời, nhiều khi chúng ta như những con chim non, ngở ngàng sợ hãi trước bổn phận làm người, trước ơn gọi làm Kitô hữu. Nhưng Chúa Giêsu không ngừng mời gọi chúng ta đừng sợ. Chúng ta không sợ, vì chúng ta tin rằng Thiên Chúa là cha yêu thương, luôn quan tâm săn sóc chúng ta. Với niềm tin đó sẽ giúp chúng ta có thái độ lạc quan trước cuộc sống và bình tĩnh để đối phó với những khó khăn thử thách. Nếu niềm tin không đem lại cho chúng ta sự bình an, thanh thản, thì đó là dấu chỉ cho thấy niềm tin của chúng ta chưa manh mẽ, chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta.

Biết sống tín thác vào Chúa như trẻ thơ nép mình trong lòng mẹ, chúng ta có thể vững vàng đối mặt và vượt thắng mọi thử thách gian nan của cuộc sống, bởi vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

.Thứ Bảy Tuần XXVIII Mùa TN

Ep 1, 15-23; Lc 12, 8-12

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

Đối với các Kitô hữu, chúng ta xưng tụng Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ. Chúng ta cần lắng nghe của lời Ngài chỉ dạy. Vâng nghe theo lời của Chúa Giêsu là bước theo con đường của Ngài đã đi qua.Đường của Chúa là con đường khiêm hạ, con đường sự thật và con đường khổ giá. Khổ giá sẽ tôi luyện niềm tin.

Bước theo Chúa mà với đầy dẫy những thứ cồng kềng vướng bận thì khó mà theo sát và theo kịp Ngài được. Cụ thể, việc chúng ta giữ đạo mà vẫn phải bon chen và ham mê công việc lấn át hết thời giờ cho Chúa, để không còn giờ để đọc kinh chung, để không đủ sức khoẻ đi tham dự lễ, để đến được nhà thờ thì chỉ còn ngủ… Thật ra, bỏ những thứ bên ngoài đã khó, nhưng bỏ mình, tức là bỏ đi cái tôi của mình còn khó biết bao.

Đứng trước những cám dỗ của thời đại này, cũng có những lúc, chúng ta cũng có những lần chối Chúa, cũng có những lúc chúng ta như bỏ đạo, khi chúng ta lao mình vào trong những cuộc vui chơi giải trí với bạn bè, mà quên đi ngày lễ Chúa Nhật, thậm chí quên đi mình là một Kitô hữu, khi tôi bán rẻ lương tâm trong việc tham nhũng, khi lỡ lầm mà đã đi đến chỗ hủy hoại đi một mầm sống, và cũng có những lúc chúng ta bon chen vào những việc làm tội lỗi, vì có tiền và kiếm được nhiều tiền mà tôi đã quên hẳn đi tôi là môn đệ của Đức Kitô "người môn đệ công chính".

Chúa Giêsu đặt điều kiện: "Ai tuyên xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa". Vả lại, các ông không phải đơn độc trong gian nan, thử thách, vì có Thánh Thần luôn hiện diện với các ông. Thánh Thần sẽ dạy cho các ông phải nói gì khi bị điệu đến trước nhà cầm quyền, vì Danh Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu khẳng định rằng: Ai tuyên xưng Ngài trong cuộc sống hôm nay, Ngài sẽ không quên họ trong cuộc sống mai sau. Muốn tuyên xưng Chúa đòi hỏi ta phải có đức tin mạnh mẽ và có lòng cậy trông vững vàng. Chúa mong muốn ta đưa Chúa đến cho mọi người bằng những công việc và những hành động cụ thể thiết thực chứ không chỉ bằng môi bằng miệng.

Niềm tin vào Chúa Kitô không phải là học hiểu một số kiến thức, tỏ lòng sùng mộ hay việc cử hành một số nghi lễ, mà chính là sống niềm tin của mình trong cuộc lữ hành trần thế. Chúng ta phải sống đức tin trưởng thành mà chúng ta đã được lãnh nhận qua các Bí Tích trong Hội Thánh. Đức tin là ánh sáng soi đường dẫn chúng ta bước theo gót Chúa Kitô. Thánh Giacôbê tông đồ đã phát biểu rằng: Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết (Gc 2, 17). Lời nói đi đôi với việc làm. Người ta nói: Lời nói mây bay, gương bày lôi kéo. Đời sống đức tin được thể hiện qua cách sống đạo hằng ngày trong ý tưởng, lời nói và việc làm.

