CHÚA NHẬT 11B THƯỜNG NIÊN, NĂM B-2024
NÊN THÁNH HẰNG NGÀY
Trong cuốn “Friends of God” (Những Người Bạn Của Chúa), Thánh Lm Josemaría Escrivá (1902-1975, sáng lập Opus Dei) viết: “Lương thực của tôi là làm theo ý muốn của Đấng đã sai tôi và hoàn thành công việc của Ngài.” Thiên Chúa kêu gọi mỗi người và mọi người nên thánh, Ngài yêu cầu mỗi người và tất cả mọi người yêu mến Ngài: trẻ, già, độc thân và kết hôn, khỏe mạnh và ốm yếu, có học và không có học, bất kể họ làm việc gì hoặc ở đâu.
Thánh Josemaría Escrivá là vị thánh của sự thánh thiện hằng ngày. Thật vậy, Thánh Gioan Phaolô II đã gọi ngài là “vị thánh của đời sống bình thường” vì sứ điệp của ngài nói rằng tất cả các tín hữu đều có thể đạt được sự thánh thiện và nên thánh. Thánh Josemaría dạy rằng sự thánh thiện hằng ngày như vậy có thể cho phép người ta gặp gỡ Chúa ngay tại nơi họ đang ở.
Lời kêu gọi nên thánh này có thể đạt được! Đôi khi chúng ta chùn bước trước điều này. Chắc chắn chúng ta biết đó là những lời dạy về đức tin, nhưng có vẻ như những điều không thể đạt được. Thậm chí vài năm trước, có thể tôi đã nhăn mặt trước khái niệm về sự thánh thiện phổ biến. Tôi nghĩ chắc chắn rồi, nếu đó là sự thật, vậy tại sao thế giới lại tan rã? Chiến tranh, tham nhũng, chết chóc,... Nếu nên thánh quá dễ dàng, vậy tại sao thế giới lại tồi tệ như vậy?
Tất nhiên, như Thánh Josemaría đã dạy, nên thánh không bao giờ dễ dàng. Chắc chắn đó là mục tiêu cao, nhưng đó cũng là điều chúng ta có thể đạt được. Đó là nỗ lực cả đời. Chắc chắn nó sẽ gây tổn thương và đòi hỏi hy sinh. Nhưng con đường nên thánh có thể làm nhiều điều hơn là dẫn chúng ta đến niềm vui vĩnh cửu: nó có thể thay đổi thế giới.
Như Thánh Josemaría đã giảng, để đem lại bình an đích thực cho các linh hồn; để biến đổi trái đất và tìm kiếm Thiên Chúa của chúng ta trong thế giới và qua mọi sự của thế gian, sự thánh thiện cá nhân không thể thiếu.
Thế giới của chúng ta có thể sử dụng rất nhiều thứ bình an đích thực đó. Mặc dù chúng ta có thể không giải quyết được nhiều vấn đề của thế giới, nhưng chúng ta có thể đem sự thánh thiện vui vẻ vào cuộc sống của chính chúng ta và của những người xung quanh.
Dưới đây là 7 bài học về sự thánh thiện của Thánh Josemaría Escrivá mà tôi thấy hữu ích và có sức biến đổi cuộc sống của chính tôi. Hy vọng bạn sẽ ghi nhớ những bài học này và vào đời để thay đổi và định hình thế giới.
1. SỰ THÁNH THIỆN TRONG CẦU NGUYỆN
Con đường dẫn đến sự thánh thiện là con đường cầu nguyện. Lời cầu nguyện phải bén rễ và lớn lên trong tâm hồn từng chút một, giống như hạt giống nhỏ bé sau này phát triển thành cây có nhiều cành.
2. SỰ THÁNH THIỆN CHO MỌI NGƯỜI
Sự thánh thiện không dành cho một số ít người có đặc quyền. Thiên Chúa kêu gọi tất cả chúng ta. Ngài mong đợi tình yêu từ tất cả chúng ta – từ tất cả mọi người, dù họ ở đâu; từ tất cả mọi người, bất kể tình trạng của họ trong cuộc sống, nghề nghiệp hoặc công việc của họ. Đối với cuộc sống hằng ngày chúng ta đang sống, dường như rất bình thường, có thể là con đường dẫn đến sự thánh thiện: không nhất thiết phải từ bỏ vị trí của mình trên thế giới để tìm kiếm Thiên Chúa… bởi vì mọi con đường trên trái đất đều có thể là cơ hội gặp Chúa Kitô.
3. BỔN PHẬN NÊN THÁNH
Mỗi ngày hãy ý thức bổn phận nên thánh của mình. Điều đó không có nghĩa là làm những điều kỳ lạ, mà có nghĩa là hằng ngày đấu tranh trong đời sống nội tâm và trong việc hoàn thành nghĩa vụ của mình một cách anh dũng cho đến cùng.
4. SỰ THÁNH THIỆN TIỀM ẨN TRONG ĐỜI THƯỜNG
Thiên Chúa đang kêu gọi bạn phục vụ Ngài trong và ngoài các hoạt động bình thường, vật chất và thế tục của đời sống con người. Ngài đợi chúng ta mỗi ngày – trong phòng thí nghiệm, trong phòng mổ, trong doanh trại quân đội, trên ghế đại học, trong nhà máy, trong xí nghiệp, ngoài đồng ruộng, trong nhà và trong toàn cảnh bao la của công việc. Hãy hiểu rõ điều này: có điều gì đó thánh thiện, điều gì đó thánh thiêng tiềm ẩn trong những tình huống bình thường nhất, và mỗi chúng ta phải khám phá ra.
Khi đức tin thực sự sống động trong tâm hồn, thay vào đó, người ta khám phá ra rằng để theo Chúa Kitô thì người ta không cần phải bước ra khỏi khuôn mẫu bình thường của cuộc sống hằng ngày, và sự thánh thiện cao cả mà Thiên Chúa mong đợi ở chúng ta là phải tìm thấy ở đây và bây giờ trong những điều nhỏ nhặt mỗi ngày.
