ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

 

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Thư Galata 29 tháng 9 năm 2021

- Bài 9 về Đời Sống Đức Tin

 

Thân ái chào anh chị em,

Trong cuộc hành trình của chúng ta để hiểu hơn nữa về giáo huấn của Thánh Phaolô, hôm nay, chúng ta sẽ gặp phải một đề tài khó nhưng quan trọng, đó là đề tài công chính hóa. Công chính hóa là gì? Chúng ta, thành phần tội nhân, đã được công chính hóa. Ai đã công chính hóa chúng ta? Tiến trình thay đổi này là việc công chính hóa. Chúng ta, trước nhan Thiên Chúa, là kẻ công chính. Đúng thế, chúng ta mắc phải những tội lỗi riêng tư của mình. Thế nhưng, tự căn bản chúng ta là kẻ công chính. Đó là việc công chính hóa. Đề tài này đã được bàn luận đến rất nhiều, để tìm thấy được một lời dẫn giải thích đáng nhất với tư tưởng của vị Tông đồ này, và thường xẩy ra là những cuộc bàn luận ấy thậm chí đi đến những chủ trương khác nhau. Trong Thư Galata, cũng như trong Thư Roma, Thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự kiện là việc công chính xuất phát từ đức tin nơi Chúa Kitô. "Thế nhưng, thưa cha, tôi công chính vì tôi tuân giữ tất cả các giới răn!" Đúng vậy, tuy nhiên việc công chính lại không xuất phát từ chỗ đó. Nó có trước đó nữa. Có một đấng nào đó đã công chính hóa bạn, một vị nào đó đã làm cho bạn nên công chính trước nhan Thiên Chúa. "Vâng, nhưng mà tôi là một tội nhân". Phải, bạn được công chính hóa, nhưng vẫn là một tội nhân. Tuy nhiên, căn bản thì bạn là kẻ công chính. Ai đã công chính hóa bạn? Chúa Giêsu Kitô. Đó là sự công chính hóa.

Đâu là những gì kín ẩn ở đằng sau chữ "công chính hóa" thật là quan trọng đối với đức tin này? Không dễ gì có thể có được một định nghĩa thấu đáo, thế nhưng, nếu nắm bắt được tổng thể ý nghĩ của Thánh Phaolô thì có thể nói một cách giản dị rằng công chính hóa là hoa trái của "việc Thiên Chúa tự động xót thương ban ơn tha thứ" (Catechism of the Catholic Church, n. 1990). Đó là Thiên Chúa của chúng ta, Đấng rất thiện hảo, nhân hậu, nhẫn nại, đầy xót thương, Đấng tiếp tục ban ơn tha thứ, liên tục. Ngài thứ tha, và công chính hóa là Thiên Chúa, Đấng trước hết tha thứ cho hết mọi người trong Chúa Kitô. Lòng thương xót của Thiên Chúa ban ơn tha thứ. Thật vậy, Thiên Chúa, bằng cái chết của Chúa Giêsu - chúng ta cần nhấn mạnh đến điều này: nhờ cái chết của Chúa Giêsu - đã hủy diệt tội lỗi và cuối cùng ban cho chúng ta ơn tha thứ và cứu độ của Ngài. Bởi vậy, được công chính hóa, tội nhân được Thiên Chúa đón nhận và được hòa giải với Ngài. Như thể mối liên hệ nguyên thủy giữa Đấng Hóa Công và tạo vật trước tình trạng bất tuân của tội lỗi gây ra đã được phục hồi. Thế nên, việc công chính hóa bởi Thiên Chúa giúp chúng ta có thể lấy lại được tính chất vô tội bị mất đi do tội lỗi. Việc công chính hóa xẩy ra như thế nào đây? Trả lời cho vấn nạn này có nghĩa là khám phá ra một tính chất mới mẻ khác nữa nơi giáo huấn của Thánh Phaolô, đó là việc công chính hóa xuất phát từ ân sủng. Chỉ nhờ ân sủng: tức là chúng ta được công chính hóa hoàn toàn là do ân sủng. "Thế nhưng chẳng lẽ tôi không thể, ai đó không thể, đến với quan tòa và trả cho ông để ông có thể công chính tôi hay sao?" Không. Bạn không thể nào trả cho việc này. Đã có một đấng trả thay cho tất cả chúng ta rồi, đó là Chúa Kitô. Và từ Chúa Kitô, Đấng đã chết cho chúng ta, mới phát sinh ra ân sủng Chúa Cha ban cho hết mọi người: Công chính hóa xuất phát từ ân sủng là vậy.

