ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

Thứ Tư hàng tuần Giáo Lý về Cầu Nguyện:

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Cầu Nguyện

Bài 35: Cầu Nguyện với tâm trạng chia trí, khô khan, uể oải (19 THÁNG 4-2021)  

Xin chào anh chị em thân mến,

Tiếp tục với chiều hướng của Sách Giáo Lý, trong bài giáo lý này, chúng ta nói đến cảm nghiệm từng trải về cầu nguyện, bằng việc cố gằng cho thấy một số những khó khăn rất thông thường, những khó khăn cần phải được điểm mặt và thắng vượt. Cầu nguyện không phải là chuyện dễ, vì có nhiều khó khăn xẩy ra khi cầu nguyện. Cần phải biết được chúng, điểm mặt chúng và chế ngự chúng.

Vấn đề đầu tiên xẩy ra cho những ai cầu nguyện đó là chia trí (ccc 2729). Anh chị em bắt đầu cầu nguyện, thế rồi trí khôn của anh chị em lang thang đây đó, hết chỗ này đến chỗ kia; lòng của anh chị em ở đây, trí của anh chị em lại ở đó... cầu nguyện một cách chia trí. Cầu nguyện thường đồng hành với chia trí. Thật vậy, trí khôn của con người khó mà tập trung lâu dài vào một tư tưởng. Tất cả chúng ta đều trải nghiệm thấy liên lỉ có một luồng gió hình ảnh cùng ảo ảnh chuyển động, những thứ theo chúng ta ngay cả vào trong giấc ngủ nữa. Tất cả chúng ta đều biết rằng không được chiều theo xu hướng lệch lạc ấy.

Trận chiến trong việc làm sao giữ được việc tập trung không liên hệ chỉ với việc cầu nguyện mà thôi. Nếu người ta không đủ tập trung ở một mức độ nào đó, họ sẽ không thể học hành hay làm việc được cho đâu vào đó. Các tay lực sĩ nhận thức được rằng họ không thể thắng được cuộc đấu chỉ nhờ vào việc thao luyện về thể lý, mà còn bằng cả kỷ luật tâm thần nữa, nhất là khả năng tập trung và chuyên chú.

Vấn đề chia trí không phải là những gì tội lỗi, nhưng chúng cần phải được chống chọi. Trong gia sản đức tin của chúng ta, có một nhân đức thường bị quên lãng, nhưng rất hiện thực ở trong Phúc Âm. Nhân đức này được gọi là "tỉnh thức". Chúa Giêsu phán: "Hãy tỉnh thức. Hãy cầu nguyện". Sách Giáo Lý để cập đến nó một cách rõ ràng trong việc hướng dẫn về cầu nguyện (khoản 2730). Chúa Giêsu thường kêu gọi các môn đệ về trách nhiệm sống tỉnh táo, với ý nghĩ rằng Người lại đến không sớm thì muộn, như chàng rể đi ăn cưới về, hay như chủ nhân đi xa về. Thế nhưng, vì chúng ta không biết ngày giờ Người trở lại, mà tất cả mọi giây phút trong đời sống của chúng ta đều quí báu, chứ không được phí phạm vào các thứ chia trí. Vào lúc chúng ta không ngờ, tiếng Chúa sẽ vang lên: vào ngày đó, phúc cho những đầy tớ nào Người thấy chuyên cần, vẫn còn tập trung vào những gì thực sự thiết yếu. Họ không chạy theo hết mọi thứ hấp dẫn xuất hiện trong khí khôn của họ, nhưng cố gắng bước theo đường ngay nẻo chính, làm lành và thi hành công việc của họ. Chia trí là ở chỗ trí tưởng tượng lang thang đây đó... Thánh Têrêsa thường gọi thứ tượng tượng lang thang khi cầu nguyện này là "con mụ điên trong nhà"; nó như một con mụ điên đưa anh chị em đi đây đi đó... Chúng ta cần phải ngăn chặn nó và nhốt nó lại, bằng việc chăm chú.

Thời kỳ khô khan cho thấy một diễn biến khác. Sách Giáo Lý đã diễn  tả nó như thế này: "Khi xẩy ra tình trạng khô khan thì tâm hồn bị tách lìa Thiên Chúa, chẳng thấy thú vị để suy tư, tưởng nhớ và cảm xúc, bao gồm cả những gì là thiêng liêng. Đây là lúc chúng ta chỉ còn lấy đức tin mà gắn bó với Đức Ki-tô trong cơn thống khổ của Người cũng như trong mồ chôn của Người" (khoản 2731). Tình trạng khô khan khiến chúng ta nghĩ đến Thứ Sáu Tuần Thánh về đêm, và nguyên Thứ Bảy Tuần Thánh, ở chỗ, Chúa Giêsu không còn ở đó, Người đang ở trong mồ; Chúa Giêsu đã chết, chúng ta lẻ loi cô độc. Đó là ý nghĩ nẩy sinh với tình trạng khô khan. Chúng ta thường không biết được đâu là lý do khô khan: nó có thể tùy thuộc vào chúng ta, cũng như vào cả Thiên Chúa nữa, Đấng để xẩy ra những trường hợp nào đó ở đời sống bên ngoài hay bên trong. Hoặc, cũng có những lúc có thể là một thứ nhức đầu hay bị trục trặc về gan ngăn chặn chúng ta cầu nguyện. Thường chúng ta không thực sự biết được lý do. Các vị sư phụ về đường thiêng liêng diễn tả cảm nghiệm đức tin như là chuyện liên tục luân chuyển về các giai đoạn an ủi và ưu buồn; có những lúc mọi sự thật dễ dàng, những lúc khác lại thật là nặng nề. Rất thường xẩy ra chuyện chúng ta gặp một người bạn, chúng ta hỏi thăm "Bạn có khỏe không? / How are you" - "Hôm nay tôi xuống tinh thần / Today I am down". Chúng ta rất thường bị "xuống tinh thần", nói cách khác, chúng ta chẳng cảm thấy gì, chúng ta chẳng thấy an ủi chi, chúng ta trở thành bất lực. Đó là những ngày u xám / grey days... và có rất nhiều ngày như thế trong đời! Thế nhưng vấn đề nguy hiểm là ở cõi lòng u xám, ở chỗ, khi tình trạng "cảm thấy xuống tinh thần này" chạm đến cõi lòng và trở thành chán nản..., và có những con người sống với một cõi lòng u xám. Thật kinh hoàng: người ta không thể cầu nguyện, người ta không thể cảm thấy niềm ủi an bằng một cõi lòng u xám! Hay, người ta cũng không thể nào thoát ra được tình trạng khô khan bằng một cõi lòng u xám. Cõi lòng cần phải cởi mở và rạng ngời, để ánh sáng Chúa có thể lọt vào. Nếu ánh sáng Chúa chưa lọt vào thì hãy cứ hy vọng chờ đợi nó. Đứng đóng kín nó lại trong tâm trạng u xám.

 Thế rồi, một điều khác nữa là tình trạng uể oải, một tật xấu khác, một thói hư khác, một khuynh hướng thực sự phản lại với việc cầu nguyện, và nói chung hơn nữa, còn phản lại với chính đời sống Kitô hữu, đó lại là một vấn đề khác. Tâm trạng uể oải là "một hình thức chán chường vì đã coi thường khổ chế, đã giảm suy tỉnh thức, đã thả lỏng con tim" (khoản 2733). Nó là một trong bảy "mối tội đầu", vì đầy những chán ngấy, nó có thể dẫn đến cái chết của linh hồn.

Vậy chúng ta có thể làm gì nơi tình trạng luân chuyển giữa những gì là nhiệt tình và các thứ chán chường này đây? Người ta cần phải biết làm sao luôn tiến tới. Sự tiến bộ thực sự nơi đời sống thông liêng không phải là ở chỗ đầy những lần ngất trí xuất thần, mà là ở có thể kiên trì trong những lúc khó khăn: cứ tiếp tục bước tới..., và nếu anh chị em cảm thấy mệt mỏi thì hay dừng lại một chút rối bắt đầu bước tiếp. Một cách kiên trì. Chúng ta hãy nhớ dụ ngôn về niềm vui trọn hảo của Thánh Phanxicô: Không phải những may lành vô cùng bất tận từ trời tuôn xuống là những gì đo lường khả năng của một người anh em, mà là việc vững vàng tiến bước, ngay cả khi họ không được nhận biết, ngay cả khi họ bị xử tệ, ngay cả khi hết mọi sự chẳng còn cảm thú ban đầu nữa. Chúng ta cần phải học để thân thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa của con, cho dù Chúa có như thể làm tất cả mọi sự khiến con không còn tin vào Chúa nữa, con vẫn tiếp tục cầu nguyện với Chúa". Những ai tin tưởng thì không bao giờ ngừng cầu nguyện! Đôi khi nó giống như lời cầu nguyện của ông Job, nhân vật không chấp nhận bị Thiên Chúa đối xử bất công, đã tỏ ra kháng nghị và xin Ngài phân xử. Thế nhưng, rất thường xẩy ra là ngay cả việc kháng nghị với Thiên Chúa cũng là một cách thức cầu nguyện, hay, như một bà lão nhỏ bé kia đã nói "cả việc tỏ ra giận dỗi với Thiên Chúa cũng là một cách thức nguyện cầu", vì có nhiều lần con cái tỏ ra giận dỗi với cha của mình: nó là một cách thức liên hệ với người cha; vì họ nhận biết Ngài là "cha", họ mới cảm thấy giận dỗi...

Cả chúng ta nữa, thành phần còn kém xa sự thánh thiện và đức nhẫn nại của nhân vật Job, biết rằng, cuối cùng, ở vào lúc kết thúc giai đoạn buồn tủi, giai đoạn chúng ta đã dâng lên Trời cao những tiếng kêu la thầm lắng và đã nhiều lần đặt vấn đề "tại sao?", Thiên Chúa sẽ đáp ứng chúng ta. Đừng quên cầu nguyện đặt vấn đề "tại sao?" Nó là lời cầu nguyện của trẻ em khi chúng bắt đầu tỏ ra không hiểu các sự vật/việc, tình trạng được các nhà tâm lý gọi là "giai đoạn tại sao", bởi con trẻ hỏi cha mình rằng "Tại sao vậy Bố? Tại sao vậy Ba? Tại sao vậy?" Thế nhưng, hãy lưu ý đây: nó không lắng nghe câu trả lời của cha nó. Người cha bắt đầu trả lời nhưng nó lại cứ nhào tới đặt vấn đề "Tại sao?". Nó chỉ muốn lôi kéo sự chú ý của cha nó về phía nó thôi; và khi chúng ta hơi giận dỗi Thiên Chúa và bắt đầu hỏi tại sao là chúng ta đang lôi kéo tấm lòng của Cha chúng ta hướng về tình trạng khốn khổ của chúng ta, về những thứ khó khăn của chúng ta, về đời sống của chúng ta. Đúng vậy, nhưng phải can đảm thân thưa cùng Thiên Chúa rằng: "Nhưng tại sao?" Vì có những lúc, tỏ ra một chút gận dỗi lại tốt hơn cho anh chị em, vì nó tái bừng lên mối liên hệ cha con chúng ta cần có với Thiên Chúa. Và Ngài chấp nhận nó, cho dù là những bày tỏ nghiệt ngã nhất và cay đắng nhất với tình yêu của một người cha, và Ngài sẽ coi chúng như là một tác động của đức tin, như một lời nguyện cầu. Xin cám ơn anh chị em.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210519_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 34 - Cầu Nguyện Một Trận Chiến (12 tháng 5 năm 2021)

Xin chào anh chị em thân mến,

 Tôi cảm thấy vui khi tái diễn cuộc gặp gỡ trực diện này, vì tôi sẽ nói với anh chị em một điều gì đó: chẳng tốt đẹp gì khi nói trước khoảng không, trước máy quay phim. Điều đó chẳng có gì là đẹp đẽ. Vậy giờ đây, sau nhiều tháng, nhờ lòng can đảm của Đức ông Sapienza, người đã nói rằng: "Không, chúng ta sẽ thực hiện việc này ở đó", mà chúng ta mới đang lại qui tụ với nhau ở đây. Đức ông Sapienza tốt lắm!... Tôi cảm thấy hài lòng khi nhìn thấy từng người trong anh chị em, như tất cả chúng ta đều là anh chị em trong Chúa, và việc nhìn nhau là những gì giúp chúng ta cầu nguyện cho nhau... Cám ơn anh chị em đã hiện diện và viếng thăm. Hãy mang sứ điệp của Giáo hoàng này cho hết mọi người. Sứ điệp của vị giáo hoàng đó là tôi cầu nguyện cho hết mọi người, và tôi xin anh chị em cầu nguyện cho tôi, liên kết trong lời nguyện cầu. 

Việc nói về cầu nguyện, việc cầu nguyện của Kitô giáo, như suốt cuộc sống của Kitô hữu, không phải là "một thứ dạo bước trong công viên". Không một đại nhân vật cầu nguyện nào chúng ta thấy trong Thánh Kinh, cũng như trong lịch sử của Giáo Hội đã cảm thấy cầu nguyện là những gì "thoải mái". Đúng thế, người ta có thể cầu nguyện như con vẹt - bla, bla, bla, bla, bla - nhưng như thế không phải là cầu nguyện. Cầu nguyện thật sự là có được đầy những bình an, nhưng bằng cuộc đối chọi nội tâm, có những lúc khó khăn, một cuộc đối chọi có thể kéo dài những đoạn đời lâu dài. Cầu nguyện không phải là một cái gì dễ dàng, và đó là lý do tại sao chúng ta muốn thoát ly cầu nguyện. Mỗi lần chúng ta muốn cầu nguyện, lập tức chúng ta nhớ đến nhiều hoạt động khác, những hoạt động vào lúc ấy xem ra quan trọng hơn và khẩn trương hơn. Điều này cũng xẩy ra cho cả tôi nữa! Tôi cũng bị. Tôi đi cầu nguyện một chút xíu... nhưng không, tôi cần phải làm điều này điều kia... Chúng ta thoát ly cầu nguyện, tôi không biết tại sao, nhưng nó lại là như thế đấy. Hầu như bao giờ cũng vậy, sau khi buông bỏ nguyện cầu, chúng ta nhận ra rằng những điều ấy không phải là những gì thiết yếu tí nào, và chúng ta có thể đã phí phạm giờ giấc. Đó là cách Kẻ Thù của chúng ta đánh lừa chúng ta.

Tất cả những con người nam nữ tin tưởng Thiên Chúa cho thấy chẳng những niềm vui của việc cầu nguyện, mà còn cả những gì là buồn tẻ và mệt mỏi gây ra bởi cầu nguyện nữa: có những lúc nó trở thành một cuộc đối chọi khó khăn để giữ giờ giấc và cách thức nguyện cầu. Một số vị thánh đã tiếp tục cầu nguyện qua nhiều năm tháng, có được bất cứ một khoái cảm nào mà không cảm thấy cái vô dụng của cầu nguyện. Việc thinh lặng, cầu nguyện và tập trung là những việc thực hành khó khăn, đôi khi bị bản tính tự nhiên cưỡng lại nữa. Bấy giờ chúng ta thà ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới hơn là ở đó, ở hàng ghế trong nhà thờ đó, cầu nguyện. Những ai muốn cầu nguyện cần phải nhớ rằng đức tin không phải là chuyện dễ, đôi khi đức tin tiến bước hầu như hoàn toàn trong đêm tối, không có điểm qui chiếu nào. Có những lúc trong đời sống đức tin tăm tối, thế nên có một số vị thánh gọi đó là "đêm tối tăm", vì chúng ta chẳng nghe thấy gì hết. Thế nhưng tôi vẫn tiếp tục cầu nguyện.

Sách Giáo Lý liệt kê một chuỗi dài những kẻ thù của cầu nguyện, những kẻ thù gây khó dễ cho việc cầu nguyện, đẩy chúng ta đến chỗ khó khăn (cf các số 2726-2728). Có một số người ngờ vực là việc cầu nguyện có thể thực sự vươn tới Đấng Quyền Năng: tại sao Thiên Chúa vẫn cứ thinh lặng? Nếu Thiên Chúa là Đấng Quyền Năng, Ngài có thể nói một vài câu để chấm dứt vấn đề chứ. Đối diện với thái độ lãnh tránh của thần linh, những người khác ngờ vực cầu nguyện chỉ là một việc thuần tâm lý; một cái gì đó hữu dụng nhưng không chân thực hay cần thiết: và người ta thậm chí có thể thực thi cầu nguyện mà không cần là một tín hữu. Cứ thế mà lòng thòng các thứ giải thích.

Tuy nhiên, các kẻ thù tệ hại nhất của việc cầu nguyện lại ở ngay trong chúng ta. Sách Giáo Lý diễn tả chúng như thế này: "Chán nản vì khô khan, buồn phiền vì mình không tiến dâng tất cả cho Chúa, 'vì chúng ta có nhiều của cải' , thất vọng vì Chúa không theo ý mình, kiêu ngạo nên chai lỳ trong tình trạng bất xứng của tội nhân, dị ứng với việc cầu nguyện vì cho rằng cầu nguyện là xin xỏ và việc cho không của Chúa" (2728). Đây rõ ràng là một liệt kê tóm gọn có thể được nối dài hơn nữa.

Phải làm gì trong lúc cám dỗ, khi mà tất cả mọi sự dường như bị dao động? Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử của khoa linh đạo thì thấy ngay rằng các vị sư phụ linh hường đã nắm vững được tình trạng chúng ta đã diễn tả. Để thắng vượt nó, mỗi vị đã cống hiến một thứ đóng góp nào đó, chẳng hạn một lời khuyên khôn ngoan, hay một gợi ý cho những giây phút đương đầu đầy khó khăn. Nó không phải là vấn đề của những thứ lý thuyết phức tạp, những thứ lý thuyết non nớt, không, mà là lời khuyên xuất phát từ kinh nghiệm, cho thấy tầm quan trọng của việc chịu đựng cùng kiên trì cầu nguyện.

Thật là thú vị khi ôn lại ít là một số những lời khuyên này, vì mỗi một lời khuyên đều đáng được khai phá hơn nữa. Chẳng hạn, cuốn Linh Thao của Thánh Ignatiô Loyola là một tập sách ngắn đầy khôn ngoan dạy cách giúp đời sống của con người được đâu vào đó. Nó làm cho chúng ta hiểu rằng ơn gọi của Kitô hữu có tính chất chiến đấu, nó là một quyết định sống theo qui chuẩn của Chúa Giêsu Kitô, chứ không phải theo ma quỉ, bằng nỗ lực làm lành ngay cả khi gặp khó khăn.

Trong những lúc thử thách, cần nhờ rằng chúng ta không lẻ loi một mình, ai đó đang nhìn đến chúng ta và bảo vệ chúng ta. Thánh Antôn Viện Phụ, vị sáng lập đời sống đan tu Kitô giáo, cũng đã đối diện những lúc kinh hoàng ở Ai Cập, khi cầu nguyện trở thành một cuộc đối chọi khó khăn. Vị sử gia của ngài là Thánh Athanasiô, Giám mục Alexandria, thuật lại một trong những tình tiết tệ nhất trong đời sống của vị thánh ẩn tu này khi ngài mới ở độ tuổi 35, một thời điểm của độ tuổi trung niên, đối với nhiều người, bị dính dáng với tình trạng khủng hoảng. Thánh Antôn bị quấy nhiễu bởi cơn thử thách, nhưng ngài đã kháng cự lại. Sau cùng khi đã lấy lại được tình trạng thanh thản, ngài đã hướng về Chúa bằng một giọng điệu như thể trách móc: "Vậy thì Chúa ở đâu? Tại sao Chúa không đến ngay để kết thúc nỗi khổ đau của con?" Chúa Giêsu đã trả lời: "Antôn, Ta ở đó. Thế nhưng Ta muốn đợi xem con chiến đấu" (Đời Sống Thánh Antôn, 10).

Việc chiến đấu trong cầu nguyện. Cầu nguyện rất thường là một cuộc chiến đấu. Tôi được nhắc nhở về một điều tôi cảm nghiệm thấy một cách trực tiếp, khi tôi ở một giáo phận khác. Một cặp vợ chồng kia, có một người con gái 9 tuổi, bị một chứng bệnh các bác sĩ không thể chuẩn bệnh. Cuối cùng, vị bác sĩ trong nhà thương nói với người mẹ rằng "Xin bà hãy gọi chống bà đến". Bấy giờ người chồng đang làm việc, họ là những lao nhân, họ làm việc hằng ngày. Vị bác sĩ nói với người cha rằng: "Đứa trẻ sẽ không sống nổi qua đêm nay. Chúng tôi không thể làm gì được để ngăn chặn tình trạng nhiễm độc này". Có thể người đàn ông đó không dự lễ mỗi Chúa Nhật, nhưng lại có đức tin mạnh. Ông ta ra về, khóc lóc; ông ta để vợ ông cùng với đứa con ở nhà thương, lấy xe lửa đi 70 cây số đến Đền Thờ Đức Bà Lujan, Quan Thày của Á Căn Đình. Bấy giờ - Đền thờ này đã đóng cửa, gần 10 giờ đêm buổi tối hôm ấy - ông gắn chặt với các cánh cửa của Đền Thờ này, và cả đêm ở đó cầu khấn cùng Đức Mẹ, chiến đấu cho sức khỏe của đứa con gái.

Đây không phải là những gì bịa đặt theo tưởng tượng: tôi đã trông thấy ông ta! Tôi tận mắt thấy ông ta. Con người ấy ở đó chiến đấu. Cuối cùng, vào lúc 6 giờ sáng, Nhà Thờ mở cửa, ông đã vào để chào kính Đức Mẹ rồi trở về nhà. Ông nghĩ rằng "Đức Mẹ đã lìa bỏ chúng ta. Không, Đức Mẹ không thể nào làm như vậy với tôi". Sau đó ông đi gặp vợ ông, và bà đã mỉm cười nói với ông rằng: "Tôi không biết điều gì đã xẩy ra. Các vị bác sĩ đã nói rằng có một cái gì đó đã thay đổi, và giờ đây nó đã được lành". Con người ấy, chiến đấu bằng việc cầu nguyện, đã nhận được ơn ban của Đức Mẹ. Đức Mẹ đã lắng nghe lời của ông. Tôi đã thấy điều này: cầu nguyện làm nên phép lạ, vì cầu nguyện trực tiếp động đến tấm lòng êm ái dịu dàng của Thiên Chúa, Đấng chăm sóc cho chúng ta như người cha. Và khi Ngài không ban cho chúng ta một ơn nào đó, Ngài sẽ ban cho chúng ta ơn khác, sau này chúng ta mới thấy được. Thế nhưng bao giờ cũng phải chiến đầu bằng cầu nguyện để xin ân sủng. Phải, có những lúc chúng ta xin ơn mà chúng ta không cần đến, nhưng chúng ta lại xin mà không thực sự cần, không chiến đấu... Chúng ta đừng xin các điều nghiêm trọng như thế. Cầu nguyện là chiến đấu, và Chúa luôn ở với chúng ta.

Nếu trong một lúc mù tối nào đó, chúng ta không thể thấy được sự hiện diện của Ngài, thì chúng ta sẽ thấy trong tương lai. Chúng ta cuối cùng cũng sẽ lập lại cùng câu được tổ phụ Giacop đã từng nói: "Thật sự là Chúa đang ở nơi này; mà tôi không biết" (Khởi Nguyên 28:16). Vào lúc xế đời, nhìn lại, cả chúng ta cũng có thể nói: "Tôi nghĩ rằng tôi lẻ loi cô độc một mình, nhưng không, không phải thế, Chúa Giêsu đã ở với tôi". Tất cả chúng ta sẽ có thể nói như vậy. Xin cám ơn anh chị em. 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210512_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện

Bài 33: Cầu Nguyện Chiêm Niệm (5 tháng 5 năm 2021)

 

Xin chào anh chị em thân mến!

Chúng ta tiếp tục giáo lý về cầu nguyện, và trong bài giáo lý này, tôi muốn chia sẻ về cầu nguyện chiêm niệm.

Chiều kích chiêm niệm của hữu thể con người - chưa phải là cầu nguyện chiêm niệm - là một chút như "muối" của đời sống; nó cống hiến hương vị, nó gia vị ngày sống. Chúng ta có thể chiêm niệm bằng cách ngắm mặt trời lên ban sáng, hay ngắm cây cối khoe mình giữa mùa xuân xanh tươi; chúng ta có thể chiêm niệm bằng việc nghe nhạc hay tiếng chim kêu, bằng đọc một cuốn sách, bằng ngắm một tác phẩm nghệ thuật hay ngắm tác phẩm chính là dung nhan con người... Carlo Maria Martini, khi được sai đến làm Giám mục ở Milan, đã đặt tên cho Bức Thư Mục Vụ đầu tiên của mình là: Chiều kích chiêm niệm của cuộc đời: sự thật đó là những ai sống ở một thành phộ rộng lớn, nơi - chúng ta có thể nói - hết mọi sự đều là nhân tạo và toàn là vận hành, liều mất đi khả năng chiêm niệm. Chiêm niệm chính yếu không phải là một cách hành sự, mà là một cách hiện hữu. Là chiêm niệm.

Thành phần chiêm niệm không lệ thuộc vào con mắt mà là con tim. Ở đây cầu nguyện đóng vai trò là một tác động của đức tin và đức mến, như "hơi thở" của mối liên hệ với Thiên Chúa. Cầu nguyện thanh tẩy con tim, và cùng với con tim, cũng làm cho ánh mắt trở nên sắc bén, giúp cho nó có thể nắm bắt được thực tại từ một quan điểm khác. Sách Giáo Lý diễn tả việc biến đổi một con tim thấm nhiễm cầu nguyện, bằng cách trích lại chứng từ nổi tiếng của Vị Cha Sở Thánh Đức Họ Ars, người đã nói: "Chiêm niệm là một ánh mắt tin tưởng gắn chặt vào Chúa Giêsu. 'Tôi nhìn Người và Người nhìn tôi': đó là những gì một dân quê nào đó ở Họ Ars thường nói về vị cha sở thánh này khi ngài cầu nguyện trước nhà tạm. [...] Ánh sáng của dung nhan Chúa Giêsu chiều tỏa vào con mắt của cõi lòng, và dạy chúng ta nhìn hết mọi sự trong ánh sáng sự thật của Người và lòng cảm thương của Người với tất cả mọi người" (Catechism of the Catholic Church, 2715). Hết mọi sự đều xuất phát từ đó: từ một con tim cảm thấy rằng nó được âu yếm nhìn đến. Sau đó thực tại được chiêm ngắm bằng những con mắt khác hẳn.

"Tôi nhìn Người và Người nhìn tôi!" Nó như thể là việc chiêm niệm yêu thương, khuôn mẫu của việc cầu nguyện thân mật nhất, không cần nhiều lời. Một cái nhìn là đủ. Chỉ cần xác tín rằng đời sống của chúng ta được vây bọc bởi một tình yêu bao la và trung tín mà không gì có thể tách lìa chúng ta ra được.

Chúa Giêsu là vị sư phụ của cái nhìn này. Đời sống của Người chẳng bao giờ thiếu giờ, thiếu nơi, thiếu thinh lặng, thiếu một mối hiệp thông yêu thương giúp việc hiện hữu của người ta không bị tàn hại bởi các cuộc thử thách bất khả tránh, nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp tinh tuyền. Bí quyết của Người là mối liên hệ của Người với Cha trên trời của Người.