5. CẢ NGÀY SỐNG LÀ TÔN THỜ
Hãy tiếp tục chiến đấu, để Hy Lễ trên bàn thờ thực sự trở thành trung tâm và căn nguyên trong đời sống nội tâm của bạn, vì vậy cả ngày sống của bạn sẽ biến thành hành động tôn thờ – một phần mở rộng của Thánh Lễ bạn đã tham dự và là bước chuẩn bị cho ngày kế tiếp. Sau đó, cả ngày sống của bạn sẽ là hành động tôn thờ tràn đầy khát vọng, kính viếng Thánh Thể và dâng công việc và cuộc sống gia đình của bạn…
6. CUỘC SỐNG HẰNG NGÀY LÀ SỨ VỤ CỦA CHÚNG TA
Cuộc sống hằng ngày là khung cảnh thực sự cho cuộc sống của bạn với tư cách là Kitô hữu. Sự tiếp xúc bình thường của bạn với Thiên Chúa diễn ra nơi tha nhân, khát vọng, công việc và tình cảm của bạn. Ở đó, hằng ngày bạn gặp Đức Kitô. Ngay giữa những thứ vật chất của trái đất, chúng ta phải thánh hóa bản thân, phục vụ Thiên Chúa và toàn thể nhân loại.
7. CHIẾN ĐẤU ĐỂ NÊN THÁNH
Hãy kiên trì theo con đường của bạn dù có điều gì xảy ra; kiên trì, vui vẻ và lạc quan, vì Thiên Chúa đang muốn quét sạch mọi trở ngại. Hãy nghe tôi nói: Tôi khá chắc chắn rằng nếu bạn đấu tranh, bạn sẽ là một vị thánh!
JOSEPH I. ELIZONDO
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu – 2021
TỶ GIẢO CÁCH
So sánh là cách nói giúp người ta dễ hiểu: giống như, tương tự, y chang,… So sánh phải có ít nhất hai cái, so sánh cái chưa biết với cái đã biết để người ta có thể hình dung cái chưa biết. Đó là phương pháp so sánh – phép so sánh, tỷ giảo cách. Người ta còn có cách so sánh khác, gọi là tỷ giảo cấp: so sánh bằng, so sánh hơn, so sánh nhất.
Chúa Giêsu thường ví von: “Nước Trời giống như…” để người nghe dễ hiểu. Ngài dùng dụ ngôn để minh họa chân lý, dùng hình ảnh dưới thế nhưng mang ý nghĩa trên trời. Ngài thích dùng dụ ngôn, có lẽ vì loại văn này độc đáo, như Kinh Thánh xác nhận: “Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn.” (Mt 13:34; Mc 4:34) Trong các Phúc Âm nhất lãm có khoảng 35 dụ ngôn. [*]
Trong sách Châm Ngôn, Thánh vương Salômôn dùng tỷ giảo cách để dạy về sự thật, đặc biệt trong tính tương đương điển hình, sinh ra một “dụ ngôn đơn giản.” Chẳng hạn: “Cơn thịnh nộ của vua như tiếng gầm sư tử, kẻ làm vua nổi giận là làm hại chính mình.” (Cn 20:2) Tiếng gầm của sư tử được “ví như” cơn giận của nhà vua với mục đích là so sánh. Cách so sánh là cách giúp người ta dễ hiểu vấn đề nào đó. Văn so sánh là đặc ngữ trong các dụ ngôn, nhưng không có trong ngụ ngôn.
Thắc mắc và muốn hiểu, các môn đệ đã hỏi Chúa Giêsu: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?” (Mt 13:10) Ngài giải thích: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành.” (Mt 13:11-15; x. Mc 4:10-12 và Lc 8:9-10)
Chúa Giêsu cho các môn đệ biết rằng việc sử dụng các dụ ngôn có hai mục đích: Mặc khải sự thật cho những người MUỐN BIẾT và che giấu sự thật đối với những người KHÔNG QUAN TÂM. Ở đâu cũng luôn có chí ít là hai loại người. Nhóm Pharisêu công khai khước từ Đấng Mêsia và phỉ báng Chúa Thánh Thần, nghĩa là họ phạm loại tội nặng nhất, không được tha cả ở đời này và đời sau. (Mt 12:22-32) Họ đã ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói về những người cứng lòng, đui mù và câm điếc: “Hãy đi nói với dân này rằng: Cứ nghe cho rõ, nhưng đừng hiểu, cứ nhìn thật kỹ, nhưng đừng nhận ra. Hãy làm cho lòng dân này ra đần độn, cho tai nó điếc, cho mắt nó mù; kẻo mắt nó thấy, tai nó nghe và lòng nó hiểu, mà nó trở lại và được chữa lành.” (Is 6:9-10)
Chúa Giêsu thường nói sau khi dùng dụ ngôn: “Ai có tai nghe thì nghe.” (Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35) Đó là cách mời gọi lắng nghe dụ ngôn, không chỉ nghe chuyện đời thường mà là tìm kiếm sự thật của Thiên Chúa. Ngài ban cho mỗi người có HAI TAI và MỘT MIỆNG, tức là phải NGHE NHIỀU HƠN NÓI.
Từ xưa, Thiên Chúa đã phán hứa: “Từ ngọn cây, từ ngọn hương bá cao chót vót, Ta sẽ lấy, sẽ ngắt một chồi non; chính Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi cao vòi vọi. Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Israel. Nó sẽ trổ cành và kết trái thành một cây hương bá huy hoàng. Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành. Tất cả cây cối ngoài đồng ruộng sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa. Ta hạ thấp cây cao và nâng cao cây thấp, Ta làm cho cây xanh tươi phải khô héo và cây khô héo được xanh tươi. Chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta thực hiện.” (Ed 17:22-24) Trong đó có “hình bóng” của dụ ngôn mà Chúa Giêsu sử dụng để nói về Nước Trời. Đó là một lời hứa đang ứng nghiệm trong thời đại chúng ta sống ngày nay – Thời Cánh Chung.
