Chúa nhật 25 thường niên, năm B-2021

by trầm thiên Thu

 

NHỮNG CÁCH TẤN CÔNG KHÁC THƯỜNG CỦA MA QUỶ

Trong thế giới này, hành động khác của ma quỷ là hành động khác thường mà Thiên Chúa cho phép trong một số trường hợp vì lý do gì thì chỉ có Ngài biết. Chúng ta gọi đó là quỷ ám. Tin Mừng nói rõ về đặc tính của sự hiện diện ma quỷ trong con người, mà con người giống như “ngôi nhà” đã bị kẻ thù chiếm giữ. (Mc 3:22-27 đề cập việc trừ quỷ do Chúa Giêsu thực hiện.) Hành động độc ác khác thường được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau mang tên bực tức, ám ảnh, chiếm hữu và quấy phá.
1. PHIỀN TOÁI MA QUÁI
Sự phiền toái do ma quái tấn công một người là vết cắt, vết bỏng, vết xước, vết thủng, viết trên da thịt, vết cắn, vết đánh để lại vết bầm tím, sưng tấy, lở loét chảy máu, gãy xương, vết rách da có thể như chữ viết hoặc các dấu hiệu tồn tại trong một thời gian nhất định rồi biến mất, bệnh không rõ nguyên nhân và không tìm ra liệu pháp. Các trở ngại cũng xảy ra ở nơi làm việc và giữa các mối quan hệ mà không thể giải thích hợp lý.
Trong đời các thánh có các dạng phiền toái khác, thậm chí nghiêm trọng hơn những gì đã biết. Một số vị thánh là mục tiêu của sỏi đá, phân và chất bẩn mà không biết từ đâu ra. Một số vị thánh khác bị ném khỏi giường hoặc xuống cầu thang, ném lên không, ném xuống sàn hoặc vào tường, hoặc bị một bàn tay vô hình kéo tóc, có các vị thánh được đưa từ nơi này tới nơi khác suốt một quãng đường dài.
Trong một số trường hợp, đặc biệt là khi ma quỷ tấn công thể lý, việc phân biệt rất dễ dàng. Trong các hình thức phiền toái này, người bị tấn công không phải lúc nào cũng biểu lộ sự ghê tởm đối với những vật thánh thiêng hoặc đối với Thiên Chúa. Chúng ta đã thấy một ví dụ về điều này trong đời Thánh Piô Năm Dấu và trong đời nhiều vị thánh đã phải chịu những phiền toái về thể lý.
Đánh giá của người trừ quỷ là điều thách thức đặc biệt. Người trừ quỷ phải lắng nghe và đánh giá những người bị dày vò bởi các triệu chứng nào đó hoặc bị suy nhược bởi phản ứng dây chuyền của các sự kiện tiêu cực – chẳng hạn như bất hạnh, thất bại hoặc bệnh tật, và tin chắc rằng họ cần linh mục trừ quỷ. Trong các trường hợp này, người trừ quỷ có thể cho rằng có tác động bất thường của ma quỷ nếu người trừ quỷ có thể xác định chắc chắn mối liên quan giữa các tác động có thể xảy ra được mô tả trước đó và sự ác cảm khó giải thích đối với Chúa, lời cầu nguyện và sự thánh thiêng.
Cùng với việc tăng cường các ơn lành và cầu xin giải thoát, nếu thấy các hiện tượng như vậy giảm đáng kể thì người ta có thể nghi ngờ rằng nguồn gốc của chúng là do tác động khác thường của ma quỷ.
2. ÁM ẢNH QUÁI ĐẢN
Có những cuộc tấn công của ma quỷ, mặc dù chúng không chặn được sức mạnh trí tuệ và ý chí tự do của con người, nhưng lại thành công trong việc đưa các ý nghĩ hoặc hình ảnh ám ảnh vào tâm trí (trí tưởng tượng và ký ức) mà nạn nhân không thể xua đuổi. Trong trường hợp này, người đó cảm thấy day dứt bởi một ý tưởng cố định mà họ biết là xa lạ đối với mình và tìm cách loại bỏ nó. Nhưng nó đã in sâu vào tâm trí và tinh thần của họ đến mức dường như nó thực sự là của họ.
Nỗi ám ảnh có thể diễn ra dưới nhiều hình thức, mức độ, cường độ khác nhau và cuối cùng hoàn toàn chiếm lĩnh tâm trí con người. Trong trường hợp đó, chúng trở nên rất mạnh và kéo dài. Để tránh nhầm lẫn chúng với các bệnh lý tâm thần, một số nhà trừ tà thường định nghĩa là ám ảnh ma quỷ về tâm thần, tâm linh hoặc nội tâm. Một số khác gọi là sự phá hoại cá nhân của ma quỷ. Tuy nhiên, có thể đó là tác động của ma quỷ và chứng tâm thần thực sự cùng xuất hiện.
Vì chúng giống với các dạng bệnh tâm thần, việc phát hiện ra sự ám ảnh của ma quỷ không phải lúc nào cũng dễ dàng. Đa số các trường hợp này là bệnh lý. Tuy nhiên, có một số người mặc dù có biểu hiện các triệu chứng tương tự như bệnh lý tâm thần, nhưng nó có nguồn gốc từ tác động khác thường của ma quỷ.
Sự phiền toái về thể lý và của cải thường có thể dễ dàng nhận biết bằng các dấu hiệu bên ngoài. Để kết luận cụ thể, từng trường hợp phải được kiểm tra riêng. Như đã đề cập trước đây, dấu hiệu quan trọng về nguồn gốc của sự ám ảnh là sự hiện diện của một khối, một phần hoặc toàn bộ, đối với sự cầu nguyện, hoặc sự căm thù vô cớ đối với mọi thứ thiêng liêng hoặc liên quan điều thiêng liêng.
Nhưng không phải lúc nào cũng như thế. Đôi khi những người cầu nguyện và thường xuyên lãnh nhận các bí tích (không có các triệu chứng và thái độ như nói trên) vẫn có thể bị ám ảnh bởi các dạng có nguồn gốc xấu xa.
Chúng ta thấy điều đó trong cuộc sống của các thánh khi họ bị ám ảnh bởi ý nghĩ hoặc cảm giác bị đày đọa. Vì vậy, cần phải nhận ra rằng có những trường hợp có thể nhận ra sự ám ảnh về tác động khác thường của ma quỷ bằng cách quan sát hiệu quả hay không hiệu quả của sự giải thoát nhờ ơn lành và việc cầu nguyện.
3. CHIẾM HỮU QUÁI QUỶ
Chiếm hữu không phải là sự chia cắt nhân cách. Thay vào đó, nó liên quan sự thay đổi tạm thời của một người, trong đó ma quỷ tàn bạo và hung dữ nắm quyền kiểm soát. Hành động từ nội tại, ma quỷ khiến nạn nhân nói năng và hành động theo ý riêng: hiện tượng như vậy có thể được định nghĩa là thời gian khủng hoảng.
Ma quỷ thống trị cơ thể của con người để loại bỏ khả năng tự quyết định và kiểm soát của họ. Sự hiện diện của ma quỷ trong con người đã vô hiệu hóa khả năng tự định hướng của người đó, để người đó trở thành công cụ ngoan ngoãn mù quáng, phục tùng trước một thế lực đồi bại và chuyên quyền.
Vì vậy, có hai yếu tố cấu thành việc chiếm hữu người bị quỷ ám: sự hiện diện của ma quỷ trong cơ thể và việc thực thi quyền lực của nó. Do đó, người bị quỷ ám có thể được chuyển đến một nơi khác, được nuôi dưỡng hoặc tạm thời thay đổi về thể lý.
Trong cơn khủng hoảng, người đó có thể tỉnh táo, nửa mê man hoặc hoàn toàn xuất thần. Trong nghi thức trừ tà năm 1952, các hiện tượng đi kèm với sự chiếm hữu được mô tả là nói tiếng lạ, có sức mạnh siêu phàm, cơ thể bay lơ lửng, thay đổi tính cách hoặc đặc điểm thể lý, thay đổi giọng nói, phản ứng tức giận trước các vật linh thiêng, co giật, khóc lớn, báng bổ và kiến thức về những điều huyền bí. Những lúc bình tĩnh có thể xen kẽ với những lúc khủng hoảng. Lúc khủng hoảng thường xảy ra khi ở trước các vật linh thiêng.
Sự thận trọng là điều cần thiết để xác định tính thực tế của sự ám ảnh. Người bị chiếm hữu không phải chịu trách nhiệm về những hành vi đã thực hiện trong khi họ đang bị ma quỷ chi phối. Chiếm hữu là hành động quyền lực tối cao của ma quỷ mà nó dùng để chứng tỏ sự vượt trội của nó đối với con người và sự nổi loạn của nó chống lại Thiên Chúa.
Đối với trường hợp những người quỷ ám cùng lúc có biểu hiện rối loạn tâm thần và các hiện tượng bất thường, sự cân nhắc của con người không có đủ nguồn lực để biện minh trước cho việc loại trừ khả năng bị quỷ ám. Vì vậy, cần phải cẩn thận kiểm tra nhiều ngành – gồm các chuyên gia trong lĩnh vực y tế và tâm linh. Trong tình huống này, người trừ tà – được các chuyên viên y tế hỗ trợ – xác định nguyên nhân thực sự và các thành phần khác nhau về bệnh tật của người đó.
Trong Phúc Âm, một số trường hợp quỷ ám được mô tả rõ ràng: quỷ câm, (Mt 9:32-33) quỷ vừa câm vừa mù, người ta tranh cãi với người Pharisêu, (Mt 12:22-32; Mc 3:20-30; Lc 11:14-26) và Maria Mađalêna. (Mc 16:9; Lc 8:2) Bốn trường hợp được mô tả chi tiết: quỷ ô uế tại Caphácnaum, (Mc 1:21-28; Lc 4:31-37) các quỷ tại Gađara, (Mt 8:28-34; Mc 5:1-20; Lc 8:26-29) con gái của người phụ nữ Canaan, (Mt 15:21-28; Mc 7:24-30) và đứa bé bị động kinh. (Mt 17:14-20; Mc 9:14-28; Lc 9:37-43)
Trong các tình huống này, Chúa Giêsu tiết lộ động lực về sự hiện diện của Ngài trong lịch sử loài người: đến đem ơn cứu độ và giải thoát con người khỏi các thế lực của kẻ ác. Ngài khiến các môn đệ, và tất cả những người tin Ngài, làm việc nhân danh Ngài (Mc 16:17) cộng tác trong công cuộc cứu rỗi của Ngài, ban cho họ quyền năng tiêu diệt ma quỷ. (Mt 10:1-8; Mc 3:14-15; 6:7; Lc 9:1; 10:17-20)
Khi hành hạ những người mà nó ghét, ma quỷ chỉ cảm thấy một kiểu thỏa mãn rất khốn nạn bởi vì nó không thể giảm bớt đau khổ của nó, cũng như Thiên Chúa không cho phép nó tiêu diệt con người.
Người ta không thể nói về xu hướng chiếm hữu về thể lý, tâm linh hay luân lý. Các tội nhân cố chấp là nạn nhân của ma quỷ và họ không cần ảnh hưởng đặc biệt, ngược lại, khi bị chiếm hữu thì họ không tự ý xúc phạm Chúa.
Sự phiền toái và sự chiếm hữu không phải là điều xấu xa về đạo đức; đúng hơn, đó là các tệ nạn thể lý mà Thiên Chúa cho phép vì lợi ích của con người. Một số thần học gia chỉ ra những lý do giải thích về sự cho phép của Thiên Chúa: (1) để làm tăng sự vinh hiển của Thiên Chúa (Ngài bày tỏ tình yêu và các thuộc tính của Ngài); (2) để thể hiện chân lý của đạo Công giáo, vốn được ban sức mạnh thần thánh đặc biệt; (3) vì lợi ích tâm linh của người chính trực; (4) là lời giáo huấn hữu ích cho con người; và (5) làm chứng về sự hoán cải của tội nhân.
4. PHÁ HOẠI VÙNG MIỀN
Hành động bất thường của ma quỷ gây ra sự xáo trộn và phiền toái ở mọi nơi, nhà cửa và các vật được gọi là sự phá hoại ma quái tại địa phương. Nó cũng bao gồm hành động ác độc đối với động vật, mà trong phân tích cuối cùng là nhắm vào con người. Các biểu hiện của hành động đó là tiếng ồn không thể giải thích, sự xuất hiện của các vật hoặc thay đổi vị trí của chúng, tiếng nhạc hoặc tiếng động kỳ lạ, lân quang (phát ra ánh sáng mà không thể cảm nhận nhiệt độ), mùi vị, ánh sáng, động vật phản ứng như thể chúng đã thấy ai đó ở trạng thái phấn khích, bóng đen, hình bóng, khuôn mặt, v.v...
Những xáo trộn gây ra bởi những sự can thiệp của ma quỷ này được thực hiện bằng tiếng ồn hoặc tiếng thổi trên mái nhà, mặt đường, bức tường, cửa ra vào, cửa sổ hoặc đồ đạc; như mưa đá rơi trên mái nhà hoặc thậm chí trong nhà mà không biết từ đâu; tiếng bước chân vô hình, pháo hoa, tiếng nổ, tiếng kêu leng keng của kim loại, giọng nói, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng động, tiếng kêu vang; sự biến mất của đồ đạc và không bao giờ thấy nữa hoặc được tìm thấy ở chỗ bất thường nhất trong nhà; các bức tranh bị rơi xuống mà không thể hiểu; quần áo, tấm trải giường, chăn mền và ghế bay trong không khí; động vật (chẳng hạn như quạ, dơi, cú, thằn lằn, chó hoặc mèo) đột nhiên xuất hiện và biến mất ngay; mùi cháy khét, mùi nồng nặc, mùi phân, mùi lưu huỳnh, mùi thịt thối, mùi nhang; và những thứ lạ lùng tương tự như vậy...
Nếu tìm hiểu kỹ lưỡng mà các nguyên nhân tự nhiên bị loại trừ, thì việc cầu nguyện, chúc lành và Thánh Lễ (có phép của giám mục) được cử hành tại nơi đó. Nếu điều đó dẫn đến sự biến mất của các hiện tượng hoặc giảm đáng kể, người ta có thể nghi ngờ rằng nguồn gốc của chúng thực sự là tác động khác thường của ma quỷ.
Đôi khi sự phá hoại của những hiện tượng như vậy biến mất, không phải vì việc chúc lành và trừ tà, mà là vì nguồn gốc ma quỷ của chúng trong người sống ở nơi đó và các hiện tượng đó gắn liền với người đó. Khi người đó thay đổi nơi ở, những người tiếp tục sống ở đó không còn nhận thấy điều gì và sống yên bình. Các hiện tượng không thể giải thích được đã theo chân người bị hại đến nơi ở mới của họ.
LM. PAOLO CARLIN
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Đêm 20-09-2021