Chẳng hạn, chúng ta hãy nghĩ đến biến cố Biến hình. Các Phúc Âm đặt tình tiết này vào một thời khắc quan trọng trong sứ vụ của Chúa Giêsu, khi Người đang bị bủa vây bởi những gì là chống đối và loại trừ. Ngay cả trong hàng ngũ môn đệ của Người cũng thế, nhiều vị đã không hiểu Người và bỏ Người mà đi; một trong 12 vị đã có những ý nghĩ phản bội Người. Chúa Giêsu bắt đầu công khai nói về tình trạng khổ đau và chết chóc đang đợi chờ Người ở Jerusalem. Chính trong bối cảnh ấy Chúa Giêsu đã lên một ngọn núi cao với Phêrô, Giacôbê và Gioan. Phúc Âm Thánh Marco viết: "Người đã biến hình trước mặt các vị, và y phục của Người trở nên trắng tinh, không có một thợ nào trên đời này có thể tẩy trắng được" (9:2-3). Ngay vào lúc Chúa Giêsu bị hiểu lầm - họ tránh xa Người, bỏ Người một mình, vị họ không hiểu Người - trong lúc Người bị hiểu lầm ấy, hệt như khi tất cả mọi sự trở nên lu mờ trong cơn gió lốc hiểu lầm, lại là lúc ánh sáng thần linh tỏa rạng. Chính ánh sáng của tình yêu Cha làm tràn ngập cõi lòng của Người Con và biến đổi toàn thể Con Người của Người.

Một số vị sư phụ về đàng thiêng liêng trước đây đã quan niệm việc chiêm niệm như trái ngược lại với hành động, và đã đề cao những thứ ơn gọi thoát ly khỏi trần gian cùng với các vấn đề của nó để hoàn toàn tập trung mình vào việc cầu nguyện. Thực ra, Chúa Giêsu Kitô, nơi con người của Người và Phúc Âm, không có vấn đề đối nghịch giữa chiêm niệm và hành động. Không. Nơi Phúc Âm cũng như nơi Chúa Giêsu không có chuyện mâu thuẫn. Điều này có thể xuất phát từ ảnh hưởng của một thứ triết học tân plato nào đó đã tạo ra vấn đề đối kháng này, thế nhưng, nó thực sự chất chứa một chủ nghĩa nhị nguyên vốn không thuộc về sứ điệp của Kitô giáo.

Chỉ có một ơn gọi cao cả duy nhất, một ơn gọi cao cả duy nhất trong Phúc Âm, ơn gọi cao cả này là theo Chúa Giêsu trên con đường yêu thương. Đó là tột đỉnh và là tâm điểm của hết mọi sự. Theo ý nghĩa ấy thì đức ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau, cả hai là điều giống nhau. Thánh Gioan Thánh Giá tin rằng một tác hành nhỏ mọn hoàn toàn vì yêu thương còn lợi ích cho Giáo Hội hơn là tất cả các công việc khác gom lại. Cái được phát sinh từ cầu nguyện, không phải từ giả tưởng của cái tôi chúng ta, cái được thanh tẩy bởi sự khiêm nhượng, cho dù chỉ là một tác động yêu mến kín đáo và thầm lặng, là một phép lạ cả thể nhất Kitô hữu có thể thực hiện. Đó là đường lối của việc cầu nguyện chiêm niệm. Tôi nhìn Người và Người nhìn tôi. Đó là tác động yêu mến trong cuộc âm thầm đối thoại với Chúa Giêsu giúp ích rất nhiều cho Giáo Hội. Cám ơn anh chị em.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210505_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện

Bài 32: Cầu Nguyện bằng Suy Niệm 28 tháng 4 năm 2021

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta sẽ nói về hình thức cầu nguyện được gọi là suy niệm. Đối với Kitô hữu, "suy niệm" là tác động tìm kiếm ý nghĩa, ở chỗ, đặt mình trước một trang Mạc Khải diệu vợi để cố gắng biến trang Mạc Khải diệu vợi này thành của mình, hoàn toàn nắm bắt được trang Mạc Khải diệu vợi ấy. Kitô hữu, sau khi đã đón nhận Lời Chúa, không khư khư giữ lấy Lời Chúa, vì Lời Chúa cần phải được gặp gỡ bởi "một cuốn sách khác", được Giáo Lý gọi là "cuốn sách cuộc đời" (cf. Catechism of the Catholic Church, 2706). Đó là những gì chúng ta cố gắng thực hiện mỗi lần chúng ta suy niệm Lời Chúa.

Việc thực hành suy niệm này đã được đặc biệt chuyên chú vào những năm gần đây. Không phải chỉ có Kitô hữu mới nói về việc suy niệm: việc suy niệm hiện hữu nơi hầu hết các tôn giáo trên thế giới. Thế nhưng, việc suy niệm này cũng là một hoạt động rộng rãi giữa cả những người không có một quan niệm sống tôn giáo nào. Tất cả chúng ta đều cần suy niệm, cần phản tỉnh, cần khám phá bản thân mình, nó là một thứ động năng của con người. Đặc biệt là ở thế giới tây phương ngấu nghiến này, dân chúng tìm cách suy niệm vì nó tiêu biểu cho một thứ rào cản mạnh chống lại tình trạng căng thẳng và trống rỗng hằng ngày ở khắp nơi. Bởi vậy mới có hình ảnh giới trẻ cùng những người lớn đang ngồi âm thầm suy niệm, với đôi mắt lim dim... Tuy nhiên, chúng ta có thể đặt vấn đề là những người này đang làm gì vậy? Họ đang suy niệm. Đó là một hiện tượng cần phải cảm mến trân trọng: thật vậy, chúng ta không được dựng nên để lúc nào cũng làm hết cái này đến cái kia, chúng ta có một đời sống bên trong không bao giờ được lơ là. Bởi thế suy niệm là nhu cầu cho hết mọi người. Vậy suy niệm như là việc dừng lại lấy hơi trong đời. Dừng lại và lắng đọng.

Thế nhưng, chúng ta nhận ra rằng từ ngữ này, một khi chấp nhận theo chiều kích Kitô giáo, mang một tính cách độc đáo không được loại bỏ. Suy niệm là một chiều kích cần thiết của loài người, thế nhưng suy niệm theo chiều kích Kitô giáo - theo Kitô hữu chúng ta - còn hơn thế nữa: nó là một chiều kích không được loại bỏ. Đại môn mà việc cầu nguyện của con người đã lãnh nhận phép rửa phải băng qua - chúng ta hãy nhắc mình một lần nữa - đó là Chúa Giêsu Kitô. Đối với Kitô hữu, việc suy niệm tiến vào qua cửa Giêsu Kitô. Việc thực hành suy niệm cũng theo con đường ấy. Kitô hữu, khi cầu nguyện, không muốn hoàn toàn nhận thức bản thân mình, thì không tìm thấy được thẳm cung của cái tôi. Điều này là những gì hợp lý, thế nhưng Kitô hữu tìm kiếm một cái gì khác. Việc cầu nguyện của Kitô hữu trước hết là một cuộc gặp gỡ với Đấng Khác, với chữ "K" hoa, đó là cuộc gặp gỡ siêu việt với Thiên Chúa. Nếu một cảm nghiệm cầu nguyện nào mang lại cho chúng ta tình trạng bình an nội tâm, hay tự chủ, hoặc tính chất sáng tỏ về đường lối phải theo, thì những thành quả này, người ta phải nói rằng, là nhờ ơn cầu nguyện của Kitô hữu, việc cầu nguyện là cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu. Như thế suy niệm có nghĩa là đi đến chỗ gặp gỡ Chúa Giêsu ở trong chúng ta, được hướng dẫn bằng một câu Thánh Kinh, bằng một câu nào đó.

Qua giòng lịch sử, chữ "suy niệm" đã có mấy ý nghĩa khác nhau. Ngay cả trong Kitô giáo cũng thế, suy niệm ám chỉ đến các cảm nghiệm thiêng liêng khác nhau. Tuy nhiên, vẫn có thể thấy được một số chiều hướng chung, và về điều này chúng ta lại được Sách Giáo Lý trợ giúp: "Có nhiều phương pháp suy niệm khác nhau như có nhiều vị sư phụ về đàng thiêng liêng vậy. [...] Thế nhưng, phương pháp chỉ là một hướng đạo viên thôi; điều quan trong đó là, với Chúa Thánh Thần, việc tiến triển dọc theo con đường duy nhất của cầu nguyện đó là Chúa Giêsu Kitô" (số 2707). Ở đây Sách Giáo Lý nói đến một nhân vật đồng hành, người hướng dẫn, đó là Thánh Linh. Việc suy niệm của Kitô giáo bất khả nếu không có Thánh Linh. Chính Ngài là Đấng hướng dẫn chúng ta đến gặp gỡ Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng "Thày sẽ sai Thánh Thần đến với các con. Ngài sẽ dạy dỗ các con và sẽ dẫn giải cho các con. Ngài sẽ dạy dỗ các con và sẽ dẫn giải cho các con". Cả trong việc suy niệm nữa, Ngài là vị chỉ đạo đến đến với cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô.

Vậy, có nhiều phương pháp suy niệm Kitô giáo: một số rất đơn giản, số khác chi tiết hơn; một số nhấn mạnh đến chiều kích lý trí của con người; trái lại, số khác nhấn mạnh đến chiều kích cảm tình và cảm xúc. Chúng là những phương pháp. Tất cả các phương pháp đều quan trọng và tất cả đều đáng áp dụng, bao lâu nó mang lại lợi ích. Chúng giúp những gì? Cảm nghiệm đức tin trở thành một tác động toàn vẹn của con người: một con người không cầu nguyện chỉ bằng trí khôn; mà toàn thể con người cầu nguyện, nơi toàn thể con người, như người ta không cầu nguyện chỉ bằng các cảm giác. Mà là tất cả. Người xưa thường nói rằng chi thể của thân mình cầu nguyện là tấm lòng, nhờ đó họ giải thích rằng toàn thể con người, bắt đầu tự tâm điểm - từ con tim - tham dự vào mối liên hệ với Thiên Chúa, chứ không chỉ có một ít tài năng. Người xưa đã cắt nghĩa như thế. Đó là lý do tại sao cần phải nhớ rằng phương pháp là một đường lối, chứ không phải là đích điểm: bất kỳ phương pháp cầu nguyện nào, nếu mang tính cách Kitô giáo thực sự, thì giúp vào việc theo Chúa Kitô sequela Christi, làyếu tính của đức tin chúng taCác phương pháp suy niệm là con đường để hành trình tiến đến chỗ gặp gỡ Chúa Giêsu, thế nhưng, nếu anh chị em dừng lại trên đường và chỉ nhìn vào con đường thôi, anh chị em sẽ chẳng bao giờ gặp được Chúa Giêsu. Anh chị em sẽ tạo nên một "vị thần" từ con đường này. "Vị thần" không chờ đợi anh chị em ở đó là Chúa Giêsu, Đấng đang đợi chờ anh chị em. Và đó là con đường đưa anh chị em đến với Chúa Giêsu. Sách Giáo Lý chi tiết như sau: "Suy niệm bao gồm ý nghĩ, trí tưởng, cảm xúc và ước vọng. Việc vận động của các quan năng này cần thiết để đào sâu hơn các niềm xác tin về đức tin của chúng ta, để thúc đẩy việc hoán cải cõi lòng của chúng ta, và để củng cố ý chí của chúng ta trong việc theo Chúa Kitô. Việc cầu nguyện của Kitô giáo, trước hết, là cố gắng suy niệm về các mầu nhiệm Chúa Kitô" (số 2708).

Vậy, ở đây, ơn cầu nguyện Kitô giáo đó là Chúa Kitô không xa cách, nhưng luôn liên hệ với chúng ta. Không có vấn đề ngôi vị nhân thần của Người không thể trở thành một nơi chốn của ơn cứu độ và hạnh phúc cho chúng ta. Hết mọi giây phút trong đời sống trần gian của Chúa Kitô, nhờ ơn cầu nguyện, có thể trở nên trực tiếp ngay với chúng ta, nhờ Thánh Linh là vị dẫn dắt chúng ta. Thế nhưng, anh chị em biết đó, người ta không thể cầu nguyện mà lại thiếu sự dẫn dắt của Thánh Linh. Chính Ngài là Đấng dẫn dắt chúng ta! Nhờ Thánh Linh, chúng ta cũng hiện diện ở sông Jordan khi Chúa Giêsu dìm mình xuống lãnh nhận phép rửa. Chúng ta cũng là các vị khách ở tiệc cưới Cana, khi Chúa Giêsu cống hiến thứ rượu hảo hạng vì hạnh phúc của đôi tân hôn, tức là chính Thánh Linh là Đấng nối kết chúng ta với những mầu nhiệm ấy nơi cuộc đời trần gian của Chúa Kitô, vì trong việc chiêm ngắm Chúa Giêsu chúng ta cảm nghiệm việc cầu nguyện, để liên kết chúng ta với Người một cách chặt chẽ hơn. Cả chúng ta nữa là những kẻ bàng hoàng chứng kiến thấy hàng ngàn cuộc chữa lành được Vị Sư Phụ này thực hiện. Chúng ta cầm sách Phúc Âm, và suy niệm về những mầu nhiệm ấy trong Phúc Âm, và Thần Linh dẫn chúng ta tới hiện diện ở đó. Trong nguyện cầu - tức là khi chúng ta cầu nguyện - tất cả chúng ta giống như người cùi được nên thanh sạch, như người mù Baltimê được phục hồi thị giác của mình, như Lazarô bước ra khỏi mồ... Cả chúng ta nữa cũng được chữa lành bằng việc cầu nguyện như người mù Baltimê, như người phong cùi... Cả chúng ta nữa cũng được sống lại, như Lazarô được hồi sinh, vì việc cầu nguyện suy niệm được hướng dẫn bởi Thánh Linh đem chúng ta đến chỗ sống lại những mầu nhiệm này nơi đời sống của Chúa Kitô và đến cuộc gặp gỡ Chúa Kitô, cũng như đến chỗ nói cùng với người mù này rằng: "Lạy Chúa, xin thương xót tôi! Xin thương xót tôi!" - "Anh muốn Tôi làm gì cho anh?" - "Tôi muốn được thấy, muốn được đối thoại". Việc suy niệm của Kitô giáo, được Thánh Linh dẫn dắt, dẫn chúng ta đến cuộc trao đồi này với Chúa Giêsu. Không có một trang Phúc Âm nào lại chẳng có chỗ cho chúng ta. Đối với Kitô hữu chúng ta, việc suy niệm là một đường lối để tiến đến cuộc giao tiếp với Chúa Giêsu. Nhờ cách này, chỉ bằng cách này, chúng ta mới khám phá ra bản thân mình. Đó không phải là việc thu mình vào, không, không phải thế: nó có nghĩa là đến với Chúa Giêsu, và từ Chúa Giêsu, khám phá ra bản thân mình, được chữa lành, được phục sinh, được mạnh mẽ bởi ân sủng của Chúa Giêsu. Việc gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ của tất cả mọi người, bao gồm cả bản thân tôi. Điều ấy, nhờ sự hướng dẫn của Thánh Linh. Xin cám ơn anh chị em.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210428_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện 

Bài 30: Cầu Nguyện nơi Học Đường Giáo Hội

thứ Tư 14 tháng 4 năm 2021

  

Xin chào anh chị em thân mến,

Giáo Hội là một đại học đường về cầu nguyện. Nhiều người trong chúng ta đã học được cách thức bập bẹ những kinh nguyện đầu tiên trên đùi của cha mẹ hay ông bà của chúng ta. Có lẽ chúng ta cảm thấy vui với hồi niệm về ba má của chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện trước khi đi ngủ. Những giây phút hồi tưởng này thường là những giây phút mà cha mẹ của chúng ta nghe thấy một điều kín mật nào đó và có thể cống hiến cho chúng ta lời khuyên nhủ theo Phúc Âm. Thế rồi khi lớn lên, chúng ta lại có được những cuộc gặp gỡ khác, với những chứng nhân và thày cô khác dạy chúng ta cầu nguyện (see Catechism of the Catholic Church, 2686-2687). Thật là tốt đẹp để tưởng nhớ.

Đời sống của một giáo xứ và của hết mọi cộng đồng Kitô giáo được đánh dấu bằng những giây phút phụng vụ và những giây phút cầu nguyện cộng đồng. Chúng ta nhận thức được rằng tặng ân chúng ta đã nhận được một cách đơn giản thuở ấu thơ là một gia sản lớn lao, một di sản phong phú, và cảm nghiệm cầu nguyện này đáng được sâu đậm mỗi ngày một hơn (see ibid., 2688). Tấm áo đức tin không được vo hòn đóng cục mà là triển phát cùng với chúng ta; nó không được cứng ngắc mà là gia tăng, thậm chí qua cả những lúc khủng hoảng và phục sinh. Thực sự là không thể nào tăng trưởng nếu không có những giây phút khủng hoảng, vì khủng hoảng làm anh chị em tăng trưởng. Việc trải nghiệm khủng hoảng là cách thức cần thiết để tăng trưởng. Hơi thở của đức tin là cầu nguyện - chẳng những cầu nguyện tư riêng mà còn cầu nguyện với anh chị em của chúng ta, cũng như với một cộng đồng đã hỗ trợ và nâng đỡ chúng ta, với những người biết chúng ta, với những người chúng ta xin cầu nguyện cho chúng ta.

 Chính vì lý do này mà các cộng đồng cũng như các nhóm tập trung cầu nguyện cũng triển nở trong Giáo Hội. Một số Kitô hữu thậm chí cảm thấy được kêu gọi coi cầu nguyện là hoạt động chính cho ngày sống của họ. Có những đan tu viện, những công tu viện, những ẩn tu viện trong Giáo Hội là nơi những ngưòi tận hiến cho Thiên Chúa sống. Chúng thường trở thành trung tâm của ánh sáng thiêng liêng. Chúng là những trung tâm của cộng đồng cầu nguyện rạng ngời linh đạo. Chúng là những ốc đảo nho nhỏ, ở đó diễn ra việc cầu nguyện với nhau, và là nơi hằng ngày kiến tạo nên mối hiệp thông huynh đệ. Chúng là những tế bào sống còn chẳng những cho mô sợi Giáo Hội mà còn cho chính xã hội nữa. Chẳng hạn, chúng ta hãy nghĩ đến vai trò đời sống đan tu đã thủ vai trong việc hạ sinh và tăng trưởng của nền văn minh Âu Châu, và cả những nền văn hóa khác nữa. Cầu nguyện và làm việc trong cộng đồng là những gì giữ cho thế giới này tiến phát. Nó là một động lực!

Hết mọi sự ở trong Giáo Hội đều bắt nguồn từ cầu nguyện, và hết mọi sự phát triển nhờ cầu nguyện. Khi kẻ thù, Tên Gian Ác, muốn chiến đấu với Giáo Hội, thì trước hết bằng cách cố gắng làm cạn khô những bể nước của Giáo Hội, ngăn cản đến với những bể nước này bằng cầu nguyện. Chẳng hạn chúng ta thấy xẩy ra điều này ở một số nhóm hội bằng lòng với việc canh tân tiến bước của Giáo Hội, với những thay đổi trong đời sống của Giáo Hội cũng như của tất cả mọi cơ cấu tổ chức, đó là một thứ phương tiện truyền thông loan tin cho hết mọi người... Thế nhưng cầu nguyện thì chẳng thấy đâu, chẳng có cầu nguyện gì. Chúng ta cần thay đổi điều này; chúng ta cần làm cho quyết định này khó một chút... Thế nhưng dự thảo là những gì đáng chú trọng. Nó đáng chú trọng! Chỉ bằng bàn luận, chỉ qua phương tiện truyền thông. Vậy thì cầu nguyện để đâu? Cầu nguyện là yếu tố mở cửa ra cho Thánh Linh, Đấng tác động sự tiến bộ. Những đổi thay trong Giáo Hội mà thiếu cầu nguyện thì không phải là những thay đổi do Giáo Hội thực hiện. Chúng là những thay đổi được thực hiện bởi các nhóm hội. Khi Kẻ Thù - như tôi đã nói - muốn chiến đấu với Giáo Hội, hắn chiến đấu trước hết bằng việc làm cạn khô các bể nước của Giáo Hội, ngăn chặn việc cầu nguyện, và biến những thứ này thành các dự thảo khác. Nếu ngưng việc cầu nguyện một chút thì dường như hết mọi sự vẫn có thể tiến triển như nó vẫn luôn như thế - không, mà bị ù lí chứ? - thế nhưng, sau một thời gian ngắn, Giáo Hội nhận ra rằng Giáo Hội đã trở thành như là một cái vỏ trống rỗng, đã bị mất đi những thứ chất chứa của mình, không còn sở hữu mạch nguồn sưởi ấm và yêu thương của mình.

Những con người nam nữ thánh đức không sống một cuộc đời dễ dàng hơn những người khác. Thậm chí họ thực sự có những vấn để cần phải giải quyết, hơn thế nữa, họ còn thường trở thành đối tượng chống đối nữa. Thế nhưng, sức mạnh của họ là cầu nguyện. Họ luôn kín múc từ "giếng nước" bất khả cạn khô của Mẹ Giáo Hội. Bằng việc cầu nguyện, họ nung nấu ngọn lửa đức tin của họ, một đức tin như dầu được dùng cho đèn sáng. Vì thế họ tiến bước bằng đức tin và đức cậy. Các vị thánh, thường bị cho là thấp hèn trước mặt thế gian, thực sự là những con người duy trì thế giới này, không phải bằng những thứ khí giới tiền bạc hay quyền lực, khí giới của các thứ truyền thông - vân vân - mà bằng thứ khí giới cầu nguyện.

Trong Phúc Âm Thánh Luca, Chúa Giêsu đã đặt một câu hỏi thảm thiết luôn làm cho chúng ta suy nghĩ, đó là "Khi Con Người đến thì không biết Người có còn thấy đức tin trên thế gian này hay chăng?" (18:8), hay là Người sẽ chỉ thấy toàn là những cơ cấu, như những nhóm thầu khoán của đức tin, thấy mọi sự được tổ chức tốt đẹp, thấy những con người làm việc bác ái, làm được nhiều điều, hay Người thấy đức tin? "Khi Con Người đến thì không biết Người có còn thấy đức tin trên thế gian này hay chăng?" Câu hỏi này ở cuối dụ ngôn cho thấy nhu cầu cần kiên trì cầu nguyện không mệt mỏi (see vv. 1-8). Bởi thế, chúng ta có thể kết luận rằng cây đèn đức tin sẽ luôn được cháy sáng trên thế gian này bao lâu còn thứ dầu cầu nguyện. Cầu nguyện giúp đức tin tiến bước và dẫn dắt đời sống của chúng ta - yếu hèn, tội lỗi - tiến lên, thế nhưng cầu nguyện dẫn dắt cuộc đời của chúng ta tiến lên một cách an toàn. Vấn đề Kitô hữu chúng ta cần tự vấn đó là: Tôi có cầu nguyện hay chăng? Chúng ta có cầu nguyện hay chăng? Tôi cầu nguyện như thế nào? Như con vẹt hay bằng tấm lòng? Tôi cầu nguyện ra sao? Tôi có cầu nguyện hay không khi tin rằng tôi ở trong Giáo Hội và tôi cầu nguyện với Giáo Hội? Hay tôi cầu nguyện một chút theo những ý nghĩ của tôi, rồi biến những ý nghĩ ấy thành lời cầu nguyện? Đó là thứ cầu nguyện dân ngoại, không phải Kitô giáo. Tôi xin lập lại: Chúng ta có thể kết luận rằng cây đèn đức tin sẽ luôn cháy sáng trên trái đất này bao lâu còn dầu cầu nguyện.

Đó là công việc thiết yếu của Giáo Hội: là cầu nguyện và dạy cách cầu nguyện. Là truyền dạt cây đèn đức tin và dầu cầu nguyện từ đời nọ đến đời kia. Cây đèn đức tin chiếu sáng điều chỉnh lại những điều đúng như chúng là, nhưng nó chỉ có thể tiến tới bằng dầu cầu nguyện. Bằng không nó bị tắt lịm. Không có ánh sáng của cây đèn này, chúng ta sẽ không thể thấy được đường lối truyền bá phúc âm hóa, hay đúng hơn, chúng ta sẽ không thể thấy được đường đi nước bước để tin tưởng một cách tốt đẹp; chúng ta sẽ không thể thấy được khuôn mặt của anh chị em chúng ta để đến gần họ và phục vụ họ; chúng ta sẽ không thể chiếu soi căn phòng chúng ta gặp gỡ trong cộng đồng. Không có đức tin hết mọi sự sẽ sụp đổ; và không cầu nguyện đức tin bị tắt lịm. Đức tin và cầu nguyện là những gì đi với nhau. Không có chọn lựa nào khác. Vì thế, Giáo Hội, như nhà và học đường của hiệp thông, là nhà và học đường của đức tin và cầu nguyện.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210414_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện Bài 29:

Cầu Nguyện trong mối Hiệp Thông với Các Thánh

7 tháng 4 năm 2021

 

Xin chào anh chị em thân mến,

Hôm nay, tôi muốn chia sẻ về mối liên hệ giữa cầu nguyện và mối hiệp thông với các thánh. Thật vậy, khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta không bao giờ đơn độc một mình: cho dù  không nghĩ đến, chúng ta vẫn được chìm ngập trong một giòng sông uy nghi của các lời nguyện cầu đã tuôn trào trước chúng ta và tuần hành sau chúng ta. Một giòng sông uy nghi.

Được chất chứa ở các lời cầu nguyện chúng ta thấy trong Thánh Kinh, những lời cầu nguyện thường âm vang phụng vụ, là những dấu vết của các câu truyện cổ xưa, về những cuộc giải phóng thần kỳ, về những tống xuất và đầy ải buồn thảm, về những cuộc trở về xúc động, về việc ngợi khen chúc tụng trước các kỳ quan của thiên nhiên vạn vật...Bởi thế mà các lời này đã được lưu truyền lại từ đời nọ đến đời kia, một kết nối liên tục giữa cảm nghiệm cá nhân với cảm nghiệm của dân chúng, cũng như của nhân loại có cả chúng ta trong đó. Không ai có thể tách khỏi lịch sử của mình, lịch sử của dân mình. Chúng ta luôn chất chứa nơi các thái độ của chúng ta cái gia sản này, ngay cả ở nơi cách thức nguyện cầu của chúng ta. Trong lời nguyện cầu chúc tụng, nhất là lời cầu xuất phát từ cõi lòng của những kẻ bé mọn và những ai khiêm hạ, âm vang những gì trong Ca Vịnh Ngợi Khen được Mẹ Maria đã dâng lên Thiên Chúa trước mặt người chị họ Isave của Mẹ; hay vang vọng lời cầu khẩn than van của vị Simeon lão thành, khi ẵm Bé Giêsu trên cánh tay của mình, đã nói như thế này: "Giờ đây xin Chúa cho tôi tớ Chúa đây được ra đi bằng an, như lời của Ngài" (Luca 2:29).