Thật hạnh phúc khi được Thiên Chúa hứa ban, bởi vì lời hứa đó chắc chắn ứng nghiệm. Thánh Vịnh gia thầm nguyện: “Thú vị thay được tạ ơn Chúa, được mừng hát danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao, được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm, và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya.” (Tv 92:2-3) Tạ ơn và xưng tụng Chúa là trách nhiệm của phàm nhân – loại “sinh vật cao cấp” được Ngài yêu thương đến nỗi cứu chuộc bằng Giá Máu Cứu Độ.
Thánh Vịnh gia so sánh: “Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Libăng được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta; già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn, để loan truyền rằng: Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Người chẳng có chút bất công.” (Tv 92:13-16) Màu xanh cho thấy sức sống dồi dào của thiên nhiên, có sự sống đó là nhờ bám rễ sâu vào lòng đất để hút các dưỡng chất. Tương tự, con người sẽ thanh thản và bình an phát triển nhờ hồng ân Thiên Chúa, không tàn úa, nếu biết bám vào Thiên Chúa.
Thánh Phaolô bộc bạch: “Chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa. Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa.” (2 Cr 5:6-8) Đức tin thực sự rất cần thiết, cần hơn việc “được thấy Chúa.” Thế nhưng, nhiều người vẫn “đua nhau” tìm kiếm “sự lạ” ở nơi này hoặc nơi kia mà quên rằng Thánh Thể là phép lạ vĩ đại nhất vẫn xảy ra hằng ngày ở khắp nơi trên thế giới.
Thánh Phaolô cho biết thêm: “Nhưng, dù còn ở trong thân xác hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người. Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước toà Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác.” (2 Cr 5:9-10) Ý Chúa có lẽ không phức tạp như chúng ta tưởng, ý Chúa là bổn phận của chúng ta trong thời điểm hiện tại, dù chúng ta ở nơi này hoặc nơi khác. Làm đẹp lòng Chúa là thi hành bổn phận và trách nhiệm của mình, có vẻ đơn giản mà nhiêu khê.
Dụ ngôn “Hạt Giống Tự Mọc Lên” với ngụ ý đề cập Nước Trời trong trình thuật Mc 4:26-34, Chúa Giêsu nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa.” Cái mà chúng ta gọi là “tự động” hoặc “tự nhiên” chính là ý Chúa quan phòng và tiền định. Không ai thấy Nước Trời, nhưng Nước Trời vẫn lớn dần trong mỗi chúng ta và trong xã hội. Cụ thể như chính phủ, chẳng ai thấy chính phủ và chẳng ai là chính phủ, nhưng chính phủ vẫn hiện hữu.
Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.” Ngài muốn dùng cách nói cụ thể để ai cũng hiểu, tất nhiên tùy theo mức độ nghe và hiểu của mỗi người, quan trọng là phải hiểu đúng ý Chúa chứ không thể hiểu theo ý riêng mình hoặc tùy tiện.
Cũng dễ mà cũng khó để hiểu ý Chúa qua Phúc Âm. Có lẽ dụ ngôn “Người Gieo Giống” (Mt 13:18-23; Mc 4:13-20; Lc 8:11-15) là dụ ngôn duy nhất được Chúa Giêsu đã giải thích tỉ mỉ nhất. Có lẽ cần lưu ý 3 điểm này để hiểu các dụ ngôn khác: Xác định phạm vi tâm linh, phân biệt cái chính với cái phụ, và đối chiếu Kinh Thánh.
Các dụ ngôn không bao giờ mâu thuẫn, bởi vì chính Chúa Giêsu xác nhận: “Không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì.” (Ga 12:49) Rõ ràng, tỉ mỉ, mạch lạc, khúc chiết, chính xác.
Lạy Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự, xin soi sáng để chúng con hiểu rõ và làm đúng mệnh lệnh của Ngài, xin làm cho chúng con nên lợi khí của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
[*] Dụ ngôn cũng được gọi là ngụ ngôn. Hai danh từ này có nghĩa tương đương nhưng cũng có nghĩa khác nhau.
Ngụ Ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, “bịa” ra như chuyện phiếm, nhưng vẫn có bài học luân lý, mang tính giáo dục, răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là người hoặc thần linh.
Dụ Ngôn (parable, parabole) cũng là câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu dùng thể loại này, tức là Ngài dùng thể loại “dụ ngôn” chứ không dùng “ngụ ngôn.”
KỸ NĂNG SỐNG
(Chúa Nhật XI TN, năm B-2018)
Sinh ra làm người, ai cũng như ai – có cái vốn “nhân chi sơ tính bổn thiện”, còn mọi thứ đều phải nhờ người khác, cụ thể cha mẹ. Theo thời gian, dần dần người ta học được nhiều điều khác, từ những gì đơn giản nhất: “Học ĂN, học NÓI, học GÓI, học MỞ”.
Học từ trường gia đình, rồi trường học và trường đời. Tất cả đều giúp tích lũy kinh nghiệm để tự rút ra kỹ năng sống. Bản năng sinh tồn ai cũng được thiên phú, nhưng nó có thể trở nên tốt hoặc xấu – tự ái hoặc nhịn nhục, vấn đề là sống theo bản năng nhưng có bản lĩnh hay không, hơn nhau là thế: Bản Năng là BỘC LỘ cơn nóng giận, Bản Lĩnh là KIỀM CHẾ cơn nóng giận.
Cái gì cũng phải học, học đến chết chưa hết, và cái gì cũng cần kỹ năng – đặc biệt là sống cho nên người. Kỹ năng sống là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi để đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức trong cuộc sống hằng ngày. Nói cách khác, đó là khả năng tâm lý xã hội. Sống là tập hợp các kỹ năng tiếp thu qua giáo dục, qua việc trải nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp, biết cách xử lý các vấn đề một cách khôn ngoan. Kỹ năng sống có chức năng đem lại hạnh phúc và hỗ trợ thành người tích cực, hữu ích trước tiên cho chính mình, sau là cho gia đình, xã hội và Giáo Hội.