CẤP ĐỘ

Cuộc sống có nhiều cấp độ – từ thấp tới cao, từ nhỏ tới to, từ đơn giản tới phức tạp, từ chậm chạp đến mau chóng. Cấp độ từ nhỏ tới to có thể khiến người ta từ lo tới mừng, hoặc từ lo tới sợ. Nói đơn giản, cấp độ là mức độ hoặc trình độ nào đó trong các lĩnh vực của cuộc sống – đời thường hoặc tâm linh.
Cuộc sống không đơn giản như người ta tưởng. Có những thứ to mà nhỏ, có những cái nhỏ mà to. Té bào là thứ nhỏ bé và giản dị nhưng lại thực sự rất cần thiết. Lỗ nhỏ làm đắm thuyền. Cấp độ cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng, tiêu cực và tích cực, như cái vòng lẩn quẩn xoay tít theo thời gian và trong không gian.
Cấp độ về tinh thần hoặc thể lý đều có những lúc tăng hoặc giảm, thậm chí là khựng lại – level off, không tăng cũng chẳng giảm. Theo nghĩa xấu, đó là mức tồi tệ; theo nghĩa tốt, đó là mức ổn định. Xã hội Việt Nam có những cấp độ “kỳ lạ” lắm! [*]
Cấp độ có thể liên quan cấp số. Cấp số có thể là cấp số cộng hoặc cấp số nhân. Giữa các cấp số cộng hoặc cấp số nhân cũng khác nhau, khác ít hay nhiều tùy vào mức độ to hay nhỏ của công sai – đối với cấp số cộng, và của công bội – đối với cấp số nhân. Cuộc đời thực sự vô cùng nhiêu khê!
Tỷ lệ thuận và tỷ lệ nghịch cũng có khi tốt, có khi xấu. Tỷ lệ thuận TỐT: “Càng gần Thiên Chúa càng trở nên giản dị.” (Thánh TS Teresa Avila) Tỷ lệ thuận XẤU: Càng ngu dốt càng độc ác, kẻ đó có chức quyền càng cao thì cấp độ nguy hiểm càng tăng. Cấp độ đáng sợ: “Tất cả vạn vật đều hữu hạn, chỉ có cái ngu là vô hạn.” (Bác học Albert Einstein) Tỷ lệ nghịch TỐT: “Càng là bạn tốt của nhau chừng nào, anh em càng nói thẳng với nhau chừng nấy.” (Thánh Phanxicô Xaviê) Tỷ lệ nghịch XẤU: “Hiểu biết càng ít, cái tôi càng to.” (Bác học Albert Einstein) Tội lỗi càng tăng, nhân đức càng giảm.
Sự thật thường phũ phàng, khiến người ta thất vọng. làm chúng ta đau lòng, nhưng ai dám đối mặt với sự thật thì mới khả dĩ nên khôn, bởi vì chỉ có sự thật mới khả dĩ giải thoát con người đúng nghĩa mà thôi. (x. Ga 8:32)
Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Môsê. Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục. Khi Thần Khí đậu xuống trên các ông thì các ông bắt đầu phát ngôn, nhưng việc đó không tái diễn nữa.” (Ds 11:25-26) Thần Khí đó là Thánh Linh, là Chúa Thánh Thần, là Ngôi Ba Thiên Chúa. Ngài thường xuất hiện trong các dạng Gió, Lửa, Nước, hoặc Bồ Câu. Ngài không ngừng tác động nơi mỗi chúng ta, ngay từ trong ý nghĩ, dù ngày hay đêm.
Lúc đó có hai người ở lại trong trại – Enđát và Mêđát. Cả hai đã được ghi trong danh sách kỳ mục, nhưng họ đã không đến Lều. Thần Khí đậu xuống trên họ và họ bắt đầu phát ngôn trong trại. Một thanh niên chạy đi báo tin cho ông Môsê: “Ông Enđát và ông Mêđát đang phát ngôn trong trại.” (Ds 11:27) Ông Giôsuê, con ông Nun, từng theo hầu ông Môsê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Môsê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ.” (Ds 11:28) Nhưng ông Môsê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ.” (Ds 11:29)
Chắc chắn ai cũng muốn được lãnh nhận Thần Khí, ông Môsê cũng đã mong cho mọi người đều được ơn “nói tiếng lạ” để trở nên ngôn sứ của Thiên Chúa. Về cơ bản, bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy thì đều có ba thiên chức: Ngôn sứ, Tư tế, và Vương giả. Đây là lĩnh vực thần học, như Công đồng Vatican II đã đề cập trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội (số 10) Đại ý: Thiên chức Tư tế (linh mục là tư tế thừa tác, Kitô hữu là tư tế cộng đồng) là để hiến dâng của lễ cứu độ loài người; Tiên tri (hoặc Ngôn sứ) là để loan báo Tin Mừng Nước Trời; Thiên chức Vương giả (hoặc Vương đế) là để phục vụ dân riêng của Thiên Chúa. Mọi tín nhân đều có trách nhiệm loan báo Tin Mừng về Nước Trời.
Tất cả các Kitô hữu (giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo dân, thành viên của các hội đoàn) đều được Thánh Phêrô nhắn nhủ: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em em như những VIÊN ĐÁ SỐNG ĐỘNG mà xây lên NGÔI ĐỀN THỜ THIÊNG LIÊNG, và hãy để Thiên Chúa dắt anh em làm HÀNG TƯ TẾ THÁNH, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giêsu Kitô.” (1 Pr 2:5)
Trong những năm qua, chúng ta thấy xuất hiện nhiều “vấn đề lạ” như Sứ Điệp Từ Trời, Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Nhóm trừ quỷ Bảo Lộc,... nếu cứ “chạy đua” theo các “sự lạ” như vậy, coi chừng sẽ lạc giáo.
Do đó, đừng ham chạy “thành tích” hoặc “sự lạ” mà tự làm hại đức tin của chính mình. Phúc đâu chưa thấy mà chỉ thấy họa mà thôi. Trừ một số ít các vị thánh có ơn đặc biệt (Thánh Gianuariô, Thánh Martin de Porres, Thánh Faustina, Thánh Piô Năm Dấu,...), đa số các thánh đều có cuộc sống bình thường, thậm chí là rất bình thương, không có gì gọi là “lạ” hoặc khác thường. Vấn đề quan trọng vẫn là sống lòng thương xót để chứng tỏ đức tin vững mạnh và trọn vẹn đến hơi thở cuối cùng.
Ngay cả Thánh GH Gioan XXIII, Thánh GH Gioan Phaolô II, Thánh GH Phaolô VI, Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta, Bậc đáng kính HY P.X. Nguyễn Văn Thuận,... là những người vừa sống cùng thời với chúng ta, cuộc đời các ngài không có gì liên quan cái gọi là “sự lạ,” có chăng là “cách sống lạ” – tức là thâm tín, chịu đựng, hy sinh, dấn thân,… vì mến Chúa và yêu người.
Ai thực sự được gặp Chúa thì chắc chắn cuộc đời biến đổi hẳn, chứ không “nửa vời” như những người vẫn vỗ ngực tự nhận là được “ơn lạ,” nhưng cách sống của họ không có gì khác. Quả là chí lý khi tiền nhân cảnh báo chúng ta: Cẩn tắc vô ưu! Chắc hẳn Thánh Vịnh gia cũng sống đời thường như chúng ta, nhưng có “cái lạ” là biết giữ trọn Luật Chúa và ý thức sâu sắc: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn.” (Tv 19:8) Nhận thức được như vậy thì quyết tâm tuân thủ, không so đo, không tính toán: “Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời. Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh.” (Tv 19:10)
Thánh Vịnh gia thật là khôn ngoan khi biết tìm kiếm và cầu xin những gì thực sự có lợi cho linh hồn: “Tôi tớ Ngài đây xin ra công học hỏi; ai giữ những điều này sẽ ĐƯỢC NHIỀU LỢI ÍCH. Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay. Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài KHỎI KIÊU NGẠO, đừng để tính xấu này thống trị con. Như thế con sẽ NÊN VẸN TOÀN, không còn vương trọng tội.” (Tv 19:12-14)
Chúa Giêsu là Đấng chí tôn, tối thượng, nhưng Ngài đã hạ mình đến tột cùng để sẵn sàng coi tội nhân chúng ta là thân hữu của Ngài: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” (Ga 15:15) Chúng ta dành cả đời để tạ ơn Ngài cũng không đủ, chứ nói chi dám năn nỉ Ngài ban cho điều gì nữa. Vì thế, chớ có ngu xuẩn mà ảo tưởng, tự cho mình là “ông kia, bà nọ,” hoặc đòi phải thế nọ, thế kia.
Thánh Giacôbê vừa nhắc nhở vừa cảnh báo: “Giờ đây, hỡi NHỮNG KẺ GIÀU CÓ, các người hãy THAN VAN RÊN RỈ về NHỮNG TAI HỌA sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát, quần áo của các người đã bị mối ăn. Vàng bạc của các người đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các người; nó sẽ như lửa thiêu huỷ xác thịt các người. Các người đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này.” (Gc 5:1-3)
Giàu sang, lắm của và nhiều tiền, đó không là tội. Nhưng tiền bạc có ma lực khó cưỡng lại, vì thế mà Thánh Phaolô đã xác định: “CỘI RỄ SINH RA MỌI ĐIỀU ÁC LÀ LÒNG HAM MUỐN TIỀN BẠC, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé.” (1 Tm 6:10) Đừng tưởng rằng những người đi tu mà “quên” tiền bạc, thậm chí có người còn tệ hơn giáo dân nữa kìa, dù họ là giám mục hoặc linh mục. Cụ thể như Gm Tebartz-van Elst “nổi tiếng” là xa hoa hào nhoáng ở Đức, ĐGH Phanxicô đã cho mãn nhiệm hồi tháng 10-2014, Lm Gioan Baotixita Võ Hồng Khanh vì lem nhem chuyện tiền bạc đã bị tước năng quyền cử hành phụng vụ tại bất kỳ cơ sở nào của TGP Los Angeles, Hoa Kỳ, hồi tháng 06-2015, Lm Ng. của TGP Saigon, còn trẻ nhưng đã bị nghỉ hưu non vài tháng qua vì lem nhem tiền bạc. Sự thật quá bẽ bàng!
Những chiếc “phong bì” bình thường mà rất đáng quan ngại. Thảo nào người ta bảo “tiền là tiên, là Phật,…” Thật ngu xuẩn đối với những người xếp hàng để được vào gặp “quan lớn” như vậy! Thánh TS Tôma Aquinô cho biết: “Nhận ra những ai là người chúng ta phải tránh, đó là phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình.”
Tiền nhân nhận xét chí lý: “Tin ĐẠO chứ KHÔNG tin NGƯỜI CÓ ĐẠO.” Vâng, Thánh Giacôbê nói thêm: “Các người đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các người, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh. Trên cõi đất này, các người đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các người đã được no đầy thoả mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người.” (Gc 5:4-6) Tiền nhân cũng xác định: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.” Cái nào cũng to, cũng khó, nhưng khó nhất vẫn là “tu thân” vì đó là tiêu chí hàng đầu.
Tiền bạc rất phức tạp, chuyện nhỏ mà to, thêm lo chứ chẳng an tâm. Thánh Phêrô nói: “Anh em hãy sống TIẾT ĐỘ và TỈNH THỨC, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1 Pr 5:8)
Với những người giàu, Thánh Phaolô đưa ra lời khuyên để Thánh Timôthê truyền đạt lại: “Những người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ ĐỪNG tự cao tự đại, cũng ĐỪNG đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ PHẢI làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, PHẢI ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy họ tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai, để được sự sống thật.” (1 Tm 17:19) Khác nhau là giàu hoặc nghèo ở đời này hay đời sau.
Trình thuật Mc 9:38-48 cho biết rằng môn đệ Gioan nói với Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” Gioan hơi bị vô duyên, vì cứ tưởng không ai khác được quyền trừ quỷ. Cái ảo tưởng của Gioan cũng là cái ảo tưởng của nhiều người trong chúng ta ngày nay. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “ĐỪNG ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.”
Chúa Giêsu xác định: “Ai cho anh em uống MỘT CHÉN NƯỚC vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ KHÔNG MẤT PHẦN THƯỞNG đâu.” Dù là nước gì thì một chén nước cũng chẳng đáng chi, thế mà vẫn thực sự quan trọng, và được Chúa Giêsu “chấm công.” Hành động nhỏ mà được thực hiện với tình yêu lớn thì càng tuyệt vời hơn gấp bội. Đức ái rất quan trọng, hầu như ở cấp độ tuyệt đối: “Nếu KHÔNG có đức ái thì KHÔNG có bất kỳ đức hạnh nào, giống như nếu KHÔNG có mặt trời thì cũng KHÔNG có một tinh tú nào cả.” (Thánh LM TS Tôma Aquinô) Về phương diện tỷ giảo cấp, đó là cách so sánh cực cấp – superlative.
Chúa Giêsu thẳng thắn nói: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.” Cách so sánh rất “nặng nề,” nhưng Ngài nói thật chứ chẳng giỡn chơi hoặc hù dọa. Trẻ nhỏ ở đây không hẳn chỉ là trẻ thơ, trẻ em, hoặc con nít, mà còn là những người chân chất thật thà – dù đã trưởng thành hoặc cao niên. Càng đơn sơ giản dị càng dễ vào Nước Trời. Thánh Nicholas Flue nói: “Hãy tỉnh táo và chăm chỉ, hãy tránh mọi thứ hào nhoáng trong cách ăn mặc, đó là cái sẽ loại trừ anh em ra khỏi Thiên Đàng.”
Và rồi Chúa Giêsu còn nói mạnh hơn: “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.” Thật đáng sợ biết bao!
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con nhận diện và ý thức chính mình, giúp con làm những việc bình thường với cách thức phi thường; xin cứu con thoát mọi dạng ảo tưởng và ảo giác, giúp con biết tự thu nhỏ lại để Ngài lớn mạnh lên, biết tự hạ thấp xuống để Ngài cao vút lên. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
[*] Một đất nước NHỎ có một thủ đô TO, thủ đô TO có những con đường NHỎ, con đường NHỎ có những căn nhà TO, căn nhà TO có cô vợ NHỎ, cô vợ nhỏ dành cho ông quan TO, ông quan TO mang chiếc cặp nhỏ, chiếc cặp NHỎ có những dự án TO, dự án TO nhưng hiệu quả NHỎ, hiệu quả NHỎ nhưng thất thoát TO, thất thoát TO nhưng lỗi lại NHỎ… Trong đất nước NHỎ có những ông lãnh đạo TO, những ông lãnh đạo TO có cái đầu NHỎ, cái đầu NHỎ nhưng túi tham TO, túi tham TO bởi vì đầu óc NHỎ, đầu óc NHỎ nên tác hại TO, tác hại TO mà trách nhiệm NHỎ, trách nhiệm NHỎ nhưng quát tháo TO, quát tháo TO vì trí tuệ NHỎ, trí tuệ NHỎ nhưng lợi nhuận TO, lợi nhuận TO nhưng số người chia chác lại NHỎ, số người tuy NHỎ nhưng tổn thất TO, tổn thất TO nhưng báo cáo là NHỎ, báo cáo NHỎ nhưng thành tích thật vẫn TO. Và… cán bộ TO đi xe NHỎ (xe riêng), cán bộ NHỎ lại đi xe TO (xe đò), ông quan TO thường ở với vợ NHỎ (vợ bé), ông quan NHỎ phải ở với vợ TO (vợ cả) và ở nhà TO (nhà tập thể). Cứ thế và cứ thế…