 Vị Tông đồ này luôn nhớ đến cảm nghiệm đã làm thay đổi cuộc đời của ngài: đó là cuộc gặp gỡ của ngài với Chúa Giêsu Phục sinh trên đường Damasco. Chàng Phaolô này đã từng là một con người hãnh diện, đạo đức và nhiệt tình, thâm tín rằng việc công chính ở chỗ thận trọng tuân giữ các chỉ thị của lề luật. Tuy nhiên, bấy giờ ngài đã được Chúa Kitô chế ngự, và đức tin vào Người đã hoàn toàn biến đổi ngài, giúp ngài có thể khám phá ra một sự thật đã từng được dấu kín, đó là chúng ta không trở nên công chính nhờ nỗ lực riêng của chúng ta, không, không phải là chúng ta mà là Chúa Kitô, bằng ân sủng của Người. Đấng làm cho chúng ta nên công chính. Bởi vậy mà chàng Phaolô đã sẵn sàng từ bỏ hết mọi sự trước kia đã từng làm cho chàng sống phong phú, để trọn vẹn nhận biết mầu nhiệm Chúa Giêsu (cf. Ph 3:7), vì chàng đã khám phá ra rằng chỉ duy ân sủng của Thiên Chúa đã cứu chàng. Chúng ta đã được công chính hóa, chúng ta đã được cứu độ, chỉ hoàn toàn nhờ ân sủng, chứ không phải vì công trạng riêng tư gì của chúng ta hết. Và đó là những gì cống hiến cho chúng ta lòng tin tưởng lớn lao. Chúng ta là thành phần tội nhân, đúng vậy; nhưng chúng ta sống cuộc đời của chúng ta bằng ân sủng của Thiên Chúa công chính hóa chúng ta ấy mỗi lần chúng ta xin ơn tha thứ. Tuy nhiên, chúng ta được công chính hóa không phải chỉ có lúc ấy thôi, tức là chúng ta đã được công chính hóa, nhưng Ngài lại đến để tha thứ cho chúng ta nữa.

Đối với vị Tông đồ này, đức tin có một giá trị bao gồm tất cả. Nó chạm đến hết mọi giây phút và hết mọi khía cạnh của đời sống tín hữu: từ phép rửa cho đến khi chúng ta ra khỏi trần gian này, hết mọi sự đều được truyền đạt bởi đức tin vào cái chết và cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, Đấng ban ơn cứu độ. Việc công chính hóa bởi đức tin đề cao tính chất nồng cốt của ân sủng được Thiên Chúa, không phân biệt, ban cho những ai tin vào Con Ngài.

Tuy nhiên, chúng ta không được kết luận rằng Luật Moisen đã chẳng còn giá trị gì nữa đối với Thánh Phaolô, nó vẫn là một tặng ân bất khả vãn hồi từ Thiên Chúa. Vị Tông đồ này viết rằng nó là những gì "thánh hảo" (Rm 7:12). Ngay cả đối với đời sống thiêng liêng của chúng ta nữa, việc tuân giữ các giới răn là những gì thiết yếu. Cho dù là thế, chúng ta cũng không thể nào cậy dựa vào các nỗ lực của chúng ta: ân sủng của Thiên Chúa mà chúng ta lãnh nhận nơi Chúa Kitô mới là những gì chính yếu. Ân sủng ấy xuất phát từ tình trạng được công chính hóa do Chúa Kitô là Đấng đã đền thay cho chúng ta ban cho chúng ta. Từ Người, chúng ta nhận được một tình yêu nhưng không, những gì giúp cho chúng ta, về phần mình, có thể yêu mến một cách cụ thể.

