| |
Trái tim Chúa Giêsu bị
đâm thâu trước khi cạnh sườn Người bị rạch mở…
Tại
sao có đoạn dạo khúc đặc biệt nơi Phúc Âm Thương Khó năm B
Niên
lịch phụng vụ của Giáo Hội cho Chúa Nhật Lễ Lá mở đầu Tuần Thánh
bao giờ cũng cử hành cùng một lúc hai biến cố đối nghịch nhau
liên quan đến việc Chúa Kitô vinh hiển vào Thánh Giêrusalem và
việc Người Chịu Thương Khó. Vẫn biết, theo thời gian, Chúa Giêsu
chịu chết vào ngày Thứ Sáu trong tuần, ngày Giáo Hội cử hành nghi
thức Thương Khó trong Tuần Thánh, thế nhưng, về phụng vụ, vì Cuộc
Tử Nạn của Chúa Kitô là tột đỉnh của việc Người tỏ mình ra, một
biến cố Người muốn Giáo Hội phải cử hành để tưởng nhớ đến Người
(x Lk 22:19; 1Cor 11:24-25), mà Cuộc Tử Nạn cần phải được cử hành
vào chính Chúa Nhật. Vì Cuộc Tử Nạn là biến cố chính yếu nhất
của Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế nên đã được cả 4 Phúc Âm
thuật lại. Tuy nhiên, vì Chúa Nhật Lễ Lá mới là ngày mở đầu cho
Tuần Thương Khó mà cả ba Phúc Âm Nhất Lãm là Mathêu, Marcô và
Luca cho ba chu kỳ A, B và C đã được Giáo Hội cho đọc cả những
gì xẩy ra trước cuộc Thương Khó nữa, như việc Chúa Giêsu lập Bí
Tích Thánh Thể và tiên báo tông đồ Phêrô chối Người. Riêng Phúc
Âm Thánh Gioan, được Giáo Hội chọn đọc vào hai Ngày Thứ Năm và
Thứ Sáu Tuần Thánh, cũng như cho các ngày thường trong Mùa Chay
từ tuần thứ 4 trở đi. Nói chung, bài Phúc Âm nào trình thuật về
Cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô thường cũng nói đến những sự kiện chính
yếu, như sự kiện Người bị tông đồ Giuđa phản nộp, bị thành phần
lãnh đạo Do Thái vu cáo, bị nhà cầm quyền Rôma lên án, bị quân
Rôma hành hạ, xỉ nhục, đóng đanh và cuối cùng được thân hữu táng
xác.
Trong
ba Phúc Âm Nhất Lãm trình thuật về Cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu,
Thánh Ký Mathêu và Thánh Ký Marcô thuật lại ít là hai điều giống
nhau, hoàn toàn không có trong Phúc Âm Thánh Luca, đó là đoạn
Chúa Giêsu được xức dầu thơm (x Mt 26:6-13; Mk 14:3-9), và lời
Người vô cùng não nuột than lên trên cập thập giá: “Cha ơi, sao
Cha bỏ rơi Con” (Mt 27:46; Mk 15:34). Tuy nhiên, dù Phúc Âm Thánh
Mathêu có đoạn Chúa Giêsu được xức dầu thơm như Phúc Âm Thánh
Marcô nhưng Giáo Hội lại không lấy đoạn này cho chu kỳ Năm A theo
Thánh Mathêu, song chỉ lấy cho vào riêng Phúc Âm Thánh Marcô của
Năm B mà thôi. Đó là lý do trong bài suy niệm cho Chúa Nhật Lễ
Lá mở đầu Tuần Thánh cho chù ký phụng vụ năm B, chúng ta cần tìm
hiểu xem ý nghĩa của đoạn xức dầu chỉ có ở Phúc Âm năm B này có
ý nghĩa và liên hệ đặc biệt nào với cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô.
Trước
hết, về thời điểm, thì đoạn xức dầu này thực sự cần phải được
bao gồm trong Phúc Âm mở màn Tuần Thánh, vì việc xức dầu này ở
trong thời điểm Tuần Thánh, như Phúc Âm Thánh Gioan cũng về việc
xức dầu này đã được Giáo Hội cho vào ngày Thứ Hai Tuần Thánh,
một thời điểm “sáu ngày trước Lễ Vượt Qua” (Jn 12:1) của dân Do
Thái, tức trước Chúa Nhật Phục Sinh của Kitô Giáo. Thế nhưng,
nếu biến cố này không quan trọng lắm, hay không trực tiếp liên
quan đến Tuần Thánh hoặc đến cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô, thì chưa
chắc Giáo Hội đã đưa vào Tuần Thánh. Chúng ta có thể sẽ thắc mắc
không biết tại sao Giáo Hội không đem đoạn phúc âm xức dầu này
vào cả Phúc Âm chu kỳ năm A theo Thánh Mathêu là phúc âm cũng
có đoạn này? Nếu cho rằng chi tiết ấy đã có ở Phúc Âm này rồi
thì khỏi cho vào Phúc Âm kia, thì tại sao Phúc Âm nào khi trình
thuật về Cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô cũng có những chi tiết giống
nhau như được đề cập đến trên đây; vậy thì việc chỉ có chi tiết
xức dầu này ở riêng Phúc Âm năm B cũng phải có lý của nó? Và nếu
biến cố xức dầu đóng vai trò như dạo khúc mở đầu Tuần Thánh này
chỉ cần cho vào một Phúc Âm thôi cũng đủ thì đáng lẽ Giáo Hội
nên cho vào bài Phúc Âm Thánh Mathêu năm A mới hợp hơn cho vào
Phúc Âm Thánh Marcô năm B, vì năm A đi trước năm B?