Có các quan niệm khác nhau về kỹ năng sống. Theo Tổ chức UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc), “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân có thể thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày”. Theo WHO (Tổ chức Y Tế Thế Giới), “Kỹ năng sống là khả năng thiết thực mà con người cần để có sống an toàn và khoẻ mạnh. Đó là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác, đồng thời có thể giải quyết hiệu quả các vấn đề, các tình huống trong cuộc sống”. Theo UNICEF (Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc), “Kỹ năng sống bao gồm các kỹ năng cốt lõi: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục đích”.
Những câu chuyện “răn đời” mang tính giáo dục luân lý khả dĩ giúp người đọc có thêm kỹ năng sống, và người ta gọi đó là dụ ngôn hoặc ngụ ngôn. Dụ ngôn cũng được gọi là ngụ ngôn, hai danh từ này có nghĩa tương đương nhưng cũng có nghĩa khác nhau.
1. Truyện Ngụ Ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, “bịa” ra như chuyện phiếm, nhưng vẫn có bài học luân lý, mang tính giáo dục, răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là người hoặc thần linh.
2. Truyện Dụ Ngôn (Anh: parable, Pháp: parabole) cũng là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu dùng thể loại này, tức là Ngài dùng thể loại “dụ ngôn” chứ không dùng “ngụ ngôn”.
Kinh Thánh xác nhận: “Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn” (Mt 13:34; Mc 4:34). Trong các Phúc Âm nhất lãm có khoảng 35 dụ ngôn. Chúa Giêsu sử dụng dụ ngôn để minh họa chân lý, dùng hình ảnh dưới thế nhưng mang ý nghĩa trên trời. Ngài ưa dùng dụ ngôn, có lẽ vì loại văn này độc đáo và thú vị.
Một lần nọ, các môn đệ cảm thấy lạ nên hỏi Thầy Giêsu: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?” (Mt 13:10). Ngài trả lời: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành” (Mt 13:11-15; x. Mc 4:10-12 và Lc 8:9-10). Cách trả lời cũng rất lạ.
Nói là nói vậy, nhưng khi chỉ có Thầy trò với nhau, Ngài lại giải thích hết cho các môn đệ hiểu. Ngài nói rằng việc sử dụng các dụ ngôn có hai mục đích: MẶC KHẢI SỰ THẬT cho những người MUỐN BIẾT và che giấu sự thật đối với những người dửng dưng, không quan tâm. Nhóm Pha-ri-sêu đã công khai khước từ Đấng Mê-si-a và phỉ báng Chúa Thánh Thần, nghĩa là họ phạm loại tội nặng nhất – không được tha ở đời này và đời sau (Mt 12:22-32). Điều đó ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói về những người cứng lòng, đui mù và câm điếc: “Hãy đi nói với dân này rằng: Cứ nghe cho rõ nhưng đừng hiểu, cứ nhìn thật kỹ nhưng đừng nhận ra. Hãy làm cho lòng dân này ra đần độn, cho tai nó điếc, cho mắt nó mù; kẻo mắt nó thấy, tai nó nghe và lòng nó hiểu, mà nó trở lại và được chữa lành” (Is 6:9-10). Đối với những người cố chấp, dốt mà hợm hĩnh, ngu mà chảnh chọe, người ta thường mỉa mai rằng “thà nói với đầu gối còn hơn”.
Hầu như sau mỗi lần dùng dụ ngôn, Chúa Giêsu thường nói: “Ai có tai nghe thì nghe” (Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35). Đó là cách mời gọi lắng nghe dụ ngôn, không chỉ nghe chuyện đời thường mà là tìm kiếm sự thật của Thiên Chúa. Ngài ban cho mỗi người phần bằng nhau: HAI TAI và MỘT MIỆNG – tức là phải biết NGHE nhiều hơn NÓI. Ngoài ra còn hai mắt, hai chân, hai tay, và chỉ một bộ óc – nhìn nhiều, đi nhiều, làm nhiều, nhưng phải suy nghĩ chín chắn chứ không được mưu mô lươn lẹo. Độc đáo lắm!
Từ ngàn xưa, Thiên Chúa đã phán hứa: “Từ ngọn cây, từ ngọn hương bá cao chót vót, Ta sẽ lấy, sẽ ngắt một chồi non; chính Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi cao vòi vọi. Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Ít-ra-en. Nó sẽ trổ cành và kết trái thành một cây hương bá huy hoàng. Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành. Tất cả cây cối ngoài đồng ruộng sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa. Ta hạ thấp cây cao và nâng cao cây thấp, Ta làm cho cây xanh tươi phải khô héo và cây khô héo được xanh tươi. Chính Ta là Đức Chúa, TA ĐÃ PHÁN LÀ TA THỰC HIỆN” (Ed 17:22-24). Trong đó có “hình bóng” của dụ ngôn thời Tân Ước mà Chúa Giêsu sử dụng để nói về Nước Trời. Đó là một lời hứa, nhưng là lời hứa đang ứng nghiệm trong “Thời Cánh Chung” – thời cuối cùng, thời chúng ta đang sống.
Thật hạnh phúc khi được Thiên Chúa thề hứa, bởi vì lời hứa đó chắc chắn ứng nghiệm và hiện thực, chứ không như lời hứa của phàm nhân – những kẻ mang họ “hứa” và liên quan dòng máu của lão Cuội già. Thánh Vịnh gia đã tâm nguyện: “Thú vị thay được TẠ ƠN Chúa, được MỪNG HÁT danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao, được TUYÊN XƯNG tình thương của Ngài từ buổi sớm, và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya” (Tv 92:2-3). Tạ ơn và xưng tụng Thiên Chúa là trách nhiệm của mọi phàm nhân, mệnh danh là “sinh vật cao cấp” được Ngài tạo dựng vì yêu quý và thương xót một cách vô điều kiện.
Sử dụng lối so sánh cụ thể và dễ hiểu, Thánh Vịnh gia nói: “Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-băng được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta; già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn, để loan truyền rằng: Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Người chẳng có chút bất công” (Tv 92:13-16). Màu xanh thiên nhiên cho thấy sức sống dồi dào của cảnh vật, đó là nhờ bám rễ sâu vào lòng đất để hút các dưỡng chất; tương tự, con người sẽ thanh thản và bình an phát triển nhờ hồng ân Thiên Chúa, mãi mãi không tàn úa, nếu biết bám chặt vào Thiên Chúa.