Những lời cầu nguyện tốt đẹp như thế này đều có tinh chất "trải dài vươn rộng", như bất cứ những gì tốt đẹp khác; những lời cầu nguyện ấy tự mình tiếp tục lan truyền, dù có được đăng trên các hệ thống truyền thông xã hội hay chăng: ở các phòng trong bệnh viện, ở những lúc qui tụ lại mừng lễ đến những lúc chúng ta âm thầm chịu khổ... Nỗi đớn đau của một người là nỗi đớn đau của hết mọi người, và niềm hạnh phục của người này được truyền đạt cho tâm hồn của ai đó. Nỗi đớn đau và niềm hạnh phúc, tất cả chỉ là một câu truyện, các câu chuyện tạo nên câu chuyện đời sống của ai đó, câu chuyện này được kể lại bởi lời lẽ của ai đó, nhưng lại có cùng một cảm nghiệm.

Cầu nguyện bao giờ cũng được tái sinh, ở chỗ mỗi lần chúng ta nắm tay nhau và mở lòng mình ra trước Thiên Chúa, chúng ta thấy mình hợp đoàn với các vị thánh vô danh cùng với các vị thánh được tuyên nhận là những vị đang cầu nguyện với chúng ta, và là những vị đang chuyển cầu cho chúng ta, như những người anh chị em lớn đã ra đi trước chúng ta trên cùng một cuộc hành trình trần thế. Không có vấn đề sầu thương nào ở trong Giáo Hội mà được xuất phát một cách cô độc hết, không có những giọt lệ nào nhỏ ra bị lãng quên, vì hết mọi người hít thở và tham phần vào cùng một ân sủng duy nhất. Không có vấn đề xẩy ra trùng hợp ngẫu nhiên, ở nhà thờ cổ, dân chúng được chôn táng trong các khu vườn được vây quanh bởi một dinh thự linh thánh, như muốn nói rằng, ở một nghĩa nào đó, cả đoàn lũ những ai đã ra đi trước chúng ta tham dự vào hết mọi phụng vụ Thánh Thể vậy. Cha mẹ và ông bà của chúng ta ở đó, cha mẹ đỡ đầu của chúng ta ở đó, các giáo lý viên cùng các thày cô khác cũng ở đó... Đức tin được truyền lại, được chuyển đạt, là đức tin chúng ta đã lãnh nhận. Cùng với đức tin, cả cách thức nguyện cầu và kinh nguyện cũng được truyền đạt lại nữa.

Các thánh vẫn còn ở đây, không xa chúng ta; và các hình ảnh tiêu biểu của các vị ở trong các nhà thờ gợi lên cho thấy cả một "đám mây đầy những chứng nhân" luôn vây quanh chúng ta (see Heb 12:1). Khi mở đầu buổi triều kiến chung này, chúng ta đã nghe bài đọc từ đoạn Thư gửi Do Thái. Các vị là những chứng nhân chúng ta không tôn thờ - tức chúng ta không tôn thờ các thánh nhân - nhưng là những vị chúng ta tôn kính và là những vì bằng cả trăm ngàn cách mang Chúa Giêsu Kitô đến cho chúng ta, Vị Chúa và Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. "Vị thánh" nào đó không mang anh chị em đến với Chúa Giêsu thì không phải là thánh, thậm chí cũng chẳng phải là một Kitô hữu nữa. Một vị thánh làm cho anh chị em nhớ đến Chúa Giêsu Kitô vì ngài đã theo lối sống của một Kitô hữu. Các thánh đều nhắc nhở chúng ta rằng, cho dù đời sống của chúng ta yếu hèn và tội lỗi, chúng ta vẫn có thể nên thánh. Thậm chí vào giây phút cuối cùng. Thật vậy, chúng ta đọc trong Phúc Âm thấy rằng vị thánh đầu tiên được chính Chúa Giêsu tuyên phong đó là một kẻ trộm cướp, chứ không phải là một vị Giáo Hoàng. Thánh thiện là một hành trình đời sống, một cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu dài hay ngắn hoặc tức khắc. Thế nhưng họ bao giờ cũng là một chứng nhân, thánh nhân là một chứng nhân, một người nam nữ đã gặp gỡ Chúa Giêsu và đã theo Chúa Giêsu. Không bao giờ quá trễ để hoán cải trở về cùng Chúa là Đấng tốt lành và cao cả trong tình yêu thương (see Ps 103:8).

Sách Giáo Lý giải thích rằng các thánh chiêm ngắm Thiên Chúa, chúc tụng Ngài và liên lỉ chăm sóc cho những ai các ngài còn để lại trên trần thế. [...] Việc chuyển cầu của các ngài là việc phục vụ cao cả nhất của các ngài với dự án của Thiên Chúa. Chúng ta có thể và cần phải xin với các ngài chuyển cầu cho chúng ta cũng như cho toàn thế giới" (CCC 2683). Có một liên kết huyền diệu trong Chúa Kitô giữa những ai đã qua đi vào sự sống khác với thành phần lữ hành chúng ta nơi đời sống này, ở chỗ, từ Trời, các vị qua đời yêu dấu của chúng ta tiếp tục chăm sóc cho chúng ta. Các vị cầu nguyện cho chúng ta, và chúng ta cầu nguyện cho các vị và chúng ta cầu nguyện với các vị.

Việc liên kết trong nguyện cầu giữa chúng ta và những ai đã cập bến - chúng ta cảm nghiệm thấy được mối liên kết này trong việc cầu nguyện ở trong đời sống trần gian này. Chúng ta cầu nguyện cho nhau, chúng ta ngỏ lời cầu xin và dâng lên các lời cầu xin.... Cách đầu tiên cầu nguyện cho ai đó là thưa cùng Thiên Chúa về họ. Nếu chúng ta làm điều này thường xuyên, làm từng ngày, lòng chúng ta không bị khép lại mà là mở ra cho anh chị em của chúng ta. Việc cầu cho người khác là cách thức trước hết tỏ lòng yêu thương họ, và hướng chúng ta tới chỗ cận kề một cách cụ thể. Ngay cả trong những lúc xung khắc, cách thức để giải quyết xung khắc, làm giảm bớt xung khắc, đó là cầu nguyện cho người chúng ta đang bị xung khắc. Một cái gì đó thay đổi theo lời cầu nguyện. Điều đầu tiên là điều thay đổi lòng của chúng ta và thái độ của chúng ta. Chúa thay đổi nó để nó trở thành một cuộc hội ngộ, một cuộc gặp gỡ mới mẻ, nhờ đó mà cuộc xung khắc không trở thành một cuộc chiến bất tận.

Cách đầu tiên để đối diện với một thời khắc thử thách nào đó là xin anh chị em chúng ta, nhất là các thánh, cầu cho chúng ta. Cái tên được đặt cho chúng ta lúc chúng ta lãnh nhận Phép Rửa không phải là một thứ nhãn hiệu hay là một thứ trang trí vậy thôi! Nó thường là tên của Đức Trinh Nữ, hay một Vị Thánh, những vị chẳng mong gì ngoài việc "hỗ trợ" chúng ta trong đời sống, giúp chúng ta lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa mà chúng ta cần có. Nếu các thử thách của đời sống không tiến đến chỗ không thể chịu đựng, nếu chúng ta vẫn còn có thể kiên trì, nếu chúng ta vẫn còn tin tưởng tiến bước bất chấp mọi sự xẩy ra, không phải chỉ nhờ công nghiệp của chúng ta, mà có lẽ chúng ta nặng nợ tất cả những điều ấy nhờ lời chuyển câu của tất cả các vị thánh, nhờ ai đó trên Trời, những người khác đang đồng hành như chúng ta trên trái đất này, những con người trên trời dưới đất này đã bảo vệ và hỗ trợ chúng ta, vì tất cả chúng ta biết rằng có những con người thánh thiện trên trái đất này, những con người nam nữ thánh đang sống thánh. Họ không biết đến điều ấy; chúng ta cũng thế. Thế nhưng có những vị thánh, những vị thành hằng ngày, những vị thánh ẩn thân, hay như tôi thích nói, "những vị thánh bên cạnh", những con người chia sẻ đời sống của họ với chúng ta, những con người hoạt động với chúng ta và sống một cuộc đời thánh đức.

Bởi thế, chúc tụng Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế duy nhất của thế giới này, cùng với muôn vàn các con người nam nữ thánh thiện đang sống trên trái đất này và những vị đã từng chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa bằng đời sống của họ. Vì - như Thánh Basiliô khẳng định - "Thần Linh thực sự là nơi cư ngụ của các thánh nhân, vì các vị hiến bản thân mình như là một nơi cư ngụ cho Thiên Chúa và được gọi là đền thờ của Ngài" (On the Holy Spirit, 26, 62: PG 32, 184A; see CCC, 2684). 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210407_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 Bài 28: Cầu Nguyện hiệp thông với Mẹ Maria

thứ tư 24 tháng 3 năm 2021

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay, bài giáo lý này tập trung vào việc cầu nguyện trong mối hiệp thông với Mẹ Maria. Bài giáo lý này xẩy ra trúng ngay vào ngày Áp Lễ Trọng Truyền Tin. Chúng ta biết rằng đường lối chính yếu của việc Kitô hữu cầu nguyện đó là nhân tính của Chúa Giêsu. Thật vậy, lòng tin tưởng tiêu biểu cho việc cầu nguyện của Kitô hữu sẽ vô nghĩa nếu Ngôi Lời không nhập thể, để cống hiến cho chúng ta mối liên hệ con cái với Cha của Người trong Thần Linh. Chúng ta đã nghe thấy trong Sách Thánh về việc qui tụ của thành phần môn đệ, của những người phụ nữ đạo hạnh và của Mẹ Maria, để nguyện cầu sau biến cố Thăng Thiên của Chúa Giêsu. Cộng Đồng Kitô hữu tiên khởi này bấy giờ đang đợi chờ tặng ân của Chúa Giêsu, lời hứa của Chúa Giêsu.

Chúa Kitô là Đấng Trung Gian, Chúa Kitô là chiếc cầu chúng ta bang qua để đến với Chúa Cha (xem Sách Giáo Lý Công Giáo khoản 2674). Người là Đấng Cứu Chuộc duy nhất: không có những vị đồng cứu chuộc nào khác với Chúa Kitô. Người là Đấng Cứu Chuộc duy nhất. Người là Đấng Trung Gian trên hết. Người là Đấng Trung Gian. Mỗi một lời cầu chúng ta dâng lên Thiên Chúa đều nhờ Chúa Kitô, với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, và lời cầu này được nên trọn nhờ việc chuyển cầu của Người. Thánh Linh làm cho vai trò trung gian của Chúa Kitô qua hết mọi thời và ở hết mọi nơi: không có một danh xưng nào khác làm cho chúng ta có thể được cứu độ, vì Chúa Giêsu Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại (xem Acts 4:12).

Vì vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô mà những vị được Kitô hữu cậy nhờ để cầu nguyện và tôn sùng mới có ý nghĩa, mà trước hết là Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu.

Mẹ chiếm được một vị thế đặc biệt trong đời sống của Kitô hữu, bởi thế, nơi cả việc cầu nguyện của họ nữa, vì Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu. Các Giáo Hội Đông Phương thường vẽ Mẹ như là Vị Odigitria, Đấng "dẫn đường chỉ lối"; mà đường lối là Chúa Giêsu Kitô Con của Mẹ. Tôi nhớ đến bức họa cổ kính mỹ lệ về Vị dẫn đường chỉ lối Odigitria ở Vương Cung Thánh Đường Bari. Bức họa mộc mạc thôi. Đức Mẹ đang tỏ cho thấy Chúa Giêsu trần trụi; đoạn cảnh trần trụi của Người được che phủ bằng một cái áo, nhưng sự thật là ở chỗ Người trần trụi, bản thân Người, một con người, được hạ sinh bởi Mẹ Maria, là Đấng Trung Gian. Mẹ cho thấy Đấng Trung Gian này: Mẹ là Vị dẫn đường chỉ lối Odigitria. Việc hiện diện của Mẹ ở khắp ảnh tượng Kitô giáo, đôi khi rất trọng vọng nữa, nhưng bao giờ cũng liên hệ với Con của Mẹ và liên kết với Người (xem Sách Giáo Lý Công Giáo số 2674), đến độ chúng ta có thể nói Mẹ là môn đệ hơn là Mẹ. Những hướng dẫn Mẹ đã cống hiến ở tiệc cưới Cana: "hãy làm những gì Người bảo". Mẹ luôn qui về Người. Mẹ là vị môn đệ đầu tiên.

Đó là vai trò Mẹ Maria hoàn trọn suốt cuộc đời trần thế của Mẹ và Mẹ mãi mãi duy trì vai trò này, ở chỗ, Mẹ chỉ muốn làm nữ tỳ khiêm hạ của Chúa thôi. Mẹ hầu như biến mất trong các Phúc Âm ở một khía cạnh nào đó; thế nhưng Mẹ tái xuất hiện ở những lúc quan trọng hơn, như ở Cana, khi Con Mẹ, nhờ việc quan tâm can thiệp của Mẹ, đã thực hiện "dấu lạ" đầu tiên (xem Gioan 2:1-12), rồi trên Golgotha ở dưới chân cây thập tự giá.

Chúa Giêsu đã bao gồm vai trò mẫu thân của Mẹ cho toàn thể Giáo Hội nữa, khi Người trao phó Mẹ cho người môn đệ yêu dấu của Người không lâu trước khi chết trên cây thập tự giá. Từ lúc ấy trở đi, tất cả chúng ta đã được tập hợp lại dưới áo choàng của Mẹ, như được phác vẽ ở một số bức tranh tường hay các bức họa thời trung cổ. Ngay cả bài tụng ca Latinh đầu tiên là kinh – sub tuum praesidium confugimus, sancta Dei Genitrix (biệt chú của người dịch: lời cầu này Tiếng Việt chúng ta vẫn gọi là Kinh Trông Cậy thườngđược đọc vào cuối mỗi khi đọc kinh chung): Đức Mẹ là Đấng 'bao bọc', như một Người Mẹ, Đấng được Chúa Giêsu trao phó chúng ta, tất cả chúng ta; nhưng như là một Người Mẹ, chứ không phải như một nữ chúa, không phải như đấng đồng cứu chuộc: như Người Mẹ. Lòng sùng kính của Kitô hữu đã luôn cống hiến cho Mẹ nhưng danh hiệu mỹ miều, như một đứa con dâng lên cho má mình vậy: biết bao nhiêu là điều tốt đẹp con cái nói về người mẹ được chúng yêu mến rất nhiều! Biết bao nhiêu là điều mỹ lệ. Thế nhưng, chúng ta cần phải cẩn thận: những điều mà Giáo Hội, mà Các Thánh, nói về Mẹ, những điều tuyệt vời về Mẹ Maria, không hề làm suy giảm một tí nào Việc Cứu Chuộc duy nhất của Chúa Kitô. Người là Đấng Cứu Chuộc duy nhất. Những lời ấy là những lời bày tỏ lòng yêu mến như một đứa con với má của mình - có một số lời được phóng đại lên. Thế nhưng, tình yêu thương, như chúng ta biết, bao giờ cũng làm cho chúng ta, chỉ vì yêu mến, phóng đại sự vật lên.

Vậy, chúng ta bắt đầu cầu nguyện cùng Mẹ, bằng việc sử dụng một số diễn tả ở trong các Phúc Âm hướng về Mẹ, như "đầy ơn phúc", "Mẹ có phúc hơn mọi người nữ" (xem Sách Giáo Lý Công Giáo khoản 2676 f.). Được Công Đồng Chung Ephêsô công nhận, danh xưng "Theotokos", "Mẹ Thiên Chúa" chẳng bao lâu được thêm vào Kinh Kính Mừng. Và, tương tự như Kinh Lạy Cha, sau phần chúc tụng, chúng ta thêm lời thỉnh nguyện: chúng ta xin Mẹ Maria cầu cho chúng ta là kẻ tội lỗi, xin Mẹ dịu dàng chuyển cầu cho chúng ta "khi nay và trong giờ lâm tử". Giờ đây, trong các trường hợp cụ thể của cuộc sống, cũng như trong giây phút cuối cùng, xin Mẹ đồng hành với chúng ta - như một Người Mẹ, như vị môn đệ tiên khởi - trong cuộc vượt qua của chúng ta tới sự sống đời đời.

Mẹ Maria luôn hiện diện ở bên giường của con cái mình khi họ lìa bỏ thế giới này. Nếu ai đó lẻ loi và bị bỏ rơi, thì Mẹ là Người Mẹ, Mẹ có đó, gần gũi, như Mẹ đã ở gần Con của Mẹ khi hết mọi người khác bỏ rơi Người.

Mẹ Maria đã và đang hiện diện vào những ngày dịch bệnh này, gần gũi với những con người, bất hạnh thay, đã kết liễu hành trình trần thế của mình hoàn toàn lẻ loi cô độc, không được an ủi và cận kề của những người thân yêu của mình. Mẹ Maria luôn ở đó cận kề gần gũi với chúng ta, bằng niềm êm ái dịu dàng từ mẫu của Mẹ.

Những lời cầu nguyện dâng lên Mẹ không uổng công vô ích. Người Nữ đã thưa "xin vâng", Vị đã lập tức đón nhận lời mời gọi của Thiên Thần, cũng đáp ứng những lời thỉnh cầu của chúng ta, Mẹ nghe thấy tiếng của chúng ta, thậm chí cả những ai gần gũi với lòng của chúng ta mà không đủ sức để nói lên lời, nhưng Thiên Chúa lại biết được hơn cả chúng ta. Mẹ lắng nghe như một Người Mẹ. Giống như và còn hơn thế nữa, hết mọi người mẹ tốt lành, Mẹ Maria bênh vực chúng ta khỏi hiểm nguy, Mẹ quan tâm đến chúng ta, ngay cả khi chúng ta chỉ quan tâm đến những gì của chúng ta và bị lạc mất hướng đi, và khi chúng ta chẳng những gây nguy hiểm cho sức khỏe của chúng ta mà còn cả phần rỗi của chúng ta nữa. Mẹ Maria ở đó để cầu nguyện cho chúng ta, cầu nguyện cho những ai không nguyện cầu. Cầu nguyện với chúng ta. Tại sao? Vì Mẹ là Mẹ của chúng ta. 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210324_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện

Bài 27: Cầu Nguyện liên hệ với Chúa Ba Ngôi - phần 2 (16 tháng 3 năm 2021)

Xin chào anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta sẽ hoàn tất bài giáo lý về cầu nguyện như là một mối liên hệ với Chúa Ba Ngôi, đặc biệt là với Thánh Linh.

Tặng ân đầu tiên của hết mọi cuộc sống Kitô hữu đó là Thánh Linh. Đây không phải là một trong các thứ tặng ân, mà thật sự là Tặng Ân chính yếu. Thần Linh là tặng ân Chúa Giêsu đã hứa ban cho chúng ta. Không thể nào liên hệ với Chúa Kitô và với Chúa Cha mà lại không có Thần Linh, vì Thần Linh hướng lòng chúng ta về sự hiện diện của Thiên Chúa và kéo nó vào "vòng xoáy" yêu thương là chính cõi lòng của Thiên Chúa. Chúng ta không chỉ là những người khách và những kẻ lữ hành trong cuộc hành trình trên mặt đất này; chúng ta cũng là những người khách và những kẻ lữ hành của Ba Ngôi. Chúng ta giống như Abraham, vị có hôm đã được gặp gỡ Thiên Chúa, khi đón tiếp ba vị lữ khách ở lều trú của ông. Nếu chúng ta có thể thực sự kêu cầu Thiên Chúa, gọi Ngài là "Bố - Ba / Abba - Daddy", chính là do Thánh Linh ở trong chúng ta; Ngài là Đấng biến đổi chúng ta sâu xa tự bên trong, và làm cho chúng ta cảm nghiệm thấy niềm cảm xúc hân hoan được Thiên Chúa yêu thương như những người con cái thực sự của Ngài. Tất cả mọi hoạt động thiêng liêng ở bên trong chúng ta hướng về Thiên Chúa đều được thực hiện bởi Thánh Linh là tặng ân ấy. Ngài hoạt động trong chúng ta để đưa đời sống Kitô hữu hướng về Chúa Cha, với Chúa Giêsu. 

Về khía cạnh này, Sách Giáo Lý viết: "Mỗi khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện cùng Chúa Giêsu thì chính Thánh Linh lôi kéo chúng ta đến việc cầu nguyện này bằng ân sủng trước đó của Ngài. Vì Ngài dạy chúng ta cầu nguyện bằng việc gợi nhớ đến Chúa Kitô thì chúng ta lại không thể cầu cùng Thần Linh nữa hay sao? Đó là lý do tại sao Giáo Hội mời gọi chúng ta kêu cầu cùng Thánh Linh hằng ngày, nhất là vào lúc khởi đầu và kết thúc hết mọi hoạt động quan trọng" (khoản 2670). Đó là hoạt động của Thần Linh trong chúng ta. Ngài "nhắc nhở" chúng ta về Chúa Giêsu và làm cho Người hiện diện với chúng ta - chúng ta có thể nói rằng Ngài là ký ức về Ba Ngôi của chúng ta, Ngài là ký ức của Thiên Chúa trong chúng ta - và Ngài làm cho Chúa Giêsu hiện diện, nhờ đó Người không bị biến thành một nhân vật trong quá khứ: tức là, Thần Linh làm cho Chúa Giêsu hiện thực nơi tâm thức của chúng ta. Nếu Chúa Kitô chỉ xa vời về thời gian, thì chúng ta sẽ lẻ loi cô độc và lạc mất trên thế gian này. Đúng thế, chúng ta sẽ nhớ Chúa Giêsu, có đó, xa vời nhưng chính Thần Linh đưa Người trở lại hôm nay đây, hiện tại, lúc này đây, trong tâm can của chúng ta. Thế nhưng, tất cả mọi sự trở nên sống động nơi Thần Linh, ở chỗ Kitô hữu có thể gặp gỡ Chúa Kitô ở mọi lúc và mọi nơi. Việc có thể gặp gỡ Chúa Kitô, không phải chỉ như là một nhân vật lịch sử, được mở ra. Không, Ngài lôi kéo Chúa Kitô đến với cõi lòng của chúng ta, chính Vị Thần Linh này làm cho chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu. Người không xa cách, Vị Thần Linh này ở với chúng ta: Chúa Giêsu vẫn dạy dỗ thành phần môn đệ của Người bằng việc biến đổi cõi lòng của họ, như Người đã làm nơi Thánh Phêrô, nơi Thánh Phaolô, nơi Thánh Maria Mai Đệ Liên, nơi tất cả các tông đồ. Thế nhưng, tại sao Chúa Giêsu lại hiện diện? Vì chính Thần Linh mang Người đến với chúng ta.

Đó là kinh nghiệm của rất nhiều con người cầu nguyện: những con người nam nữ được Thánh Linh hình thành theo "tầm mức" của Chúa Kitô, về lòng thương xót, về việc phục vụ, về việc nguyện cầu, về giáo lý ... Đó là một ơn ban để có thể gặp gỡ dân chúng như thế này: anh chị em nhận ra rằng có một sự sống khác sinh động trong họ, cách thức họ nhìn "trổi vượt". Chúng ta có thể nghĩ đến chẳng những các vị đan sĩ và ẩn sĩ; họ cũng có thể là thành phần dân chúng bình thường, những con người đã gắn bó lâu dài với việc đối thoại cùng Thiên Chúa, đôi khi còn xẩy ra cả một tình trạng đối chọi nội tâm thanh tẩy đức tin của họ. Những chứng nhân khiêm hạ này đã tìm kiếm Thiên Chúa nơi Phúc Âm, nơi việc lãnh nhận và tôn thờ Thánh Thể, nơi gương mặt của một người anh chị em bị khốn khó, và họ bảo toàn sự hiện diện của Người như một ngọn lửa mật thiết.

Công việc đầu tiên của Kitô hữu chính là việc giữ cho ngọn lửa được Chúa Giêsu mang xuống thế gian này cháy sáng (see Lk 12:49), và ngọn lửa này là gì? Chính là tình yêu, Tình Yêu của Thiên Chúa, là Thánh Linh. Không có ngọn lửa Thần Linh này, thì những lời tiên tri ngôn sứ của Ngài bị tắt lịm, nỗi buồn đẩy lui niềm vui, thói quen thay thế tình yêu, và phục vụ trở thành nô lệ. Hình ảnh của ngọn đèn cháy sáng bên Nhà Tạm, nơi giữ Thánh Thể, hiện lên. Ngay cả khi nhà thờ không có người và màn đêm buông xuống, thậm chí khi nhà thờ đóng cửa, thì ngọn đèn này vẫn loe loét, và tiếp tục cháy sáng; không ai thấy nó, nhưng nó vẫn cháy sáng trước nhan Chúa. Đó là cách Vị Thần Linh này ở nơi tấm lòng của chúng ta, luôn hiện diện như cây đèn ấy vậy.

Chúng ta đọc lại Sách Giáo Lý: "Thánh Linh, Đấng mà việc xức dầu của Ngài thấm nhiễm vào toàn thể hữu thể của chúng ta, là Vị Sư Phụ nội tâm của việc cầu nguyện Kitô giáo. Ngài là một thủ công viên của truyền thống sống động về cầu nguyện. Thật ra có bao nhiêu người cầu nguyện thì có bấy nhiêu cách thức cầu nguyện, nhưng chỉ có cùng một Vị Thần Linh tác động trong tất cả mọi người và với tất cả mọi người. Chính ở nơi mối hiệp thông của Thánh Linh mà lời cầu nguyện của Kitô hữu là lời cầu trong Giáo Hội" (khoản 2672). Rất thường xẩy ra chuyện chúng ta không cầu nguyện, chúng ta không cảm thấy thích cầu nguyện, hay nhiều lần chúng ta cầu nguyện như con vẹt, bằng miệng lưỡi chứ lòng của chúng ta chẳng thấy đâu khi chúng ta cầu nguyện. Đó là giây phút chúng ta cần phải xin Thần Linh: "Lạy Chúa Thánh Thần, hãy đến, xin hãy đến sưởi ấm cõi lòng của chúng con. Xin hãy đến dạy chúng con cầu nguyện, dạy chúng con nhìn lên Chúa Cha, nhìn lên Chúa Con. Xin hãy dạy con đường nẻo đức tin. Xin hãy dạy con biết yêu thương, nhất là xin hãy dạy con có được một thái độ hy vọng". Nghĩa là liên tục kêu xin cùng Thần Linh, để Ngài hiện diện trong cuộc đời của chúng ta.

Bởi thế mà chính Thần Linh là Đấng viết lên lịch sử Giáo Hội và thế giới. Chúng ta là những cuốn sách mở ra, sẵn sàng cho ngòi bút của Ngài. Nơi mỗi một người chúng ta, Vị Thần Linh này sáng tác những hoạt động độc đáo, vì không bao giờ có chuyện Kitô hữu này lại hoàn toàn đồng nhất với Kitô hữu khác. Trong cánh đồng thánh đức bao la, Vị Thiên Chúa duy nhất, Ba Ngôi của Tình Yêu, để cho các chứng nhân khác nhau nở ra: tất cả đều bình đẳng về giá trị, nhưng độc đáo về vẻ đẹp, được Thần Linh muốn thực hiện nơi mỗi một người được trở nên con cái Thiên Chúa bởi lòng thương xót của Thiên Chúa. Đừng quên, Vị Thần Linh hiện diện, Ngài hiện diện trong chúng ta. Chúng ta hãy lắng nghe Thần Linh, chúng ta hãy kêu cầu cùng Thần Linh - Ngài là tặng ân, là quà tặng Thiên Chua ban cho chúng ta - và thân thưa cùng Ngài rằng: "Lạy Chúa Thánh Thần, con không biết được dung nhan của Chúa - chúng ta không biết được dung nhan này - nhưng con biết rằng Chúa là sức mạnh, Chúa là ánh sáng, Chúa có thể làm cho con tiến bước, và dạy con biết cách cầu nguyện. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến". Đó là một lời nguyện cầu tuyệt vời: "Xin Chúa Thánh Thần hãy đến".