SỰ KIỆN MÁU THÁNH GIANUARIÔ CÓ HÓA LỎNG
Hôm nay, Chúa Nhật 19-09-2021, người ta chú ý nhiều tới sự kiện máu Thánh Gianuariô (San Gennaro) tại Naples, Ý quốc, hy vọng thấy máu ngài hóa lỏng như đã không ngừng xảy ra hàng trăm năm qua. Thánh Gianuariô tử đạo hồi thế kỷ IV.
Dân chúng khắp nơi háo hức đến NT Đức Mẹ, còn được là NT Naples, hoặc ngồi bên radio và ti-vi để biết tin về sự kiện máu Thánh Gianuariô có hóa lỏng theo đúng lịch trình hay không. Thánh Gianuariô là thánh bổn mạng của TP Naples. Máu ngài hóa lỏng mỗi năm 3 lần tại NT Naples. 
Mặc dù ít người biết Thánh Gianuariô là giám mục GP Benevento, một thành phố phía Đông Bắc Naples. Ngài đã che giấu những người theo đạo trong cuộc bách hại của hoàng đế Diocletian. Thánh Gianuariô cũng bị bắt năm 305, ngài và những người khác đã bị ném cho sư tử. Những con thú từ chối làm hại họ. Sau đó, giống như những người bạn của Đanien, Thánh Gianuariô bị ném vào lò lửa, nhưng lửa không có tác dụng gì. Cuối cùng, viên quan trấn thủ đã chém đầu ngài.
Khi cơ thể và đầu của ngài đang được đưa ra ngoài, một phụ nữ lớn tuổi đã thu thập máu ngài và đổ vào một bình nhỏ. Thi hài và đầu của ngài được đưa đến ba nơi khác nhau, cuối cùng được đưa đến NT Naples. Nhà thờ này cũng lưu giữ máu của ngài. Lần đầu tiên máu ngài hóa lỏng vào năm 1389, và sự kiện này xảy ra liên tục cho tới nay.
Điều khá thú vị là nơi để thánh tích của ngài trước đó ở Monte Virgine, một tu viện ở tỉnh Naples, được cho là nơi có thánh tích của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô do hoàng đế Frederick II đem về từ Giêrusalem. Đó là những người đồng hành của ngôn sứ Đanien. Cả 4 người đã được cứu khỏi lò lửa. (Đn 3:16-97) Trường hợp Thánh Gianuariô cũng tương tự.
Ba lần máu Thánh Gianuariô hóa lỏng trong năm: Thứ Bảy trước Chúa Nhật đầu tiên của tháng Năm, ngày 19-09 và ngày 16-12.
Ngày 16-12-1631, khi Núi Lửa Vesuvius gần đó sắp phun trào, mọi người đã cầu xin thánh nhân và TP Naples đã thoát khỏi sự hủy diệt, kể cả các thảm họa tiềm ẩn khác như hỏa hoạn và dịch bệnh. Năm sau, vào ngày 16-12-1632, máu Thánh Gianuariô vẫn tiếp tục hóa lỏng đúng kỳ cho tới nay.
Xin Thánh Gianuariô cầu thay nguyện giúp cho chúng con và toàn thế giới mau thoát đại dịch yêu quái cúm Tàu. Amen.
TRẦM THIÊN THU (tóm tắt theo NCRegister.com)

 