Rất thanh thản, Thánh Phaolô bộc bạch: “Chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước NHỜ LÒNG TIN chứ không phải NHỜ ĐƯỢC THẤY CHÚA. Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cr 5:6-8). Đức tin thực sự rất cần thiết, cần hơn việc “được thấy Chúa”. Thế nhưng, nhiều người vẫn “đua nhau” tìm kiếm “sự lạ” ở nơi này hoặc nơi kia, trong khi bí tích Thánh Thể là phép lạ vĩ đại nhất, hằng ngày vẫn xảy ra tại các nhà thờ hoặc nhà nguyện ở khắp nơi trên thế giới, thế thì còn tìm điều gì lạ ở nơi nào? Hiếu kỳ có khi cần thiết, nhưng có khi lại hóa ra bất lợi!
Như một cách xác định, Thánh Phaolô cho biết thêm: “Nhưng, dù còn ở trong thân xác hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là LÀM ĐẸP LÒNG NGƯỜI. Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước toà Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì TƯƠNG XỨNG với các việc TỐT hay XẤU đã làm, khi còn ở trong thân xác” (2 Cr 5:9-10). Đó là một dạng Nhân – Quả. Thánh Ý Thiên Chúa có lẽ không phức tạp như chúng ta tưởng, bởi vì Ý Chúa là bổn phận của chúng ta ngay trong thời điểm hiện tại, dù chúng ta ở nơi này hoặc nơi khác. Làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình là “thi hành Ý Chúa”, là làm đẹp lòng Ngài. Đơn giản mà lại không dễ thi hành trọn vẹn!
Với ngụ ý đề cập Nước Trời, Chúa Giêsu sử dụng dụ ngôn “Hạt Giống Tự Mọc Lên” trong trình thuật Mc 4:26-34. Ngài cho biết: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa”. Cái mà chúng ta gọi là “tự động” hoặc “tự nhiên” thì thật ra chính là ý Chúa quan phòng và tiền định. Không ai thấy Nước Trời, nhưng Nước Trời vẫn lớn dần trong mỗi chúng ta và trong xã hội này. Đơn giản và thực tế như chính phủ, chẳng ai thấy chính phủ và chẳng ai là chính phủ, nhưng chính phủ vẫn tồn tại trong đất nước và nhân dân.
Sau khi nói chuyện dụ ngôn, Ngài đặt vấn đề: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng”. Ngài muốn dùng cách nói cụ thể để ai cũng có thể hiểu, tất nhiên còn tùy theo mức độ NGHE và HIỂU của mỗi người – nhưng phải hiểu đúng chứ không được hiểu theo ý muốn của mình để tự thỏa mãn.
Cách đọc và hiểu ý Chúa qua Kinh Thánh cũng dễ mà cũng khó. Thật vậy, có lẽ dụ ngôn “Người Gieo Giống” (Mt 13:18-23; Mc 4:13-20; Lc 8:11-15) là dụ ngôn duy nhất được Chúa Giêsu giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ. Để hiểu các dụ ngôn khác, có thể lưu ý ba điều cần thiết này:
1. XÁC ĐỊNH TÂM LINH – Chúa Giêsu thường giới thiệu một dụ ngôn bằng cách nói “Nước Trời ví như...” hoặc “giống như…” (đề cập 7 lần trong chương 13, Phúc Âm theo Thánh Mát-thêu). Trong dụ ngôn “Người Pha-ri-sêu và Người Thu Thuế”, Thánh sử Luca cho biết: “Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người TỰ HÀO cho mình là công chính mà KHINH CHÊ người khác...” (Lc 18:9).
2. PHÂN ĐỊNH “CHÍNH – PHỤ” – Nói cách khác, không phải các chi tiết của dụ ngôn đều có ý nghĩa sâu sắc. Một số chi tiết chỉ làm cho câu chuyện thực tế hơn. Chẳng hạn, theo cách giải thích của Chúa Giêsu về dụ ngôn “Người Gieo Giống”, Ngài không bình luận về bốn loại đất khác nhau. Chi tiết “bốn loại” chỉ là chi tiết phụ đối với toàn bộ dụ ngôn này.
3. SO SÁNH KINH THÁNH – So sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh là quy luật chú giải vô giá khi tìm hiểu các dụ ngôn. Các dụ ngôn của Chúa Giêsu không bao giờ mâu thuẫn với Lời Chúa (Kinh Thánh), bởi vì Ngài đã xác nhận: “Không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì” (Ga 12:49). Các dụ ngôn minh họa giáo lý, và các giáo huấn của Chúa Giêsu luôn rõ ràng, mạch lạc, chính xác.
Trong sách Châm Ngôn, chúng ta thấy có những điều tương tự. Thánh vương Sa-lô-môn đã dùng tỷ giảo cách (phương pháp so sánh) để dạy về sự thật, đặc biệt về tính tương đương điển hình, sinh ra một “dụ ngôn đơn giản”. Chẳng hạn: “Cơn thịnh nộ của vua như tiếng gầm sư tử, kẻ làm vua nổi giận là làm hại chính mình” (Cn 20:2). Tiếng gầm của sư tử được “ví như” cơn giận của nhà vua với mục đích là so sánh. Cách so sánh là cách giúp người ta dễ hiểu vấn đề nào đó. Văn so sánh là đặc ngữ trong các dụ ngôn – ngụ ngôn không có dạng này.
Liên quan kỹ năng sống, tác giả Dale Carnegie (1888-1955) đã thẳng thắn đề cập trong cuốn “Đắc Nhân Tâm” (How to Win Friends and Influence People, năm 1936) về sự thật phũ phàng này: “Any fool can CRITICIZE, CONDEMN and COMPLAIN – and most fools do” (Bất cứ kẻ ngu dốt nào cũng có thể CHỈ TRÍCH, CHÊ TRÁCH và CẰN NHẰN – và đa số những kẻ ngu xuẩn đều làm như vậy).