Để
có thể hiểu được phần nào thâm ý sắp xếp các bài Phúc Âm và nội
dung của các bài phúc âm này cho cùng một biến cố hay mầu nhiệm
Chúa Kitô trong Phụng Vụ, chúng ta có thể căn cứ vào đoạn mở đầu
của ba Phúc Âm Nhất Lãm cho chu kỳ A. B và C. Trước hết, ở năm
A, Phúc Âm Thánh Mathêu mở đầu bằng ngay việc tông đồ Giuđa âm
mưu phản nộp Thày mình, trong khi đó, ở năm B, Phúc Âm Thánh Marcô
mở đầu bằng sự kiện là ngay sau khi cho thấy thành phần lãnh đạo
dân chúng tìm cách sát hại Chúa Giêsu thì kể lại việc một người
nữ (được Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 12 câu 3 cho biết là Maria,
chị em của Matta và Lazarô, tức Mai Đệ Liên) xức dầu thơm cho
Người, còn ở năm C, Phúc Âm Thánh Luca mở đầu bằng ngay việc Chúa
Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể và muốn Giáo Hội phải tưởng niệm đến
Cuộc Tử Nạn của Người, (chi tiết “tưởng niệm” trong việc lập Bí
Tích Thánh Thể không có trong Phúc Âm Mathêu và Marcô). Như thế,
tuy ba bài Phúc Âm Nhất Lãm cùng trình thật về Cuộc Tử Nạn của
Chúa Giêsu, nhưng căn cứ vào đoạn mở đầu như vừa được nhận định
trên đây, bài Phúc Âm chu kỳ năm A có chiều hướng thương khó,
ở chỗ, Cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu được bắt đầu từ chính mưu phản
nộp của một trong thành phần tông đồ thân cận với Chúa Kitô; bài
Phúc Âm chu kỳ năm B có chiều hướng phục sinh, ở chỗ, Cuộc Tử
Nạn của Chúa Giêsu không phải là một đường cùng tận số dead end,
mà là một cuộc Vượt Qua, như được báo trước bởi cử chỉ xức dầu
của một người bạn thiết nghĩa, cử chỉ của việc sửa soạn liệm xác;
và bài Phúc Âm năm C có chiều hướng truyền đạt sự sống, ở chỗ,
Cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu là một cuộc tự hiến để Giáo Hội được
thánh hóa trong chân lý (x Jn 17:19), một cuộc tự hiến cho chiên
được sự sống viên mãn (x Jn 10:10), một cuộc tự hiến còn được
và cần phải liên tục tưởng nhớ và cử hành bằng Phụng Vụ Thánh
Thể, một Thánh Thể bị Tử Giá (theo chiều hướng Phúc Âm năm A)
nhưng lại là một Thánh Thể sẽ Phục Sinh (theo chiều hướng của
Phúc Âm năm B).
Ý
nghĩa của đoạn Phúc Âm Thương Khó dạo mở
Đúng
thế, qua đoạn mở đầu cho bài Phúc Âm Thương Khó của Thánh Marcô
cho chu kỳ năm B Chúa Nhật tuần này, chúng ta thấy Chúa Giêsu
báo trước cho cả ba thành phần có mặt bấy giờ (các tông đồ, các
thân hữu và Pharisiêu mà Simon tật phong chủ nhà là đại diện xem
Mt 26:6) biết về việc Người phục sinh lần cuối cùng. Ở ba Phúc
Âm Nhất Lãm chúng ta thấy các Thánh Ký thuật lại ba lần Chúa Giêsu
báo cho riêng các môn đệ của Người biết về Cuộc Vượt Qua của Người
(x Mt 16:21, Mk 8:31, Lk 9:22; Mt 17:22-23, Mk 9:31, Lk 9:44;
Mt 20:18, Mk 10:33, Lk 18:31-33). Còn Phúc Âm Thánh Gioan cho
thấy Chúa Giêsu bóng gió báo cho thành phần không phải môn đệ
của Người biết về Cuộc Vượt Qua của Người. Đúng thế, như chúng
ta đã thấy, qua các bài Phúc Âm Chúa Nhật Mùa Chay Năm B, Phúc
Âm Thánh Gioan cho biết Chúa Giêsu đã báo trước Cuộc Vượt Qua
của Người thứ tự như sau: Ở Chúa Nhật 3, Người đã nói với dân
chúng về việc đền thờ thân xác của Người bị dân Chúa tàn phá song
tự Người sẽ xây lại trong vòng ba ngày; ở Chúa Nhật 4, Người đã
nói với Nicôđêmô về việc Người sẽ bị treo lên để ai tin vào Người
thì được sự sống, một sự sống Người sẽ tràn ban cho con người
qua Thánh Linh Người thông truyền cho các tông đồ sau khi sống
lại từ trong kẻ chết; và ở Chúa Nhật 5, Người đã nói với các tông
đồ về việc Người như hạt lúa miến mục nát đi (tử nạn) để sinh
muôn vàn hoa trái (phục sinh).