TƯỢNG CHÚA BỊ VỠ
Tại San Jose de Gracia, Aguascalientes, Mexico, có bức tượng “El Cristo Roto – Chúa Kitô Bị Vỡ” cao 25m (82 ft). Bức tượng “độc đáo” này thu hút hàng ngàn khách hành hương mỗi năm. Nguyên nhân bức tượng bị vỡ được ghi tóm tắt trong tấm bảng ở dưới chân tượng:
“Cứ để Ta rạn nứt… Ta muốn rằng khi con nhìn Ta vỡ nát thế này, con sẽ nhớ đến nhiều anh chị em của con, những người bị đổ vỡ, nghèo khổ, bần cùng, bị áp bức, bệnh hoạn, tàn tật, bị mất chân, mất tay,… Họ không có tay nên không có khả năng làm việc, họ không có chân nên khó khăn di chuyển trên đường đời, họ không có khuôn mặt nên họ đã bị tước mất danh dự và uy tín. Họ bị lãng quên, bị bỏ rơi... Người ta nhìn thấy họ thì quay lưng lại vì họ giống như Ta – Đức Kitô bị tan nát!”
Kinh Thánh cho biết mệnh lệnh của Thiên Chúa: “Đừng bóc lột người nghèo, vì họ đã nghèo sẵn; cũng đừng chà đạp người yếu thế nơi cửa công, vì Đức Chúa sẽ biện hộ cho họ, và những ai tước đoạt họ, Người sẽ tước mạng sống.” (Cn 22:22-23)
Thiên Chúa công minh, công bình và chính trực. Ngài không chỉ giàu lòng thương xót mà còn đại lượng hơn chúng ta tưởng: “Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa. Vì ai đã có thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất.” (Mc 4:24-25; Mt 7:2, Lc 6:38)
Tượng “Chúa Kitô Bị Vỡ” nhắc nhở nhiều điều, một trong các vấn đề quan trọng là chuyện giàu – nghèo. Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Anh em có muốn tôn vinh thân thể Chúa Kitô không? Vậy anh em đừng khinh khi Ngài trong sự trần trụi của Ngài, đừng tôn vinh Ngài trong thánh đường này bằng vải vóc lụa là, trong khi lại bỏ mặc Ngài ở ngoài kia, Người đang cóng lạnh và trần trụi. Ngài giàu có không phải là người SỞ HỮU nhiều, nhưng là người BAN PHÁT nhiều.”
Thánh Ambrôsiô cho biết: “Người giàu cho người nghèo thật ra không phải là bố thí, nhưng là trả nợ. Luật công bình rất rõ ràng, một người tốt không được tránh né sự thật, không được gây tổn thiệt bất công cho bất kỳ ai, không được lường gạt hay lừa đảo.” Thánh Giêrônimô xác định: “Mọi sang giàu đều bắt nguồn từ bất công, vì nếu người này không mất thì người kia làm sao đạt được? Do đó, ý kiến chung này dường như rất đúng: ‘Người giàu là một người bất công, hoặc thừa kế một người bất công.’ Sang trọng bao giờ cũng là kết quả của trộm cắp, nếu người sở hữu hiện tại không ăn cắp thì là tiền nhân của họ.”
Tượng “Chúa Kitô Bị Vỡ” cũng nhắc nhở về vóc dáng, ngoại hình: “Duyên dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân.” (Cn 31:30) Và Kinh Thánh căn dặn: “Trước bất cứ ai, đừng chăm chú nhìn vào sắc đẹp.” (Hc 42:12) Nói chung, đừng chú trọng hình thức, ngoại tại, cái cần là nội tại.
Chúa Giêsu chịu nhục nhã để chúng ta được hãnh diện, Ngài chịu hành hạ để chúng ta được bảo vệ, Ngài chịu tan vỡ để chúng ta được nguyên vẹn, Ngài chịu nguyền rủa để chúng ta được bênh vực, Ngài chịu đau khổ để chúng ta được hạnh phúc,... Cuối cùng, Ngài chịu chết để chúng ta được sống và sống dồi dào, đặc biệt là sống đời đời.
Lạy Thiên Chúa, xin chữa lành những người đau khổ – tinh thần hoặc thể lý, đặc biệt là những người đang chịu đau khổ vì cúm Tàu. Xin cứu độ những người thiệt mạng vì yêu quái covid. Xin hoán cải chúng con từ sâu thẳm tâm hồn. Xin tạ ơn Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Sáng 17-09-2021

 

CHÚA GIÊSU GÕ CỬA
Loại hình ảnh “Chúa Giêsu gõ cửa” rất quen thuộc với tín nhân Công giáo, có lẽ vì quen nên không chú ý, vẫn cảm thấy bình thường. Cũng vì vậy mà không thấy có gì lạ. Có điều lạ ư? Người nhanh trí thì thấy ngay, người bình thường cũng có thể nhận ra nếu chịu nhìn kỹ một chút. Và “sự lạ” là đây: CỬA KHÔNG CÓ NÚM TAY CẦM.
Có gì sai hoặc vô lý? Tại sao? Các họa sĩ ngụ ý rằng loại cửa như vậy KHÔNG THỂ MỞ TỪ BÊN NGOÀI, CHỈ CÓ THỂ MỞ TỪ BÊN TRONG. Đó chính là CỬA LÒNG của mỗi chúng ta.
Chúa Giêsu ở bên ngoài, Ngài MUỐN VÔ mà KHÔNG THỂ, bởi vì chúng ta KHÔNG MỞ cho Ngài vào. Nếu thực sự muốn đón tiếp Ngài, chính mỗi chúng ta PHẢI MỞ cửa lòng mình để Chúa Giêsu vào.
Chúa Giêsu đã bảo chúng ta cứ GÕ vào CỬA CHÚA thì Ngài sẽ MỞ ngay (Mt 7:7-8; Lc 11:9-10) bất cứ lúc nào – dù ngày hay đêm, không bao giờ muộn. Chính Ngài đã GÕ vào CỬA LÒNG chúng ta và Ngài vẫn ĐỨNG CHỜ.
Ôi, thế thì không thể để Ngài chờ đợi mãi. Vâng, con mở cửa ngay đây, lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!
TRẦM THIÊN THU

 

CHIẾN BINH CỦA ĐỨC KITÔ

Thiên Chúa nhắc nhở: “Không phải nhờ thế lực, cũng chẳng phải nhờ sức mạnh mà nó hoàn thành công việc Ta giao phó, nhưng là nhờ thần khí của Ta.” (Dcr 4:6)
Thánh Phaolô khuyên: “Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao.” (Ep 6:11-12)
Chiến binh đã anh dũng chiến đấu trong những trận chiến mà không ai khác sẽ chiến đấu, và chiến binh đó đã chiến đấu với địch quân cho đến chết. Dù bị xa lánh, chiến binh đó vẫn luôn sát cánh với chiến hữu bằng sức mạnh, chấp nhận cái chết nhưng đã hạ sát kẻ thù từ trong đầu óc mình.
Chiến đấu vì chính nghĩa là nhiệm vụ cao cả, nhưng chiến binh của Đức Kitô phải đối mặt với nhiều nguy hiểm. Trong một thế giới sa đọa đầy bất công, trụy lạc, tham nhũng, và quá phổ biến vấn đề luân lý không đúng chỗ, Vị Thuyền Trưởng vĩ đại của chúng ta đã chiến thắng trên Thập Giá. Chúng ta chỉ chiến thắng bằng cách noi gương Ngài, thế nên có một số nguy hiểm mà chúng ta cần đề phòng khi cố gắng mang ánh sáng của Đức Kitô đến thế giới yêu thích bóng tối.
1. HỘI CHỨNG RAMBO
Rambo là gì? Đó là cách sử dụng các biện pháp mạnh mẽ để chống lại kẻ thù.
Lòng nhiệt thành vì Chúa là một nhân đức. Được sinh ra từ lòng nhiệt thành này, người ta có thể muốn chống lại bất kỳ mối đe dọa nào có thể xảy ra. Nhưng đối lập với sứ mệnh của Đức Kitô trong thế giới là đạo binh, vì vậy mỗi chúng ta có nguy cơ một mình cố gắng bảo vệ mọi mặt trận, mà quên rằng chúng ta chiến đấu bên cạnh các anh chị em, các thiên thần và các thánh. Nếu tôi quên rằng tôi chỉ là một chiến sĩ bộ binh trong quân đội của Đức Kitô, tôi sẽ thấy mình kiệt sức vì trận chiến không ngừng. Tôi cũng có thể bị cám dỗ khi nghĩ rằng không giải quyết vấn đề nào thì có nghĩa là thừa nhận vấn đề đó.
Nguy cơ trở thành người luôn chọn cách chiến đấu này có thể giải quyết bằng sự khôn khéo và thận trọng, nghĩa là nhận ra rằng việc để cho một vấn đề không giải quyết thì chẳng khác gì là nhượng bộ.
2. CHIẾN BINH THÂN THIỆN
Người luôn chiến đấu mà quên rằng mình ở đang ở giữa vô số thiên thần của Thiên Chúa thì cũng có thể mạo hiểm “bóp cò.” Có lẽ chúng ta lo lắng hoặc mất kiên nhẫn với cách một người khác trong Giáo Hội cứ bảo vệ một vấn đề. Có lẽ chúng ta thấy vấn đề mà họ không nhận thấy sẽ khiến mọi người bối rối về sau. Có lẽ họ chỉ sai về một vấn đề nhỏ. Dù lý do gì, chúng ta vẫn tấn công họ vì lỗi này hoặc không đủ nhiệt tình. Phản ứng này chẳng giúp ích gì cho ai.
Giúp đỡ họ trong cuộc chiến hoặc sửa đổi họ một cách riêng tư sẽ dẫn đến sự trưởng thành, hiểu biết và củng cố Nhiệm Thể Đức Kitô. Nếu họ không lắng nghe, có hai khả năng: họ thấy điều gì đó mà bạn đã bỏ lỡ và thực tế là họ đã hành động đúng như những gì họ đã làm, hoặc họ sai lầm vì không nghe bạn. Nếu là trường hợp thứ nhất, hãy khiêm tốn học hỏi. Nếu là trường hợp sau, chính Chúa Giêsu đã đưa ra cách đối phó với người anh em lầm lỗi, và không ai trong số họ tố cáo anh ta bên ngoài hội đồng. (x. Mt 18:15-17; Lc 17:3-4)
3. CHIẾN BINH KIÊN CƯỜNG
Đối với một nhà vận động dày dạn, có lẽ đã quá mệt mỏi với việc luôn phải chiến đấu với trận chiến khó khăn, có thể dễ dàng quên rằng trận chiến của Đức Kitô cũng là một trận chiến khó khăn, lên tới đồi Canvê. Để quên sự thật này, sự thật mà chiến thắng nằm ở Thập Giá trên đồi Canvê, có thể dễ dàng khiến cho người vận động sẽ nhượng bộ văn hóa tiêu cực, phàn nàn về mọi vấn đề mà không đề xuất giải pháp nào, hoặc ít là phàn nàn về mọi vấn đề và không bao giờ đề cập điều tốt lành. Vâng, có một số vấn đề: chúng ta đang sống trong một thế giới sa đọa, chứ không phải là Thiên Đường. Vâng, chúng ta nên phấn đấu để đạt được sự hoàn hảo. Nhưng để các vấn đề có thể nhận ra được, trước hết phải có một điều tốt rõ ràng mà các vấn đề đó có thể được công nhận.
Các biện pháp khắc phục? Hãy tập trung vào những điều tốt đẹp, tập trung vào tiềm năng mà Chúa đã tạo ra trong mỗi người, và khuyến khích họ trở nên vĩ đại. Đừng nhượng bộ sự tiêu cực!
Một điều đáng ghi nhớ nữa: Chiến thắng thuộc về Đức Kitô, và mỗi chiến thắng nhỏ của chúng ta là một chiến thắng của ân sủng Ngài trong cuộc đời chúng ta. Vì ân sủng của Ngài thắng vượt sự chiến thắng trong chúng ta, nên sự chiến thắng của chúng ta làm rạng rỡ sự vinh hiển của Ngài, sự vinh hiển mà chúng ta chia sẻ với tư cách là các chi thể của Nhiệm Thể Đức Kitô.
Vì vậy, hỡi chiến binh của Thiên Chúa, hãy chiến đấu kiên cường! Hãy chiến đấu trong trận chiến tốt đẹp, và kết thúc cuộc đua bằng sức mạnh của Đức Kitô, với sự vinh hiển của Ngài và niềm vui bất tận của chính bạn.
Tu sĩ JOSEPH GRAZIANO, O.P.
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Chiều 16-09-2021