Ba mẫu tự C kỳ diệu: CRITICIZE, CONDEMN, COMPLAIN – CHỈ TRÍCH, CHÊ TRÁCH, CẰN NHẰN.
Lạy Thiên Chúa là nguồn cội mọi sự, xin ban cho chúng con trí thông minh để hiểu và sự khôn ngoan để thực hành các huấn lệnh Ngài đã truyền ban qua các dụ ngôn, và xin giúp chúng con can đảm biến đổi theo Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Chuyện Nước Trời
(Chúa nhật XI Thường niên, năm B-2012)
Mùa thường niên (còn gọi là mùa quanh năm) là mùa bát ngát màu xanh. Xanh tươi mát. Xanh hy vọng. Hy vọng được về Thiên Quốc. Nhưng muốn về nơi đó thì phải cố gắng miệt mài tìm kiếm Nước Trời. Chúa Giêsu đã từng căn dặn: “Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:31-33). Ngài còn đưa ra nhiều cách so sánh khác về Nước Trời, chứng tỏ Nước Trời vô cùng quý giá! Tuy nhiên, “chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14:22).
Đức Chúa là Chúa Thượng tuyên phán: “Từ ngọn cây, từ ngọn hương bá cao chót vót, Ta sẽ lấy, sẽ ngắt một chồi non; chính Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi cao vòi vọi. Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Ít-ra-en. Nó sẽ trổ cành và kết trái thành một cây hương bá huy hoàng. Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành” (Ed 17:22-23). Thiên Chúa lấy một “chồi non”, chồi non thì nhỏ và yếu ớt, thế nhưng nó lại trổ thành cây cao bóng to đến nổi muôn chim ẩn mình dưới bóng cây đó. Thiên Chúa là Đấng toàn năng, biến “cái không thể” thành “cái có thể” (x. Mt 19:26).
Thật vậy, Ngài biết chắc: “Tất cả cây cối ngoài đồng ruộng sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa. Ta hạ thấp cây cao và nâng cao cây thấp, Ta làm cho cây xanh tươi phải khô héo và cây khô héo được xanh tươi. Chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta thực hiện” (Ed 17:24). Ngài có thể biến khô thành tươi, cải tử hoàn sinh,… nói chung là Ngài biến đổi tất cả!
Một Thiên Chúa như vậy thì quá kỳ diệu, quá tuyệt vời. Và đó là Chúa của chúng ta. Thế nên tác giả Thánh vịnh đã thốt lên: “Thú vị thay được tạ ơn Chúa, được mừng hát danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao, được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm, và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya” (Tv 92:2-3). Tác giả so sánh: “Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-băng được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta; già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn” (Tv 92:13-15). Chúng ta được như vậy là để loan truyền Danh Chúa uy linh, đồng thời phải nói to rằng: “Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Ngài chẳng có chút bất công” (Tv 92:16).
Cảm nghiệm niềm hạnh phúc đó, Thánh Phaolô xác định: “Ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa” (2 Cr 5:6-7). Nghĩa là đức tin quan trọng hơn phép lạ. Chắc chắn là vậy, vì chính Đức Kitô cũng đã xác định: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Đức tin có đủ mạnh thì chúng ta mới có thể “mạnh dạn lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cr 5:8). Lìa bỏ thân xác mình bằng nhiều cách: Bỏ một thói xấu, bỏ đường tội lỗi, hy sinh làm điều gì đó hoặc khước từ điều gì đó,… Không dễ chút nào, nhưng với ơn Chúa thì chúng ta có thể dứt khoát hành động.
Thánh Phaolô nói thêm: “Dù còn ở trong thân xác hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Ngài” (2 Cr 5:9). Vậy mới là tham vọng thánh thiện, vì đôi khi chúng ta hành động vì đẹp lòng người khác (và mình được vinh danh) hơn là làm đẹp lòng Chúa. Cho nên chúng ta phải hết sức cẩn trọng: “Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước toà Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác” (2 Cr 5:10).
Trình thuật Mc 4:26-34 hôm nay kể về “Chuyện Nước Trời”. Chúa Giêsu nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa”. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để nói về Nước Trời nhưng không hề bóng gió khó hiểu, trái lại, rất đơn giản và dễ hiểu. Dù người không được học văn hóa nhiều cũng có thể hiểu chính xác.
Rồi Ngài lại nói: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng”. Nước Trời thật kỳ lạ, nhỏ mà to, hẹp mà rộng, yếu mà mạnh. Nước Trời rất quý, là “chúa ngọc” của những viên ngọc, ai đã “thấy” thì không thể không bỏ mọi sự để có thể chiếm hữu Viên Ngọc đó.
Thánh sử Máccô cho biết rằng Chúa Giêsu dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể nghe. Ngài không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn. Giống như ca dao Việt Nam nói: “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo”. Vậy đó, nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, Ngài giải nghĩa hết. Không phải Ngài thiên tư tây vị, mà Ngài làm vậy để giáo huấn và đào tạo các tông đồ và rồi trao trọng trách cho họ phải nói cho người khác biết rõ về Nước Trời.
Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu, xin thương giúp chúng con can đảm từ bỏ chính mình, không ngừng tìm kiếm Nước Trời, để có thể quyết tâm triệt để và dứt khoát hành động bằng mọi giá. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Dụ ngôn Nước Trời
(Chúa Nhật XI TN, năm B-2015)
Dụ ngôn cũng được gọi là ngụ ngôn. Hai danh từ này có nghĩa tương đương nhưng cũng nghĩa khác nhau.
Ngụ ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, “bịa” ra như chuyện phiếm, nhưng vẫn có bài học luân lý, mang tính giáo dục, răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là người hoặc thần linh.
Dụ ngôn (parable, parabole) cũng là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu dùng thể loại này, tức là Ngài dùng thể loại “dụ ngôn” chứ không dùng “ngụ ngôn”.