Vấn
đề của đoạn về xức dầu khai mở cho bài Phúc Âm Thương Khó của
Thánh Ký Marcô thuộc chu kỳ năm B Chúa Nhật Lễ Lá đầu Tuần Thánh
không phải là ở chỗ người phụ nữ đã phí của trong việc sử dụng
lọ dấu đắt giá của mình để xức dầu cho Chúa Giêsu, trong khi,
theo một số người có mặt bấy giờ, đặc biệt là tông đồ Giuđa (theo
Phúc Âm Thánh Gioan), nhiều người đang cần đến cái phí của ấy.
Tại sao lại có vấn đề khác biệt này, giữa người Maria Mai Đệ Liên
và tông đồ Giuđa Ích-Ca?
Vấn
đề khác biệt giữa hai con người này ở đây là lòng tin của họ nơi
nhân vật Giêsu này. Một đàng Mai Đệ Liên, như chị Matta của mình,
tin nhân vật Giêsu Nazarét ấy là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống đã đến trong thế gian” (Jn 11:27), do đó, chị không tiếc
với Người một sự gì, kể cả những gì hết sức quí hóa trước mắt
trần gian, như lọ dầu đắt đỏ chị dùng vào việc xức dầu trên đầu
Người là tiêu biểu. Không ngờ việc chị làm bề ngoài theo lòng
tin tưởng và kính mến ấy lại là việc đụng chạm đến chính mầu nhiệm
cao cả nhất của Vị Thiên Chúa Làm Người, Mầu Nhiệm Tử Nạn. Còn
tông đồ Giuđa, con người được sống kề cận bên Đấng Thiên Sai,
được chứng kiến tận mắt những dấu kỳ phép lạ Người làm, và được
nghe thấy những lời giảng dạy khôn ngoan siêu việt hơn hết mọi
bậc thày trong dân Do Thái, lại không tin rằng Thày mình là Đấng
Thiên Sai, bằng không người tông đồ này có tư tưởng bán nộp Người
hay chăng? Một trong những lý do tông đồ Giuđa bất hạnh này bán
Thày, ngoài chính lòng tham của người tông đồ này, một lòng tham
đã được như Thánh Ký Gioan cho biết (12:6), còn có thể là vì con
người này nghĩ rằng dù mình có bán Thày đi nữa, một đàng thì mình
được tiền, đàng khác cũng chẳng ai có thể làm gì được Thày, như
một số lần Thày đã tự thoát thân (x Jn 8:59, 10:39; Lk 4:29-30).
Dù có tin vào quyền năng của Thày mình đi nữa, nhưng tông đồ Giuđa
chỉ tin theo kiểu hiếu kỳ như muốn xem ảo thuật của người Do Thái,
thành phần có khuynh hướng tìm dấu lạ (x 1Cor 1:22), chẳng hạn
như lần họ thấy Người đuổi con buôn trong khuôn viên đền thờ ở
bài Phúc Âm Chúa Nhật thứ ba Năm B. Rất tiếc, kể cả cho tới giây
phút quan trọng nhất cuộc đời của mình là thấy mình hoàn toàn
lầm lỗi, tức nhận ra chân lý, nhưng thay vì quay về với Thày mình
là chân lý thì lại sợ chân lý, lại tuyệt vọng, đến nỗi đi thắt
cổ tự tử (x Mt 27:3-5), hoàn toàn ngược lại với trường hợp của
tông đồ Phêrô trắng trợn và phũ phàng chối Thày, vị tông đồ cũng
hết sức hối hận nhưng hối hận bằng một lòng tin yêu hết mình (x
Jn 21:15-17).