 

ĐỨC TIN NGƯỜI NGOẠI ĐẠO

[Niệm khúc Lc 7:1-10 ≈ Mt 8:5-13]

Là một đại đội trưởng
Quyền thế và uy nghi
Mà lại chẳng có đạo
Nhưng tin Ðức Giêsu

Ông thật thà khiêm tốn
Nhận mình bất xứng thôi
Sai người đi xin Chúa
Chứ đâu dám rước Ngài

Ông là người ngoại đạo
Nhưng cho xây hội đường
Dù là lương hay giáo
Ông vẫn trọn lòng thương

Dù là một đầy tớ
Ông vẫn thương yêu nhiều
Nó bệnh nặng gần chết
Ông tìm người chữa mau

Đức tin người ngoại đạo
Thật lớn lao, cao dày
Chúa vội vàng đi gấp
Chữa đầy tớ khỏi ngay

Hãy chuộng đức công chính
Hỡi vua quan trần ai
Hãy suy tưởng lành thánh
Thành tâm kiếm tìm Ngài (*)

Qua bí tích Thánh Thể
Qua Lời Chúa, Thánh Thần
Ngài vẫn luôn hiện hữu
Và nuôi dưỡng tín nhân

Xin hướng dẫn, cứu trợ
Lạy Thiên Chúa hằng sinh
Cuộc sống nhiều gian khó
Xin thương xót sinh linh

TRẦM THIÊN THU
Sáng 17-9-2018
(*) Kn 1:1 – “Hãy yêu chuộng đức công chính, hỡi những người cai trị trần gian, hãy suy tưởng ngay lành về Đức Chúa và thành tâm kiếm tìm Người”.

 

VÒNG XOAY

Có nhiều loại vòng – cả tốt và xấu, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cái vòng thì hình tròn, tròn thì cứ lòng vòng, và người ta gọi là “vòng xoay”, nó cũng chính là cái vòng luẩn quẩn của cuộc đời liên quan chữ Danh. Vòng xoay có khi hóa thành vòng xoáy. Loại “vòng đời” rất đáng sợ, nó được tiền nhân mô tả thế này: “Cái vòng danh lợi cong cong – kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào”. Cứ thế, và cứ thế. Mệt thật! Và từ đó có thể xảy ra chiến tranh – cả lạnh và nóng.

Cuộc đời phàm nhân thật là phức tạp, thế nhưng chắc chắn rằng “cái vòng luẩn quẩn” đó không tại Thiên Chúa, mà tại chính chúng ta. Ngày xưa, trường hợp tháp Babel là đại họa đối với con người, nhưng đó không phải là thiên tai mà là nhân tai, là tội kiêu ngạo và ích kỷ của con người. Ngày nay cũng như vậy, tự con người tạo ra các tai họa, tự tạo ra ngày tận thế – chứ không phải do Thiên Chúa, mà lại cứ đổ lỗi cho Ông Trời và nói là “thiên tai”. Thánh Lm Arnold Janssen (1837-1909, sáng lập Dòng Ngôi Lời – SVD, Societas Verbi Divini) xác định: “Mặc dù ý Chúa KHÔNG PHÙ HỢP với bạn thì vẫn LUÔN ÍCH LỢI cho bạn”.

Với bản chất con người, ai cũng “máu” lắm (nhiều loại máu), thả ra cũng chẳng ai vừa: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”. Cứ theo lẽ thường thì chẳng ai hơn/kém ai. Ai cũng thích được khen chứ chẳng ai thích bị chê. Nghĩa là con người rất thích có DANH, gọi là “háo danh”, như chí sĩ Nguyễn Công Trứ (1778–1858, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là nhà quân sự, nhà kinh tế và nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại) đã xác định: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”. Chữ DANH đối với nam giới càng “to lớn” hơn!

Kể cũng lạ (mà cũng chẳng lạ), bởi vì có mối liên quan “thân thiết” giữa DANH và LỢI – gọi là Danh Lợi. Chưa có cái “danh” thì tìm cách có, có “danh” rồi thì tìm cái “lợi”. Có những người mê “danh” đến nỗi sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để “chạy” bằng cấp, chức tước, địa vị,… Thậm chí có người còn dám bán rẻ lương tâm để mua lấy cái “danh”, ngay cả tình nghĩa trong các mối quan hệ cũng chỉ là “chuyện nhỏ”, như người ta “đùa mà thật” thế này: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Điều tất yếu ư? Có thể. Bởi vì “con gà còn tức nhau tiếng gáy” kia mà! Có lẽ dày dạn kinh nghiệm nên cụ Nguyễn Công Trứ mới chua chát nhận định: “Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”, hoặc: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược, Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”. Chua chát lắm!

Thẳng thắn mà nói thì tiền chẳng là gì, chỉ là những tờ giấy có cấp độ giá trị khác nhau theo những con số mà con người quy ước với nhau, chứ tự nó không có giá trị. Thế nhưng người ta coi “tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý”, do đó mà nó có thể “thay trắng, đổi đen” mọi thứ. Xã hội ngày nay rất rõ nét, đặc biệt là ở Việt Nam. Thật là kinh khủng! Chiến tranh tàn khốc xảy ra cũng chỉ vì danh lợi. Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, thế nên: Thật thà bị ghét bỏ, nghèo khó bị miệt khinh, thông minh bị trù dập – nhưng gian ác được yêu thương, giàu sang được đề bạt, khoác lác được đề cao. Đời là thế! Than ôi, thế thái nhân tình Cười ra nước mắt nên mình thương ta!

Mọi thời và mọi nơi đều có người lành, kẻ dữ. Thời Cựu Ước, những người dã tâm đã hùa nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Họ còn ranh mãnh và mỉa mai: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào” (Kn 2:17). Người chính trực luôn bị ghét, người theo Chúa cũng bị “dè chừng”, thậm chí còn bị sát hại. Và rồi kẻ xấu toan tính: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2:18-19). Cuối cùng, họ quyết định: “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:20a). Nhưng đó chỉ là “sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2:20b).

Tuy nhiên, người công minh chính trực vẫn chẳng sợ gì. Cây ngay không sợ chết đứng như Từ Hải, vì họ luôn vững tin vào Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi” (Tv 54:3-4). Phường kiêu ngạo có nổi lên chống đối, hay bọn hung tàn tìm hại mạng sống người công chính, dù chúng không kể gì đến Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn độ trì và nâng đỡ những tôi trung và hiền tử của Ngài, vì Ngài là Đấng đời đời thành tín.

Mặc dù vui – buồn, sướng – khổ, hạnh phúc hay bất hạnh, người thật lòng theo Chúa vẫn một lòng một dạ chân thành thân thưa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo” (Tv 54:8). Đó là cách sống của những người thực sự TRƯỞNG THÀNH TÂM LINH. Ước gì mọi người đều biết sống như vậy!

Thật thú vị với cách phân tích của Thánh Giacôbê: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3:6). Một cách suy luận lô-gích và minh nhiên. Và ngài kết luận: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là THANH KHIẾT, sau là HIẾU HOÀ, KHOAN DUNG, MỀM DẺO, đầy TỪ BI và SINH NHIỀU hoa thơm trái tốt, KHÔNG thiên vị, cũng CHẲNG giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:17-18). Phàm nhân chúng ta gọi đó là “luật nhân quả”, gieo gì gặt nấy: Tư tưởng ➡ ước muốn ➡ hành động ➡ thói quen ➡ tính cách ➡ số phận. Từ ngàn xưa, Kinh Thánh đã xác định: “Gieo gió thì phải gặt bão” (Hs 8:9). Thánh Phaolô nói: “Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời” (Gl 6:8).

Đúng là “XẤU hay làm TỐT, DỐT hay nói CHỮ”. Thế mới rắc rối, thế mới gây xung đột. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những KHOÁI LẠC của anh em đang GÂY CHIẾN trong con người anh em đó sao?” (Gc 4:1). Và rồi thánh nhân đúc kết một cách vô cùng thẳng thắn: “Anh em HAM MUỐN mà không có, nên anh em CHÉM GIẾT; anh em GANH GHÉT cũng chẳng được gì, nên anh em XUNG ĐỘT với nhau, GÂY CHIẾN với nhau. Anh em không có, là vì anh em KHÔNG XIN; anh em XIN MÀ KHÔNG ĐƯỢC, là vì anh em xin với TÀ Ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:2-3).

Công bình mà nói thì nhận xét của Thánh Giacôbê “chạm” đến bất kỳ ai, đến bất kỳ cương vị nào, đến tận mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của lòng dạ và tư tưởng con người. Thật vậy, đôi khi chúng ta ÍCH KỶ NGAY TRONG LỜI CẦU NGUYỆN của mình (như dụ ngôn hai người cùng cầu nguyện trong Đền Thờ – Lc 18:9-14), thậm chí còn dám “ngã giá” và “ra điều kiện” với chính Thiên Chúa mà cứ tưởng là mình… đạo đức và thánh thiện lắm. Ôi, nguy hiểm quá chừng!

Thánh Máccô cho biết một lần nọ, Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê, nhưng Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết chết, Ngài sẽ sống lại” (Mc 9:31). Nhưng các ông không hiểu lời đó, vả lại các ông LO SỢ nên KHÔNG DÁM hỏi lại Ngài. Bao tháng ngày theo Thầy đi khắp mọi nơi, tới từng hang cùng ngõ hẻm, ăn dầm nằm dề với Thầy, thế mà các môn đệ vẫn “như người trên cung trăng”, lơ ngơ mà chẳng hiểu Sư Phụ có ý nói gì. Đã không hiểu mà lại không dám hỏi. Lạ thật! Nhưng phàm phu tục tử là thế, chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì đâu! Chúa biết thừa, nhưng Ngài vẫn thông cảm và lại càng thương các “ngu đệ” hơn. Tội lắm, thương lắm, thương tới cùng luôn (Ga 13:1).

Sau đó, Thầy trò cùng đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Sư Phụ Giêsu hỏi các đệ tử: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9:33). Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để họ bớt… run, chứ Ngài biết tỏng, biết rõ mười mươi như “đi guốc trong bụng” từng người! Nhưng các ông nín thinh như ngậm tăm, vì Thầy nói trúng phoóc tim đen rồi. Rõ ràng khi đi đường, các ông đã CÃI NHAU xem ai là người LỚN HƠN. Tranh giành địa vị, tranh chấp ngôi thứ, tranh nhau cái DANH cốt để mong có cái LỢI. Không thể nào biện hộ, dù chỉ nửa lời. Cái “vòng kim cô” Tham-Sân-Si khó gỡ ghê!

Thầy Giêsu biết các môn đệ chưa thể “thoát tục”, Ngài ngồi xuống và gọi họ lại mà nói: “Ai muốn làm người ĐỨNG ĐẦU thì phải làm người RỐT HẾT, và làm người PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI” (Mc 9:35). Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37).