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để minh họa chân lý, dùng hình ảnh dưới thế nhưng mang ý nghĩa trên trời. Ngài thích dùng dụ ngôn, có lẽ vì loại văn này độc đáo, như Kinh Thánh xác nhận: “Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn” (Mt 13:34; Mc 4:34). Có khoảng 35 dụ ngôn trong các Phúc Âm nhất lãm.
Có lần các môn đệ đã hỏi Chúa Giêsu: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?” (Mt 13:10). Ngài nói: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành” (Mt 13:11-15; x. Mc 4:10-12 và Lc 8:9-10).
Nhưng khi chỉ có Thầy trò với nhau, Chúa Giêsu giải thích hết cho các môn đệ hiểu. Ngài nói rằng việc sử dụng các dụ ngôn có hai mục đích: Mặc khải sự thật cho những người muốn biết và che giấu sự thật đối với những người dửng dưng, không quan tâm. Nhóm Pha-ri-sêu đã công khai khước từ Đấng Mê-si-a và phỉ báng Chúa Thánh Thần, nghĩa là họ phạm loại tội nặng nhất, không được tha cả ở đời này và đời sau (Mt 12:22-32). Họ đã ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói về những người cứng lòng, đui mù và câm điếc: “Hãy đi nói với dân này rằng: Cứ nghe cho rõ, nhưng đừng hiểu, cứ nhìn thật kỹ, nhưng đừng nhận ra. Hãy làm cho lòng dân này ra đần độn, cho tai nó điếc, cho mắt nó mù; kẻo mắt nó thấy, tai nó nghe và lòng nó hiểu, mà nó trở lại và được chữa lành” (Is 6:9-10).
Sau khi dùng các dụ ngôn, Chúa Giêsu thường nói: “Ai có tai nghe thì nghe” (Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35). Đó là cách mời gọi lắng nghe dụ ngôn, không chỉ nghe chuyện đời thường mà là tìm kiếm sự thật của Thiên Chúa. Ngài ban cho mỗi người có HAI TAI và MỘT MIỆNG, tức là PHẢI NGHE nhiều hơn NÓI. (Ngoài ra còn hai mắt, hai chân và hai tay – nhìn nhiều, đi nhiều và làm nhiều).
Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã phán hứa: “Từ ngọn cây, từ ngọn hương bá cao chót vót, Ta sẽ lấy, sẽ ngắt một chồi non; chính Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi cao vòi vọi. Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Ít-ra-en. Nó sẽ trổ cành và kết trái thành một cây hương bá huy hoàng. Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành. Tất cả cây cối ngoài đồng ruộng sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa. Ta hạ thấp cây cao và nâng cao cây thấp, Ta làm cho cây xanh tươi phải khô héo và cây khô héo được xanh tươi. Chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta thực hiện” (Ed 17:22-24). Trong đó có “hình bóng” của dụ ngôn thời Tân Ước mà Chúa Giêsu sử dụng để nói về Nước Trời. Đó là một lời hứa, nhưng là lời hứa đang ứng nghiệm trong “Thời Cánh Chung” – thời chúng ta đang sống.
Được lời hứa của Thiên Chúa thì còn gì hạnh phúc bằng, vì lời hứa đó chắc chắn ứng nghiệm và hiện thực, chứ không như lời hứa của phàm nhân – nhưng con người mang họ “hứa” và liên quan dòng máu Chú Cuội. Tác giả Thánh Vịnh thầm nguyện: “Thú vị thay được tạ ơn Chúa, được mừng hát danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao, được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm, và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya” (Tv 92:2-3). Tạ ơn và xưng tụng Chúa là trách nhiệm của phàm nhân, các “sinh vật cao cấp” được Ngài tạo dựng vì yêu quý và thương xót.
Tác giả Thánh Vịnh so sánh: “Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-băng được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta; già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn, để loan truyền rằng: Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Người chẳng có chút bất công” (Tv 92:13-16). Màu xanh thiên nhiên cho thấy sức sống dồi dào của cảnh vật, đó là nhờ bám rễ sâu vào lòng đất để hút các dưỡng chất; cũng vậy, con người sẽ thanh thản và bình an phát triển nhờ hồng ân Thiên Chúa, mãi mãi không tàn úa.
Thánh Phaolô bộc bạch: “Chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa. Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cr 5:6-8). Đức tin thực sự rất cần thiết, cần hơn việc “được thấy Chúa”. Thế nhưng, nhiều người vẫn “đua nhau” tìm kiếm “sự lạ” ở nơi này hoặc nơi kia, Thánh Thể là phép lạ vĩ đại nhất, hằng ngày vẫn xảy ra tại các nhà thờ hoặc nhà nguyện ở khắp nơi trên thế giới, thế thì còn tìm điều gì lạ ở nơi nào chứ?
Thánh Phaolô cho biết thêm: “Nhưng, dù còn ở trong thân xác hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người. Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước toà Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác” (2 Cr 5:9-10). Ý Chúa có lẽ không phức tạp như chúng ta tưởng, ý Chúa là bổn phận của chúng ta trong thời điểm hiện tại, dù chúng ta ở nơi này hoặc nơi khác. Làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình là “làm đẹp lòng Chúa”. Đơn giản mà lại không dễ hoàn tất!
Trình thuật Mc 4:26-34 là dụ ngôn “Hạt Giống Tự Mọc Lên” mà Chúa Giêsu dùng với ngụ ý đề cập Nước Trời. Ngài nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa”. Cái mà chúng ta gọi là “tự động” hoặc “tự nhiên” thì thật ra chính là ý Chúa quan phòng và tiền định. Không ai thấy Nước Trời, nhưng Nước Trời vẫn lớn dần trong mỗi chúng ta và trong xã hội. Đơn giản và thực tế như chính phủ, chẳng ai thấy chính phủ và chẳng ai là chính phủ, nhưng chính phủ vẫn hiện hữu.
Nói dụ ngôn xong, Ngài đặt vấn đề: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng”. Ngài muốn dùng cách nói cụ thể để ai cũng hiểu, tất nhiên tùy theo mức độ nghe và hiểu của mỗi người – nhưng phải hiểu đúng chứ đừng hiểu theo ý riêng mình.