Nếu
Con Thiên Chúa đến để tìm kiếm những gì đã hư đi (x Lk 19:10),
dù là con chiên lạc duy nhất (x Lk 15:3-7), như tông đồ Giuđa
Ích Ca, thì còn gì đau lòng Người cho bằng tội nhân không chịu
tin tưởng vào tình yêu vô cùng nhân hậu của Người. Con tim của
Người thực sự đã bị thành phần tội nhân hồ nghi tình yêu nhân
hậu của Người đâm thâu trước khi cạnh sườn Người bị quân lính
Rôma xuyên thấu sau khi qua đời. Người đã nhói đau, đau nhói đến
tột đỉnh, đến không chịu được nữa, đã phải than lên cùng Cha của
Người rằng: “Lạy Cha, sao Cha lại lỡ bỏ rơi Con”. Đây là lời duy
nhất của Chúa Giêsu trên cây thập giá được Thánh Ký Mathêu và
Marcô thuật lại. Người chắc hẳn không cố ý than trách Cha Người
đã phũ phàng đầy đọa Người về phần xác hay làm nhục Người quá
cỡ về danh giá, vì Người đã biết chắc chắn rằng Cha Người sẽ cứu
Người khỏi chết, sẽ phục sinh Người và ban cho Người vinh quang
sau khi từ cõi chết sống lại. Tuy nhiên, dù có sống lại chăng
nữa, vết tích tử nạn vẫn còn trên thân xác của Người, biểu hiệu
cho những gì tội nhân gây ra cho Người, thành phần tội nhân hư
đi chỉ vì tuyệt vọng không tin tưởng vào tình yêu vô cùng nhân
hậu của Thiên Chúa được tỏ ra qua việc Ngài chẳng những ban Con
Một của Ngài cho thế gian (x Jn 3:16), mà còn không dung tha Con
vì chúng ta (x Rm 8:32).
Ôi,
qua nhân tính của Chúa Giêsu Kitô, Vị “Thiên Chúa là tình yêu”
(1Jn 4:8,16) chẳng những đã ở với loài người (x Jn 1:14; Mt 1:23)
mà còn xuống tận vực thẳm khốn nạn của con người là âm phủ, là
sự chết về phần xác, hậu quả của tội lỗi về tâm linh, để cứu con
người khỏi tội lỗi và sự chết. Và con người được dựng nên theo
hình ảnh Ngài, có hồn thiêng bất tử, và tương tự như Ngài, có
tâm linh ý thức, cũng chỉ được cứu độ khi nhận biết và tuyệt đối
tin tưởng vào tình yêu nhân hậu của Ngài nơi Chúa Giêsu Kitô!
Phung
phí cho Chúa là phạm đến người nghèo!
Bài
Phúc Âm Thương Khó cho Chúa Nhật Lễ Lá chu kỳ Năm B mở màn cho
Tuần Thánh ở ngay đoạn mở đầu có nói đến việc một người phụ nữ
đến xức đầu trên đầu cho Chúa Giêsu khi Người đang ở Bêthania
tại nhà của một người Pharisiêu tên là Simon bị tật phong. Vấn
đề của bài Phúc Âm Chúa Nhật này rất hợp với câu truyện sau đây.
Số
là, vào Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng 5/4/2003, sau Buổi Tĩnh Tâm Mùa
Chay cho Thiếu Nhi Fatima ở Torrance, thuộc Tổng Giáo Phận Los
Angeles Nam California, về chủ đề “Cho đi phúc hơn nhận lãnh”,
một chủ đề theo đúng Sứ Điệp Mùa Chay 2003 của Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II, chúng tôi có bàn đến vấn đề gây quĩ để đi tham dự Ngày
Thánh Mẫu ở Missouri (7-10/8/2003), thực hiện Đường Thánh Giá
Giới Trẻ lần đầu tiên vào chiều Thứ Sáu 11/8/2003, như chương
trình đã được ban tổ chức sắp xếp theo lời tôi đề nghị. Chúng
tôi cũng đã thành lập những tiểu ban để lo thực hiện công việc
này, trong đó có ban tài chính phụ trách vấn đề gây quĩ. Em Trần
Thúy, một trưởng nữ ở Đoàn Thiếu Nhi Fatima Pomona, là một trong
hai người lo vấn đề tài chính. Em đã nhiệt thành đi quyên góp
ở những nơi nào có thể. Sau đây là email em đã gửi cho tôi về
phản ứng của một số người được em quyên góp, và tôi đã giải đáp
cho em để em trả lời cho những người đặt vấn đề với em.
-----
Original Message -----
From: THUY TRAN
To: HailMaryQueen@thoidiemmaria.net
Sent: Monday, April 07, 2003 10:30 AM
Suoàect: Re: [TNFATIMA] SPECIAL REPORT
Anh
Tinh,
I asked a couple of people I know for donations to our Missouri
trip. After telling them about our projected spending, they asked
me questions I could not answer. "Why do we not donate these
money to poor people?" I told them we want to make the Immaculate
Heart of Mary known to more people. They said "Is that better
than feeding people who do not have food to eat?" and that
"We would touch people more if we give them food and besides,
the people who goes to Dai Hoi Thanh Mau are already motivated
Catholics, we should reach out to those who are not". Please
answer these questions for me. Thanks.
Thuy
Thúy
mến,
Trước hết, cám ơn Thúy đã hăng say nhiệt thành trong việc gây
quĩ cho chương trình hoạt động tông đồ của Thiếu Nhi Fatima.