(Sau bài giáo lý:)

Một lần nữa, với nỗi buồn lớn lao, tôi cảm thấy khẩn thiết đề cập tới tình trạng thảm thương ở Myanmar, nơi mà nhiều người, nhất là giời trẻ, bị mất mạng sống của họ để cống hiến niềm hy vọng cho xứ sở. Tôi cũng quì xuống các đường phố ở Myanmar mà xin rằng: Hãy chấm dứt bạo lực! Tôi cũng giang cánh tay ra mà xin rằng: Xin hãy đối thoại với nhau!

 

http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210317_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý Cầu Nguyện:

Bài 26: Cầu Nguyện hướng về Chúa Ba Ngôi - phần 1

3 tháng 3 năm 2021

Xin chào anh chị em thân mến,

Trong hành trình giáo lý của chúng ta về cầu nguyện, hôm nay và tuần tới, chúng ta sẽ thấy, nhờ Chúa Giêsu Kitô, cầu nguyện hướng chúng ta về Chúa Ba Ngôi - về Chúa Chúa, Chúa Con và Thánh Linh - về đại dương của Thiên Chúa là Tình Yêu. Chính Chúa Giêsu đã mở Nước Trời ra cho chúng ta và đem chúng ta vào mối liên hệ với Thiên Chúa. Chính Người là Đấng đã làm điều ấy, ở chỗ, Người đã mở ra cho chúng ta mối liên hệ này với Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Đó là những gì Tông Đồ Gioan đã khẳng định ở câu kết đoạn mở đầu Phúc Âm ngài: "Chưa ai đã từng thấy Thiên Chúa: Người Con duy nhất, Đấng ở trong lòng Cha, đã tỏ Cha ra" (Gioan 1:18). Chúa Giêsu đã tỏ cho chúng ta biết căn tính, căn tính này của Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần. Chúng ta thực sự không biết phải cầu nguyện ra sao: đâu là những lời lẽ, những cảm xúc và những ngôn từ thích đáng với Thiên Chúa. Trong lời yêu cầu được các vị môn đệ ngỏ cùng Thày của các vị, một lời yêu cầu chúng ta thường nhắc lại trong loạt bài giáo lý này, có tất cả những gì là vụng về, những nỗ lực lập đi lập lại, thường bất thành, ngỏ cùng Đấng Hóa Công: "Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện" (Luca 11:1).

Không phải là tất cả mọi lời cầu nguyện đều ngang nhau, và không phải tất cả đều thuận lợi: Chính Thánh Kinh chứng thực thành quả tiêu cực của nhiều lời cầu nguyện, những lời cầu nguyện bị loại trừ. Dường như Thiên Chúa có những lúc không hài lòng với những lời cầu nguyện của chúng ta, và chúng ta thậm chí không nhận thức được điều ấy. Thiên Chúa nhìn vào bàn tay của những ai cầu nguyện: để làm cho chúng nên tinh sạch chứ không cần rửa chúng; đáng lẽ người ta cần phải kềm chế các hành động gian ác xấu xa. Thánh Phanxicô đã cầu nguyện rằng: «Nullu homo ène dignu te mentovare», tức là "không ai đáng kêu danh Ngài" (Bài Ca Mặt Trời).

Thế nhưng, có lẽ việc nhận biết cảm động nhất về tình trạng bần cùng của lời chúng ta cầu nguyện đã xuất phát từ môi miệng của viên đại đội trưởng Roma, vị hôm ấy đã van xin Chúa Giêsu chữa lành cho người đầy tớ yếu bệnh của ông (cf Mk 8:5-13). Ông ta đã cảm thấy hoàn toàn bất xứng, ở chỗ, ông ta không phải là người Do Thái, ông là một sĩ quan thuộc quân đội chiếm đóng đáng ghét. Thế nhưng mối quan tâm đến người đầy tớ của ông ta khiến ông ta vững tâm mà thân thưa rằng: "Lạy Chúa, tôi không xứng đáng được rước Ngài vào nhà của tôi; nhưng chỉ xin Ngài phán thôi thì người đầy tớ của tôi được lành mạnh" (v.8). Đây là câu chúng ta cũng lập lại mỗi khi cử hành phụng vụ Thánh Thể. Đối thoại với Thiên Chúa là một ơn huệ, vì chúng ta không đáng làm việc này, chúng ta chẳng có quyền thỉnh cầu, chúng ta "cà lăm" khi nói năng cùng nghĩ tưởng... Thế nhưng, Chúa Giêsu là cửa dẫn chúng ta vào cuộc đối thoại này với Thiên Chúa.

Tại sao nhân loại lại được Thiên Chúa yêu thương chứ? Chẳng có lý do nào hiển nhiên cả, chẳng có vấn đề cân xứng gì hết... Đến độ các câu truyện hoang đường thần thoại nhất không thấy được cái khả thể về một vị thần chăm sóc các thứ chuyện của loài người; trái lại, những chuyện này bị coi là những gì phiền toái và chán chường, thật đáng bỏ qua chẳng cần để ý đến. Hãy nhớ câu Thiên Chúa phán với dân của Ngài, được Sách Đệ Nhị Luật lập lại rằng: "Vì có quốc gia vĩ đại nào lại có một vị thần rất gần gũi với nó như Chúa là Thiên Chúa của chúng ta với chúng ta hay chăng?" Việc Thiên Chúa gần gũi kề cận là một mạc khải! Có một số triết gia nói rằng Thiên Chúa chỉ có thể nghĩ về Ngài mà thôi. Đáng lẽ chính loài người chúng ta cố gắng thuyết phục vị thần linh này và làm hài lòng vị ấy. Vì thế mà nhiệm vụ của "tôn giáo", bằng việc tiến hành các thứ hy tế và tôn sùng cứ được tiếp tục hiến dâng để làm cho mình trở thành đáng yêu với một vị thần xa vời nào đó, một vị Thiên Chúa dửng dưng lãnh đạm. Chẳng có chuyện đối thoại gì hết. Chỉ duy Chúa Giêsu, chỉ duy mạc khải của Thiên Chúa cho Moisen trước Chúa Giêsu, khi Thiên Chúa tỏ mình ra; chỉ có Thánh Kinh đã mở ra cho chúng ta việc đối thoại với Thiên Chúa. Hãy nhớ rằng: "Có quốc gia vĩ đại nào lại có một vị thần rất gần gũi với nó như Chúa là Thiên Chúa của chúng ta với chúng ta hay chăng?" Đó là việc Thiên Chúa gần gũi cận kề, đã mở ra cho chúng ta để chúng ta đối thoại với Ngài.

Một Vị Thiên Chúa yêu thương nhân loại: chúng ta sẽ chẳng bao giờ có can đảm để tin vào Ngài, nếu chúng ta không nhận biết Chúa Giêsu. Việc nhận biết Chúa Giêsu làm cho chúng ta hiểu được điều ấy, nó giúp cho điều ấy được tỏ ra cho chúng ta. Thật là những gì ngạo ngược - một thứ ngạo ngược! - nơi dụ ngôn người cha nhân hậu, hay nơi dụ ngôn vị mục tử tìm kiếm con chiên lạc (cf. Lk 15). Chúng ta sẽ không thể nào nghĩ tới, hay thậm chí hiểu được, những câu chuyện như thế, nếu chúng ta đã không gặp Chúa Giêsu. Thiên Chúa gì mà sẵn sàng chết cho con người? Thiên Chúa nào? Thiên Chúa nào mà lại hằng nhẫn nại yêu thương mà lại chẳng đòi phải yêu lại chứ? Thiên Chúa nào mà lại chấp nhận tấm lòng vô ơn ghê gớm của một người con xin chia phần gia tài của nó trước, rồi bỏ nhà ra đi phung phá tất cả mọi sự chứ? (cf. Lk 15:12-13).

Chính Chúa Giêsu đã tỏ cho thấy tấm lòng của Thiên Chúa. Bởi thế Chúa Giêsu nói với chúng ta bằng đời sống của Người những gì tỏ ra Thiên Chúa là một Người Cha. Tam Pater nemo: Chẳng có ai là Cha như Ngài. Tình phụ tử đó là sự gần gũi, lòng cảm thương và nỗi dịu dàng. Đừng quên ba chữ cho thấy kiểu cách của Thiên Chúa này: gần gũi, cảm thương và dịu dàng. Đó là cách thức thể hiện tình phụ tử của Ngài đối với chúng ta. Chúng ta khó lòng mà nghĩ tưởng được từ xa thứ tình yêu tràn đầy nơi Ba Ngôi, cùng với chiều sâu của lòng luyến ái nhau giữa Cha, Con và Thánh Thần. Những hình ảnh bên Đông phương cống hiến cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về mầu nhiệm ấy, một mầu nhiệm là nguồn mạch và là niềm vui của toàn thể vũ trụ.

Trên hết, chúng ta không thể nào tin được rằng tình yêu thần linh này lại có thể vươn trải, xuống tận bến bờ nhân loại chúng ta: chúng ta là thành phần lãnh nhận một thứ tình yêu không thể nào có được trên trái đất này. Giáo Lý dẫn giải rằng: "Nhân tính linh thánh của Chúa Giêsu vì thế là đường lối nhờ đó Thánh Linh dạy chúng ta cầu cùng Thiên Chúa là Cha của chúng ta" (khoản 2664). Đó là ơn đức tin của chúng ta. Chúng ta thật sự không thể nào hy vọng có được một ơn gọi nào cao cả hơn, đó là nhân tính của Chúa Giêsu - Thiên Chúa đã đến gần với chúng ta nơi Chúa Giêsu - đã trở thành thuận lợi cho chúng ta hoan hưởng chính sự sống của Ba Ngôi, và đã mở toang cánh cửa mầu nhiệm tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần.

(Sau bài giáo lý, ĐTC đã lên tiếng kêu gọi và xin cầu nguyện như sau:)

Từ Myanmar vẫn tiếp tục xẩy ra tin buồn về những cuộc đụng độ đổ máu và mất mạng sống. Tôi xin kêu gọi các vị thẩm quyền trong cuộc chú trọng đến sự kiện là đối thoại hơn là đàn áp và hòa hợp hơn là bất hòa. Tôi cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế bảo đảm những ước vọng của nhân dân Myanmar không bị dập tắt đi bởi bạo lực. Chớ gì giới trẻ của đất nước thân yêu này có được niềm hy vọng về một tương lai mà hận thù và bất công nhường bước cho hội ngộ và hòa giải. Sau hết, tôi lập lại niềm ước muốn tôi đã bày tỏ một tháng trước đây, đó là con đường hướng tới dân chủ đã được thực hiện trong mấy năm gần đây bởi dân nước Myanmar được phục hồi, bằng cử chỉ cụ thể thả ra các vị lãnh đạo chính trị khác nhau đang bị giam giữ (see Address to the Diplomatic Corps, 8 February 2021).

Ngày kia, nếu Thiên Chúa muốn, tôi sẽ hành hương 3 ngày đến Iraq. Đã lâu rồi tôi muốn gặp gỡ dân chúng ấy đã chịu rất nhiều đau khổ; để gặp gỡ Giáo Hội tử đạo ở mảnh đất của Abraham này. Cùng với các vị lãnh đạo tôn giáo, chúng tôi cũng sẽ thực hiện việc bước tới tình huynh đệ giữa các tín hữu. Tôi xin anh chị em hãy hỗ trợ chuyến tông du này bằng lời cầu nguyện của anh chị em, nhờ đó chuyến tông du này được diễn tiến tốt đẹp bao nhiêu có thể, và sinh hoa kết quả như đã được hy vọng. Nhân dân Iraq đang đời chờ chúng ta; họ đã đợi chờ Thánh GP II, vị đã không được phép đến đó. Người ta không thể nào làm cho một dân tộc bị thất vọng lần thứ hai. Chúng ta hãy cầu nguyện cho cuộc hành trình này được tốt đẹp.

 

 

 

 

Bài 25 Cầu Nguyện
10 tháng 2 năm 2021

 
Xin chào anh chị em thân mến,

Trong bài giáo lý trước, chúng ta đã thấy được kinh nguyện Kitô giáo được "gắn liền" với Phụng Vụ ra sao. Hôm nay, chúng ta sẽ chia sẻ về cách thức Phụng Vụ luôn đi vào đời sống thường nhật như thế nào: trên đường phố, trong văn phòng, khi di chuyển giao thông công cộng... Ở những nơi đó việc đối thoại với Thiên Chúa vẫn tiếp tục, ở chỗ, con người cầu nguyện giống như một tình nhân luôn ấp ủ người yêu của mình trong tâm can của mình ở bất cứ nơi nào họ di chuyển.

Thật sự là hết mọi sự đều tạo nên việc đối thoại với Thiên Chúa ấy: hết mọi niềm vui đều trở thành lý do để ngợi khen chúc tụng, hết mọi thử thách là một cơ hội để xin được trợ giúp. Việc cầu nguyện luôn sống động trong đời sống của chúng ta, như những cục than hồng, ngay cả khi miệng không nói năng mà lòng vẫn lên tiếng. Hết mọi ý nghĩ, ngay cả những tư tưởng hiển nhiên là 'trần tục', vẫn có thể được thấm nhiễm bởi việc cầu nguyện. Nơi trí thông minh của con người thậm chí còn có một góc cạnh cầu nguyện nào đó; thật vậy, nó là cửa ngõ hướng về mầu nhiệm, ở chỗ, nó soi chiếu một ít bước đi trước mắt chúng ta, sau đó vươn lên toàn thể thực tại, một thực tại có trước nó và vượt trên nó. Mầu nhiệm này không có một bộ mặt băn khoăn lo lắng. Không, kiến thức về Chúa Kitô làm cho chúng ta tin tưởng rằng bất cứ điều gì con mắt tự nhiên của chúng ta cũng như con mắt tâm trí của chúng ta không thể thấy được, chứ không phải chẳng có gì ở đó hết, thì có một ai đó đang đợi chờ chúng ta, có ân sủng vô cùng. Bởi thế mà việc cầu nguyện Kitô giáo làm cho cõi lòng của con người thẩm thấu một niềm hy vọng bất khả chế ngự, ở chỗ, bất cứ cảm nghiệm gì chúng ta có được trong cuộc hành trình của chúng ta thì tình yêu của Thiên Chúa cũng có thể biến nó thành sự lành.

Về vấn đề này, Sách Giáo Lý viết: "Chúng ta học biết cầu nguyện vào một số thời gian nhất định, bằng cách lắng nghe Lời Chúa và tham dự mầu nhiệm Vượt Qua của Người; Người còn ban Thánh Thần để giúp chúng ta cầu nguyện trong mọi lúc, trong mọi biến cố của cuộc sống hằng ngày. [...] Thời gian là của Cha; chúng ta gặp được Người trong hiện tại, không phải hôm qua hay ngày mai, nhưng chính hôm nay" (khoản 2659). Hôm nay tôi gặp Chúa, hôm nay bao giờ cũng là ngày của cuộc gặp gỡ này.

Không có một ngày tuyệt vời nào khác ngoài ngày chúng ta đang sống đây. Những ai đang sống thì luôn nghĩ về tương lai, nghĩ theo tương lai: "Thế mới cảm thấy tốt đẹp hơn...", chứ đừng chấp nhận từng ngày xẩy ra: những con người này là thành phần sống trong mơ tưởng của mình, họ không biết đương đầu với thực tại cụ thể. Ngày hôm nay là thực hữu, ngày hôm nay là những gì cụ thể. Và việc cầu nguyện được thực hiện ngay hôm nay. Chúa Giêsu đến để gặp gỡ chúng ta hôm nay đây, ngày chúng ta đang sống. Đó là việc cầu nguyện biến ngày này thành ân sủng, hay nên tốt đẹp hơn, nó biến đổi chúng ta: nó làm khuây khỏa nỗi tức giận, duy trì yêu thương, tăng bội niềm vui, thông ban sức mạnh để thứ tha. Đôi khi nó sẽ như thể chúng ta không còn sống nữa, mà là ân sủng đang sống và hoạt động trong chúng ta bằng việc nguyện cầu. Chính ân sủng là những gì đang đợi chờ chúng ta, bao giờ cũng vậy, đừng quên: hãy nhận lấy ngày hôm nay khi nó đến. Chúng ta hãy nghĩ như thế khi chúng ta cảm thấy có tâm tưởng tức giận, bất hạnh, khiến chúng ta cay đắng, chặn đứng chúng ta lại. Chúng ta hãy thưa cùng Chúa rằng: "Chúa đang ở đâu? Con đang đi đâu đây?" Chúa đang ở đó, Chúa sẽ ban cho anh chị em lời lẽ chính đáng, lời khuyên tiến lên bất chấp nỗi đắng cay đó, cảm giác tiêu cực đó. Vì cầu nguyện bao giờ cũng là một cái gì đó tích cực, khi sử dụng một lời lẽ trần tục. Nó sẽ đưa anh chị em về phía trước. Mỗi một ngày xẩy ra đều được kèm theo lòng can đảm, nếu nó được đón nhận bằng nguyện cầu. Nhờ đó, các vấn đề chúng ta phải đương đầu dường như không còn là những chướng vật cho niềm hạnh phúc của chúng ta nữa, mà là những gì khiếu nại nơi Thiên Chúa, là cơ hội để gặp gỡ Ngài. Khi người nào đó được Chúa đồng hành thì họ cảm thấy can trường hơn, tự do hơn và thậm chí hạnh phúc hơn.

Vậy chúng ta hãy cầu nguyện luôn, cho hết mọi người, ngay cả cho các kẻ thù của chúng ta. Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta làm như thế: "Các con hãy cầu nguyện cho thù địch của các con". Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chúng ta yêu dấu, ngay cả những ai chúng ta không biết. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các kẻ địch thù của chúng ta, như tôi đã nói, như Thánh Kinh thương mời gọi chúng ta làm như thế. Việc cầu nguyện hướng chúng ta về một thứ tình yêu siêu mãn. Trước hết chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang buồn khổ, cho những ai đang khóc lóc trong cô độc và thất vọng để cho thấy rằng vẫn còn có người yêu thương họ. Việc cầu nguyện làm nên phép lạ; để rồi, nhờ ơn Chúa, người nghèo hiểu được, ngay trong tình trạng bất ổn hiểm nghèo của họ, rằng lời cầu nguyện của một Kitô hữu nào đó đã tỏ hiện lòng cảm thương của Chúa Kitô. Thật vậy, Người đã trìu mến nhìn vào đám đông bơ vơ lạc lõng như chiên vô chủ (cf Mk 6:34). Chúa là - chúng ta đừng quên - Chúa của lòng cảm thương, của sự gần gũi cận kề, của những gì là êm ái dịu dàng: không bao giờ được quên ba chữ về Chúa. Vì đó là kiểu cách của Chúa: cảm thương, gần gũi, dịu dàng.

Cầu nguyện giúp chúng ta yêu thương những người khác, bất chấp lỗi lầm và tội lỗi của họ. Con người bao giờ cũng quan trọng hơn là các hành động của họ, và Chúa Giêsu không phán xét thế gian mà là cứu độ nó. Kinh tởm biết bao đời sống của một con người luôn xét đoán những người khác, luôn lên án, luận phán... Đó là một đời sống kinh khiếp, bất hạnh, trong khi Chúa Giêsu đã đến cứu chúng ta. Hãy mở lòng mình ra, hãy tha thứ, hãy cống hiến cho người khác thái độ chấp nhận, thông cảm, gần gũi, thương cảm, dịu dàng, như Chúa Giêsu. Chúng ta cần yêu thương nhau và hết mọi người, bằng cách trong nguyện cầu chúng ta nhớ rằng tất cả chúng ta đều là những tội nhân, đồng thời bản thân được Thiên Chúa yêu thương. Khi yêu thương thế giới này như thế, yêu thương nó một cách dịu dàng, chúng ta sẽ khám phá ra rằng mỗi ngày và hết mọi sự đều chất chứa một mảnh vụn nào đó trong mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Sách Giáo Lý viết tiếp: "Cầu nguyện ở trong các biến cố hằng ngày và từng lúc là một trong những bí mật của Nước Chúa được tỏ bày cho 'những trẻ nhỏ', cho những người đầy tớ của Chúa Kitô, cho người nghèo của các mối phúc đức. Việc cầu nguyện là những gì chính đáng và tốt đẹp để việc tỏ hiện của vương quốc công lý và hòa bình gây tác dụng đến nhịp bước của lịch sử, thế nhưng phải đem những hoàn cảnh bình thường của cuộc sống hằng ngày vào kinh nguyện. Tất cả mọi hình thức của việc cầu nguyện có thể trở thành thứ men được Chúa sánh ví như vương quốc này" (khoản 2660).

Con người - tất cả chúng ta, nam cũng như nữ - con người giống như một hơi thở, như cỏ đồng nội (cf Ps 144:4; 103:15). Triết gia Pascal có lần đã viết rằng: "Không cần phải cả vũ trụ này vung cánh tay ra để tàn sát họ: chỉ cần một hơi bốc, một giọt nước cũng đủ giết họ rồi" (Thoughts, 186). Chúng ta là những hữu thể mỏng dòn, nhưng chúng ta biết cầu nguyện: đó là phẩm giá cao cả nhất của chúng ta và cũng là sức mạnh của chúng ta nữa. Hãy can đảm. Hãy cầu nguyện trong mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh để Chúa được gần gũi với chúng ta. Và khi lời cầu nguyện hợp với cõi lòng của Chúa Giêsu thì sẽ thấy được phép lạ xẩy ra.

(Sau bài giáo lý, ĐTC nói tiếp về Tân Xuân Âm Lịch ở Viễn Đông:)

Ở Viễn Đông và ở các nơi khác nhau trên thế giới có cả hằng triệu triệu con người nam nữ sẽ cử hành Tân Niên Âm Lịch vào Thứ Sáu tới đây, 12/2. Tôi muốn bày tỏ những lời chào chúc chân thành của tôi, kèm theo lời chúc một tân niên sinh hoa kết trái huynh đệ và đoàn kết. Vào thời điểm đặc biệt này đây, chúng ta đang rất quan tâm đến việc đối đầu với các thứ thách đố của thứ dịch bệnh ảnh hưởng đến con người ta về cả thể lý lẫn tâm thần, nhưng cũng ảnh hưởng đến các mối liên hệ về xã hội nữa. Tôi hy vọng rằng hết mọi người được hưởng trọn vẹn sức khỏe và sống an bình.
 
http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210210_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

Bài 24 Cầu Nguyện theo Phụng Vụ
3 tháng Hai năm 2021


Xin chào anh chị em thân mến, 

Trong lịch sử Giáo Hội đã từng có khuynh hướng thực hành một thứ Kitô giáo nội tại, không công nhận tầm quan trọng thiêng liêng của những nghi thức phụng vụ chung. Thường thì khuynh hướng này cho rằng tính chất tinh tuyền được cho là tốt đẹp hơn của một thứ đạo giáo thì không lệ thuộc vào các nghi thức bên ngoài, những nghi thức bị coi là một thứ gánh nặng vô dụng hay tác hại. Vấn đề phê phán bình phẩm ấy chính yếu không phải là một hình thức lễ nghi nào đó, hay một cách thức cử hành đặc biệt nào đó, mà là hình thức cầu nguyện theo phụng vụ.

Thật vậy, người ta có thể thấy được trong Giáo Hội một số hình thức linh đạo đã không biết hội nhập thích đáng với giây phút phụng vụ. Nhiều tín hữu, cho dù họ có sốt sắng tham dự vào phụng vụ, nhất là tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, lại kín múc dưỡng chất cho đức tin của họ, cũng như cho đời sống thiêng liêng của họ, từ các nguồn mạch khác, ở một kiểu cách tôn sùng nào đó.

Trong các thập niên gần đây nhiều điều đã được thực hiện. Hiến Chế Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium của Công Đồng Chung Vaticanô II là tiêu biểu cho cái đòn bẩy ở cuộc hành trình dài này. Hiến Chế này tái xác nhận một cách tổng quan và có hệ thống về tầm quan trọng của phụng vụ thánh đối với đời sống của Kitô hữu, thành phần tìm thấy trong đó tính chất môi giới khách quan nơi sự kiện là Chúa Giêsu Kitô không phải là một ý nghĩ nào đó hay là một cảm thức nào đó, mà là một Con Người sống động, và Mầu Nhiệm của Người là một biến cố lịch sử. Việc cầu nguyện của Kitô hữu băng ngang qua những môi giới hữu hình, đó là Thánh Kinh, là các Bí Tích, là các nghi thức phụng vụ, là cộng đồng. Trong đời sống Kitô hữu cần phải bao gồm cả lãnh vực thể lý và chất thể nữa, vì ở nơi Chúa Giêsu Kitô lãnh vực này đã trở thành một đường lối cứu độ. Chúng ta có thể nói rằng chúng ta cần phải cầu nguyện bằng thân thể nữa: thân thể tham phần vào việc cầu nguyện.

Bởi thế không có chuyện linh đạo Kitô giáo mà lại không được bắt nguồn từ việc cử hành các mầu nhiệm thánh. Sách Giáo Lý viết: "Sứ vụ của Chúa Kitô và của Thánh Linh là sứ vụ loan báo, hiện thực và truyền đạt mầu nhiệm cứu độ, một mầu nhiệm ở nơi tấm lòng cầu nguyện" (2655). Phụng vụ, tự mình, không phải chỉ là việc cầu nguyện tự phát, mà là những gì đích thực hơn nữa, ở chỗ phụng vụ là một tác động bao gồm cảm nghiệm của toàn thể Kitô giáo, và do đó cũng là lời cầu nguyện. Phụng vụ là một biến cố, là những gì đang xẩy ra, là sự hiện diện, là cuộc gặp gỡ. Phụng vụ là cuộc gặp gỡ Chúa Kitô. Chúa Kitô làm cho mình hiện diện nơi Chúa Thánh Thần qua các dấu bí tích: vì thế Kitô hữu chúng ta cần phải tham dự vào mầu nhiệm thần linh. Tôi dám nói rằng Kitô giáo mà không có phụng vụ thì như thể Kitô giáo không có Chúa Kitô vậy. Không có Chúa Kitô trọn vẹn. Ngay cả ở nghi thức sơ sài nhất, chẳng hạn như nghi thức được một số Kitô hữu đã cử hành, và tiếp tục cử hành ở những nơi bị giam cầm gò bó, hoặc ở chỗ hẻo lánh trong một ngôi nhà vào những thời bị bách hại, thì Chúa Kitô vẫn thực sự hiện diện và hiến mình cho tín hữu của Người.