Hiểu ý Chúa qua Phúc Âm cũng dễ mà cũng khó. Có lẽ dụ ngôn “Người Gieo Giống” (Mt 13:18-23; Mc 4:13-20; Lc 8:11-15) là dụ ngôn duy nhất được Chúa Giêsu đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ. Để hiểu các dụ ngôn khác, có thể lưu ý mấy điểm này:
1. Xác định phạm vi tâm linh. Chúa Giêsu thường giới thiệu một dụ ngôn bằng cách nói “Nước Trời ví như...” hoặc “giống như…” (đề cập 7 lần trong chương 13, Phúc Âm theo Thánh Mát-thêu). Trong dụ ngôn “Người Pha-ri-sêu và Người Thu Thuế”, Thánh Luca ghi: “Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác...” (Lc 18:9).
2. Phân biệt “chính” và “phụ”. Nói cách khác, không phải các chi tiết của dụ ngôn đều có ý nghĩa sâu sắc. Một số chi tiết chỉ làm cho câu chuyện thực tế hơn. Chẳng hạn, theo cách giải thích của Chúa Giêsu về dụ ngôn “Người Gieo Giống”, Ngài không bình luận về bốn loại đất khác nhau. Chi tiết “bốn loại” chỉ là chi tiết phụ đối với toàn bộ dụ ngôn này.
3. So sánh Kinh Thánh. So sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh là quy luật chú giải vô giá khi tìm hiểu các dụ ngôn. Các dụ ngôn của Chúa Giêsu không bao giờ mâu thuẫn với Lời Chúa (Kinh Thánh), bởi vì Ngài đã xác nhận: “Không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì” (Ga 12:49). Các dụ ngôn minh họa giáo lý, và các giáo huấn của Chúa Giêsu luôn rõ ràng, mạch lạc.
Chúng ta thấy sách Châm Ngôn có những điều tương tự. Thánh vương Sa-lô-môn đã dùng cách so sánh (tỷ giảo cách) để dạy về sự thật, đặc biệt trong tính tương đương điển hình, sinh ra một “dụ ngôn đơn giản”. Chẳng hạn: “Cơn thịnh nộ của vua như tiếng gầm sư tử, kẻ làm vua nổi giận là làm hại chính mình” (Cn 20:2). Tiếng gầm của sư tử được “ví như” cơn giận của nhà vua với mục đích là so sánh. Cách so sánh là cách giúp người ta dễ hiểu vấn đề nào đó. Văn so sánh là đặc ngữ trong các dụ ngôn – ngụ ngôn không có loại này.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con hiểu rõ và biết cố gắng thực hành các huấn lệnh Ngài dạy, cụ thể là qua các dụ ngôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
LỜI CẢI
[Niệm ý Mc 4:26-34 ≈ Mt 13:31-32, 34-35; Lc 13:18-19]
Hạt nhỏ bé được gieo vào lòng đất
Người ta chẳng biết gì dẫu ngày đêm
Hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên
Bằng cách nào thì người ta không biết
Đất tự động sinh hoa màu, dưỡng chất
Lúa mọc lên, rồi lúa trổ đòng đòng
Sau cùng thành bông lúa trĩu hạt căng
Lúa vừa chín, người ta lấy liềm gặt
Hạt cải nhỏ lúc được gieo xuống đất
Chẳng là gì so với những hạt kia
Bởi hạt cải là hạt nhỏ nhất mà
Nhưng mọc lên nó lại lớn kỳ lạ
Nó đâm chồi và xum xuê cành lá
Đến nỗi chim làm tổ dưới bóng cây
Dụ ngôn về Nước Trời thật là hay
Hạt cải nhỏ mà thành cây đặc biệt
Truyện dụ ngôn là loại Chúa ưa thích
Giáo huấn gì Ngài cũng dùng dụ ngôn
Ai nghe hiểu thì sẽ càng biết hơn
Đừng cố chấp như kinh sư, Biệt Phái!
TRẦM THIÊN THU
HẠT HỒNG ÂN
[Niệm ý Mc 4:26-34 ≈ Mt 13:31-32, 34-35; Lc 13:18-19]
Nước Trời như hạt nhỏ nhoi
Âm thầm phát triển dần rồi thành cây
Người ta chẳng biết, chẳng hay
Bất ngờ thấy trái trên cây trĩu cành
Nước Trời như hạt mong manh
Dần dần cây lớn mướt xanh bốn mùa
Khắp nơi ai cũng ước mơ
Thao thức tìm về nấp bóng từ nhân
Nước Trời là hạt hồng ân
Ai tin thì được lãnh phần phúc riêng
TRẦM THIÊN THU
DỤ NGÔN ĐỜI NGƯỜI
[Diễn ý Rm 7:19]
Sự thiện tôi vẫn khát khao
Thế nhưng tôi chỉ chiêm bao, không làm
Sự ác tôi chẳng hề thèm
Thế mà tôi lại thường xuyên làm hoài
Thật là khốn nạn thân tôi
Chỉ ưa chỉ thích những lời nói suông
Dụ ngôn nghe mãi hóa thường
Đó là chuyện chỉ ở trong nhà thờ
Ngoài đời bao việc bộn bề
Trở trăn bao nỗi, lắng lo bao điều
Kiếp người gian khổ trăm chiều
Tháng ngày lầm lũi dãi dầu nắng mưa
Nhưng tôi biện hộ sớm khuya
Chỉ vì ngại nhớ những gì dụ ngôn
Lời Ngài tôi chẳng thuộc lòng
Cho rằng mình vẫn là “ngon” nhất đời
Thế nên tôi hóa ngậm ngùi
Dụ ngôn thực tế kiếp người trần gian
Ngước nhìn lên Chúa từ nhân
Xin thương tha thứ, vạn lần ăn năn
Giáo huấn xã hội, phân vân…
Giằng co hai nửa xác – hồn, Chúa ơi!
Ước mong sao gặp được Người
Khi sống giữa đời gặp gỡ tha nhân
TRẦM THIÊN THU 2024
năm 2024
June 14, 2024