Sau
nữa, để trả lời cho câu hỏi người ta đặt ra cho Thúy nói riêng
và cho Giáo Hội Công Giáo nói chung, cũng tương tự như câu hỏi
hôm Tĩnh Tâm Mùa Chay Thứ Bảy Đầu Tháng 5/4/2003 vừa rồi Thúy
đã nêu, theo tôi, Thúy hãy trả lời cho họ thế này:
Thứ nhất, đồng ý là ai trong chúng ta, không riêng gì người Công
Giáo, đều phải giúp đỡ người nghèo về cả vật chất lẫn tinh thần.
Đối với Kitô hữu, thành phần nghèo là thành phần hết sức đáng
và cần phải giúp đỡ, giúp đỡ không phải chỉ vì họ nghèo khổ về
vật chất lẫn tinh thần, mà chính vì họ là hiện thân của Chúa Kitô.
Đó là lý do trong ngày chung thẩm (tức ngày phán xét chung), Chúa
Kitô chỉ phán xét tất cả mọi người, chứ không riêng gì Kitô hữu,
về việc làm ơn cho mọi và mỗi người anh em hèn mọn nhất của Người,
tức thành phần những người bất hạnh về đủ mọi mặt của Người. Vì
Người coi đó là việc làm cho chính Người (xem Phúc Âm Thánh Mathêu
25:31-46).
Thứ hai, thế nhưng, theo tự nhiên, con người ta nói chung không
ai có thể thương người một cách vô vị lợi và thương đến cùng,
nếu không có tình yêu Thiên Chúa. Ngày nay vợ chồng ly dị đầy
giẫy là ở chỗ không có tình yêu siêu nhiên này. Bởi thế, để có
thể yêu thương tha nhân, nhất là thành phần bất hạnh, nhất là
thành phần thù nghịch với mình, Kitô hữu đầu tiên phải làm sao
có được một tình yêu trọn hảo như Thiên Chúa đã yêu thương nhân
loại nơi Chúa Giêsu Kitô. Đó là lý do Chúa Kitô dạy chúng ta phải
yêu nhau "như Thày đã yêu" (Phúc Âm Thánh John 13:34,
15:12). Tuy nhiên, muốn được tình yêu này, Kitô hữu phải có một
đời sống nội tâm sâu xa, được thể hiện qua những việc tôn thờ,
những việc phụng vụ xứng đáng với Thiên Chúa vô cùng uy nghi cao
cả. Đó còn là lý do Kitô hữu cần phải sử dụng những Chén Thánh
đẹp, quí, và cử hành trong những Thánh Đường nguy nga. Bởi vậy
chúng ta thấy trong Phúc Âm Thánh Mathêu (26:6-13) và Thánh Marcô
(14:3-9) Chúa Giêsu đã lên tiếng bênh vực người phụ nữ, người
phụ nữ được Phúc Âm Thánh Gioan cho biết là Maria chị em của Matta
và Lazarô (xem 12:2) đã sử dụng dầu thơm hảo hạng để xức trên
đầu Người, một việc đã bị các người khác cho là phí của nếu bán
dầu ấy đi để lấy tiền thí cho kẻ nghèo. Ngoài ra, trong việc xây
đền thờ Giêrusalem cho Chúa, chính Chúa đã phải chỉ vẽ cho vua
Salomon từng li từng tí để xây cho Ngài một nơi nguy nga vĩ đại
hầu có thể phần nào xứng đáng làm nơi Ngài ngự trị giữa dân Ngài
(xem 1Kings các đoạn 5-8), một đền thờ sau này đã được dân Do
Thái cho Chúa Giêsu biết là phải mất 40 năm mới xong (xem Phúc
Âm Thánh Gioan 2:20). Thế nhưng, nếu cần, như lịch sử Giáo Hội
cho thấy, Giáo Hội cũng có thể bán nhẫn Giám Mục, Chén Thánh v.v.
để lấy tiền cứu trợ người nghèo trong cơn nguy cấp. Điển hình
nhất tại Iraq trong cuộc chiến giải giới bắt đầu từ Lễ Thánh Giuse
19/3/2003, các nhà thờ đã được sử dụng để làm nơi trú ngụ cho
dân chúng trong việc lánh nạn chiến tranh.
Thứ
ba, chính nhờ Giáo Hội hết sức chú trọng đến việc thờ phượng kính
mến Thiên Chúa như vậy mà lịch sử thế giới cho thấy, trong tất
cả các đạo giáo, hầu như chỉ có Kitô hữu nói chung và Giáo Hội
Công Giáo nói riêng mới dấn thân thực hiện những hoạt động bác
ái xã hội để lo thăng tiến cho tất cả mọi người, nhất là cho thành
phần bất hạnh, qua những cơ sở bác ái từ thiện, như trại cùi,
nhà thương, học đường, viện tế bần, cô nhi viện v.v. Còn ai nghèo
hơn các tu sĩ nam nữ, những con người đã hoàn toàn tận hiến cuộc
đời của mình cho Thiên Chúa, sống độc thân thanh khiết, khó khăn
thiếu thốn, khiêm tốn vâng phục để có thể phục vụ anh chị em đồng
loại của mình trong tất cả mọi trường hợp. Điển hình nhất là Mẹ
Têrêsa Calcutta, vị đã lập Dòng Nữ Tử Bác Ái (Missionary of Charity),
để phục vụ thành phần nghèo nhất trong các người nghèo (the poorest
of the poor) ở trên 120 quốc gia trên thế giới hiện nay.