Theo chiều hướng ấy, cần nhớ lại giáo huấn của Tông đồ Giacôbê, vị đã viết: "Anh em thấy rằng một người được công chính hóa bởi các việc làm chứ không phải bởi nguyên đức tin". Điều này có vẻ như ngược ngạo làm sao ấy, thế nhưng lại không phải vậy. "Vì như thân thể không có tâm linh là thân thể chết thế nào, thì đức tin không việc làm cũng là đức tin chết như vậy" (Jas. 2:24,26).

Việc công chính hóa, nếu nó không sinh hoa trái bằng các việc làm của chúng ta, thì chỉ bị chôn vùi, bị chết đi. Nó vẫn có đó, nhưng chúng ta cần phải tác động nó bằng các việc làm của chúng ta. Đó là cách thức những lời của Thánh Giacobê bổ túc cho giáo huấn của Thánh Phaolô. Bởi thế, đối với cả 2 vị, việc đáp ứng của đức tin đòi chúng ta chủ động trong tình yêu của chúng ta với Thiên Chúa cũng như với tha nhân. Tại sao lại "chủ động trong tình yêu ấy?" Vì tình yêu ấy đã cứu độ tất cả chúng ta, tình yêu ấy tự động đã công chính hóa chúng ta, một cách nhưng không!

Việc công chính hóa tháp nhập chúng ta vào lịch sử lâu dài của một ơn cứu độ cho thấy sự công chính của Thiên Chúa, ở chỗ, trước những sa ngã và thiếu sót liên tục của chúng ta, Ngài đã không buông bỏ, nhưng Ngài lại muốn làm cho chúng ta nên công chính, và Ngài làm như thế bằng ân sủng, bằng tặng ân của Chúa Giêsu Kitô, của cuộc tử nạn và phục sinh của Người. Đôi khi tôi đã nói Thiên Chúa tác hành ra sao, kiểu cách của Thiên Chúa là gì. Và tôi đã sử dụng 3 chữ như thế này: kiểu cách của Thiên Chúa là gần gũi, cảm thương và dịu dàng. Ngài luôn đến gần với chúng ta, tỏ lòng cảm thương và êm ái dịu dàng. Việc công chính hóa chính là việc gần gũi cả thể nhất của Thiên Chúa đối với chúng ta, những con người nam nữ, chính là lòng cảm thương cao cả nhất của Thiên Chúa đối với chúng ta là những con người nam nữ, chính là những gì êm ái dịu dàng nhất của Chúa Cha. Việc công chính hóa là tặng ân ấy của Chúa Kitô, của cái chết cùng phục sinh của Chúa Kitô giải thoát chúng ta. "Thế nhưng, thưa cha, con là một tội nhân... con đã trộm cắp..." Phải, đúng vậy. Thế nhưng, theo nguyên tắc thì bạn là kẻ công chính. Hãy để cho Chúa Kitô gây tác động đến sự công chính đó. Tự căn bản thì chúng ta không bị kết án, không, chúng ta là kẻ công chính. Cho phép tôi nói rằng chúng ta là những vị thánh. Tuy nhiên, sau đó, bằng các hành động của mình, chúng ta trở thành những tội nhân. Thế nhưng, tự căn bản thì chúng ta là những vị thánh, ở chỗ, chúng ta hãy để cho ẩn sủng của Chúa Kitô tác động, và sự công chính này, sự công chính hóa ấy sẽ cống hiến cho chúng ta sức mạnh đến tiến bộ. Vậy, ánh sáng đức tin giúp chúng ta có thể nhận biết lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa ra sao, ân sủng của Ngài hoạt động cho thiện ích của chúng ta. Tuy nhiên cũng ánh sáng ấy làm cho chúng ta thấy được trách nhiệm đã được ủy thác cho chúng ta trong việc hợp tác với Thiên Chúa vào công cuộc cứu độ của Ngài. Quyền lực này của ân sủng cần phải được kèm theo bởi các việc làm thương xót của chúng ta, thành phần được kêu gọi để sống chứng nhân cho tình yêu diệu vợi biết bao của Thiên Chúa. Chúng ta hãy tiến lên với lòng tin tưởng này, tức là tất cả chúng ta đã được công chính hóa, chúng ta được công chính trong Chúa Kitô. Chúng ta cần phải làm cho sự công chính ấy tác hiệu bằng các việc làm của chúng ta. Xin cám ơn anh chị em.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210929_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Thư Galata