Phụng vụ, chính vì chiều kích khách quan của mình, cần phải được cử hành một cách sốt sắng, để nhờ đó ân sủng được tuôn đổ qua nghi thức không bị phân tán, mà thay vào đó đạt được cảm nghiệm của tất cả mọi người. Sách Giáo Lý  giải thích điều này rất hay như sau: "Cầu nguyện nội tâm hóa và đồng hóa phụng vụ trong khi và sau khi cử hành" (ibid). Nhiều kinh nguyện của Kitô giáo không xuất phát từ phụng vụ, thế nhưng tất cả những kinh nguyện ấy, nếu là kinh nguyện Kitô giáo, đều bao hàm phụng vụ, tức là, bao gồm tính chất môi giới về bí tích của Chúa Giêsu Kitô. Những gì chúng ta cử hành Bí Tích Thánh Tẩy, hay thánh hiến bánh và rượu nơi Bí Tích Thánh Thể, hoặc xức dầu một bệnh nhân bằng Dầu Thánh, thì đều có Chúa Kitô bấy giờ! Chính Người tác hành và hiện diện như Người đã chữa lành tứ chi yếu liệt của một bệnh nhân, hay ở Bữa Tiệc Ly Người đã trao ban di chúc của Người cho phần rỗi của thế giới.

Việc cầu nguyện của Kitô hữu làm cho sự hiện diện của Chúa Giêsu về bí tích nơi việc cầu nguyện của họ. Những gì là bề ngoài đối với chúng ta trở nên những gì thuộc về chúng ta, ở chỗ phụng vụ thể hiện điều này ngay cả ở chính cử chỉ ăn uống tự nhiên. Thánh Lễ không thể chỉ để "xem": đây cũng là một lời diễn tả không đúng, "tôi đang đi xem lễ". Thánh Lễ không thể nào chỉ để xem, như thế chúng ta chỉ là những con người bàng quan về một cái gì đó qua đi chẳng cần gì đến việc tham dự của chúng ta. Thánh Lễ bao giờ cũng được cử hành, không chỉ bởi vị linh mục chủ tế, mà còn bởi tất cả Kitô hữu cảm nghiệm Thánh Lễ nữa. Tâm điểm là Chúa Kitô! Tất cả chúng ta, nơi tính chất đa dạng về tặng ân và thừa tác vụ, cùng liên kết với tác động của Người, vì Người, Chúa Kitô, đóng Vai Chính trong phụng vụ.

Khi các Kitô hữu tiên khởi bắt đầu việc tôn thờ thì họ đã làm như thế bằng việc hiện thực hóa các việc làm và lời nói của Chúa Giêsu, với ánh sáng và quyền năng của Chúa Thánh Thần, để đời sống của họ, được tác động bởi ân sủng, trở nên một hy lễ thiêng liêng hiến dâng lên Thiên Chúa. Phương cách này thật sự là một "cuộc cách mạng". Thánh Phaolô viết trong Thư gửi giáo đoàn Roma, đó là: "Bởi thế, thưa anh em, tôi nài xin anh em, nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, hãy dâng hiến thân thể của anh em làm việc tôn thờ thiêng liêng như một hy tế sống động, thánh hảo và đáng Thiên Chúa chấp nhận" (12:1). Đời sống được kêu gọi để trở thành việc tôn thờ Thiên Chúa, thế nhưng điều này sẽ không thể nào xẩy ra mà lại thiếu việc cầu nguyện, nhất là việc cầu nguyện về phụng vụ. Chớ gì ý nghĩ này giúp cho tất cả chúng ta lúc chúng ta đi dự lễ: Tôi đi cầu nguyện cùng cộng đồng, tôi đi cầu nguyện với Chúa Kitô đang hiện diện. Khi chúng ta đi cử hành Bí Tích Thánh Tẩy chẳng hạn, thì chính Chúa Kitô ở đó, hiện diện, làm phép rửa. "Thế nhưng, thưa cha, đó là một ý nghĩ thôi, một lời miêu tả thôi": không, đó không phải là một lời miêu tả. Chúa Kitô hiện diện, và anh chị em cầu nguyện với Chúa Kitô là Đấng ở bên anh chị em trong phụng vụ.

(Sau bài giáo lý, ĐTC nói tiếp:)

Ngày mai đánh dấu Ngày Quốc Tế Đầu Tiên về Tình Huynh Đệ Nhân Loại, mới được thiết lập bởi một Nghị Quyết của Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Việc khởi động này cũng ghi nhận về cuộc gặp gỡ hôm mùng 4 tháng Hai năm 2019 ở Abu Dhabi, thời điểm mà vị Đại Giáo Trưởng ở Al-Azhar là Ahmad Al-Tayyib và tôi ký kết Văn Kiện về Tình Huynh Đệ Loài Người cho Hòa Bình Thế Giới và Việc Chung Sống. Tôi rất hân hoan về việc các quốc gia trên toàn thế giới đang tham gia việc cử hành này, để cổ võ việc đối thoại liên tôn và liên văn hóa. Chiều ngày mai, sẽ tôi tham dự vào cuộc gặp gỡ thực sự này với vị Đại Giáo Trưởng ở Al-Azhar, với vị Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc là Ông Antonio Guterres, cùng với các vị lãnh đạo khác. Quyết Nghị của Liên Hiệp Quốc nhìn nhận "vấn đề đóng góp mà việc đối thoại giữa tất cả mọi nhóm tôn giáo có thể thực hiện thì hướng tới một nhận thức cải tiến cùng với kiến thức về các thứ giá trị chung của toàn thể nhân loại". Chớ gì điều này là lời cầu nguyện của chúng ta hôm nay và việc chúng ta dấn thân hằng ngày trong năm.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 23 Cầu Nguyện bằng Thánh Kinh
27 tháng 1 năm 2021

Xin chào anh chị em thân mến,

Hôm nay, tôi muốn tập trung vào việc cầu nguyện chúng ta có thể thực hiện bằng việc bắt đầu với một đoạn Thánh Kinh. Những lời của Sách Thánh không được viết ra để rồi cứ bị giam hãm trên mặt giấy cói, giấy da hay giấy tờ, mà phải được đón nhận bởi con người cầu nguyện, làm cho những lời này nẩy nở trong cõi lòng của mình. Lời Chúa thấm vào tâm can. Giáo Lý khẳng định rằng: "việc cầu nguyện cần phải được kèm theo bởi việc đọc Sách Thánh" - một thứ Sách Thánh không được đọc như là một cuốn tiểu thuyết, mà cần phải được kèm theo bằng việc cầu nguyện - "để trở thành cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người" (khoản 2653). Đó là cách cầu nguyễn thực hiện nơi anh chị em, vì cầu nguyện là một cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Câu Thánh Kinh ấy được viết ra cho cả tôi nữa, biết bao nhiêu thế kỷ trước đó, để mang lại cho tôi một lời Chúa. Thánh Kinh được viết ra cho hết mọi người chúng ta. Cảm nghiệm này xẩy đến cho tất cả mọi tín hữu, ở chỗ, một đoạn Thánh Kinh, được nghe đi nghe lại nhiều lần, bất ngờ nói với chúng ta vào một lúc nào đó, và soi sáng về một trường hợp tôi đang trải qua. Thế nhưng, hôm đó, tôi cần phải hiện diện ở cuộc hẹn với Lời ấy. Tôi cần phải ở đó, bằng việc lắng nghe Lời ấy.

Hằng ngày Thiên Chúa băng ngang qua và gieo một hạt giống vào mảnh đất của cuộc đời chúng ta. Chúng ta không biết được hôm nay Ngài gặp được mảnh đất khô cằn, bụi gai hay đất tốt giúp cho hạt giống mọc lên (cf. Mk 4:3-9). Lời chúng ta nghe tác động chúng ta ấy trở nên Lời hằng sống của Thiên Chúa đối với chúng ta lệ thuộc vào chúng ta, vào việc cầu nguyện của chúng ta, vào tấm lòng cởi mở cần có để tiếp cận Thánh Kinh. Thiên Chúa tiếp tục băng ngang qua bằng Thánh Kinh. Ở đây, tôi sẽ trở về với những gì tôi đã nói trong tuần vừa rồi, với những gì Thánh Âu Quốc Tinh đã nói: "Tôi sợ Thiên Chúa khi Người băng ngang qua". Tại sao ngài lại sợ? Ở chỗ ngài không lắng nghe Người. Nghĩa là tôi sẽ không nhận ra rằng Người là Chúa.

 Một thứ nhập thể mới của Lời diễn ra nơi việc cầu nguyện. Và chúng ta là "các nhà tạm", nơi những lời Chúa cần được đón nhận và lưu giữ, để những lời Chúa này có thể viếng thăm thế giới. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải tiếp cận với Thánh Kinh không do bởi một thúc động kín đáo nào đó, không khai thác Thánh Kinh. Tín hữu không trở về với Sách Thánh để tìm cách bênh vực cho quan điểm triết lý và luân lý của họ, mà vì họ hy vọng có được một cuộc hội ngộ; tín hữu biết rằng những lời được viết ra bởi Thánh Linh, và vì thế bởi cùng vị THần Linh này những lời ấy cần phải được đón nhận và thấu hiểu, cho cuộc hội ngộ này xẩy ra. Tôi thấy khó chịu làm sao ấy khi nghe thấy Kitô hữu đọc các câu Thánh Kinh như con vẹt vậy. "Ồ đúng... Ồ Chúa nói rằng... Người muốn điều này điều nọ..." Thế nhưng, anh chị em có gặp gỡ Chúa ở câu ấy chăng? Đó không phải là câu hỏi về trí nhớ: nó là một vấn đề về trí nhờ của một cõi lòng hướng anh chị em về cuộc hội ngộ với Chúa. Lời ấy, câu ấy giúp anh chị em được gặp gỡ Chúa.

Bởi thế, chúng ta đọc Thánh Kinh vì Thánh Kinh "nói với chúng ta". Đó là một ân sủng để có thể nhận biết mình nơi đoạn này hay nơi nhân vật kia, ở trường hợp này hay hoàn cảnh kia. Thánh Kinh không được viết cho một nhân loại chung chung vậy thôi, mà là cho chúng ta, cho tôi, cho anh chị em, cho những con người nam nữ bằng xương bằng thịt, cho những con người nam nữ có tên gọi và tên họ, như tôi, như anh chị em. Và Lời Chúa, nhờ Thánh Linh đã được thấm nhiễm, khi Lời Chúa được đón nhận bằng một tâm hồn cởi mở, không để cho các thứ cứ còn nguyên như trước, không bao giờ. Một cái gì đó thay đổi. Đó là ân sủng và sức mạnh của Lời Chúa.

Truyền thống Kitô giáo thì dồi dào về các cảm nghiệm cùng với các suy niệm Sách Thánh khi cầu nguyện. Đặc biệt là phương pháp "Lectio divina" đã được thiết lập; nó bắt nguồn từ giới đan tu, nhưng hiện nay còn được thực hiện bởi các Kitô hữu sinh hoạt ở các giáo xứ của họ. Đó là vấn đề chăm chú đọc một đoạn thánh kinh: đó là Lectio divina, trước hết và trên hết là chăm chú đọc một đoạn Thánh Kinh hay hơn nữa: tôi muốn nói rằng đọc Thánh Kinh theo "chiều hướng" của bản văn, để hiểu được ý nghĩa trong Thánh Kinh và của Thánh Kinh. Sau đó bắt đầu đối thoại với Thánh Kinh, để những lời ấy trở thành nguồn suy niệm và cầu nguyện, ở chỗ, trong khi vẫn căn cứ vào bản văn, tôi bắt đầu tự vấn xem bản văn này "nói với tôi" những gì. Đó là một bước tinh tế, ở chỗ chúng ta không được chiều theo những dẫn giải chủ quan, nhưng chúng ta phải thuộc về đường lối sống động của Truyền Thống là những gì liên kết mỗi người chúng ta với Sách Thánh. Bước cuối cùng của Lectio divina đó là chiêm niệm. Đến đây các lời nói và tư tưởng nhường bước cho lòng yêu mến, như giữa những kẻ yêu nhau đối khi chỉ nhìn nhau trong thinh lặng. Bản văn thánh kinh vẫn còn đó, nhưng chỉ như là một tấm gương soi, như là một ảnh tượng cần được chiêm ngắm. Như vậy mới có chuyện đối thoại.

Qua việc cầu nguyện, Lời Chúa đến ở với chúng ta và chúng ta ở với Lời Chúa. Lời này tác động những ý hướng tốt lành cùng trợ giúp hành động; Lời ấy cống hiến cho chúng ta sức mạnh và niềm thanh thản, và ngay cả khi Lời ấy thách đố chúng ta, chúng ta cũng cảm thấy an bình. Vào những ngày "dị thường" và bối rối, Lời này bảo toàn tâm can bằng một cái mấu chốt tin tưởng và yêu mến để bảo vệ Lời này khỏi các cuộc tấn công của tên gian ác.

Bằng cách ấy Lời Chúa đã hóa thành nhục thể - xin cho phép tôi được sử dụng cách diễn tả này - Lời Chúa đã hóa thành nhục thể nơi những ai đón nhận Lời Chúa trong nguyện cầu. Cái trực giác xuất phát nơi một số bản văn cổ đó là Kitô hữu đồng hóa với Lời này một cách trọn vẹn đến độ, giả như tất cả mọi cuốn Thánh Kinh trên thế giới này có bị cháy rụi hết, thì "cái nấm" của Thánh Kinh vẫn còn đó, vì những gì Thánh Kinh in ấn vẫn còn tồn tại nơi đời sống của các thánh nhân. Thật là một diễn tả tuyệt vời.

Đời sống Kitô hữu đồng thời là một công việc của cả việc thuận phục lẫn sáng tạo. Người Kitô hữu tốt lành cần phải là một người biết thuần phục, thế nhưng họ cũng cần phải sáng tạo nữa. Họ thuần phục khi họ nghe Lời Chúa; họ sáng tạo vì họ có Thánh Linh trong lòng, Đấng điều khiển họ làm thế, dẫn đưa họ tiến lên. Chúa Giêsu, ở cuối một trong những dụ ngôn của mình, đã đưa ra một so sánh như thế này - Người nói: "Hết mọi viên ký lục được huấn luyện cho nước trời thì giống như một gia chủ kia biết lấy ra từ kho tàng của mình - là cõi lòng" cả những cái cũ lẫn những cái mới" (Mt 13:52). Sách Thánh là một kho tàng bất tận. Xin Chúa ban cho tất cả chúng ta biết hằng kín múc lấy hơn nữa từ kho tàng này bằng việc cầu nguyện.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 22 Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo

20 tháng 1 năm 2021

Xin chào anh chị em thân mến,

Trong bài giáo lý này chúng ta sẽ suy tư về việc cầu nguyện cho mối hiệp nhất Kitô giáo. Thật vậy, tuần lễ từ ngày 18 đến 25 tháng Giêng được đặc biệt giành riêng cho việc cầu nguyện ấy - để xin Thiên Chúa ban tặng ân hiệp nhất có thể thắng vượt trên tình trạng chia rẽ tệ hại giữa các tín hữu tin vào Chúa Giêsu. Sau Bữa Tiệc Ly, Người đã cầu nguyện cho những ai thuộc về Người "để họ tất cả được hiệp nhất nên một" (Gioan 17:21). Đó là lời cầu nguyện của Người trước Cuộc Khổ Nạn, chúng ta có thể gọi lời cầu nguyện này là di chúc thiêng liêng của Người. Tuy nhiên, chúng ta nên ghi nhận rằng Chúa đã không truyền lệnh cho các môn đệ của Người phải hiệp nhất nên một. Không, mà là Người đã cầu nguyện. Người đã cầu nguyện cùng Chúa Cha cho chúng ta, để chúng ta có thể được hiệp nhất nên một. Như thế có nghĩa là chúng ta không thể nào tự mình đạt được mối hiệp nhất. Trước hết hiệp nhất là một tặng ân, là một ân sủng cần phải van xin nguyện cầu mới được.

Mỗi một người trong chúng ta đều cần đến mối hiệp nhất này. Thật vậy, chúng ta biết rằng chúng ta không thể nào có được mối hiệp nhất kiên trì ngay cả trong chính bản thân mình. Thậm chí tông đồ Phaolô đã cảm thấy một thứ xung khắc đớn đau nhức nhối nơi bản thân của ngài, trong khi muốn sự thiện nhưng lại hướng về sự dữ (see Rm 7:19). Bởi thế ngài đã nắm bắt được cái gốc rễ của rất nhiều thứ chia rẽ bao vây chúng ta - giữa dân chúng, trong gia đình, ngoài xã hội, giữa các dân nước và ngay cả giữa các tín hữu - cũng như bên trong chúng ta. Công Đồng Chung Vaticanô II đã nói rằng: "những chênh lệch dày vò thế giới ngày nay được nối liền với một chênh lệch căn bản hơn phát xuất từ đáy lòng con người. Bởi vì, ngay chính trong con người có nhiều yếu tố xung khắc nhau" (Gaudium et spes, 10). Bởi thế, giải pháp cho những thứ chia rẽ này thì không chống lại ai, vì bất hòa càng thêm bất hòa. Phương dược chữa trị thật sự được bắt đầu bằng việc kêu xin Thiên Chúa ban ơn an bình, hòa giải, hiệp nhất.

Điều này đúng với Kitô hữu chúng ta trước nhất. Mối hiệp nhất có thể đạt được là nhờ việc nguyện cầu mà thôi. Các nỗ lực về ngoại giao và việc đối thoại về hàn lâm vẫn không đủ. Những điều ấy cần được thực hiện song vẫn chưa đủ. Chúa Giêsu đã biết điều ấy và đã mở đường cho chúng ta bằng việc cầu nguyện. Bởi thế việc cầu nguyện của chúng ta cho mối hiệp nhất là việc khiêm tốn và tin tưởng tham dự vào lời cầu nguyện của Chúa, Đấng đã hứa rằng bất cứ lời cầu nào nhân danh Người đều được Chúa Cha lắng nghe (see Jh 15:7). Đến đây chúng ta hãy tự vấn xem: "Tôi có cầu nguyện cho mối hiệp nhất hay chăng?" Đó là ý muốn của Chúa Giêsu, nếu chúng ta xét lại các ý chỉ cầu nguyện của mình, có lẽ chúng ta sẽ nhận ra rằng chúng ta đã cầu nguyện ít ỏi, có lẽ chẳng bao giờ, cho mối hiệp nhất Kitô giáo. Tuy nhiên, đức tin của thế giới này lại lệ thuộc vào nó; thật vậy, Chúa đã xin cho chúng ta được nên một "để thế gian được nhận biết" (Jn 17:21). Thế giới sẽ không tin nếu chúng ta muốn thuyết phục nó bằng những thứ luận cứ hay ho, nhưng nó sẽ tin tưởng nếu chúng ta muốn chứng tỏ rằng tình yêu là những gì hiệp nhất chúng ta lại và lôi kéo chúng ta đến gần nhau.

Trong thời điểm khốn khó nghiêm trọng này, việc cầu nguyện ấy thậm chí càng cần hơn nữa, nhờ đó hiệp nhất mới thắng vượt trên các thứ xung khắc. Chúng ta cần phải gạt sang một bên những thứ yêu thích để cổ võ công ích, vậy nên gương lành của chúng ta là những gì quan thiết, vì Kitô hữu cần phải theo đuổi đường lối hướng tới mối hiệp nhất hữu hình trọn vẹn. Trong các thập niên trước, nhờ Chúa giúp, một số bước tiến đã đạt được, nhưng chúng ta vẫn cần phải kiên trì trong yêu thương và cầu nguyện, một cách tin tưởng không mỏi mệt. Đó là đường lối được Thánh Linh đã phát động trong Giáo Hội, nơi các Kitô hữu và nơi chúng ta, không quay ngược lai. Mà hằng tiến về phía trước.

Cầu nguyện nghĩa là chiến đấu cho mối hiệp nhất. Đúng thế, là chiến đấu, vì kẻ thù của chúng ta là ma quỉ chia rẽ chúng ta. Chúa Giêsu xin Thánh Linh cho mối hiệp nhất, tạo nên hiệp nhất. Ma quỉ thì bao giờ cũng chia rẽ. Hắn luôn chia rẽ vì chia rẽ là sở trường của hắn. Hắn gieo rắc chia rẽ ở khắp nơi và bằng bất cứ cách nào, trong khi đó Thánh Linh bao giờ cũng liên kết trong hiệp nhất. Nói chung, ma quỉ không cám dỗ chúng ta bằng khoa thần học cao cấp, mà bằng những gì là yếu hèn của anh chị em chúng ta. Hắn mánh khóe ở chỗ hắn phóng đại những thứ lầm lỗi và khiếm khuyết của người khác, gieo rắc bất hòa, thúc giục chỉ trích và thành lập phe cánh. Thiên Chúa lại có những cách thức khác, ở chỗ Ngài chấp nhận chúng ta như chúng ta là, Ngài yêu thương chúng ta thắm thiết, thế nhưng Ngài yêu thương chúng ta như chúng ta là, và Ngài chấp nhận chúng ta như chúng ta là; Ngài chấp nhận những ai trong chúng ta khác biệt, Ngài chấp nhận thành phần tội nhân, và Ngài luôn thôi thúc chúng ta tiến đến chỗ hiệp nhất. Chúng ta có thể tự thẩm định và tự vấn xem, ở những nơi chúng ta đang sống, chúng ta có gây ra xung khắc hay chiến đấu cho việc gia tăng mối hiệp nhất, bằng những thứ dụng cụ Chúa ban cho chúng ta, đó là cầu nguyện và yêu thương. Trái lại, cái gây ra xung khắc đó là cứ xì xèo nhảm nhí, lúc nào cũng nói sau lưng người khác. Việc xì xèo nhảm nhí là thứ khí giới tiện dụng nhất ma quỉ sử dụng để chia rẽ cộng đồng Kitô giáo, chia rẻ trong các gia đình, chia rẽ giữa các bạn bè, lúc nào cũng chia rẽ. Thánh Linh bao giờ cũng tác động hiệp nhất.

Đề tài cho Tuần Lễ Cầu Nguyện này đặc biệt về tình yêu: "Hãy ở lại trong tình yêu của Thày và các con sẽ sinh nhiều hoa trái" (see Jn 15:5-9). Cội nguồn của hiệp thông và yêu thương là Chúa Kitô, Đấng làm cho chúng ta thắng vượt được các thành kiến của chúng ta, để nhìn nơi người khác là người anh chị em luôn cần được yêu thương. Thế rồi chúng ta sẽ khám phá ra rằng các Kitô hữu thuộc những niềm tuyên xưng khác - nơi truyền thống của họ, nơi lịch sử của họ - đều là tặng ân Chúa ban, họ là tặng ân đang hiện diện ở trong các khu vực cộng đồng giáo phận và giáo xứ của chúng ta. Chúng ta hãy bắt đầu cầu nguyện cho họ, và, bao giờ có thể, cầu nguyện với họ nữa. Có thế chúng ta sẽ mới biết yêu thương và trân trọng họ. Cầu nguyện, theo Công Đồng Chung Vaticano II, là linh hồn của hết mọi biến động về đại kết (see Unitatis redintegratio, 8). Bởi thế, chớ gì việc cầu nguyện là khởi điểm giúp cho Chúa Giêsu làm cho giấc mơ của Người trở thành hiện thực, đó là để họ được hiệp nhất nên một. Xin cám ơn anh chị em.

 

http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210120_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 21 Cầu Nguyện Ngợi Khen

thứ Tư 13 tháng Giêng năm 2021

Xin chào anh chị em thân mến, 

Chúng ta hãy tiếp tục các bài giáo lý của chúng ta về cầu nguyện, và hôm nay chúng ta sẽ tập trung vào chiều kích ngợi khen. 

Chúng ta sẽ khởi đầu bằng một trình tự trong đời sống của Chúa Giêsu. Sau các phép lạ đầu tiên cùng với việc tham gia của các môn đệ vào việc loan báo Nước Thiên Chúa thì sứ vụ của Đấng Thiên Sai trải qua một cuộc khủng hoảng. Thánh Gioan Tẩy Giả - bấy giờ đang ở trong tù - tỏ ra ngờ vực và đặt vấn đề với Người rằng: "Ông có phải là đấng phải đến hay chăng, hay chúng tôi phải tìm một đấng khác?" (Mt 11:3), vì ngài cảm thấy một nỗi buồn khổ như thế bởi ngài không biết ngài có sai lầm về việc tuyên bố của ngài (về Đấng Đến Sau ngài hay chăng). Bao giờ cũng có những giây phút tăm tối, những giây phút ác mộng thiêng liêng, và Thánh Gioan đã trải qua giây phút này. Tinh hình hận thù ghen ghét ở trong các khu làng dọc theo biển hồ, nơi Chúa Giêsu đã thực hiện quá nhiều những dấu diệu lạ (see Mt 11:20-24). Vậy mà, chính vào giây phút bất thuận lợi ấy, Thánh ký Mathêu lại ghi nhận một sự kiện thật là ngỡ ngàng, đó là Chúa Giêsu không than vãn cùng Chúa Cha thì chớ, trái lại, Người còn vang lên một bài thánh ca hoan hỉ nữa: "Lạy Cha là Chúa trời đất, con tạ ơn Cha vì Cha đã giấu kín những điều này khỏi những ai khôn ngoan kiến thức mà lại tỏ ra cho những con người bé mọn thôi" (Mt 11:25). Đó, giữa một cơn khủng hoảng, giữa đêm tối tăm nơi tâm hồn của nhiều người, như của Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu chúc tụng Chúa Cha, Chúa Giêsu ngợi khen Chúa Cha. Tại sao thế?

 Trước hết và trên hết, Người ngợi khen Ngài vì Ngài là "Cha, Chúa trời đất". Chúa Giêsu hoan hỉ trong tâm linh của Người, vì Người biết và cảm thấy rằng Chúa của Người là Vị Thiên Chúa của Vũ Trụ, hay ngược lại, Vị Chúa của tất cả mọi sự đang hiện hữu là Cha: "Cha của Con". Lời ngợi khen xuất phát từ cảm nghiệm Người là "Con của Đấng Tối Cao". Chúa Giêsu cảm thấy Người là Con Đấng Tối Cao.

Sau đó Chúa Giêsu ngợi khen Chúa Cha vì niềm ưu ái với những con người bé mọn. Đó là những gì bản thân Người cảm nghiệm khi Người rao giảng ở các làng quê, ở chỗ, thành phần "khôn ngoan" vẫn cứ ngờ vực và khép kín, tính toán; trong khi đó "những kẻ bé mon" lại cởi mở và đón nhận sứ điệp của Người. Đó là ý muốn của Chúa Cha, nên Chúa Giêsu tỏ ra hân hoan. Cả chúng ta nữa cũng cần phải hoan hỉ và ngợi khen Thiên Chúa vì thành phần khiêm tốn và đơn thành đón nhận Phúc Âm. Khi tôi thấy những người đơn thành này, những con người khiêm tốn ấy, những con người đi hành hương, đi cầu nguyện, hát ca, ngợi khen, những con người có lẽ thiếu hụt nhiều điều nhưng lòng khiêm nhượng của họ lại khiến họ ngợi khen Thiên Chúa.... Trong tương lai của thế giới này, cũng như trong niềm hy vọng của Giáo Hội, có những "kẻ bé mọn", đó là những ai không coi mình ngon lành hơn kẻ khác, những con người biết được những hạn hữu của mình cùng với tội lỗi của họ, những con người không muốn làm chủ kẻ khác, những con người nhìn nhận trong Thiên Chúa là Cha rằng tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau.