Thứ bốn, Giáo Hội Công Giáo không giảng đạo bằng cách cứu khổ
về phần xác cho bằng tăng sức thiêng tinh thần cho thành phần
bất hạnh. Tại Nam Mỹ hiện nay đang có phong trào dụ giáo của một
số giáo phái Tin Lành, bằng việc họ dùng tiền của mang theo từ
Mỹ Quốc giầu có để giúp đỡ những người nghèo hở miền này, hầu
dễ dàng lôi kéo tín hữu Công Giáo theo giáo phái của họ. Nam Mỹ
cũng là nơi phát xuất ra Phong Trào Thần Học Giải Phóng (Theology
of Liberation Movement), một phong trào chủ trương Giáo Hội cần
phải cứu khổ nữa. Nếu thực sự vấn đề cứu độ (spiritual/permanent
salvation) trước hết và trên hết là vấn đề cứu khổ (material/temporary
salvation) thì phải chăng những người giầu sang phú quí không
sống trong cảnh bần cùng và bị đàn áp đều là những người đã được
cứu độ? Thực tế cho thấy, chính thành phần giầu có này lại là
những người đáng thương nhất, khó rỗi linh hồn nhất, đến nỗi,
lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là họ vào thiên đàng (xem Phúc
Âm Thánh Mathêu 19:24). Như thế, thành phần giầu có mới cần phải
nghe rao giảng Tin Mừng Cứu Độ hơn người nghèo. Và tiền bạc không
phải là vị cứu tinh duy nhất và trên hết của người nghèo và cho
người nghèo, mà là đức tin (xem Phúc Âm Thánh Marcô 16:16).
Thứ năm, không phải đã là Kitô hữu, đã là người Công Giáo, đã
lãnh nhận đức tin nơi Phép Rửa, đều tốt lành, đều hơn bất cứ người
nào không phải là Kitô hữu, không phải là Công Giáo. Trái lại,
thực tế cho thấy, Kitô hữu nói chung và Công Giáo nói riêng đã
sống phản chứng, sống phản lại tinh thần Phúc Âm Chúa dạy để làm
chứng cho Người, làm cớ cho thế gian chẳng những không nhận ra
Chúa Kitô mà còn chê Kitô Giáo nữa. Vụ lạm dụng tình dục trẻ em
của hàng giáo sĩ Hoa Kỳ bùng lên từ đầu năm 2002 là một thí dụ
điển hình. Sự kiện Kitô Giáo chia rẽ, chia ra làm ba, Công Giáo
Rôma (Roman Catholic Church), Chính Thống Giáo Đông Phương (Orthodox)
và Anh Giáo (Angelican) hay Tin Lành (Protestant) cũng là gương
mù trước mắt thế gian cho một Kitô Giáo đợc Đấng Sáng Lập là Chúa
Kitô dạy phải yêu thương nhau để người ta cứ dấu ấy mà nhận ra
họ là môn đệ của Người (xem Phúc Âm Thánh Gioan 13:35). Đó là
lý do thế giới Kitô giáo Âu Mỹ, nơi truyền bá Kitô Giáo khắp thế
giới ngày xưa, và cũng là nơi phát xuất ra trào lưu văn hóa sự
chết (culture of death) ngày nay, là những nơi đang cần phải được
tân truyền bá phúc âm hóa (new evangilization).
Hy
vọng 5 ý tưởng gợi ý trên đây có thể giúp Thúy trả lời cho những
vấn đề Thúy không biết trả lời làm sao:
"Why
do we not donate these money to poor people?";
"Is
that better than feeding people who do not have food to eat?";
"We would touch people more if we give them food and besides,
the people who goes to Dai Hoi Thanh Mau are already motivated
Catholics, we should reach out to those who are not."
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Chúa Nhật Lễ Lá (29/3/2015)
Hôm nay là Chúa Nhật Lễ Lá mở màn cho Tuần Thánh cũng gọi là Tuần Thương Khó, trong đó có Tam Nhật Vượt Qua, tột đỉnh của mạc khải thần linh và phụng niên của Giáo Hội.
Riêng Chúa Nhật vừa kết thúc Mùa Chay vừa mở màn cho Tuần Thánh hôm nay bao giờ cũng có hai chiều kích đối nghịch nhau: chiều kích vui mừng nơi sự kiện Chúa Giêsu vinh quang tiến vào Thành Thánh Giêrusalem và chiều kích thương khó nơi sự kiện Người chịu khổ nạn và tử giá.