Một cách so sánh đầy triết lý và thần học, với chuỗi lô-gích: TIẾP NHẬN trẻ nhỏ ➡ TIẾP NHẬN Chúa Giêsu ➡ TIẾP NHẬN Chúa Cha. Hay quá! Nhưng có lẽ chúng ta chưa thể hiểu đúng, hoặc không dám hiểu, thậm chí có thể là không muốn hiểu. Nhưng đừng quên điều này: Chúa Giêsu luôn thực tế, mạch lạc, rất hiếm khi bóng gió xa xôi (khi dùng dụ ngôn). Thế nhưng với “đầu óc bã đậu”, chúng ta cảm thấy khó lĩnh hội thấu đáo để có thể thực hành những bài học “đơn giản” của Ngài là SỐNG YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Chính Ngài đã LÀM rồi mới NÓI.

Chẳng dễ gì thoát khỏi vòng danh lợi và vòng kiềm tỏa của nó, nhưng không thoát thì không xong. Làm sao đây? Chỉ có cách làm theo “mẹo” của Chúa Giêsu: “Nếu anh em không TRỞ LẠI mà NÊN NHƯ TRẺ NHỎ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Danh lợi chỉ là thứ tạm bợ, chóng qua, thế mà người ta vẫn tìm mọi thủ đoạn để giành giật bằng mọi giá. Đó là loại “giàu” khiến người ta khó vào Nước Trời nhất. Cụ Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Chí lý thay, độc đáo quá, tuyệt vời lắm!

Có mối liên quan kỳ lạ: “Không có TÌNH YÊU và HÀNH ĐỘNG thì người thông thái nhất cũng chẳng là gì” (Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu). Thánh Juliana Norwich phân tích: “Chân lý ngắm nhìn Thiên Chúa, sự khôn ngoan chiêm ngưỡng Thiên Chúa, từ hai thứ đó phát sinh cái thứ ba là niềm vui thánh thiện tuyệt vời nơi Thiên Chúa, Đấng là tình yêu”. Thật chí lý khi Kinh Thánh nhắc nhở: “Làm xong một việc thì tốt hơn mới bắt đầu, nhẫn nại thì tốt hơn huênh hoang tự đắc. Chớ vội để cho lòng mình nổi giận, vì chỉ người ngu mới nuôi giận trong lòng” (Gv 7:8-9).

Lạy Thiên Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con từng giây phút, để chúng con đừng giành nhau những thứ không phù hợp với Tin Mừng của Ngài, trái ngược với Nước Trời. Xin thúc đẩy chúng con không ngừng biết YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ đúng Tôn Ý Ngài. Trong khi phục vụ, đôi khi công việc có thể khiến chúng con cảm thấy cô đơn và nhàm chán, thậm chí còn bị hiểu lầm, xin giúp chúng con kiên tâm và tín thác vào Ngài, xin cho tâm hồn chúng con luôn bình an trong Ngài để ý Ngài nên trọn, tất cả xin vì Ngài mà thôi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU 2018

 

DANH LỢI
(Chúa nhật XXV TN, năm B-2018)

Cái vòng danh lợi cong cong
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào

Đó là cái vòng luẩn quẩn cuộc đời. Với bản chất con người, ai cũng “máu” lắm (nhiều loại máu), thả ra cũng chẳng ai vừa: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”. Thật vậy, ai cũng thích được khen chứ chẳng ai thích bị chê. Nghĩa là con người rất thích có DANH, gọi là “háo danh”, như Nguyễn Công Trứ (*) xác định: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”. Chữ DANH với nam giới lại càng “to” hơn nhiều.

DANH và LỢI có quan hệ “thân thiết” với nhau. Chưa có cái “danh” thì tìm cách có, có “danh” rồi thì tìm cái “lợi”. Có những người mê “danh” đến nỗi sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để “chạy” bằng cấp, chức tước, địa vị,… Thậm chí có người còn dám bán rẻ lương tâm để mua lấy cái “danh”, ngay cả tình nghĩa trong các mối quan hệ cũng chỉ là “chuyện nhỏ”, như người ta “đùa mà thật” khi nói: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Đó là điều tất yếu? Vì “con gà còn tức nhau tiếng gáy” kia mà! Có lẽ dày dạn kinh nghiệm nên hiền sĩ Nguyễn Công Trứ mới chua chát nhận định: “Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”, hoặc: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược, Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”.

Tiền chẳng là gì, chỉ là những tờ giấy có cấp độ giá trị khác nhau theo những con số mà con người quy ước. Nhưng người ta coi “tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý” thế nên nó có thể thay trắng đổi đen mọi thứ. Kinh khủng quá! Chiến tranh tàn khốc xảy ra cũng vì cái “danh” và “lợi”. Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, thế nên: Thật thà bị ghét bỏ, nghèo khó bị rẻ khinh, thông minh bị trù dập. Đời là thế! It’s life! C’est la vie! Ôi, chuyện đời cười ra nước mắt!

Những người dã tâm hùa nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Họ ranh mãnh và mỉa mai: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào” (Kn 2:17). Người chính trực luôn bị ghét, người theo Chúa cũng bị “dè chừng”, thậm chí còn bị sát hại. Kẻ xấu toan tính: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2:18-19). Cuối cùng họ quyết định: “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:20a). Nhưng đó chỉ là “sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2:20b).

Người công minh chính trực thì chẳng sợ gì. Cây ngay không sợ chết đứng như Từ Hải, và luôn vững tin vào Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi” (Tv 54:3-4). Phường kiêu ngạo có nổi lên chống đối, hay bọn hung tàn tìm hại mạng sống người công chính, dù chúng không kể gì đến Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn độ trì và nâng đỡ những tôi trung và hiền tử của Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa đời đời thành tín.

Dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ, dù hạnh phúc hay bất hạnh, người thật lòng theo Chúa vẫn một lòng một dạ chân thành thân thưa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo” (Tv 54:8). Đó là cách sống của những người thực sự trưởng thành tâm linh. Ước gì mọi người đều biết sống như vậy!

Thánh Giacôbê phân tích: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3:6). Một cách suy luận lô-gích và minh nhiên. Thánh nhân kết luận: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:17-18). Phàm nhân chúng ta gọi đó là “luật nhân quả”, gieo gì gặt nấy: Tư tưởng à ước muốn à hành động à thói quen à tính cách à số phận.

Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao?” (Gc 4:1). Và rồi thánh nhân đúc kết một cách vô cùng thẳng thắn: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:2-3).

Nhận xét của Thánh Giacôbê “chạm” đến bất kỳ ai, đến bất kỳ cương vị nào, đến tận mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của lòng dạ và tư tưởng con người. Thật vậy, đôi khi chúng ta ích kỷ ngay trong lời cầu nguyện của mình, thậm chí còn dám “ngã giá” và “ra điều kiện” với chính Thiên Chúa mà cứ tưởng là mình… đạo đức và thánh thiện. Nguy hiểm quá!

Một lần nọ, Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê, nhưng Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết chết, Ngài sẽ sống lại” (Mc 9:31). Nhưng các ông không hiểu lời đó, vả lại các ông sợ nên không dám hỏi lại Ngài. Theo Thầy đi khắp mọi nơi, tới từng hang cùng ngõ hẻm, ăn dầm nằm dề với Thầy, thế mà các môn đệ vẫn “như người trên cung trăng”, lơ ngơ mà chẳng hiểu Sư phụ nói gì. Không hiểu mà lại không dám hỏi. Lạ thật! Nhưng phàm phu tục tử là thế, chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì ai! Chúa biết thừa, nhưng Ngài vẫn thông cảm và lại càng thương các “ngu đệ” hơn.

Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9:33). Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để các môn đệ bớt… run. Chứ Ngài biết tỏng, biết rõ mười mươi như “đi guốc trong bụng” từng người! Nhưng các ông nín thinh như ngậm tăm, vì Thầy nói trúng phoóc tim đen. Rõ ràng khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Tranh giành địa vị, tranh chấp ngôi thứ, tranh nhau cái DANH cốt để mong có cái LỢI. Không thể nào biện hộ, dù chỉ nửa lời!

Biết các môn đệ chưa thể “thoát tục”, Đức Giêsu ngồi xuống và gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9:35). Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37). Một cách so sánh đầy triết lý và thần học. Tiếp nhận trẻ nhỏ à tiếp nhận Chúa Giêsu à tiếp nhận Chúa Cha. Hay quá! Nhưng có lẽ chúng ta chưa thể hiểu đúng, hoặc không dám hiểu, thậm chí không muốn hiểu. Nhưng nên nhớ rằng Chúa Giêsu luôn thực tế, mạch lạc, rất hiếm khi bóng gió xa xôi. Và vì thế mà chúng ta khó lĩnh hội thấu đáo để có thể thực hành bài học “đơn giản” của Ngài là sống Yêu thương và Phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).

Muốn thoát vòng danh lợi và vòng kiềm tỏa của nó, chúng ta phải theo “mẹo” của Chúa Giêsu: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Danh lợi chỉ là thứ tạm bợ, chóng qua, thế mà người ta vẫn tìm mọi thủ đoạn để giành giật bằng mọi giá. Đó là loại “giàu” khiến người ta khó vào Nước Trời nhất. Cụ Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Chí lý lắm thay!

Lạy Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con từng giây phút, để chúng con đừng giành nhau những thứ không phù hợp với Luật Chúa, trái ngược với Nước Trời. Xin giúp chúng con không ngừng biết YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ đúng như Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Nguyễn Công Trứ (chữ Hán: 阮公著, 1778 – 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.