Bài 8: Chúng ta là con cái của Thiên Chúa

 

 

Thời của đức tin đã đến

23 Trước khi đức tin đến, chúng ta bị Lề Luật giam giữ, cho tới khi đức tin được mặc khải.24 Như thế Lề Luật đã thành người quản giáo dẫn chúng ta tới Đức Ki-tô, để chúng ta được nên công chính nhờ đức tin.25 Nhưng khi đức tin đến, thì chúng ta không còn ở dưới quyền giám hộ nữa.26 Thật vậy, nhờ đức tin, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô.27 Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô.28 Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô.29 Mà nếu anh em thuộc về Đức Ki-tô, thì anh em là dòng dõi ông Áp-ra-ham, những người thừa kế theo lời hứa.

 

Xin chào anh chị em,

Chúng ta tiếp tục hành trình đào sâu vào đức tin - đức tin của chúng ta - theo chiều hướng của Thư Thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Galata. Vị Tông đồ này cương quyết khẳng định với thành phần Kitô hữu này, kẻo họ quên mất tính chất mới mẻ nơi mạc khải của Thiên Chúa là những gì đã được loan báo cho họ. Hoàn toàn hợp với thánh ký Gioan (cf 1Jn 3:1-2), Thánh Phaolô nhấn mạnh rằng đức tin nơi Chúa Giêsu Kitô giúp cho chúng ta được trở nên con cái của Thiên Chúa và cũng là thành phần thừa tự của Ngài. Kitô hữu chúng ta thường coi nhẹ thực tại được làm con cái của Thiên Chúa này. Trái lại, cần phải tri ân nhớ đến giây phút chúng ta trở nên như thế, giây phút chúng ta lãnh nhận phép rửa, nhờ đó chúng ta sống đại hồng ân này một cách hết sức ý thức. Nếu tôi được hỏi anh chị em hôm nay rằng "ai trong anh chị em biết chính xác ngày rửa tội của anh chị em?", thì tôi không nghĩ có nhiều bàn tay giơ lên... Thế mà, nó là ngày chúng ta đã được cứu độ, ngày chúng ta đã được trở nên con cái của Thiên Chúa. Vậy những ai không biết được ngày này thì cứ hỏi cha mẹ đỡ đầu, bố mình, mẹ mình, cô dì chú bác: "Con được rửa tội ngày nào nhỉ?" Đó là ngày cần phải được tưởng nhớ hằng năm: nó là ngày chúng ta được làm con Thiên Chúa. Đồng ý chứ? Tất cả anh chị em có làm điều này không? (Cộng đồng đáp lại:) "vâng" (rồi cười). Chúng ta hãy tiến hành nhé.