Thật ra, chiều kích thương khó nơi sự kiện Chúa Giêsu khổ nạn và tử giá trong Chúa Nhật Lễ Lá này, về thời điểm, chưa đúng lúc. Bởi cuộc thương khó của Người chỉ xẩy ra vào Thứ Sáu Tuần Thánh mà thôi. Thế nhưng, sở dĩ cuộc thương khó này cũng được cử hành trong chính Chúa Nhật Lễ Lá là vì sự kiện Chúa Kitô khổ nạn và tử giá là một biến cố quan trọng liên quan đến phần rỗi của nhân loại nói chung và Kitô hữu nói riêng, thế nên về phụng vụ, theo Giáo Hội, cần phải được cử hành vào Chúa Nhật cho có tính cách quan trọng chẳng những tự bản chất của biến cố ấy mà còn đối với tất cả mọi Kitô hữu nữa.
Bởi thế, vì chiều kích vừa vui lẫn buồn của Chúa Nhật mở đầu Tuần Thánh này mà bao giờ cũng có hai phần ở nghi thức phụng vụ: phần rước lá đầu lễ từ bên ngoài nhà thờ tiến vào trong nhà thờ, với bài phúc âm thích hợp cho sự kiện này của Chúa Giêsu, và phần Thánh Lễ với bài Phúc Âm về cuộc khổ nạn và tử giá của Chúa Kitô.
Hai bài phúc âm ở hai phần trong nghi thức phụng vụ mở đầu Tuần Thánh này bao giờ cũng theo đúng chu kỳ phụng niên A-B-C. Thế nhưng, bài Phúc Âm cho chính Thứ Sáu Tuần Thánh lại là bài phúc âm theo Thánh ký Gioan, một phúc âm đã được Giáo Hội chọn đọc chẳng những cho thánh lễ ngày thường trong tuần 4 và 5 Mùa Chay, cũng như cho Chúa Nhật 3-4-5 Mùa Chay Năm A (có thể đọc cho cả Năm B và C nếu liên hệ đến thành phần dự tòng), mà còn cho cả hầu hết Mùa Phục Sinh 7 tuần lễ nữa.
Riêng Chúa Nhật mở đầu cho Tuần Thánh hôm nay, trong phần Lễ Lá, Giáo Hội cũng cho phép đọc bài Phúc Âm của Thánh Gioan, nếu không muốn đọc bài Phúc Âm của Thánh Marcô cho Năm B, trong khi đó Năm A và C thì lại không được thay bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu và Thánh ký Luca bằng bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan.
Thật ra chiều kích vẻ vang của một Chúa Giêsu vinh quang tiến vào Thành Thánh Giêrusalem tự nó đã chất chứa hay hướng về chiều kích thương khó của Người rồi. Nên việc cử hành hai biến cố hay sự kiện trái ngược nhau hôm nay cũng rất thích hợp. Tại sao và ở chỗ nào? Tại vì dân chúng và các môn đệ của Người hoan hô chúc tụng Người rằng: "Hoan hô! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Chúc tụng nước Đavit tổ phụ chúng ta đã đến" (Phúc Âm Thánh Marco), hay "Hoan hô, chúc tụng vua Israel, Đấng nhân danh Chúa mà đến!" (Phúc Âm Thánh Gioan).
Nhưng sau đó ít lâu, vào thời điểm của Tam Nhật Vượt Qua, như bài Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay của Thánh Marco cho thấy, chính các môn đệ của Người phản nộp Người, bỏ Người mà tẩu thoát và thậm chí chối bỏ Người, và dân chúng bắt đầu la hò lên án tử cho Người và đòi đáng đanh Người. Như thế nghĩa là họ chẳng hiểu những gì họ đã làm khi hoan hô chúc tụng Người, lúc Người tiến vào Thành Thánh, hay họ tưởng rằng Người chính là Đấng Thiên Sai được Thiên Chúa của cha ông tổ phụ họ sai đến để giải phóng họ khỏi quyền lực của đế quốc Rôma bấy giờ, như đã từng xẩy ra nhiều lần trong giòng lịch sử cứu độ của họ.
Phần Chúa Giêsu, Đấng vẫn thích ẩn mình đi, hơn là tỏ mình ra, nếu không phải "để tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), thì không bao giờ Người muốn tỏ ra bất cứ hành động nào vinh danh nổi nang như thế, nhất là những gì liên quan đến chính trị động đến đế quốc Rôma hay liên quan đến giáo quyền Do Thái. Việc Người công khai tiến vào Thành Thánh Giêrusalem này, bề ngoài thực sự là động đến cả đế quốc Rôma lẫn giáo quyền do Thái, đúng như nhận định của thành phần lãnh đạo trong dân đã bày tỏ về Người trong bài Phúc Âm Thứ Bảy Tuần 5 Mùa Chay hôm qua: "Chúng ta phải xử trí sao đây? Vì người này làm nhiều phép lạ. Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá huỷ nơi này và dân tộc ta".