Nhân Danh
(Chúa Nhật XXV TN, năm B-2012)
Hằng ngày, các tín hữu Công giáo làm dấu Thánh Giá nhiều lần: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Một tín hữu bình thường thì người ta làm dấu khi thức dậy, khi tham dự Thánh Lễ, khi cầu nguyện, khi đọc kinh, khi ăn (cơm, phở, bánh,…), khi đi ngủ. Một tín hữu biết mình yếu đuối thì họ còn làm dấu khi uống nước, khi ăn vặt, khi chạy xe, khi làm thơ, khi viết nhạc, khi viết bài, khi dịch thuật,… Nói chung, bất cứ làm gì, chúng ta đều làm nhân danh Thiên Chúa chứ không nhân danh bất cứ ai hoặc thứ gì khác, như Thánh Phaolô khuyên: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31), và “Hãy làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:14).
Khi nói đến “nhân danh”, chúng ta nhớ tới Tổng lãnh Thiên thần Micae – một đại anh hùng chiến đấu để bênh vực Chân Lý và Công Lý, nhân danh Thiên Chúa. Ngài là người thách đố: “Ai bằng Thiên Chúa?”.
Khi nhân danh người nào hoặc điều gì, cũng có những người “mạo danh” để làm điều sai trái, thay vì làm điều nhân nghĩa. Đó là “nhân danh” cái ác, một dạng giả hình mà chúng ta cần cảnh giác cao độ – cảnh giác với người khác và với chính mình. Thực tế đã và đang cho chúng ta thấy có những kẻ “mạo danh” để trục lợi cá nhân – ngoài đời cũng có đầy mà trong tôn giáo cũng chẳng thiếu.
Thời Cựu Ước, những kẻ xấu đã “nhân danh” sự ác mà vào hùa với nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Khi nhân danh điều gì, đôi khi người ta cũng dễ bị ảo tưởng hoặc suy nghĩ lệch lạc. Gọi là nhân danh điều tốt này hoặc sự thiện kia, nhưng thực chất có thể chỉ là nhân danh mình – tức là muốn chứng tỏ “bản lĩnh” của mình mà thôi. Dạng này rất tinh vi, chúng ta phải thực sự cảnh giác kẻo “sập bẫy” mưu ma chước quỷ!
Tư tưởng xấu sinh ra ước muốn xấu, ước muốn xấu sinh ra hành động xấu, hành động xấu là nhân danh cái ác. Những kẻ xấu cũng tưởng người khác cũng xấu như mình nên họ nghi ngờ người khác. Họ lý luận: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào. Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:17-20). Chính Chúa Giêsu cũng đã bị những kẻ xấu thách thức tương tự!
Những người công chính, tâm địa ngay thẳng, nhưng đôi khi vẫn gặp tai ương. Không phải là Thiên Chúa không biết hoặc làm ngơ, nhưng Ngài tôn trọng luật tự nhiên. Khi thực sự cần thiết thì Ngài mới ra tay. Những người tín thác vào Thiên Chúa thì luôn chân thành khấn cầu: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi. Phường kiêu ngạo nổi lên chống đối, bọn hung tàn tìm hại mạng sống con, chúng không kể gì đến Thiên Chúa. Nhưng này có Thiên Chúa phù trì, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ” (Tv 54:3-6).
Quả thật như vậy, vì Ngài biết rõ ai như thế nào, mạnh hay yếu, và Ngài không bắt chúng ta chịu đựng quá sức mình. Vấn đề quan trọng là chúng ta phải biết nhận ra ơn độ trì của Thiên Chúa, như tác giả Thánh Vịnh thầm hứa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo!” (Tv 54:8).
Ai tin tưởng và hành động nhân danh Thiên Chúa thì chắc chắn sẽ không lầm đường lạc lối, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8:12).
Cụ thi hào Nguyễn Du đã nhận định và so sánh: “Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI” (Truyện Kiều). Cái “tâm” vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Ai cũng có lương tâm, nhưng vấn đề là lương tâm đó đúng đắn hay lệch lạc. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:16-18).
Chắc chắn ai cũng biết lợi ích của cái tâm chân chính, nhưng biết là biết vậy, cố gắng áp dụng hay không lại là chuyện khác. Cổ nhân nói: “Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính”. Từ cái tâm sẽ sinh ra nhiều hệ lụy khác, thậm chí ảnh hưởng cả sức khỏe thể lý.
Thánh Giacôbê tiếp tục phân tích: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:1-3). Hệ lụy rạch ròi, tất yếu. Đúng là “lỗi tại tôi mọi đàng” chứ chẳng lỗi tại ai ráo trọi!
Cái thiện ý hoặc thiện tâm rất quan trọng, ngược lại thì rất nguy hiểm với ác ý hoặc dã tâm: “Thiện ý một câu ấm ba đông, lời ác lạnh người sáu tháng ròng”. Trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh, đạo binh chư thần đã đồng ca: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 1:14). Điều đó cho thấy sự thiện tâm là điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa yêu thương, nhờ đó mà quyết tâm chỉ nhân danh sự thiện mà thôi.
Trình thuật Mc 9:30-36 cho chúng ta biết về hai vấn đề quan yếu mà chính Chúa Giêsu muốn giáo huấn mỗi chúng ta: Lớn – nhỏ, và thuận – nghịch.
Một lần nọ, Chúa Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê. Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang “bật mí” cho các môn đệ biết chuyện hệ trọng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”. Tuy nhiên, các ông y như vịt nghe sấm, chẳng hiểu gì cả. Vả lại, các ông vừa sợ vừa ngại nên không dám hỏi lại Sư Phụ.
Sau đó, Thầy và trò cùng đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Ngài hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?”. Ui da! Rỉ tai nhau thế mà Thầy cũng cũng biết. Chết thật! Vì thế, các ông nhìn nhau nhưng im thin thít, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Thánh sử Mác-cô cho biết rõ là các môn đệ “cãi nhau”, chứng tỏ vấn đề nghiêm trọng chứ không đơn giản. Họ tranh giành về chuyện “cao – thấp”, về chức quyền. Vấn đề này cũng vẫn thường xảy ra trong chúng ta ngày nay.
Ngài ngồi xuống, có lẽ Ngài rất buồn khi thấy các đệ tử vẫn tục lụy, vẫn hám danh và mê lợi như vậy, rồi Ngài gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Đó là đức khiêm nhường. Ý tưởng của Ngài hoàn toàn trái ngược với chúng ta. Kế đó, Ngài đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Một chuỗi hệ lụy kỳ diệu quá!
Đó là vấn đề thứ nhất: Vấn đề lớn – nhỏ, cao – thấp. Vấn đề thứ nhì là thuận – nghịch. Khi đó, ông Gioan nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Nghe vậy, Ngài liền khoát tay và nói ngay: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”.
Động thái của Chàng trai trẻ Gioan nhắc nhở chúng ta một điều: Đừng tưởng mình ngon người khác, đừng tưởng mình có quyền hơn người khác. Vì thế mà coi thường người khác, khinh miệt hoặc ghét bỏ người khác. Từ hệ lụy này sinh ra hệ lụy khác. Cứ “tưởng rằng” như vậy là mạo nhận, là ảo tưởng, là kiêu ngạo! Tương tự, TIN mình được Chúa yêu thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG mình được Chúa yêu thì lại là kiêu ngạo. Cái “khoảng cách” giữa TIN và TƯỞNG rất mong manh.
Kiêu ngạo là đối lập với Đức Kitô, vì Ngài là Đấng có “lòng hiều hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29). Đồng thời hãy nhớ lại lời Kinh Ngợi Khen (Magnificat) của Đức Maria: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1:52).
Ước gì mỗi khi gặp nhau, dù là bất kỳ ai, chúng ta có thể chân thành nói với nhau: “Chúng tôi chúc lành cho anh em nhân danh Chúa” (Tv 129:8).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con luôn biết nhân danh Ngài mà thực hiện bất cứ điều gì, từ suy nghĩ tới hành động, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn. Vâng, lạy Thiên Chúa, con thật lòng ước muốn và cố gắng thực hiện như vậy. Xin Ngài hướng dẫn con mọi nơi và mọi lúc. Xin Tổng lãnh Thiên thần Micae nguyện giúp cầu thay. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

Vấn Đề Môi Trường

Ngày 5 tháng 6 là ngày Môi trường Thế giới, được quy đinh từ năm 1972. Và từ ngày năm 2015, theo lời kêu gọi của ĐGH Phanxicô, ngày 1 tháng 9 là ngày Cầu nguyện cho Môi trường.
Trước đó, trung tuần tháng 6-2015, ĐGH Phanxicô đã ban hành Thông điệp “Laudato sí” (Laudato sí, mí Signore – Xin chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con), được coi như “bản đồ môi trường”, ĐGH Phanxicô đặt vấn đề: “Loại thế giới nào chúng ta muốn chuyển lại cho những người đến sau chúng ta, cho các trẻ em đang lớn lên? Câu hỏi này không phải chỉ liên quan riêng đến môi trường mà thôi, vì chúng ta không thể đặt câu hỏi một phần, và điều này khiến chúng ta tự hỏi về ý nghĩa cuộc sống và những giá trị làm căn bản cho đời sống xã hội: ‘Chúng ta đến trần thế này để làm gì? Chúng ta hoạt động và tranh đấu với mục đích nào? Tại sao trái đất lại cần chúng ta?’. Nếu chúng ta không đặt những câu hỏi căn bản ấy, tôi không tin rằng các mối quan tâm của chúng ta về môi trường có thể đạt hiệu quả quan trọng”.
Hành tinh mà chúng ta sinh sống được mệnh danh là “hành tinh xanh”, thế nhưng nó dần dần mất “sạch và xanh”, nó đang từng ngày biến đổi một cách tiêu cực. Độ nóng cứ nóng dần toàn cầu, khí thải tăng dần, phá rừng quá nhiều, những vết dầu loang, môi sinh bị hủy hoại, không chỉ môi trường bị ô nhiễm mà cả âm thanh cũng bị ô nhiễm. Thiên nhiên không còn thân thiện như xưa, mưa nắng thất thường, tai họa rình rập, phần lớn là lỗi của chúng ta. Nhân tai chứ chẳng phải thiên tai, vì vô ý thức mà chúng ta đang tự hủy hoại “ngôi nhà” của mình, tức là tự hủy hoại mình, đặc biệt là tàn phá công trình sáng tạo của Thiên Chúa!
Sai lầm chưa đáng sợ, mà không biết mình sai lầm mới thực sự đáng sợ. Đối mặt với những cái tiêu cực hằng ngày ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, chúng ta càng ngày càng quan ngại về môi trường, nhưng hầu như chúng ta cảm thấy vô vọng, lúng túng không biết làm sao để bảo vệ “ngôi nhà xanh” của mình. Trách nhiệm này không của riêng ai. Một người ý thức mà mười người vô ý thức thì cũng như “muối bỏ biển”. Không thể chỉ lo sạch nhà mình, còn nhà hàng xóm dơ bẩn thì mặc họ. Tất cả đều có hệ lụy với nhau. Rất cần giáo dục về môi trường và phải áp dụng nghiêm luật!
Không đâu xa, ngay tại Việt Nam, chúng ta luôn kêu gọi “giữ gìn thành phố sạch đẹp” – nói chung là “giữ gìn môi trường sạch và xanh”. Hết “tuần lễ hành động” này sang “tháng hành động” nọ, hoặc “năm hành động” khác. Thế nhưng vẫn có điều gì đó bất cập.

 

VẤN NẠN CẦN KHẮC PHỤC

1. Quảng cáo: Hầu như hằng ngày tại nhiều giao lộ trong nội ô TPHCM có những “nhân viên” đi phát các tờ bướm, tờ rơi quảng cáo, thậm chí còn tới “cài” vào cửa từng gia đình. Thật ra bản chất quảng cáo không xấu, nhưng quảng cáo kiểu phát các tờ bướm, tờ rơi ở khắp các ngã tư đường phố như vậy là tiêu cực, vì gián tiếp làm bẩn đường phố, làm hại môi trường, đơn giản nhất là không đẹp mắt. Nhìn những ai được phát thì thấy rõ, có người lắc đầu từ chối thì đã đành, nhưng có người nhận xong rồi vứt ngay xuống đường. Nhìn giấy bay tả tơi, bẩn cả một cung đường, vô cùng mất thẩm mỹ và phi văn hóa!

Nói chung, không ai “mặn mòi” với việc nhận các tờ bướm kia. Vả lại, những tờ quảng cáo đó chưa chắc đã đáng tin cậy. Tiền nhân nói: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Cứ hô hào cho có phong trào thì chỉ vô ích!

2. Đám tang: Nghĩa tử là nghĩa tận, buồn thương chất đầy, nỗi niềm khó tả khi mất đi một người thân. Tuy nhiên, từ những “chuyến xe cuối đời” đó, người ta thấy bay bay xuống đường những tờ tiền âm phủ. Điều này không chỉ là dị đoan mà còn làm bẩn đường phố. Quan trọng hơn là lãng phí. Tại sao? Vì người ta phải bỏ ra một số “tiền thật” để mua những tờ “tiền giả”. Thật là nghịch lý! Tiền giả gọi là tiền âm phủ. Người chết ở thế giới vô hình, làm gì có sinh hoạt như trần gian này mà cần xài tiền hoặc các phương tiện như chúng ta hiện nay? Thật phi lý!
Bạn thử “lưu ý” mà coi, những giao lộ nào có người phát các tờ bướm hoặc các cung đường vừa có xe tang đi qua thì bạn thấy gì? Đầy… rác! Chỉ khổ cho người phu quét đường, vì họ phải chất chồng thêm gánh nặng, tăng thêm sự mệt mỏi, họ không dừng chổi đứng nghe mà dừng chổi đứng nhìn và rồi lắc đầu ngán ngẩm “cái sự đời”!
Hô hào hết chiến dịch này đến chiến dịch nọ nhưng rồi đâu lại vào đấy, không khác kiểu “đánh trống bỏ dùi”. Cứ “bình thường hóa” như vậy thì làm sao môi trường có thể sạch và đẹp?