Thật vậy, một khi "đức tin đã xuất hiện" nơi Chúa Giêsu Kitô (v.25) thì một thân phận mới mẻ tận gốc đã được thiết lập mang lại vai trò con cái thần linh. Vai trò con cái được Thánh Phaolô nói tới đây không còn là một vai trò chung chung bao gồm tất cả mọi con người nam nữ như thể họ là con cái của cùng một Đấng Hóa Công. Không, trong đoạn thư chúng ta vừa nghe, ngài khẳng định rằng đức tin giúp chúng ta có thể trở nên con cái của Thiên Chúa "trong Chúa Kitô" (v.26). Đó là những gì là mới mẻ. Yếu tố "trong Chúa Kitô" này là những gì làm nên tính cách khác biệt. Không phải chỉ là con cái của Thiên Chúa như hết mọi người: hết mọi con người nam nữ đều là con cái của Thiên Chúa, tất cả mọi người, bất kể tôn giáo chúng ta đang theo đuổi. Không. Mà "trong Chúa Kitô" này là những gì làm nên khác biệt đối với Kitô hữu, và điều này chỉ xẩy ra bằng việc thamửự nạn và phục sinh của Người mà Người đã hòa giải chúng ta với Chúa Cha. Bất cứ ai tin tưởng chấp nhận Chúa Kitô, đều "mặc lấy" Chúa Kitô và nhận được phẩm vị làm con cái nhờ phép rửa (v.27). Đó là những gì được nói đến ở câu 27.

Trong các thư của mình, Thánh Phaolô đề cập đến phép rửa nhiều lần. Đối với ngài, việc lãnh nhận phép rửa thì cũng giống như việc được dự phần vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu một cách hiệu lực và thực sự. Chẳng hạn, trong Thư gửi Giáo đoàn Roma, ngài còn tiến xa đến độ nói rằng nơi phép rửa chúng ta đã chết với Chúa Kitô và đã được cùng Người mai táng để sống với Người (cf 6:3-14). Chết với Chúa Kitô, cùng được mai táng với Người để sống với Người. Đó là ơn phép rửa: được tham dự vào cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu. Bởi thế, phép rửa không phải là một nghi thức bề ngoài. Những ai lãnh nhận phép rửa này đều được biến đổi sâu xa từ bên trong, nơi thẳm cung của họ, và chiếm được một sự sống mới, một sự sống chính là những gì giúp họ có thể hướng về Thiên Chúa và gọi Người bằng danh xưng "Cha ơi" thức "Ba ơi". "Cha"? Không: "bố" (cf. Gal 4:6).

Vị Tông đồ này khẳng định một cách mãnh liệt rằng cái căn tính đã được lãnh nhận nhờ phép rửa này là những gì hoàn toàn mới mẻ, đến độ nó vượt trên những khác biệt vẫn có nơi cấp độ đạo giáo. Tức là, theo ngài, "không còn Do Thái hay Hy Lạp", ngay cả ở lãnh vực xã hội nữa, "không còn nô lệ hay tự do, không còn nam hay nữ" (Gal 3:28). Chúng ta thường đọc những lời diễn tả này một cách quá mau mà không năm bắt được cái giá trị cách mạng được chất chứa ở đó. Đối với Thánh Phaolô, khi viết cho giáo đoàn Galata rằng trong Chúa Kitô "không còn Do Thái hay Hy Lạp" thì như thể một cuộc lật đổ thực sự nơi phạm trù đạo giáo. 

Căn cứ vào sự kiện thuộc về một dân tộc được tuyển chọn thì dân Do Thái được ưu ái hơn là dân ngoại (cf. Roma 2:17-20). Thánh Phaolô đã khẳng định như vậy (cf Rom 9:4-5). Bởi thế, không lạ gì thứ giáo huấn mới mẻ này của vị Tông đồ nghe như có tính cách lạc giáo. "Mọi người bình đẳng là làm sao? Chúng ta đều khác nhau mà!" Nó nghe như lạc giáo làm sao ấy phải không? Ngay cả thứ bình đẳng thứ hai giữa những ai "tự do" và những ai "nô lệ", đã gây ra một thứ nhãn quan bật ngửa. Tính chất phân biệt giữa những người nô lệ và tự do là những gì sống còn ở thời cổ xưa. Theo luật thì những công dân tự do được hoan hưởng tất cả mọi quyền lợi, trong khi phẩm vị làm người của thành phần nô lệ không được công nhận. 