Việc Chúa Giêsu công khai và vinh hiển tiến vào Thành Thánh Giêrusalem đây không phải để được dân chúng long trọng nghênh đón và hoan hô chúc tụng, cho bằng để công khai xác nhận vai trò thiên sai của mình, trước khi Người thực sự hoàn thành sứ vụ thiên sai bằng cuộc Vượt Qua vô cùng huyền diệu của Người vào chính thời điểm dân Do Thái tưởng niệm biến cố Vượt Qua của họ xưa kia. Cũng như Người đã cử hành biến cố Vượt Qua của người Do Thái với môn đệ của Người ở Nhà Tiệc Ly vào Thứ Năm Tuần Thánh bằng cách thiết lập Bí Tích Thánh Thể là bí tích liên quan đến cuộc Vượt Qua của chính bản thân Người, một cuộc Vượt Qua cần phải được Giáo Hội liên lỉ cử hành "mà nhớ đến Thày" (Luca 22:19).
Cuộc Vượt Qua của Người bao gồm hai chiều kích khổ nạn tử giá và phục sinh vinh hiển. Chiều kích khổ nạn tử giá của Chúa Kitô trong Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người được long trọng cử hành ở Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay, và chiều kích phục sinh vinh hiển của Chúa Kitô trong Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người được long trọng cử hành ở Chúa Nhật Phục Sinh tuần tới.
Chiều kích khổ nạn tử giá của chúa Kitô được Giáo Hội long trọng cử hành và tưởng nhớ vào Chúa Nhật Lễ Lá này, như bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô thuật lại (14:1 - 15:47), bao gồm tất cả những gì liên quan đến các môn đệ yếu hèn của Người, đến giáo quyền Do Thái kết tội Người, đến chính quyền Rôma lên án tử cho Người, đến chung dân chúng hò hét nổi loạn, đến bọn lý hình vô cùng tàn ác, đến thái độ ngoan ngoãn hiền lành của Người như chiên bị đem đi sát tế v.v. đều cho thấy Người quả thực chẳng những đã ứng nghiệm lời của Tiên Tri Isaia trong bài đọc 1 (Isaia 50:4-7) về Người Tôi Tớ Chúa:
"Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi", một Người Tôi Tớ cũng tự cảm thấy như câu đầu của bài đáp ca hôm nay cho thấy: "Bao người thấy con đều mỉa mai con, họ bĩu môi, họ lắc đầu: 'Hắn tin cậy Chúa, xin Ngài cứu hắn, xin Ngài giải gỡ hắn, nếu Ngài yêu thương'", mà còn hợp với cảm thức thần linh của Thánh Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay (Philiphê 2:6-11). "Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá".
Về phần mình, Chúa Giêsu Kitô, Vị Thiên Sai đến để làm ý Cha chứ không ý của mình, và ý của Cha ở nơi Đấng được Cha sai đó là cứu chuộc toàn thể nhân loại cho khỏi tội lỗi và sự chết, chứ không phải chỉ cứu dân Do Thái khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma, bằng cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc Vượt Qua từ sự chết là hậu quả của tội lỗi gây ra bởi loài người mà Người đã mặc lấy bản tính hư hoại của họ, đến sự sống là hoa trái vô cùng yêu thương của Cha trên trời. Bởi đó, khi Người chết bởi mưu đồ của dân Do Thái cũng như bởi phán quyết của dân ngoại Rôma là Người chết với tư cách là "Giêsu Nazarét - Vua Dân Do Thái" (Gioan 19:19), vị họ đã nghênh đón và hoan hô chúc tụng Người cách đó mấy hôm.
Phải chăng Cha trên trời đã tôn vinh Người chẳng những lần Người tiến vào Thành Thánh Giêrusalem mà còn lần Người lên ngai tòa Thánh Giá giữa hai cận vệ tử tội trộm cướp với vương miện mạo gai của Người, ở chỗ, sau khi Người đã tiến vào Thành Giêrusalem và có một số người Hy Lạp ngỏ ý muốn gặp Người, để rồi Người đã kết thúc những lời Người nói bằng câu: "Cha ơi xin hãy tôn vinh danh Cha", thì "có tiếng phán ra từ bầu trời: 'Ta đã tôn vinh nó rồi Ta sẽ tôn vinh nó một lần nữa'" (Gioan 12:28)?
Nếu dân chúng đã hoan hô "Đấng nhân danh Chúa mà đến" khi nghênh đón Chúa Kitô vào Thành Thánh Giêrusalem thì quả thực Thiên Chúa Cha đã tôn vinh danh của Ngài nơi Con Ngài ngay lúc bấy giờ và sẽ tôn vinh danh của Ngài một lần nữa khi Con của Ngài tử giá, vì Con của Ngài đã làm theo đúng ý muốn vô cùng yêu thương cứu chuộc của Ngài đối với nhân loại tội lỗi đáng thương.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|