Bởi thế mà trong lúc thất bại xuất hiện, khi mà hết mọi sự trở nên tăm tối, thì Chúa Giêsu cầu nguyện, bằng cách ngợi khen Chúa Cha. Và việc cầu nguyện của Người cũng khiến chúng ta, những con người đọc Phúc Âm, biết phán đoán về những thảm bại của chúng ta một cách khác hẳn, phán đoán một cách khác hẳn những trường hợp mà chúng ta không thấy rõ ràng có sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa, khi sự dữ dường như thắng thế và không có cách nào có thể chặn nó lại. Trong những lúc ấy, Chúa Giêsu, Đấng đã hết sức khuyên nhủ việc cầu nguyện bằng việc đặt vấn đề, ở vào chính lúc Người có lý do để yêu cầu Chúa Cha giải thích, lại bắt đầu ngợi khen Ngài. Chuyện này như thể là những gì mâu thuẫn, nhưng nó là thế đó, là một sự thật.

Việc ngợi khen có lợi cho ai đây? Cho chúng ta hay cho Thiên Chúa? Bản văn của phụng vụ Thánh Thể mời gọi chúng ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa như thế này: "Mặc dù Chúa chẳng cần việc ngợi khen của chúng con, nhưng việc chúng con tri ân cảm tạ chính là tặng ân của Chúa, vì việc ngợi khen của chúng con chẳng thêm gì cho sự cao cả của Chúa, mà là mang lại lợi ích cho phần rỗi của chúng con" (Roman Missal, Common Preface IV).  Chúng ta được cứu độ bằng việc ngợi khen chúc tụng Chúa.

Việc cầu nguyện ngợi khen là những gì giúp ích cho chúng ta. Sách Giáo Lý định nghĩa việc cầu nguyện ngợi khen ấy như thế này - cầu nguyện ngợi khen "tham phần vào hạnh phúc thành hảo của tâm hồn trong sạch, thành phần kính mến Thiên Chúa bằng đức tin, trước khi được ngắm nhìn Ngài trong vinh quang" (khoản 2639). Ngược ngạo thay, nó lại cần phải thực hành chẳng những vào lúc đời sống làm cho chúng ta tràn đầy hạnh phúc, mà nhất là vào những lúc khó khăn, những lúc tăm tối khi đường đi trở thành một cuộc leo dốc. Cả bấy giờ cũng là lúc ngợi khen. Như Chúa Giêsu trong lúc tối tăm vẫn ngợi khen Chúa Cha. Vì chúng ta biết rằng, nhờ việc tiến lên ấy, nhờ con đường đi khó khăn ấy, nhờ con đường mệt mỏi ấy, những đoạn đường cam go ấy, chúng ta mới tiến đến chỗ thấy được một toàn cảnh mới, một chân trời rộng lớn hơn. Dâng lời ngợi khen thì giống như việc thở dưỡng khí trong lành: nó thanh tẩy tâm hồn, nó làm cho anh chị em hướng về phía trước để khỏi bị giam hãm trong lúc khó khăn, trong đêm tối khốn khó.

Một giáo huấn cao cả ở nơi một lời cầu nguyện qua tám thế kỷ vẫn chưa hề bị mất đi nhịp điệu của nó, lời cầu nguyện được Thánh Phanxicô sáng tác vào cuối đời của ngài, đó là "Bài Ca Anh Mặt Trời" hay "Bài Ca Các Tạo Vật". Con người nghèo / Poverello này đã không sáng tác lời cầu ấy vào lúc hân hoan vui sướng, vào lúc phúc hạnh, trái lại, giữa cơn gian nan khốn khó. Bấy giờ Thánh Phanxicô đã gần bị mù lòa, và ngài cảm thấy trong tâm hồn của ngài bị đè nặng bởi một nỗi cô độc mà ngài chưa bao giờ trải qua trước đó, ở chỗ, thế giới này chẳng thay đổi gì từ khi ngài bắt đầu rao giảng, vẫn còn những con người để mình bị xâu xé bởi những cuộc cãi cọ, ngoài ra, ngài nhận thức được ngài đã gần chết. Đó có thể là lúc vỡ mộng, giây phút cực vỡ mộng và là lúc ngài nhận thức được cuộc thất bại của ngài. Thế nhưng Thánh Phanxicô đã cầu nguyện vào chính giây phút đau buồn ấy, vào chính lúc tăm tối ấy: "Ôi Chúa của con ơi, tất cả xin ngợi khen Chúa". Ngài cầu nguyện bằng việc dâng lời ngợi khen. Thánh Phanxicô ngợi khen Thiên Chúa cho hết tất cả mọi sự, cho tất cả các tặng ân thiên nhiên tạo vật, và thậm chí cho cả cái chết mà ngài dám gọi nó là "người chị em". Những mẫu gương này của các vị thánh, của Kitô hữu, cũng như của Chúa Giêsu, về việc ngợi khen Thiên Chúa trong những lúc khó khăn, là những gì mở ra cho chúng ta những con đường rộng lớn để đến với Chúa, và những giây phút ấy luôn thanh tẩy chúng ta. Việc ngợi khen bao giờ cũng là những gì thanh tẩy.

 Các Thánh tỏ cho chúng ta thấy rằng chúng ta bao giờ cũng có thể dâng lời ngợi khen, vào cả lúc vui lẫn lúc buồn, vì Thiên Chúa là Người Bạn trung thành. Nền tảng của việc ngợi khen này đó là Thiên Chúa là người bạn trung thành, và tình yêu thương của Ngài không bao giờ ngừng. Ngài luôn ở bên chúng ta. Ngài luôn đợi chờ chúng ta. Từng có câu nói rằng: "Ngài là người lính canh cận kề với bạn và giúp bạn tiếp tục tin tưởng". Trong những lúc khó khăn và tăm tối, chúng ta hãy can đảm thân thưa rằng: "Ôi Chúa, xin chúc tụng Chúa". Ngợi khen Chúa. Chúng ta sẽ cảm thấy rất hữu ích khi làm như vậy. Xin cám ơn anh chị em.

Cao Tấn Tĩnh dịch thuật.

 

Bài 20 Cầu Nguyện Tạ Ơn

Thứ Tư 30 tháng 12 năm 2020

Xin chào anh chị em thân mến,

Hôm nay, tôi muốn tập trung vấn đề cầu nguyện vào việc tạ ơn. Tôi thấy được cái mấu chốt của vấn đề này ở một trình thuật của Thánh Ký Luca. Trong khi Chúa Giêsu đang hành trình thì có 10 người phong cùi tiến đến van xin Người rằng: "Lạy Thày Giêsu, xin thương đến chúng tôi!" (17:13). Chúng ta biết rằng những ai bị phong cùi thì không phải chỉ chịu đựng về thể lý mà thôi, còn bị loại trừ về phương diện xã hội và tôn giáo nữa. Họ bị tẩy chay. Chúa Giêsu đã không tỏ ra tránh lánh việc gặp gỡ họ. Đôi khi Người vượt lên trên những thứ giới hạn theo áp đặt của lề luật, và đã chạm đến, ôm lấy và chữa lành bệnh nhân - những hành động đáng lẽ không được làm. Trong trường hợp này thì không hề có giao chạm. Từ một khoảng cách, Chúa Giêsu đã mời gọi họ đi trình diện cho các vị tư tế (v.14), những vị được lề luật chỉ định để chứng nhận tình trạng được chữa lành đã xẩy ra. Ngoài ra Chúa Giêsu không còn nói gì nữa. Người đã lắng nghe lời nguyện cầu của họ, Người đã nghe thấy tiếng kêu xin thương xót của họ, và Ngài đã lập tức bảo họ đến với các vị tư tế.

Mười người bị phong cùi này đã tin tưởng, họ không cứ ở lại đó cho đến khi họ được chữa lành, không: họ đã tin tưởng và liền đi ngay, để rồi trong khi họ đang đi đường thì họ được chữa lành, tất cả 10 người trong họ. Bởi thế, các vị tư tế đã có thể chứng thực tình trạng được chữa lành của họ, và cho phép họ được trở về với cuộc sống bình thường như trước. Thế nhưng, vấn đề quan trọng xẩy ra ở ngay chỗ này, đó là chỉ có một người trong nhóm của họ, trước khi đến với các vị tư tế thì đã quay trở lại để tạ ơn Chúa Giêsu và chúc tụng Thiên Chúa về ơn ban. Chỉ duy có một người, còn chín người kia tiếp tục tiến bước. Chúa Giêsu cho biết đó là một người Samaritano, loại người "lạc đạo" đối với người Do Thái thời bấy giờ. Chúa Giêsu nhận định về những người kia như thế này "không có một ai trong họ trở lại chúc tụng Thiên Chúa, ngoại trừ con người ngoại lai này?" (17:18). Trình thuật này thật tác động.

Có thể nói trình thuật này phân chia thế giới ra làm đôi: những ai không biết ơn và những người biết ơn; những người nhận được hết mọi sự như thể nó là của họ, và những ai đón nhận hết mọi sự như là ơn ban, là ân sủng. Sách Giáo Lý dạy rằng: "hết mọi biến cố và nhu cầu đều có thể trở thành lời hiến dâng tạ ơn" (n. 2638). Cầu nguyện tạ ơn bao giờ cũng được khởi đi từ chỗ ấy, từ chỗ nhận thức rằng ân sủng đi trước chúng ta. Chúng ta đã được nghĩ đến trước khi chúng ta biết suy nghĩ; chúng ta được yêu thương trước khi biết yêu thương; chúng ta được mong muốn trước khi lòng chúng ta biết ước muốn. Nếu chúng ta biết nhìn cuộc sống như thế thì "việc tạ ơn" trở thành một lực đẩy của ngày sống chúng ta. Biết bao lần chúng ta thậm chí quên cả ngỏ lời "cám ơn".

Đối với Kitô hữu chúng ta thì tạ ơn là danh xưng được gán cho Bí Tích chính yếu nhất đó là Thánh Thể. Thật vậy, tiếng Hy Lạp này chính là tạ ơn, eucharist: tạ ơn. Kitô hữu, cũng như tất cả mọi tín hữu, đều chúc tụng Thiên Chúa về tặng ân sự sống. Việc sống trên hết là việc đã lãnh nhận. Việc sống trên hết là việc đã lãnh nhận: đã nhận được sự sống! Tất cả chúng ta được sinh ra là vì ai đó muốn chúng ta có sự sống. Đó mới chỉ là điều đầu tiên trong một chuỗi dài về các thứ nợ nần chúng ta gánh chịu trong đời. Những thứ nợ nần của lòng biết ơn. Trong đời sống của chúng ta, không phải chỉ có một người nhìn đến chúng ta một cách nhưng không, bằng ánh mặt tinh tuyền. Bình thường những con người ấy là những thày cô, giáo lý viên, những con người thực hiện vai trò của họ vượt lên trên và vượt ra ngoài những gì đòi hỏi họ làm. Họ gợi lên lòng biết ơn nơi chúng ta. Ngay cả tình bạn hữu cũng là một tặng ân, những gì chúng ta luôn cần phải tạ ơn.

Lời "cám ơn" mà chúng ta cần phải liên tục nói này, những lời cám ơn mà Kitô hữu chia sẻ với hết mọi người ấy, được gia tăng trong việc gặp gỡ Chúa Giêsu. Các Phúc Âm đều chứng thực rằng Khi Chúa Giêsu băng ngang qua, thì Ngưòi thường hay khơi lên niềm vui và lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa nơi những ai Người gặp. Các trình thuật Phúc Âm đầy những con người cầu nguyện đã được mạnh mẽ chạm tới, bởi Đấng Cứu Thế đến với họ. Cả chúng ta cũng được kêu gọi để tham dự vào niềm hân hoan bao la ấy. Câu chuyện về 10 người phong cùi được chữa lành cũng gợi lên như thế. Tất nhiên, tất cả 10 người trong họ đều sung sướng vì bệnh nạn của họ đã được chữa lành, giúp họ có thể chấm dứt thứ phong tỏa bó buộc khôn cùng tình trạng họ bị loại trừ ra khỏi cộng đồng. Thế nhưng, trong số họ, có một người đã cảm thấy một niềm vui hơn nữa, đó là ngoài niềm vui được chữa lành còn niềm vui được gặp gỡ Chúa Giêsu nữa. Anh ta không chỉ được giải phóng khỏi sự dữ, mà bấy giờ còn có được niềm tin tưởng rằng mình được yêu thương. Đó là cái then chốt, ở chỗ, khi anh chị em cám ơn ai đó, tạ ơn, là anh chị em bày tỏ niềm tin tưởng rằng anh chị em được yêu thương. Đó là một bước tiếng cả thể ở chỗ có được niềm tin tưởng rằng anh chị em được yêu thương. Đó là việc khám phá về tình yêu thương như là một thứ năng lực chi phối thế giới này - như Dante đã nói: Tình Yêu là những gì "khiến mặt trời cùng các tinh tú xoay vần" (Paradise, XXXIII, 145). Chúng ta không còn là thành phần lang thang bất định đây đó nữa, không, chúng ta có nhà ở, chúng ta cư ngụ nơi Chúa Kitô, để rồi từ "nơi cư trú" đó, chúng ta chiêm ngắm phần còn lại của thế giới đang hiện lên càng vô cùng mỹ miều trước mắt chúng ta. Chúng ta là thành phần con cái của tình yêu thương, chúng ta là anh chị em của tình yêu thương. Chúng ta là những con người nam nữ biết tạ ơn.

Thế nên, thưa anh chị em, chúng ta hãy tìm cách để luôn lưu ngụ nơi niềm vui được gặp gỡ Chúa Giêsu. Chúng ta hãy vun trồng niềm hân hoan vui vẻ. Ma quỉ, ngược lại, sau khi đã lừa đảo chúng ta - bằng bất cứ chước cám dỗ nào - bao giờ cũng lưu lại trong chúng ta những gì là buồm thảm và lẻ loi cô độc. Nếu chúng ta ở trong Chúa Kitô, thì không có vấn đề tội lỗi hay đe dọa nào có thể từng ngăn cản chúng ta tiếp tục hân hoan hành trình, cùng với nhiều đồng bạn hành trình khác.

Trên hết đó là chúng ta đừng quên tạ ơn: nếu chúng ta là những con người ấp ủ sống lòng tri ân thì chính thế giới này sẽ trở nên tốt đẹp hơn, cho dù chỉ một chút xíu, thế nhưng cũng đủ để truyền đạt một chút niềm hy vọng. Thế giới này cần đến niềm hy vọng. Với lòng tri ân, bằng thói quen nói lời cám ơn, chúng ta truyền đạt một chút niềm hy vọng. Hết mọi sự đều liên kết với nhau và hết mọi sự đều liên hệ với nhau, và ai cũng cần phải làm những gì có thể nơi bản thân mình. Đường lối dẫn đến hạnh phúc là con đường được Thánh Phaolô diễn tả ở cuối các bức thư của ngài, đó là "Hãy liên lỉ cầu nguyện, hãy tạ ơn trong hết mọi hoàn cảnh; vì đó là ý muốn của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô đối với anh em. Đừng dập tắt Thần Linh" (1Thes 5:17-19). Đừng dập tắt Thần Linh, một dự phóng tuyệt vời biết bao của đời sống! Đừng dập tắt Thần Linh là Đấng ở trong chúng ta, dẫn chúng ta đến chỗ tri ân cảm tạ. Xin cám ơn anh chị em. 

http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20201230_udienza-generale.html

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 19 Cầu Nguyện Chuyển Cầu
Thứ Tư 16 tháng 12 năm 2020
  

Xin chào anh chị em thân mến,

Những ai cầu nguyện thì không bao giờ lãng quên thế giới này. Nếu cầu nguyện mà không bao gồm cả niềm vui nỗi buồn, hy vọng và lo âu của nhân loại, thì nó trở thành một hoạt động "trang trí", một cách thức tác hành nông nổi, kịch cỡm và hiu quạnh. Tất cả chúng ta đều cần đến tính chất nội tâm, ở chỗ thu mình vào một không gian và thời gian giành riêng cho mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Thế nhưng, điều này không có nghĩa là chúng ta tránh né thực tại. Trong nguyện cầu, Thiên Chúa "nhận lấy chúng ta, chúc phúc cho chúng ta, đoạn bẻ chúng ta ra và trao ban chúng ta đi", để làm cho cơn đói khổ của hết mọi người được no thỏa. Hết mọi Kitô hữu được kêu gọi để trở nên tấm bánh trong bàn tay của Thiên Chúa, được bẻ ra và chia sẻ. Tức nó là một thứ cầu nguyện cụ thể, chứ không phải là một thứ thoát ly.

Bởi vậy, những con người nam nữ cầu nguyện tìm kiếm những nơi cô tịch và lặng lẽ không phải để khỏi bị phiền toái, mà là để nghe tiếng của Chúa tốt hơn. Đôi khi họ hoàn toàn thu mình cho khỏi thế gian, kín đáo trong phòng riêng của mình, như Chúa Giêsu khuyên dạy (Mt.6:6). Thế nhưng, bất cứ ở đâu, bao giờ họ cũng mở rộng cửa lòng của họ ra: mở cửa cho những ai không biết cầu nguyện; cho những ai không cầu nguyện gì hết nhưng lại ấp ủ trong lòng một tiếng kêu ngột ngạt, một thỉnh nguyện thầm kín; cho những ai lầm lỡ và lầm đường lạc lối... Bất cứ ai gõ cửa của con người cầu nguyện đều thấy được một cõi lòng thương cảm không loại trừ một ai. Cầu nguyện xuất phát từ cõi lòng của chúng ta cũng như từ tiếng nói của chúng ta, đồng thời cũng là cõi lòng và tiếng nói thay cho rất nhiều người không biết phải cầu nguyện ra sao, hay những ai không muốn cầu nguyện, hay những kẻ không thể cầu nguyện: chúng ta là cõi lòng và là tiếng nói của những con người ấy, dâng lên Chúa Giêsu, dâng lên Chúa Cha, như là thành phần cầu thay nguyện giúp vậy.

Ở nơi cô tịch quạnh hiu của những ai nguyện cầu, dù cảnh tịch hiu này có lâu dài, hay chỉ nửa tiếng đồng hồ, để cầu nguyện, thì họ tách mình khỏi hết mọi sự và mọi người là để tìm gặp hết mọi sự và hết mọi người trong Thiên Chúa. Những con người ấy cầu nguyện cho toàn thế giới, ôm lấy những sầu thương và tội lỗi của thế giới trên đôi vai của mình. Họ cầu nguyện cho mỗi người và mọi người: họ giống như những "antennas" (tiếng Việt phiên âm là ăng-ten, nghĩa là trạm bắt sóng) của Thiên Chúa trên thế giới nàyNgười cầu nguyện nhìn thấy dung nhan của Chúa Kitô nơi hết mọi người đến gõ cửa lòng mình, nơi hết mọi người đã bị mất đi ý nghĩa của các sự vật. Trong Sách Giáo Lý chúng ta đọc thấy rằng: "việc chuyển cầu - kêu xin thay người khác (...) mang đặc tính của một tâm can cùng tần số với lòng thương xót Chúa". Thật là tuyệt vời. Khi cầu nguyện là chúng ta có cùng tần số với lòng thương xót Chúa; ở chỗ thương xót tội lỗi của chúng ta, thương xót bản thân của chúng ta, nhưng cũng thương xót tất cả những ai xin chúng ta cầu nguyện, những ai chúng ta muốn cầu nguyện theo tần số của cõi lòng Thiên Chúa.

Đó thực sự là cầu nguyện, ở chỗ có cùng tần số với lòng thương xót Chúa, với cõi lòng từ bi nhân hậu của Ngài. "Trong thời đại của Giáo Hội, việc chuyển cầu của Kitô hữu là những gì tham dự vào việc chuyển cầu của Chúa Giêsu, như là một thể hiện mầu nhiệm các thánh cùng thông công" (Giáo Lý số 2635). Vấn đề tham dự vào việc chuyển cầu của Chúa Kitô nghĩa là gì? Khi chúng ta chuyển cầu cho ai hay cầu nguyện cho người nào đó là bởi vì Chúa Kitô là Đấng Cầu Bầu ở trước Chúa Cha, Người cầu cho chúng ta, Người cầu nguyện bằng cách tỏ cho Chúa Cha thấy các thương tích nơi tay của Người, vì Chúa Giêsu hiện diện một cách thể lý trước Chúa Cha nơi thân xác của Người. Chúa Giêsu là Đấng Cầu Bầu của chúng ta và việc cầu nguyện cần phải giống như Chúa Giêsu một chút, ở chỗ chuyển cầu trong Chúa Giêsu trước Chúa Cha, cho những người khác. Đó là những gì rất đẹp đẽ.

Tâm can con người hướng về cầu nguyện. Nó là những gì thuần con người. Những ai không yêu thương anh chị em mình thì chẳng biết thế nào là nghiêm chỉnh cầu nguyện. Có người nói rằng: người ta không thể cầu nguyện khi ngập ứ hận thù ghen ghét; người ta không thể cầu nguyện khi chìm sâu vào tâm trạng lạnh lùng lãnh đạm. Lời cầu nguyện chỉ được dâng lên bằng tinh thần yêu thương. Những ai không yêu thương thì chỉ giả bộ nguyện cầu vậy thôi, họ tin rằng họ đang cầu nguyện, nhưng họ lại chẳng cầu nguyện gì vì thiếu mất thứ tinh thần thích đáng đó là tình yêu thương. Trong Giáo Hội, những ai quen với nỗi sầu thương và niềm vui của người khác thì còn đào sâu hơn cả những viên điều tra "các guống máy chính yếu" trên thế giới này. Chính vì thế mới cần có cảm nghiệm nhân loại ở nơi hết mọi lời cầu nguyện, bất chấp lỗi lầm vấp phạm của con người, những con người lầm lỡ vẫn không được loại trừ hay tẩy chay.  

Khi các tín hữu, được Thánh Linh tác động, cầu cho các tội nhân, thì không có vấn đề chọn lựa, không còn vấn đề phán xét hay lên án nữa, mà là việc họ cầu nguyện cho hết mọi người. Họ cầu nguyện cho chính bản thân họ. Lúc ây, họ ý thức rằng họ chẳng khác với những ai họ cầu nguyện cho. Họ nhận thức rằng họ là những tội nhân giữa các tội nhân, nên họ cầu cho hết mọi người. Bài học từ dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế bao giờ cũng còn đó và luôn có giá trị (see Lk 18:9-14): chúng ta không hơn bất cứ ai, chúng ta tất cả đều là anh chị em mang tính chất mỏng dòn, khổ đau và là tội nhân nói chung. Bởi thế, lời cầu nguyện chúng ta có thể thân thưa với Thiên Chúa là lời cầu như thế này: "Lạy Chúa, không ai là công chính trước nhan Ngài" (see Ps 143:2), đó là những gì được một trong những Thánh Vịnh nói: "Lạy Chúa, không ai là người sống công chính trước nhan Ngài, chẳng một ai trong chúng con: tất cả chúng con đều là tội nhân - tất cả chúng con đều mắc nợ, mỗi người đều có một món nợ kếch sù phải thanh toán; không ai là vô tội trước nhan Chúa. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con!" Với tinh thần này, cầu nguyện mới trổ sinh hoa trái, vì chúng ta hạ mình trước Thiên Chúa mà cầu cho hết mọi người. Trái lại, người biệt phái cầu nguyện một cách ngạo mạn: "Tôi tạ ơn Ngài, lạy Chúa, vì tôi không như kẻ khác, những kẻ tội lỗi: tôi là một con người công chính, luôn luôn là như thế...". Đó không phải là cầu nguyện: mà là ngắm mình trong gương soi, chứ không nhìn vào thực tại của mình, không. Nó như thể nhìn vào bản thân mình được trang điểm trong gương soi theo cái kiêu hãnh của mình.

Thế giới tiếp tục tri ân cảm tạ những con người cầu nguyện, thành phần chuyển cầu, và là những người hầu như chẳng được biết tới... thế nhưng lại được Thiên Chúa biết! Có nhiều Kitô hữu vô danh, vào những thời bách hại, đã lập lại những lời của Chúa là: "Lạy Cha, xin tha cho họ; vì họ không biết những việc họ làm" (Luca 23:34).

Vị Mục Tử Nhân Lành vẫn trung thành, ngay cả trước khi dân Ngài nhận thức được tội lỗi của họ, ở chỗ, Vị Mục Tử Nhân Lành này tiếp tục là một Người Cha, bất kể cả khi con cái của Ngài lìa xa Ngài và ruồng bỏ Ngài. Ngài kiên trì phục vụ như một vị mục tử, ngay cả với những ai đã vấy máu Ngài; Ngài không khép kín lòng mình lại trước cả những ai đã hành khổ Ngài.

Giáo Hội, nơi tất cả mọi phần tử của mình, có sứ vụ thực hiện việc cầu nguyện chuyển cầu này, ở chỗ chuyển cầu cho những người khác. Đặc biệt là đối với những ai có trách nhiệm như cha mẹ, thày cô, các vị thừa tác viên thánh chức, các vị bề trên của các cộng đồng... Như Abraham và Moisen, có những lúc họ cần phải "bênh vực" thành phần dân được trao phó cho họ trước Thiên Chúa. Thực vậy, chúng ta đang nói về việc bảo vệ bao che dân, bằng ánh mắt và cõi lòng của Thiên Chúa, bằng cùng một lòng cảm thương và niềm êm ái dịu dàng bất khả chống cưỡng của Ngài. Hãy dịu dàng cầu nguyện cho những người khác.

Hỡi anh chị em, tất cả chúng ta là những chiếc lá ở trên cùng một cây: mỗi một chiếc lá rụng xuống đều nhắc nhở chúng ta về lòng thương cao cả cần phải được nuôi dưỡng bằng nguyện cầu cho kẻ khác. Vậy chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Nó sẽ mang lại thiện ích cho cả chúng ta lẫn cho hết mọi người. Xin cám ơn anh chị em.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 18: Cầu Nguyện Thỉnh Xin
9 tháng 12 năm 2020  

Xin chào anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy tiếp tục chia sẻ về cầu nguyện. Việc cầu nguyện của Kitô giáo hoàn toàn có tính cách nhân bản - chúng ta cầu nguyện như là loài người, như chúng ta là - nên nó bao gồm cả việc chúc tụng lẫn việc thỉnh xin. Thật vậy, Khi Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Người cầu nguyện, Người đã làm như thế với Kinh Lạy Cha, nhờ đó chúng ta có thể đặt mình vào mối liên hệ của lòng tin tưởng con cái với Thiên Chúa, và đặt tất cả vấn đề của chúng ta với Ngài. Chúng ta van xin Thiên Chúa ban cho chúng ta những tặng ân cao cả nhất, đó là danh Ngài được hiển thánh, nước Ngài trị đến, ý Ngài được thể hiện cho thiện ích của thế giới này. Sách Giáo Lý nhắc nhở là: "Những lời thỉnh xin này được sắp xếp theo cấp trật: trước hết chúng ta cầu cho Nước Chúa, sau đó cho những gì cần để đón nhận Nước Chúa và dọn đường cho Nước Chúa trị đến" (số 2632). Thế nhưng, nơi Kinh Lạy Cha, chúng ta cũng cầu xin cho được cả những tặng ân tầm thương nhất, những tặng ân tầm thường nhất hằng ngày, như "lương thực hằng ngày" - cũng ám chỉ cả về sức khỏe, nhà ở, việc làm, các thứ hằng ngày; đồng thời bao gồm cả Thánh Thể, cần cho đời sống trong Chúa Kitô; rồi chúng ta cầu xin ơn tha thứ tội lỗi - cũng là vấn đề hằng ngày nữa; chúng ta bao giờ cũng cần ơn tha thứ - và vì thế được bình an trong các mối liên hệ của chúng ta; và sau hết, xin Ngài giúp chúng ta đương đầu với chước cám dỗ và cứu chúng ta khỏi sự dữ.