Truyền giáo không phải là việc tuyên truyền hay mua chuộc, cũng không phải là áp đặt một cách tinh vi, nhưng truyền giáo là hát lên niền vui chất chứa trong lòng mình, là ca lên bài ca tình yêu thương muôn đời của Thiên Chúa.

Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo, và tất cả mọi hoạt động của Giáo Hội đều nhằm mục đích loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc. Vì vậy chúng ta có bổn phận trao ban Chúa Giêsu cho con người hôm nay, nhưng trước hết chính mỗi người chúng ta phải tràn đầy Chúa, vì nếu có Chúa trong lòng, chúng ta mới có thể cho được.

          Chúa Giêsu khẳng định rằng: Ai tuyên xưng Ngài trong cuộc sống hôm nay, Ngài sẽ không quên họ trong cuộc sống mai sau. Muốn tuyên xưng Chúa đòi hỏi ta phải có đức tin mạnh mẽ và có lòng cậy trông vững vàng. Chúa mong muốn ta đưa Chúa đến cho mọi người bằng những công việc và những hành động cụ thể thiết thực chứ không chỉ bằng môi bằng miệng.

Sống đạo, rất cần sự thể hiện ra thực tế, nhưng không ít những người tự cho mình “giữ đạo tại tâm”, không còn tham gia các hoạt động sinh hoạt công giáo, không tham dự các bí tích, nhất là thánh lễ, bỏ xưng tội rước lễ lâu năm… Hành động ngược lại với giáo huấn của Chúa và Hội Thánh. Đặc biệt, có khi vì lo bon chen cuộc sống hằng ngày, chúng ta quên mất sự hiện diện của Chúa, bỏ bê các việc đạo đức. Đó là chúng ta vừa không tuyên xưng Chúa, vừa gián tiếp chối đạo.

Chúa Giêsu đến, Người bắc cây cầu qua cái hố sâu tội lỗi đó là thập giá, được làm bằng chất liệu gỗ khiêm nhường và vâng phục. Để từ đây, con người muốn qua gặp gỡ Thiên Chúa, muốn vào nước trời thì phải đi trên cây cầu thập giá này, bởi: “Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy”. Chúa Giêsu không những đã nói mà còn đi bước trước trong con đường thập giá đó. Tin mừng hôm nay đưa ra cho chúng ta từng bước trên con đường thập giá mà đạt đến ơn cứu độ bằng việc: Từ bỏ và vác thập giá theo chân Chúa Giêsu.

Các thánh Tử Đạo ngày xưa chấp nhận hy sinh, thay vì nghe lệnh vua quan mà chà đạp lên thập giá, các ngài đã chấp nhận ôm lấy thánh giá và vác đi, là hy sinh, chịu thử thách và chấp nhận bỏ mình tuyệt đối kể cả mạng sống để theo Chúa đến cùng.

Lối sống thực dụng hôm nay dễ làm ta quên Chúa. Ta không chối Chúa trực tiếp như Phêrô đã chối Chúa, nhưng lại chối Chúa một cách gián tiếp để biện hộ cho những lầm lỗi, cho những hoàn cảnh, cho miếng cơm manh áo, cho sự thăng tiến bản thân và bộn bề của cuộc sống. Tuy ta chối bỏ và lãng quên Chúa nhưng Ngài vẫn một mực yêu thương và mong đợi ta trở về. Ta hãy từ bỏ tất cả để chạy đến với Chúa và làm chứng cho Chúa bằng những công việc cụ thể và thiết thực nhất.

Xin Chúa cho chúng ta ngày hôm nay, dù không phải đổ máu và chết đi cách trực tiếp vì sự bách hại công khai không còn nữa. Nhưng vẫn còn đó những cách bách hại rất tinh vi và thâm hiểm của chế độ, của chính thể, của những thứ văn hoá thời đại… Vì thế, đòi hỏi chúng ta phải chết đi mỗi ngày vì những thứ bách hại đó, nghĩa là hi sinh vâng phục theo sự hướng dẫn của Giáo Hội mà giữ lễ luật Chúa, để mai ngày chúng ta cũng được hợp với chư thánh Tử Đạo là cha ông của chúng ta trên trời.

Huệ Minh 2015