Điều này cũng đang xẩy ra ngay cả đến hôm nay nữa. Có nhiều người trên thế giới này, nhiều lắm, hàng triệu con người ta không có quyền được ăn, không được giáo dục, không được làm việc. Họ là những tên nô lệ mới. Họ là những con người sống ở bên lề xã hội, họ bị mọi người khai thác. Tình trạng nô lệ thậm chí vẫn còn cho tới nay - chúng ta hãy nghĩ một chút đến điều ấy. Phẩm vị làm người bị chối bỏ nơi những con người ấy. Họ là thành phần nô lệ. Bởi vậy mà cuối cùng thì sự bình đẳng trong Chúa Kitô thắng vượt những khác biệt về xã hội giữa phái tính, khi thiết lập một thứ bình đẳng giữa nam và nữ, một thứ bình đẳng cách mạng vào thời ấy, và là một thứ bình đẳng cần được tái khẳng định cho hôm nay đây. Nó cần phải tái khẳng định thậm chí cả ở ngày hôm nay đây. Biết bao nhêu lần chúng ta nghe thấy những lời bày tỏ bôi nhọ nữ giới! Biết bao nhiêu lần chúng ta đã nghe nói "Nhưng không, đừng đụng đến bất cứ sự gì, đó là chuyện của phụ nữ". Thế nhưng, này, con người nam nữ có cùng một phẩm vị như nhau. Đã từng xẩy ra trong lịch sử, thậm chí còn cho tới ngày nay, có một kiểu nô lệ của nữ giới, đó là chuyện nữ giới không có cùng cơ hội như nam nhân. Chúng ta cần phải đọc những gì Thánh Phaolô nói: chúng ta đều bình đẳng với nhau trong Chúa Giêsu Kitô.

 Như chúng ta có thể thấy, Thánh Phaolô khẳng định mối hiệp nhất sâu xa đang hiện hữu giữa tất cả những ai đã lãnh nhận phép rửa, nơi bất cứ thân phận nào của họ, dù là nam hay nữ - bình đẳng nhau vì hết mọi người đều là một tạo vật mới trong Chúa Kitô. Hết mọi thứ phân biệt đều trở thành phụ thuộc đối với phẩm vị được làm con cái của Thiên Chúa, Đấng vì yêu thương, kiến tạo nên một sự bình đẳng thực sự và thiết yếu. Hết mọi người, nhờ việc cứu chuộc của Chúa Kitô và phép rửa chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta tất cả đều bình đẳng, đều là con cái của Thiên Chúa. Bình đẳng.

 Thưa anh chị em, thế nên chúng ta được gọi là một cách tích cực hơn để sống một sự sống mới có cội gốc nơi câu diễn tả sâu xa đó là được làm con cái của Thiên Chúa. Bình đẳng vì chúng ta là con cái của Thiên Chúa; và con cái của Thiên Chúa là vì Chúa Kitô đã cứu chuộc chúng ta và chúng ta đã đạt được phẩm vị này nơi phép rửa. Thật là hệ trọng cho chúng ta ngày nay trong việc tái nhận thức vẻ đẹp được làm con cái của Thiên Chúa, được là anh chị em giữa chúng ta, vì chúng ta được hiệp nhất nên một trong Chúa Kitô, Đấng đã cúu chuộc chúng ta. Những khác biệt và tương phản gây phân rẽ không được hiện diện giữa các tín hữu trong Chúa Kitô. Và một trong các vị tông đồ, Thánh Giacôbê đã viết trong Thư của ngài là: "Hãy coi chừng những khác biệt, vì thật là chuyện không đúng khi có một người bước vào nơi anh em hội họp (tức là Thánh Lễ), tay đeo nhẫn vàng, áo quần lộng lẫy, đồng thời có một người nghèo khó, ăn mặc tồi tàn, cũng bước vào,3 mà anh em kính cẩn nhìn người ăn mặc lộng lẫy và nói: 'Xin mời ông ngồi vào chỗ danh dự này', còn với người nghèo, anh em lại nói: 'Đứng đó!' hoặc: 'Ngồi dưới bệ chân tôi đây!'" (Giacôbê 2:2-3)