Kêu xin, thỉnh cầu. Đó là những gì rất người. Chúng ta hãy lắng nghe Sách Giáo Lý một lần nữa: "Bằng việc cầu nguyện thỉnh xin, chúng ta bày tỏ nhận thức của chúng ta về mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa. Chúng ta là những tạo vật, không tự mình mà có, không làm chủ được nghịch cảnh, không phải là cùng đích của mình. Chúng ta là những tội nhân, thành phần, là Kitô hữu, đều biết rằng chúng ta đã lìa bỏ Cha của chúng ta. Việc thỉnh xin của chúng ta đã là một sự quay trở về cùng Ngài rồi vậy" (số 2629).

Nếu ai đó cảm thấy tồi bại vì chúng ta đã làm những điều xấu xa - họ là một tội nhân - khi cầu Kinh Lạy Cha, thì người ấy đang tiến đến với Chúa rồi vậy. Có những lúc chúng ta có thể tin rằng chúng ta không cần bất cứ một sự gì, rằng chúng ta đầy đủ cho bản thân mình rồi, và chúng ta sống hoàn toàn tự mãn. Có những lúc điều ấy xẩy ra! Thế nhưng, không sớm thì muộn cái ảo tưởng này sẽ biến mất. Loài người là một lời khẩn cầu, có những lúc là một tiếng kêu, thường bị cầm hãm. Linh hồn giống như một mảnh đất khô cằn, nứt nẻ, như Thánh Vịnh 63:2 nói đến. Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm thấy, lúc này hay lúc kia trong cuộc sống của mình, có lúc ưu sầu, có lúc cô độc. Thánh Kinh không ngần ngại tỏ ra cho thấy thân phận loài người của chúng ta, một thân phận được hằn vết bệnh tật, bất công, bội phản tình thân, hay bị kẻ thù đe dọa. Có những lúc mọi sự dường như sụp đổ, cuộc sống cho tới lúc ấy như vô nghĩa. Và trong các trường hợp ấy, khi mà mọi sự dường như tan rã, chỉ còn một lối thoát duy nhất là kêu vang, là cầu nguyện "Lạy Chúa, xin cứu giúp con!" Cầu nguyện có thể mở ra một lằn ánh sáng trong màn tối tăm đen đặc nhất. "Lạy Chúa, xin cứu giúp con!" Lời cầu này mở ra, nó mở ra đường đi, nó mở ra lối bước.

Loài người chúng ta chia sẻ lời kêu cầu cứu giúp này với chung thiên nhiên vạn vật. Chúng ta không phải là những tạo vật duy nhất "cầu nguyện" trong vũ trụ bất tận này, vì hết mọi chi ngành tạo vật đều ôm ấp ước vọng Thiên Chúa. Chính Thánh Phaolô đã diễn tả nó như thế này. Ngài nói là: "Chúng ta biết rằng toàn thể tạo vật đang cùng nhau quằn quại cho tới lúc này; không phải chỉ tạo vật mà cả chính chúng ta nữa, thành phần đã lãnh nhận các hoa trái đầu mùa của Thần Linh, cũng đang rên xiết trong lòng" (Rm 8:22-24). Đó là những gì tốt lành. Nơi chúng ta âm vang tiếng kêu đồng thanh của các tạo vật: của cây cối, của sỏi đá, của thú vật. Hết mọi sự đều mong ngóng được viên trọn. Tertullian đã viết: "Hết mọi tạo vật đều cầu nguyện; gia súc cũng như dã thú cầu nguyện và quì gối xuống; và khi chúng vang lên từ những đầm lầy và các hang ổ, thì chúng nhìn lên trời bằng cái miệng không vu vơ, khi làm cho hơi thở của chúng rung đập theo cách thức của chúng. Cả loài chim chóc nữa, ra khỏi tổ, hướng về trời, thay vì đôi tay, thì giang ra đôi cánh của chúng, như thể cầu nguyện một cách nào đó" (De oratione, XXIX). Đó là một cách diễn tả thi ca khi nhận định về những gì Thánh Phaolô nói là "toàn thể tạo vật vẫn hằng rên xiết". Thế nhưng, chúng ta là những tạo vật duy nhất cầu nguyện một cách ý thức, biết rằng chúng ta đang thân thưa cùng Chúa Cha, và đang tham dự vào cuộc trao đổi với Chúa Cha.

Bởi thế, chúng ta không được rùng mình khi chúng ta cảm thấy có nhu cầu cần phải cầu nguyện, chúng ta không được hổ thẹn. Nhất là khi chúng ta đang cần thì hãy kêu xin. Chúa Giêsu, khi nói về một con người bất lương, kẻ thanh toán sổ sách với chủ của mình, thì nói đến điều này: "Ăn xin thì hổ thẹn". Nhiều người trong chúng ta có cái cảm giác này: chúng ta cảm thấy thẹn thùng khi cầu xin, xin cứu giúp, cả việc kêu xin một điều gì đó từ người có thể giúp chúng ta, đạt đến mục đích của chúng ta, và chúng ta cũng xấu hổ kêu xin Thiên Chúa nữa. "Không, không thể như thế được". Đừng thẹn thuồng khi kêu xin. "Lạy Chúa, con cần điều này", "Lạy Chúa, con đang gặp khó khăn", "Xin giúp con!": tiếng kêu, tiếng kêu của cõi lòng dâng lên Thiên Chúa là Cha. Và cũng kêu xin vào cả những lúc may lành hạnh phúc nữa, không phải chỉ vào những lúc bất hạnh, mà còn cả những lúc vui sướng, trong việc cảm tạ Thiên Chúa về tất cả mọi sự chúng ta lãnh nhận, chứ đừng lãnh nhận bất cứ sự gì như sung rụng, hay như thể nó thuộc về chúng ta: mọi sự đều là hồng ân. Chúng ta cần phải biết điều ấy. Chúa luôn trao ban cho chúng ta, bao giờ cũng thế, và hết mọi sự đều là hồng phúc, tất cả mọi sự. Hồng ân của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta không được dập tắt lời thỉnh nguyện đột nhiên xuất phát trong chúng ta. Việc cầu nguyện thỉnh xin đi đôi với việc chấp nhận cái hạn hữu của chúng ta và bản tính là tạo vật của chúng ta. Người ta có thể không đạt đến chỗ tin tưởng vào Thiên Chúa, nhưng vẫn khó lòng mà không tin vào việc cầu nguyện: nó tự nhiên xẩy đến, nó xuất hiện với chúng ta như là một tiếng kêu; và tất cả chúng ta đều biết được cái tiếng nội tâm này có lẽ vẫn lặng lẽ đã lâu, nhưng một ngày nào đó bừng dậy và kêu lên.

Anh chị em ơi, chúng ta đều biết rằng Thiên Chúa sẽ đáp ứng. Không có lời cầu nguyện nào trong Thánh Vịnh xuất phát từ một nỗi than van mà không được lắng nghe. Thiên Chúa bao giờ cũng đáp ứng: có thể là hôm nay, ngày mai, nhưng Ngài luôn đáp ứng, bằng cách này hay cách khác. Ngài luôn đáp ứng. Thánh Kinh lập lại điều này vô số lần, đó là Thiên Chúa lắng nghe tiếng kêu của những ai kêu cầu Ngài. Ngay cả những vấn đề lưỡng lự, những vấn đề cứ ẩn sâu trong lòng của chúng ta, mà chúng ta thẹn thùng bày tỏ: Chúa Cha cũng lắng nghe chúng và muốn ban cho chúng ta Thánh Linh, Đấng khơi động hết mọi lời cầu nguyện và biến đổi hết mọi sự. Thưa anh chị em, khi nguyện cầu bao giờ cũng có vấn đề nhẫn nại, bao giờ cũng thế, vấn đề chịu đựng đợi chờ. Giờ đây chúng ta đang ở trong Mùa Vọng, một thời điểm có tính cách trông mong; trông mong Giáng Sinh. Chúng ta đang đợi chờ. Đó là điều rõ ràng. Thế nhưng tất cả cuộc sống của chúng ta cũng đợi chờ nữa. Cầu nguyện bao giờ cũng có tính cách mong đợi, vì chúng ta biết rằng Chúa sẽ đáp ứng. Ngay cả tử thần cũng rùng mình khi Kitô hữu nguyện cầu, vì nó biết rằng hết mọi người cầu nguyện có một đồng minh còn mãnh liệt hơn cả nó nữa, đó là Vị Chúa Phục Sinh. Tử thần đã bị thảm bại nơi Chúa Kitô rồi, và ngày ấy sẽ đến khi mà tất cả mọi sự sẽ chấm dứt, và nó không còn khinh miệt sự sống của chúng ta cũng như hạnh phúc của chúng ta nữa.

Chúng ta hãy biết chờ đợi; biết trông mong Chúa. Chúa đến viếng thăm chúng ta, chẳng những vào những đại lễ này - Giáng Sinh, Phục Sinh - mà Chúa còn viếng thăm chúng ta mọi ngày, trong mối thân mật của lòng chúng ta nếu chúng ta biết chờ đợi. Chúng ta rất thường không nhận ra rằng Chúa đang cận kề, Ngài đang gõ cửa của chúng ta, và chúng ta để cho Ngài băng ngang qua chúng ta. Thế nhưng, nếu tai của anh chị em đầy những tiếng ồn khác thì anh chị em sẽ không còn nghe thấy tiếng Chúa gọi nữa.

Anh chị em ơi, hãy đợi chờ: đó là cầu nguyện. Xin cám ơn anh chị em.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 17 Cầu Nguyện - Chúc Phúc Chúc Tụng

2 tháng 12 năm 2020

 

Xin chào anh chị em thân mến, 

Hôm nay, chúng ta sẽ chia sẻ với nhau về một chiều kích thiết yếu của cầu nguyện, đó làchiều kích chúc tụng. Chúng ta đang chia sẻ về việc cầu nguyện. Trong các trình thuật về việc tạo dựng (see Gn 1-2), Thiên Chúa liên tục chúc phúc cho sự sống, bao giờ cũng thế. Ngài chúc lành cho loài vật (1:22), Ngài chúc lành cho con người nam nữ (1:28), sau cùng, Ngài chúc lành cho Ngày Hưu Lễ, ngày nghỉ ngơi và niềm hoan hưởng của tất cả thiên nhiên tạo vật (2:3). Chính Thiên Chúa là Đấng chúc phúc lành. Ở những trang đầu tiên của Thánh Kinh, đã liên tục diễn ra các thứ phúc lành. Thiên Chúa chúc phúc, còn con người thì chúc tụng, và họ cũng sớm khám phá ra rằng phúc lành có được một quyền lực đặc biệt để hỗ trợ người nhận được nó suốt cả cuộc đời sống của họ, và giúp cho cõi lòng của con người này có thể được Thiên Chúa biến đổi (see Second Vatican Council Const. Sacrosanctum Concilium, 61).

Bởi thế, vào lúc mở màn cho thế giới này, đã có một Vị Thiên Chúa "benedire - chúc phúc". Ngài thấy rằng hết mọi việc Ngài làm đều tốt lành và đẹp đẽ, và khi Ngài dựng nên con người, cũng như khi Ngài hoàn tất việc tạo dựng, Ngài thấy rằng chúng "rất ư là tốt đẹp" (2:310. Sau đó ít lâu, vẻ đẹp Thiên Chúa in ấn nơi công cuộc của Ngài sẽ bị thay đổi, và loài người sẽ trở thành một loài tạo vật thoái hóa, có khả năng gieo rắc sự dữ và chết chóc trên thế giới này; thế nhưng không gì có thể xóa bỏ được dấu vết thiện hảo nguyên thủy được Thiên Chúa cài đặt trên thế giới ấy, nơi bản tính của con người, nơi tất cả chúng ta, đó là khả năng chúc tụng và được chúc phúc. Thiên Chúa đã không lầm khi tạo dựng nên thiên nhiên vạn vật hay dựng nên con người. Niềm hy vọng của thế giới này hoàn toàn ở nơi phúc lành của Thiên Chúa. Ngài tiếp tục volere bene - mong chúng ta tốt lành, Ngài là vị đều tiên tiếp tục hy vọng những gì là tốt lành cho chúng ta, như thi sĩ Péguy đã nói (The Portico of the Mystery of the Second Virtue; first edition, Le porche du mystère de la deuxième vertu, published in 1911).

Phúc lành vĩ đại nhất của Thiên Chúa đó là Đức Giêsu Kitô; Con của Ngài là phúc lành trọng đại nhất. Người là một phúc lành cho toàn thể nhân loại, Người là chính phúc lành đã cứu độ tất cả chúng ta. Người là Lời hằng hữu mà Chúa Cha đã chúc lành cho chúng ta "trong khi chúng ta còn là những tội nhân" (Rm 5:8) như Thánh Phaolô đã nói, là Lời đã hóa thành nhục thể và đã hiến mình cho chúng ta trên cây thập tự giá.

Thánh Phaolô cảm kích loan báo về dự án yêu thương của Thiên Chúa. Ngài đã nói như thế này: "Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Trong Đức Ki-tô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu" (Eph 1:3-6). Không có một tội nào có thể hoàn toàn xóa bỏ hình ảnh của Chúa Kitô hiện diện nơi mỗi một người chúng ta. Không có một tội nào có thể xóa bỏ hình ảnh Thiên Chúa đã ban cho chúng ta - hình ảnh Chúa Kitô. Tội lỗi có thể làm cho hình ảnh này bị nhòe nhoẹt nhưng vẫn không thể nào xóa bỏ nó khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa. Một tội nhân có thể cứ tiếp tục lầm lỗi qua một thời gian dài, thế nhưng Thiên Chúa vẫn nhẫn nại cho đến cùng, hy vọng rằng cõi lòng của tội nhân ấy dần dần sẽ trở nên cởi mở và đổi thay. Thiên Chúa giống như một người cha nhân lành, Ngài là một Người Cha, và như một người mẹ tốt lành, Ngài cũng là một người mẹ tốt lành nữa: họ không bao giờ thôi yêu thương con cái của họ, bất kể chúng có sai trái ra sao chăng nữa, bao giờ cũng thế. Điều mà nhiều lần tôi đã nghĩ đến đó là tôi đã nhìn thấy người ta sắp hàng tiến vào một nhà tù, biết bao nhiêu là bà mẹ xếp hàng ở đó trông thấy đứa con bị ngục tù của mình. Họ không thôi yêu thương đứa con của họ, và họ cũng đồng thời biết rằng dân chúng trên chuyến xe buýt đang băng ngang qua đó nghĩ rằng: "Ồ đó là người mẹ của một tù nhân..." Họ không cảm thấy ngượng ngùng về điều ấy. Đúng thế, họ cảm thấy ngượng ngùng nhưng họ cứ mặc kệ. Đứa con của họ còn quan trọng hơn là cái ngượng ngùng của họ, cũng thế, chúng ta quan trọng trước nhan Thiên Chúa hơn tất cả tội lỗi chúng ta có thể đã vấp phạm. Vì Ngài là một Người Cha, Ngài là một Người Mẹ, Ngài là tình yêu tinh tuyền, Ngài đã muôn đời chúc phúc cho chúng ta. Ngài sẽ không bao giờ thôi chúc lành cho chúng ta.

Thật là một cảm nghiệm tuyệt vời biết bao khi đọc những bản văn thánh kinh về phúc lành này trong một nhà tù, hay trong một nhóm phục hồi. Hãy giúp cho những con người ấy nghe thấy rằng họ vẫn được chúc phúc, bất chấp những lỗi lầm trầm trọng của họ, rằng Cha trên trời tiếp tục mong muốn họ được tốt lành, và hy vọng rằng họ cuối cùng sẽ mở lòng mình ra cho sự thiện. Cho dù những thân nhân gần gũi nhất của họ đã bỏ rơi họ - nhiều người đã loại bỏ họ, những con người ấy không giống các bà mẹ đợi chờ trong đời để nhìn thấy họ, họ chẳng lại là những gì quan trọng, những con người ấy đã bỏ rơi họ - những người này đã bỏ rơi họ, vì bấy giờ những con người ấy cho họ là thành phần bất khả cứu vãn, thì họ vẫn là con cái của Thiên Chúa. Thiên Chúa không thể xóa bỏ nơi chúng ta hình ảnh của ngững người con trai con gái, mỗi người trong chúng ta là hình ảnh con trái của Ngài, con gái của Ngài. Có những lúc chúng ta thấy được những phép lạ xẩy ra, đó là những con người nam nữ được tái sinh, vì họ tìm thấy được phúc lành đã xức dầu cho họ để họ trở thành những người con cái. Vì ân sủng của Thiên Chúa làm thay đổi cuộc sống: Ngài chấp nhận chúng ta như chúng ta là, thế nhưng Ngài sẽ chẳng bao giờ cứ để chúng ta như chúng ta là như vậy.

Chúng ta hãy nghĩ về những gì Chúa Giêsu đã làm cho Giakêu (see Lk 19:1-10) chẳng hạn. Hết mọi người đều thấy những gì là xấu xa nơi chàng; trái lại, Chúa Giêsu đã thấy được một le lói tốt lành, và từ đó - từ sự tò mò của chàng muốn nhìn thấy Người ấy - Người đã để cho lòng thương xót cứu độ lọt vào cái khe le lói ấy. Do đó mà cõi lòng của chàng Giakêu này đã được đổi thay trước hết, rồi tới đời sống của chàng. Chúa Giêsu thấy được phúc lành bất khả xóa mờ của Chúa Cha nơi con người bị loại trừ và bị bài bác này. Chàng ta là một tội nhân trước công chúng, đã làm rất nhiều điều ghê tởm, thế nhưng Chúa Giêsu đã thấy được cái dấu bất khả xóa mờ nơi phúc lành của Cha Người, và vì thế mà Người đã cảm thương. "Người động lòng thương" là cụm từ thường được lập lại trong Phúc Âm, và lòng thương cảm này thúc đẩy Người giúp đáp chàng và thay đổi cõi lòng của chàng. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu đã đi đến chỗ đồng hóa bản thân Người với hết mọi người thiếu thốn cần giúp đỡ (cf Mt 25:31-46). Trong đoạn về tiêu chuẩn cuối cùng mà tất cả chúng ta sẽ bị phán xét, ở Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 25, Chúa Giêsu đã phán rằng: "Ta đã ở đó, Ta đã đói khổ, Ta đã trần trụi, Ta đã ngục tù, Ta đã bệnh nạn, Ta đã ở đó".

Cả chúng ta nữa cũng phải đáp lại vị Thiên Chúa chúc phúc, bằng việc chúc tụng - Thiên Chúa đã dạy chúng ta chúc tụng ra sao và chúng ta cần phải chúc tụng - bằng việc nguyện cầu chúc tụng, tôn thờ và cảm tạ. Sách Giáo Lý viết: "Việc cầu nguyện chúc tụng là việc con người đáp ứng các tặng ân của Thiên Chúa: vì Thiên Chúa chúc phúc, nên về phần mình, lòng con người có thể chúc tụng Đấng là nguồn mạch của mọi phúc lành" (n. 2626). Cầu nguyện là niềm vui và niềm tạ ơn. Thiên Chúa không đợi chờ chúng ta hoán cải bản thân mình mới bắt đầu yêu thương chúng ta, nhưng Người đã yêu thương chúng ta từ lâu trước, khi chúng ta vẫn còn sống trong tội lỗi.

Chúng ta chỉ còn biết chúc tụng vị Thiên Chúa đã chúc phúc cho chúng ta ấy; chúng ta cần phải chúc phúc hết mọi người trong Ngài, tất cả mọi người, trong việc chúc tụng Thiên Chúa và chúc lành cho anh chị em của chúng ta, chúc lành cho thế giới - và đó là căn cội của tấm lòng hiền lành Kitô hữu, của khả năng cảm nhận thấy mình được chúc phúc và khả năng chúc tụng. Nếu tất cả chúng ta đã làm như thế thì chắc chắn chẳng còn chiến tranh nữa. Thế giới này cần đến các phúc lành, và chúng ta cần cống hiến những lời chúc tụng và nhận lãnh những phúc lành. Chúa Cha yêu thương chúng ta. Điều còn lại duy nhất cho chúng ta đó là niềm vui được chúc tụng Ngài và niềm vui được cảm tạ Ngài, và niềm vui được theo gương Ngài, trong việc không biết nguyền rủa mà là chúc phúc. Đến đây, xin có lời nhắn với những ai có thói tật chửi thề, những người luôn sử dụng thứ ngôn từ xấu xa, chửi thề trên môi miệng của mình và trong lòng của mình. Mỗi người chúng ta thử nghĩ xem: Tôi có thói quen chửi thề như thế chăng? Rồi xin Chúa ơn thay đổi thói tật này, vì chúng ta có một tấm lòng được chúc phúc, thì những lời chửi thề không thể lại xuất phát từ một tấm lòng được chúc phúc. Xin Chúa dạy cho chúng ta biết đừng bao giờ chửi thề mà là chúc phúc. 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

Bài 16 Cầu Nguyện - Giáo Hội Sơ Khai

(25 tháng 11-2020)

Xin chào anh chị em thân mến,

Những bước đi đầu tiên của Giáo Hội trên thế giới này được điểm tô bằng việc nguyện cầu. Những bản văn của các vị tông đồ, cùng với trình thuật quan trọng nơi Sách Tông Vụ, cống hiến cho chúng ta hình ảnh về một Giáo Hội chủ động, một Giáo Hội tiến bước, nhưng lại là một Giáo Hội qui tụ lại nguyện cầu, cho thấy những gì là nền tảng và động lực cho hoạt động truyền giáo. Hình ảnh về Cộng Đồng Jerusalem thuở ban đầu là điểm qui chiếu cho hết mọi cảm nghiệm Kitô giáo khác. Thánh Luca đã viết ở trong Tông Vụ rằng: "Họ chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng" (2:42). Cộng đồng này đã kiên tâm cầu nguyện.

 Chúng ta thấy ở đấy 4 đặc tính thiết yếu của đời sống Giáo Hội: Thứ nhất là lắng nghe giáo huấn của các vị tông đồ; thứ hai là bảo toàn mối hiệp thông với nhau; thứ ba là bẻ bánh; và thứ bốn là cầu nguyện. Họ nhắc nhở chúng ta rằng việc hiện hữu của Giáo Hội chỉ có ý nghĩa khi Giáo Hội chặt chẽ liên kết với Chúa Kitô, tức là, liên kết với cộng đồng, với Lời Người, với Thánh Thể và với nguyện cầu - đường lối chúng ta liên kết bản thân chúng ta với Chúa Kitô. Việc giảng dạy và giáo lý là những gì làm chứng cho các lời nói và việc làm của Vị Sư Phụ; việc liên lỉ tìm cầu mối hiệp thông huynh đệ là những gì bảo vệ chúng ta khỏi vị kỷ và phân lập; việc bẻ bánh là những gì làm nên bí tích về sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta. Người sẽ không bao giờ vắng mặt - nhất là nơi Thánh Thể, Người ở đó. Người sống động và tiến bước với chúng ta. Sau hết, cầu nguyện là lúc giao tiếp với Chúa Cha, nơi Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần.

Hết tất cả mọi sự trong Giáo Hội phát triển ở ngoài "những thứ phối hợp này" đều không có nền tảng. Để nhận thức xem một trường hợp nào đó, chúng ta cần phải tự vấn về 4 thứ phối hợp này: trong trường hợp ấy như thế nào với bốn thứ phối hợp ấy - việc giảng dạy, việc liên lỉ tìm kiếm mối hiệp thông huynh đệ, tức bác ái yêu thương, việc bẻ bánh, tức đời sống Thánh Thể, và việc cầu nguyện. Bất cứ trường hợp nào cũng cần phải được thẩm định theo chiều hướng của những thứ phối hợp này. Bất cứ cái gì không thuộc về những thứ phối hợp ấy đều thiếu tính cách giáo hội, không phải là giáo hội.

Chính Thiên Chúa là Đấng đã thiết lập Giáo Hội, chứ không phải là những việc ồn ào ầm ỉ. Giáo Hội không phải là một cái chợ; Giáo Hội không phải là một nhóm người kinh doanh làm ăn đủ thứ. Giáo Hội là công cuộc của Thánh Linh, Đấng Chúa Giêsu đã sai đến với chúng ta để qui tụ chúng ta lại với nhau. Giáo Hội chính là công cuộc của Thần Linh nơi cộng đồng Kitô hũu, bằng đời sống của cộng đồng này, với Thánh Thể, trong nguyện cầu.... bao giờ cũng thế. Hết tất cả mọi sự mọc lên ở bên ngoài những thứ phối hợp ấy đều thiếu mất nền tảng, chẳng khác gì như nhà xây trên cát vậy (see Mt 7:24-27).

Chính Thiên Chúa là Đấng đã thiết lập Giáo Hội, chứ không phải là những việc ồn ào ầm ỉ. Lời của Chúa Giêsu mới là những gì làm cho các nỗ lực của chúng ta được trọn vẹn ý nghĩa. Chính bằng lòng khiêm tốn mà chúng ta xây dựng tương lai thế giới. Có những lúc tôi cảm thấy hết sức buồn khi thấy một cộng đồng thiện chí nhưng lại lạc lối, vì nghĩ rằng Giáo Hội được xây dựng bằng những cuộc gặp gỡ, như thể Giáo Hội là một đảng phái chính trị nào đó. "Nhưng, đa số, đa số, nghĩ sao về vấn đề này, vấn đề nọ... Đó là như thể một thứ Nghị Hội, thứ đường lối hội nghị chúng ta cần phải theo..." Tôi tự hỏi: "Thế thì Thánh Linh ở đâu? Cầu nguyện ở chỗ nào? Tình yêu thương cộng thông như thế nào? Thánh Thể ra sao?" Không có bốn thứ phối hợp ấy, Giáo Hội trở thành một thứ xã hội loài người, một đảng phái chính trị - đa số, đa số - các thứ thay đổi được thực hiện như thể Giáo Hội là một công ty, tùy theo đa số hay thiểu số...

Thế nhưng ở đó chẳng có Thánh Linh. Sự hiện diện của Thánh Linh thực sự được bảo đảm bởi bốn thứ phối hợp ấy. Để thẩm định xem một trường hợp có tính cách giáo hội hay phi giáo hội, chúng ta hãy tự vấn về bốn thứ phối hợp này: đời sống cộng đồng, cầu nguyện, Thánh Thể... xem đời sống có đang phát triển theo bốn thứ phối hợp này hay chăng. Nếu không thì cũng chẳng có Thánh Linh, mà nếu không có Thánh Linh thì chúng ta là một tổ chức mỹ miều, nhân bản, làm các việc lành, việc thiện, việc tốt... thậm chí là một đảng phái giáo hội, cứ nói như thế đi. Thế nhưng lại không phải là Giáo Hội.

Chính vì lý do này mà Giáo Hội không phát triển bằng những điều ấy: Giáo Hội không phát triển bằng dụ giáo, như bất cứ công ty nào, Giáo Hội phát triển bằng tính cách hấp dẫn. Và ai là người sẽ tạo nên những gì là hấp dẫn đây? Thánh Linh. Chúng ta đừng bao giờ quên lời của Đức Benedict XVI: "Giáo Hội không tăng tiến bằng việc dụ giáo mà bằng sức hấp dẫn". Nếu thiếu mất Thánh Linh, Đấng thu hút con người đến cùng Chúa Giêsu thì Giáo Hội không có ở đó. Có thể là một câu lạc bộ thân hữu tốt đẹp, tốt lành, đầy những thiện chí, thế nhưng không phải là Giáo Hội, không phải là đoàn tính.