THAY ĐỔI NHỎ, HIỆU QUẢ TO

Ai cũng có trách nhiệm với cuộc sống, muốn sống khỏe và sống tốt thì phải có môi trường tốt, vì đó là trách nhiệm chung. Nhưng trước tiên phải thay đổi “nếp nghĩ” thì mới mong thay đổi cách sinh hoạt. Đây là vài gợi ý:

1. Nhặt rác. Hãy bỏ rác đúng nơi quy định, không tiện đâu vứt đó. Phân loại rác nào bỏ và rác nào có thể tái chế. Một mảnh giấy kẹo hoặc một cây tăm cũng phải được bỏ đúng nơi, đúng chỗ.

2. Trồng cây. Cây cối lọc không khí chúng ta hít thở, cây luôn cần cho cuộc sống. Cây có thể cải thiện đất, và cây còn làm đẹp thiên nhiên. Tiếc thay có những vùng đất bị bỏ hoang, nhất là người ta còn làm hại hệ sinh thái. Trồng cây cũng tương tự trồng người. Rất cần!

3. Đổi bóng điện. Bóng đèn cũ hoặc hư, nên thay bằng loại tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là loại bóng điện huỳnh quang (CFL – compact fluorescent light), loại này chỉ tốn ¼ điện năng và tuổi thọ gấp 10 lần, đồng thời cũng là tiết kiệm tiền bạc. Lưu ý: Khi không sử dụng các thiết bị điện nữa, hãy tắt đi!

4. Dùng giấy. Hãy dùng giấy thay cho ni-lông. Dùng túi giấy để đựng hoặc dùng giấy để gói vừa đẹp vừa có lợi cho môi trường. Giấy luôn thân thiện với con người.

5. Tiết kiệm nước. Nước rất cần cho con người, nhất là nước sạch. Hãy tắm rửa hoặc giặt giũ hợp lý, đừng lãng phí nước. Hãy sửa ngay những vòi nước rò rỉ. Tiết kiệm nước là bảo vệ cuộc sống cho chính mình.

Và còn nhiều thứ khác mà chúng ta cần tập cho quen dần. Có hệ lụy này: Lặp lại nhiều lần sẽ thành thói quen, thói quen sẽ tạo tính cách, và tính cách có thể tạo số phận!

Chúng ta không chỉ cố gắng cải thiện sai lầm vì đã làm hại thiên nhiên quá nhiều, mà chúng ta còn phải tích cực bảo vệ môi trường. Vì đó là cách chúng ta tự bảo vệ chính mình.

Nước rất mềm, lửa rất yếu, nhưng khi nước và lửa “nổi điên” thì không ai có thể cưỡng lại. Chúng ta đã “chọc giận” thiên nhiên nên thiên nhiên đang “trừng phạt” chúng ta. Hãy tạ tội với thiên nhiên bằng cách cố gắng tích cực bảo vệ môi trường!

Môi trường liên quan sự sống không chỉ của con người mà còn liên quan sự sống của mọi sinh vật – dù con người và sinh vật đó TỐT hay XẤU, LÀNH hay DỮ. Cuốn “Tóm lược Học thuyết Xã hội Công giáo” (còn gọi là Giáo huấn Xã hội Công giáo) đã dành hẳn chương X (số 451-487) để bàn luận về vấn đề bảo vệ môi trường. Điều đó chứng tỏ Giáo hội Công giáo rất quan tâm vấn đề môi trường.

Giáo hội nhắc nhở chúng ta nên nhìn về tương lai một cách hy vọng, dựa vào giao ước mà Chúa liên tục lặp lại. Trong Cựu ước, dân Israel sống niềm tin trong một môi trường được xem là tặng phẩm của Thiên Chúa. Chính thiên nhiên là công trình sáng tạo của Thiên Chúa, vì thế thiên nhiên không phải là ác thù. Ngài đặt con người lên đỉnh công trình sáng tạo và giao cho con người chịu trách nhiệm về toàn thể thụ tạo, nghĩa là phải quản lý và chăm sóc thụ tạo. Thế mà con người lại làm ngược lại thiên lệnh, cứ tàn phá thiên nhiên không hề nương tay!

Trong Tân ước, Đức Giêsu đến khai mở một tân thế giới, trong đó mọi sự đều phục tùng Ngài. Chính Ngài tái tạo, đem lại sự hài hòa cho những mối quan hệ, và lập lại trật tự đã bị tội phá vỡ. Công đồng Vatican II cũng khẳng định: “Con người có lý khi nhận định rằng nhờ trí khôn của mình, con người vượt lên trên vũ trụ vật chất, vì được chia sẻ ánh sáng của trí khôn của Thiên Chúa”. Nhờ khoa học phát triển và công nghệ tiên tiến, con người càng ngày càng làm chủ, hầu như trên cả thiên nhiên, và chắc hẳn còn tiến bộ thêm nữa. Chuyện lên mặt trăng là bất khả thi và hão huyền đối với ngày xưa, nhưng ngày nay chỉ là “chuyện nhỏ”, và người ta còn muốn khám phá Hỏa tinh nữa. Trí thông minh đó của con người chắc chắn do Thiên Chúa ban cho.

Con người có thể khai thác các tài nguyên thiên nhiên để phát triển sự sống, nhưng không được thái quá một cách vô tội vạ. Nếu không, con người tự chuốc họa vào thân. Rõ ràng là con người đang lãnh hậu quả: Động đất, sóng thần, thủng tầng ô-dôn, bệnh tật tràn lan,…

Bảo vệ môi trường là bảo vệ Ngôi Nhà Chung của nhân loại, ngôi nhà của chính mình; bảo vệ môi trường là duy trì công trình sáng tạo của Thiên Chúa, không bảo vệ môi trường là phá hoại công trình sáng tạo của Thiên Chúa, phá hoại thiên nhiên, hủy hoại sự sống của nhân loại, mà hủy hoại sự sống là trọng tội!

Lạy Chúa, chúng con thành tâm xin lỗi Chúa, xin biến đổi chúng con từ trong tư tưởng, xin tạo cho chúng con trái tim trong sạch và ban lại cho chúng con niềm vui Ơn Cứu Độ. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Tản mạn về… Thằng Cuội

Mỗi dịp Trung Thu về, gọi là Tết Nhi Đồng, chắc hẳn rất ít người không biết ca khúc “Thằng Cuội” của cố NS Lê Thương (*): Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ. Cuội ơi! Ta nói Cuội nghe, ở cung trăng mãi làm chi?

Bài này khá xưa (không biết “xưa” là bao nhiêu năm), tôi đã biết và hát khi tôi còn nhỏ, nhưng ngày nay vẫn phổ biến. Giai điệu nhẹ nhàng, ý tưởng ngộ nghĩnh, rất thích hợp với nhi đồng. Ngày xưa, dù còn nhỏ (dĩ nhiên chưa hiểu hết) nhưng tôi cũng đã rất “ấn tượng” (theo nghĩa bình thường của một thiếu nhi) với ca khúc này. Lý do là tôi cứ cố gắng hiểu mà không thể hiểu thấu. Phải nói rằng tôi cảm thấy đó là ý tưởng thật “độc đáo” – với thâm ý khâm phục thực sự, mà chỉ ráng hiểu mà không hiểu, vậy mới “độc đáo”!

Tôi không biết rõ NS Lê Thương – cả thân thế và sự nghiệp, mà chỉ biết danh tiếng của ông. Thời đó mà ông viết được một ca khúc như vậy thì quả là biệt tài và hiếm thấy. Không biết ông sáng tác ca khúc này lúc ông bao nhiêu tuổi, nhưng với ông chắc hẳn không có “ẩn ý” gì. Và cách nói thời đó tất nhiên còn “thô thiển”, vì quá chân thật (đúng ý nghĩa “chân thật” của sự chân thật). Ít nhiều ông cũng ảnh hưởng “chế độ quân chủ”, đó là lẽ tất nhiên. Tuy nhiên, nếu công tâm so sánh với cách nói ngày nay thì thực sự có “khác” hơn nhiều – thậm chí là “không thể chấp nhận”.

“Khác” gì? Chúng ta thử nghĩ xem, cách gọi “thằng Cuội già” nghe có ổn không? Đã gọi là “thằng” mà lại “già”, rồi lại xưng mình là “ta”. Một em bé tuổi nhi đồng mà gọi “người lớn” là “thằng” và xưng “ta” thì đứa bé đó sẽ bị coi là thế nào? Việt ngữ có một số từ “không đẹp” dành cho một đứa trẻ như vậy: Hư hỏng, hỗn láo, đổ đốn, vô giáo dục, mất dạy,… Và tại sao gọi “thằng Cuội” mà lại gọi “chị Hằng”? Đại từ “thằng” và “chị” không tương xứng với nhau! Tất nhiên tôi không dám “phê bình” NS Lê Thương hoặc “lạm bàn” điều gì mà chỉ muốn nêu lên “thắc mắc” hoàn toàn mang tính văn hóa và theo ngu ý cá nhân mà thôi. Rất mong các minh ý của chư huynh!

Nếu sống và sáng tác ca khúc “Thằng Cuội” ở thế kỷ này, thiết tưởng NS Lê Thương có thể sẽ “sửa” lại là: Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có chàng Cuội già, ôm một mối mơ. Cuội ơi! Em nói Cuội nghe, ở cung trăng mãi làm chi?.

Quả thật, cũng nên “thay đổi” lắm, chí ít là theo phép lịch sự tối thiểu, vì chúng ta vẫn muốn trẻ em ngoan ngoãn và lễ phép kia mà! Chúng ta giáo dục trẻ em sống ngoan ngoãn, lễ phép với mọi người, thế mà lại “dạy” chúng gọi người lớn là “thằng” và xưng mình là “ta” thì thật là quá bất ổn! Các bạn nghĩ sao?

TRẦM THIÊN THU

(*) NS Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8-1-1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng ông sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của NS Phạm Duy, NS Lê Thương sinh năm 1913 và là thầy tu xuất.

Năm 1935, NS Lê Thương hành nghề dạy học ở Hà Nội, sau đó ông chuyển về dạy ở Hải Phòng. Ông cùng các nhạc sĩ Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng, hay theo ban kịch đi hát tại Hà Nội, Vĩnh Yên. Họ cũng là những hướng đạo sinh và hay tổ chức đi cắm trại hay đi hát tại các tỉnh lân cận bằng xe đạp.

Năm 1941, ông vào miền Nam. Ban đầu ông ở An Hóa, tỉnh Bến Tre, sau đó ông chuyển về sống tại Saigon. Tuy là một nhạc sĩ tài danh, nhưng nghề chính của ông là dạy học. Ông từng là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng từng là giáo sư Pháp ngữ tại trường trung học Pétrus Ký vào thập niên 1960. Ông cũng từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, bộ Quốc Gia Giáo Dục trước năm 1975. Ông mất năm 1996 tại Saigon.

 

September 20, 2021