Có đọc Tông Vụ chúng ta mới khám phá ra các cuộc qui tụ cầu nguyện có thể trở thành một mãnh lực thúc đẩy ra sao trong việc truyền bá phúc âm hóa, những qui tụ giúp cho những ai tham dự thực sự cảm nghiệm thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu và được Thần Linh đụng chạm. Các phần tử thuộc cộng đồng tiên khởi này - dầu sao thì cũng luôn áp dụng cho cả chúng ta ngày nay nữa - đã cảm thấy rằng trình thuật về cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu đã không ngưng hẳn ở vào giây phút Thăng Thiên, mà vẫn tiếp tục trong đời sống của họ. Trong việc tái trình thuật những gì Chúa đã nói và đã làm - khi lắng nghe Lời Chúa - trong khi cầu nguyện để được hiệp thông với Người, thì hết tất cả mọi sự đều trở thành sống động. Cầu nguyện làm lan tỏa ánh sáng và hơi ấm, đó là tặng ân của Thần Linh được ưu ái ban cho họ.

Ví thế mà Sách Giáo Lý đã chất chứa một diễn tả rất sâu xa. Đó là: "Chúa Thánh Thần... Đấng nhắc lại mầu nhiệm Chúa Ki-tô cho Hội Thánh đang cầu nguyện, cũng dẫn đưa Hội Thánh vào Chân Lý trọn vẹn và khởi hứng những mẫu kinh mới để diễn tả mầu nhiệm khôn dò thấu về Chúa Ki-tô, Đấng đang hoạt động trong cuộc sống, trong các bí tích và trong sứ vụ của Hội Thánh" (2625). Công việc của Thần Linh trong Giáo Hội đó là nhắc nhớ chúng ta về Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã nói: Ngài sẽ dạy các con và nhắc nhở các con. Sứ vụ của Ngài là nhắc nhớ về Chúa Giêsu, chứ không phải như là một thứ thực hành tưởng nhớ.

Thành phần Kitô hữu, khi tiến bước trên con đường sứ vụ truyền giáo, thì tưởng nhớ đến Chúa Giêsu khi họ làm cho Người hiện diện một lần nữa, và  họ được "thúc đẩy" từ Người, từ Thánh Linh, trong việc tiến bước, trong việc phục vụ. Bằng việc cầu nguyện, Kitô hữu trầm mình vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, mầu nhiệm về Đấng yêu thương từng người, về vị Thiên Chúa mong muốn Phúc Âm được rao giảng cho hết mọi người. Thiên Chúa là Thiên Chúa cho hết mọi người, và nơi Chúa Giêsu hết mọi bức tường phân cách hoàn toàn bị sụp đổ: như Thánh Phaolô đã nói, Người là sự bình an của chúng ta, tức "Người là Đấng làm cho cả hai chúng ta nên một" (Eph 2:14). Chúa Giêsu đã tạo nên mối hiệp nhất, mối hiệp nhất.

Như thế thì đời sống của Giáo Hội sơ khai đã theo một nhịp điệu nhất trí liên tục các việc cử hành, các lời thỉnh nguyện chung, những thời khắc cầu nguyện chung riêng. Chính Thần Linh là Đấng đã ban sức mạnh cho các vị giảng dạy, những vị đã mở đầu hành trình, và là những vị vì kính mến Chúa Giêsu đã chèo lái trên biển cả, đã phải đương đầu với các thứ hiểm nguy, đã chấp nhận những gì là nhục nhã ê chề.

Thiên Chúa là Đấng cống hiến tình yêu, Thiên Chúa đòi hỏi tình yêu. Đó là cội nguồn mầu nhiệm của tất cả đời sống tín hữu. Bằng cầu nguyện, các Kitô hữu tiên khởi - và cả chúng ta cũng vậy, thành phần hậu sinh ở các thế kỷ sau đó - tất cả chúng ta đều sống cùng một cảm nghiệm. Thần Linh là Đấng tác động hết mọi sự. Và hết mọi Kitô hữu nào không sợ giành giờ cầu nguyện đều có thể thấm thía những lời của Tông Đồ Phaolô "sự sống mà giờ đây tôi sống trong xác thịt này là tôi sống bởi niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi" (Galata 2:20).

Cầu nguyện làm cho anh chị em nhận thấy như vậy. Chỉ trong thinh lặng tôn thờ chúng ta mới cảm thấy tất cả sự thật của những lời ấy. Và chúng ta cần phải lấy lại cái cảm giác tôn thờ này. Hãy tôn thờ, tôn thờ Thiên Chúa, tôn thờ Chúa Giêsu, tôn thờ Thần Linh. Cha, Con và Thần Linh: hãy tôn thờ. Trong thinh lặng. Việc cầu nguyện tôn thờ là việc cầu nguyện giúp cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa như khởi nguyên và là cùng đích của tất cả Lịch Sử. Những lời cầu nguyện này là ngọn lửa sống động của Thần Linh, Đấng ban cho chúng ta quyền lực để làm chứng và để truyền giáo. Xin cám ơn anh chị em.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 15 Cầu Nguyện - Mẹ Maria Mô Phạm
18 tháng 11 năm 2020

 

Xin chào anh chị em thân mến, 

Trong hành trình giáo lý về cầu nguyện, hôm nay chúng ta gặp gỡ Trinh Nữ Maria như là một người nữ uy quyền. Đức Mẹ đã cầu nguyện. Khi thế giới chưa biết gì về Mẹ, khi Mẹ còn là một cô con gái quê mùa đính hôn với một con người thuộc dòng tộc Đavít, thì Mẹ Maria đã cầu nguyện rồi. Chúng ta có thể mường tượng cô gái trẻ trung Nazarét này đang trầm mình lặng thinh, trong việc liên tục trao đổi với Thiên Chúa là Đấng sắp sửa ủy thác cho cô một sứ vụ. Cô vốn đã đầy ơn phúc rồi, và được vô nhiễm nguyên tội ngay từ giây phút cô được hoài thai; thế nhưng cô chưa hề biết được ơn gọi lạ lùng và phi thường, cùng với biển cả bão tố mà cô sẽ phải vượt qua. Chắc chắn một điều là Đức Maria thuộc về một đại cơ binh của những tâm hồn khiêm nhượng trong lòng, thành phần không bao giờ được các sử gia chính yếu bao gồm trong các cuốn sách lịch sử của họ, thế mà nơi Mẹ Thiên Chúa đã sửa soạn cho Con của Ngài đến.

Mẹ Maria đã không tự động điều khiển cuộc đời của Mẹ: Mẹ đợi chờ Thiên Chúa vạch đường chỉ lối cho Mẹ ra sao tùy ý của Ngài. Mẹ tỏ ra dễ dạy, và nhờ tính chất sẵn sàng của mình, Mẹ sửa soạn cho những biến cố cả thể cho việc tham phần của Thiên Chúa vào trần gian này. Sách Giáo Lý nhắc lại sự hiện diện liên lỉ và quan tâm của Mẹ nơi dự án hồng ân của Chúa Cha dọc suốt cuộc đời của Chúa Giêsu (see CCC, 2617-2618).

Mẹ Maria cầu nguyện khi Tổng Thần Ga-Biên truyền tin cho Mẹ ở Nazarét. Lời thưa "Này tôi đây" nhỏ bé nhưng lớn lao của Mẹ, một lời làm cho tất cả mọi tạo vật nhẩy mừng vào lúc ấy, đã được dẫn trước, suốt giòng lịch sử cứu độ, bởi nhiều lời "Này tôi đây" khác, bởi nhiều cuộc tuân phục tin tưởng, bởi nhiều người sẵn lòng chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa. Không có một cách thức cầu nguyện nào bằng việc tỏ ra thái độ sẵn sàng, bằng một con tim cởi mở với Chúa: "Lạy Chúa, những gì Chúa muốn, khi nào Chúa muốn và cách nào Chúa muốn". Tức là bằng một con tim cởi mở trước ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa bao giờ cũng đáp ứng. Có bao nhiêu tín hữu sống cầu nguyện như thế! Những ai khiêm nhượng trong lòng nhất đều cầu nguyện như vậy: bằng một lòng khiêm nhượng thiết yếu, cứ cho là như vậy; bằng một tấm lòng khiêm tốn: "Lạy Chúa, những gì Chúa muốn, khi nào Chúa muốn và cách nào Chúa muốn". Họ cầu nguyện như thế, và không cảm thấy buồn bực khi các vấn đề xẩy ra cho ngày sống của họ, thế nhưng họ sẵn sàng đối diện với thực tại, và biết rằng bằng tình yêu khiêm hạ, bằng yêu thương để dâng lên ở từng trường hợp trải qua, chúng ta trở nên khí cụ cho ân sủng của Chúa. "Lạy Chúa, những gì Chúa muốn, khi nào Chúa muốn và cách nào Chúa muốn". Một lời cầu nguyện giản dị, thế nhưng lại là lời cầu nguyện chúng ta sử dụng để phó mình vào bàn tay của Thiên Chúa, để Ngài có thể dẫn dắt chúng ta. Tất cả chúng ta đều có thể cầu nguyện như vậy, hầu như chẳng có ngôn từ bày tỏ nào hết.

Cầu nguyện là những gì biết cách để làm lắng đọng tính hiếu động. Chúng ta tỏ ra hiếu động, luôn muốn có những điều trước khi xin có được chúng, và chúng ta muốn có ngay. Tính chất hiếu động này tác hại chúng ta. Cầu nguyện là những gì biết làm lắng đọng tính hiếu động này xuống, biết biến nó thành tính chất thuận lợi. Khi nào chúng ta hiếu động, chúng ta hãy cầu nguyện, và việc cầu nguyện sẽ mở lòng chúng ta ra và làm cho chúng ta cởi mở trước ý muốn của Thiên Chúa. Trong thời khoảng một ít giây phút Truyền Tin bấy giờ, Đức Trinh Nữ Maria đã biết làm sao để loại trừ nỗi sợ hãi của Mẹ, cho dù Mẹ cảm giác thấy rằng tiếng "xin vâng" của Mẹ sẽ gây ra cho Mẹ các cơn thử thách khốn khó khủng khiếp. Nếu trong việc cầu nguyện chúng ta biết được rằng mỗi ngày chúng ta sống đều được Chúa ban cho chúng ta như là một ơn gọi, thì lòng chúng ta sẽ được nở rộng ra, và chúng ta sẽ chấp nhận hiết mọi sự. Chúng ta sẽ biết thân thưa cùng Ngài rằng: Lạy Chúa, Chúa muốn gì nơi con. Xin Chúa chỉ cần hứa với con rằng Chúa sẽ hiện diện nơi từng bước con đi trên đường đời". Đó là điều quan trọng, ở chỗ, xin Chúa hiện diện nơi từng bước đi trên đường đời của chúng ta: tức là Ngài không bỏ mặc chúng ta lẻ loi cô độc một mình, Ngài không bỏ rơi chúng ta trong cơn cám dỗ, Ngài không ruồng bỏ chúng ta trong những lúc tệ hại. Kinh Lạy Cha đã kết thúc như thế: ơn chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta xin cùng Chúa.

Mẹ Maria đã hỗ trợ suốt cuộc đời của Chúa Giêsu bằng việc cầu nguyện, cho đến khi Người tử nạn và phục sinh; cuối cùng, Mẹ vẫn đã tiếp tục và hỗ trợ những bước đi đầu tiên của Giáo Hội sơ khai (see Acts 1:14). Mẹ Maria đã cầu nguyện với các vị môn đệ đã chứng kiến thấy cái cảnh ô nhục của thập tự giá. Mẹ đã cầu nguyện với tông đồ Phêrô đã tỏ ra quá sợ hãi và rồi cảm thấy hối hận than khóc. Mẹ Maria đã có đó, với các vị môn đệ, ở giữa những con người nam nữ được Con của Mẹ kêu gọi để thành lập Cộng Đồng của Người. Mẹ Maria không tác hành như vị linh mục ở giữa các vị, không! Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, vị đã cầu nguyện với các vị, trong cộng đồng, như là một phần tử của cộng đồng này. Mẹ đã cầu nguyện với các vị và cầu nguyện cho các vị. Một lần nữa, lời cầu nguyện của Mẹ đã mở đường cho một tương lai sắp được nên trọn, đó là bởi tác động của Thánh Linh, Mẹ đã trở nên Mẹ Thiên Chúa, và cũng bởi tác động của Thánh Linh, Mẹ đã trở nên Mẹ của Giáo Hội. Khi cầu nguyện với Giáo Hội sơ khai, Mẹ trở nên Mẹ của Giáo Hội, bằng việc hỗ trợ các vị môn đệ ở những bước đầu tiên của Giáo Hội trong nguyện cầu, trong khi đợi chờ Thánh Linh. Một cách thinh lặng, luôn thinh lặng. Lời cầu nguyện của Mẹ Maria là một thứ thinh lặng. Các Phúc Âm trình thuật lại chỉ duy một trong những lời cầu nguyện của Mẹ ở Cana thôi, khi Mẹ xin Con của Mẹ cho những người đáng thương sắp bị một trận kinh hoàng xẩy ra trong bữa tiệc cưới. Chúng ta hãy tưởng tượng mà xem, đó là, có một bữa tiệc cưới nào mà cuối cùng uống sữa bởi không còn rượu hay chăng! Quả là một kinh hoàng! Mẹ cầu nguyện và xin Con Mẹ giải quyết vấn đề ấy cho họ. Sự hiện diện của Mẹ Maria ở nơi lời cầu nguyện và bởi lời cầu nguyện, và sự hiện diện của Mẹ giữa các vị môn đệ ở Căn Thượng Lầu, trong khi đợi chờ Thánh Linh, là bằng việc cầu nguyện. Mẹ sinh ra Giáo Hội như thế đó, Mẹ là Mẹ của Giáo Hội. Sách Giáo Lý dẫn giải rằng: "Nơi đức tin của người tỳ nữ khiêm hạ, Tặng Ân của Thiên Chúa", tức là Thánh Linh, "đã được chấp nhận trong khi Ngài đợi chờ ngay từ thuở mới có thời gian" (khoản 2617).

Nơi Đức Trinh Nữ Maria, cái trực giác tự nhiên của nữ giới được thăng hóa bởi mối hiệp nhất độc đáo nhất của Mẹ với Thiên Chúa nơi việc nguyện cầu. Đó là lý do tại sao, khi đọc Phúc Âm, chúng ta thấy rằng có những lúc Mẹ dường như khuất dạng, chỉ tái xuất hiện vào những lúc hệ trọng thôi: Mẹ Maria cởi mở trước tiếng nói của Thiên Chúa là những gì dẫn dắt tâm can của Mẹ, dẫn dắt các bước chân của Mẹ ở những nơi nào cần đến sự hiện diện của Mẹ. Sự âm thầm hiện diện của Mẹ, với tư cách là người Mẹ và là người môn đệ. Mẹ Maria hiện diện vì Mẹ là Mẹ, nhưng Mẹ cũng hiện diện vì Mẹ là người môn đệ tiên khởi, người đệ nhất môn đệ đã học biết được những đường lối của Chúa Giêsu hơn hết. Mẹ Maria không bao giờ nói: "Hãy đến đây, Mẹ sẽ chăm lo các thứ cho". Trái lại, Mẹ nói: "Hãy làm bất cứ điều gì Người bảo", bằng cách luôn chỉ về Chúa Giêsu. Tác hành này là mẫu thức của người môn đệ, và Mẹ là người môn đệ tiên khởi: Mẹ cầu nguyện như một Người Mẹ và Mẹ cầu nguyện như là một người môn đệ.

"Mẹ Maria giữ tất cả những điều ấy mà ngẫm nghĩ trong lòng của Mẹ" (Lk 2:19). Thánh ký Luca đã phác tả Người Mẹ của Chúa nơi trình thuật thơ ấu trong Phúc Âm của ngài. Tất cả mọi sự xẩy ra chung quanh Mẹ đều được ngẫm nghĩ trong thâm cung của lòng Mẹ: những ngày sống đầy hân hoan, cũng như những lúc đen tối nhất, khi mà ngay cả Mẹ cũng cố gắng để hiểu được những đường nẻo Ơn Cứu Chuộc cần phải trải qua. Tất cả mọi sự đều được qui tụ lại trong lòng của Mẹ, nhờ đó chúng băng qua cái sàng cầu nguyện và được biển đổi bởi việc cầu nguyện: cho dù là những thứ tặng vật của chư Vị Vương gia Chiêm tinh, hay là cuộc thoát chạy sang Ai Cập, cho đến Ngày Thứ Sáu khổ nạn kinh hoàng. Người Mẹ này giữ tất cả mọi sự, và trình bày chúng khi Mẹ trao đổi với Chúa. Có người so sánh trái tim của Mẹ Maria với một viên ngọc trai rạng ngời khôn sánh, được kết tinh và láng nhẵn bằng việc nhẫn nại chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa, theo các mầu nhiệm của Chúa Giêsu được Mẹ suy niệm khi cầu nguyện. Tuyệt vời thay, nếu cả chúng ta nữa, đều có thể nên giống Người Mẹ của chúng ta một chút xíu nào đó! Bằng một con tim cởi mở trước Lời Chúa, bằng một cõi lòng thinh lặng, bằng một tấm lòng tuân phục, bằng một tâm can biết đón nhận Lời Chúa,

http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20201118_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 14 Cầu Nguyện - Chúa Giêsu Giáo Huấn
11 tháng 11 năm 2020


Xin chào anh chị em thân mến,
Chúng ta tiếp tục giáo lý về cầu nguyện. Có người đã nói với tôi rằng: "Ngài nói quá nhiều về cầu nguyện. Nó chẳng cần thiết". Đúng, cầu nguyện là những gì cần thiết. Vì nếu chúng ta không cầu nguyện, chúng ta sẽ không có sức để tiến tới trong đời. Cầu nguyện giống như dưỡng khí của cuộc đời. Cầu nguyện để chúng ta có được sự hiện diện của Thánh Linh, Đấng luôn dẫn chúng ta tiến bước. Chính vì thế mà tôi nói nhiều về cầu nguyện.
Chúa Giêsu đã cống hiến cho chúng ta tấm gương cầu nguyện liên tục, được thực hiện một cách kiên trì. Việc trao đổi liên lỉ với Chúa Cha, trong thinh lặng cũng như trong tưởng nhớ, là đón bẩy cho tất cả sứ vụ của Người. Các Phúc Âm cũng tường trình về những huấn dụ của Người với các môn đệ, để các vị cũng nhất trí cầu nguyện mà không mệt mỏi. Sách Giáo Lý nhắc lại 3 dụ ngôn trong Phúc Âm Thánh Luca là những dụ ngôn nhấn mạnh đến đặc tính nơi việc cầu nguyện của Chúa Giêsu (khoản 2613).
Trước hết, cầu nguyện cần phải bền bỉ, như con người trong dụ ngôn, khi tiếp đón một người khách bất ngờ đến nhà vào lúc nửa đêm, đi gõ cửa một người bạn mà xin chút bánh. Người bạn ấy trả lời "không!" vì anh ta đã lên giường - thế nhưng người ấy cứ nài nỉ cho đến khi người bạn phải chỗi dạy mà cho người ấy ít bánh (xem Luca 11:5-8). Một yêu cầu bền bỉ. Thế nhưng, Thiên Chúa còn nhẫn nại hơn nữa với chúng ta, và ai gõ cửa một cách tin tưởng và kiên trì chực chờ ở cửa lòng của Ngài sẽ không bị thất vọng. Thiên Chúa bao giờ cũng đáp ứng. Bao giờ cũng vậy. Cha của chúng ta biết rõ những gì chúng ta cần; thái độ kiên định là những gì cần thiết, không phải để tỏ cho Ngài biết hay để thuyết phục Ngài, mà cần thiết để nuôi dưỡng lòng ước muốn và mong đợi nơi chúng ta.
Dụ ngôn thứ hai là dụ ngôn về người đàn bà góa bụa đến xin vị quan tòa minh oan cho mình. Viên quan tòa này là một con người băng hoại, một con người bất chấp luân thường đạo lý, nhưng cuối cùng, cáu tiết lên bởi người đàn bà góa cứ kèo nhèo, ông đã quyết định cho bà được thỏa nguyện (xem Luca 18:1-8)... Vị này nghĩ rằng: "Thế nhưng, tốt hơn nên giải quyết vấn đề này để bà ta khỏi tiếp tục đến quấy rầy ta mãi". Dụ ngôn này làm cho chúng ta hiểu rằng đức tin không phải là một chọn lựa nhất thời, mà là một thái độ can đảm trong việc kêu lên Thiên Chúa, thậm chí dám "tranh cãi" với Ngài, không chiều theo sự dữ và bất công.
Dụ ngôn thứ ba cho thấy một người biệt phái và một người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện. Người thứ nhất hướng lên Thiên Chúa huyênh hoang khoe khoang công đức của mình; trong khi người kia cảm thấy bất xứng ngay cả việc tiến vào cung thánh nữa. Thiên Chúa không lắng nghe người thứ nhất cầu nguyện, lời cầu của những ai kiêu ngạo, Ngài lại lắng nghe lời cầu nguyện của con người khiêm tốn (xem Luca 18:9-14). Thiếu lòng khiêm nhượng cũng chẳng có vấn đề cầu nguyện thực sự. Chính lòng khiêm nhượng đặc biệt thúc đẩy chúng ta kêu xin nguyện cầu.
Giáo huấn của Phúc Âm thật là rõ ràng, đó là chúng ta cần phải cầu nguyện luôn, ngay cả lúc mọi sự dường như tan vỡ chẳng còn gì, khi Thiên Chúa như thể câm điếc và như thể chúng ta hoang phí thời giờ. Thậm chí tầng trời có đầy tăm tối chăng nữa thì Kitô hữu vẫn không thôi cầu nguyện. Việc cầu nguyện của Kitô hữu vẫn vững mạnh một cách tin tưởng. Có những ngày trong cuộc đời của chúng ta đức tin dường như là một ảo ảnh, một nỗ lực vô bổ. Trong đời của chúng ta có những lúc tăm tối, và vào những lúc ấy, đức tin chẳng khác gì như là một thứ ảo ảnh. Thế nhưng, việc cầu nguyện có nghĩa là chấp nhận ngay cả thứ nỗ lực vô bổ ấy. "Thưa cha, con cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì cả... Lòng con như thể khô khan, cằn cỗi làm sao ấy". Thế nhưng chúng ta cần phải tiếp tục nỗ lực hơn nữa trong những lúc gay go ấy, những lúc chúng ta chẳng cảm thấy gì. Nhiều vị thánh đã trải qua đêm tối đức tin này và tình trạng yên lặng của Thiên Chúa - khi chúng ta nhận biết thì Thiên Chúa lại chẳng đáp ứng gì - và những vị thánh ấy vẫn đã kiên trì.
Trong những đêm tối đức tin ấy, con người cầu nguyện chẳng bao giờ lẻ loi cô độc. Thật vậy, Chúa Giêsu chẳng những là chứng nhân và là thày dạy cầu nguyện; Người còn hơn thế nữa. Người đón nhận chúng ta vào lời cầu nguyện của Người, nhờ đó chúng ta được cầu nguyện trong Người và nhờ Người. Đó là công việc của Chúa Thánh Thần. Vì thế mà Phúc Âm mời gọi chúng ta hãy cầu nguyện cùng Chúa Cha nhân danh Chúa Giêsu. Thánh Gioan cống hiến những lời này của Chúa như sau: "Bất cứ điều gì các con xin nhân danh Thày, Thày sẽ ban cho, để Cha được hiển vinh nơi Con" (14:13). Sách Giáo Lý giải thích rằng: "niềm tin tưởng rằng các lời thỉnh nguyện của chúng ta sẽ được lắng nghe là vì dựa lời cầu nguyện của Chúa Giêsu" (khoản 2614). Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cống hiến cánh bay là những gì lời cầu nguyện của loài người bao giờ cũng muốn muốn có được. 
Làm sao chúng ta có thể không nhắc lại ở đây những lời của Thánh Vịnh 91, đầy lòng tin tưởng, xuất phát từ một tâm can chỉ biết hy vọng cậy trông hết mọi sự nơi Thiên Chúa: "Ngài sẽ bao bọc bạn bằng cánh cung của Ngài, và bạn sẽ được ẩn náu trong cánh phủ của Ngài; lòng trung thành của Ngài là khiên thuẫn. Bạn sẽ không lo sợ cảnh hãi hùng ban đêm, hay tên bay ban ngày, hoặc cả dịch khí hoành hành ban đêm lẫn ôn thần sát hại ban trưa" (các câu 4-6). Chính ở nơi Chúa Kitô mà lời cầu nguyện huyền diệu này được nên trọn, và nơi Người mới có được tất cả sự thật ấy. Không có Chúa Giêsu thì lời cầu nguyện của chúng ta có nguy cơ biến thành một nỗ lực loài người, hầu như lúc nào cũng tiến đến chỗ thất bại. Thế nhưng Người đã nhận lấy nơi bản thân Người hết mọi lời kêu than, hết mọi lời than vãn, hết mọi niềm hoan hỉ, hết mọi lời nguyện cầu... hết mọi việc nguyện cầu của nhân loại. Chúng ta đừng quên rằng Thánh Linh là Đấng cầu nguyện trong chúng ta; chính Ngài là Đấng dẫn dắt chúng ta cầu nguyện, dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu. Ngài là tặng ân được Chúa Cha và Chúa Con ban cho chúng ta để duy trì việc gặp gỡ Thiên Chúa. Khi chúng ta cầu nguyện thì chính Thánh Linh cầu nguyện trong cõi lòng của chúng ta.
Chúa Kitô là tất cả mọi sự cho chúng ta, ngay cả trong đời sống cầu nguyện của chúng ta. Thánh Âu Quốc Tinh đã nói đến điều này bằng một diễn tả khôn ngoan mà chúng ta cũng thấy ở trong Sách Giáo Lý rằng: Chúa Giêsu "cầu nguyện cho chúng ta với tư cách là tư tế của chúng ta, cầu nguyện trong chúng ta như là Vị Thủ Lãnh của chúng ta, và được chúng ta cầu nguyện cùng như là Thiên Chúa của chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy nhận thức tiếng nói của chúng ta ở nơi Người và tiếng của Người trong chúng ta" (khoản 2616). Đó là lý do tại sao Kitô hữu cầu nguyện thì chẳng sợ gì hết, họ tin tưởng vào Thánh Linh là Đấng được ban cho chúng ta như là một tặng ân, và là Đấng cầu nguyện trong chúng ta, bằng việc khởi động nguyện cầu. Xin Thánh Linh là Thày Dạy cầu nguyện, dạy chúng ta con đường cầu nguyện ấy.
(Sau bài giáo lý, ĐTC kêu gọi như sau:)
Hôm qua, Bản Tường Trình về trường hợp thê thảm của vị nguyên Hồng Y Theodore McCarrick đã được phổ biến. Tôi xin lập lại lòng gắn có của tôi với các nạn nhân bị lạm dụng tình dục, cùng việc quyết tâm nhổ tận gốc rễ thứ sự dữ này.
http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20201111_udienza-generale.html
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

+ May 25, 2021