Chúng ta tạo nên những thứ khác biệt này, nhiều lần như vậy một cách vô ý thức. Không, chúng ta đều bình đẳng! Hơn thế nữa, ơn gọi của chúng ta là ơn gọi làm cho cụ thể hóa và hiển nhiên hóa lời kêu gọi hiệp nhất toàn thể nhân loại (cf Conc. Ecum. Vat. II, Cost. Lumen gentium, 1). Hết tất cả mọi sự đều làm trầm trọng hóa những khác biệt giữa con người, thường gây ra nạn kỳ thị - tất cả những điều ấy, trước nhan Thiên Chúa, không còn cơ sở nào nữa, nhờ ơn cứu độ nơi Chúa Kitô. Điều quan trọng ở đây đó là đức tin tác động theo đường lối hiệp nhất của Thánh Linh. Và trách nhiệm của chúng ta là trách nhiệm của một hành trình dứt khoát theo con đường bình đẳng, nhưng là một thứ bình đẳng được hỗ trợ, tức là được kiến tạo bởi ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu. Đừng quên khi anh chị em trở về nhà hôm nay, đó là "Tôi đã được rửa tội bao giờ?". Hãy tìm hiểu xem để luôn nhớ đến ngày ấy. Và khi đến ngày ấy thì hãy cử hành mừng nó. Xin cám ơn anh chị em.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210908_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Thư Galata - Bài 7 - Những Người Galata Khờ Dại

  

Xin chào anh chị em,

Chúng ta sẽ tiếp tục việc dẫn giải của Thư Galata được Thánh Phaolô gửi Kitô hữu giáo đoàn Galata. Đây không phải là một điều gì mới mẻ, tức là việc dẫn giải này, nó không phải là cái gì đó của tôi: những gì chúng ta đang học hỏi là những gì Thánh Phaolô nói hết sức xung khắc với Kitô hữu Galata. Nó cũng là Lời Chúa nữa, vì nó thuộc về Thánh Kinh. Chúng không phải là những gì được ai tạo ra: không. Nó là những gì đã xẩy ra vào thời đó và còn có thể tái diễn nữa. Đấy chỉ là một bài giáo lý về Lời Chúa được diễn tả trong Thư Thánh Phaolô gửi cho Giáo đoàn Galata; ngoài ra không còn gì khác. Cần phải nhớ như thế. Trong các bài giáo lý trước đây, chúng ta đã thấy cách thức Thánh Phaolô tỏ cho những Kitô hữu tiên khởi ở Galata mối nguy hiểm khi họ lìa bỏ đường lối họ đã bắt đầu hành trình bằng việc đón nhận Phúc Âm. Thật vậy, mối nguy cơ là ở chỗ chiều theo khuynh hướng hình thức, một trong những khuynh hướng dẫn đến chỗ giả hình, thái độ chúng ta đã nói đến ở những lúc khác. Việc chiều theo hình thức và chối bỏ phẩm vị mới mẻ mà họ đã lãnh nhận, phẩm vị của những ai được Chúa Kitô cứu chuộc. Đoạn thư chúng ta vừa nghe là đoạn bắt đầu phần hai của bức Thư này. Cho đến lúc này thì Thánh Phaolô đã nói về đời sống của ngài và ơn gọi của ngài: về cách thức ơn Chúa đã biến đổi cuộc sống của ngài, khiến ngài hoàn toàn dấn thân cho việc phục vụ phúc âm hóa. Đến đây, ngài trực tiếp thách thức những Kitô hữu Galata: ngài đưa cho họ những chọn lựa của họ và tình trạng bấy giờ của họ, những gì có thể vô hiệu hóa cảm nghiệm về ân sủng họ đã sống.

Những từ ngữ được Vị Tông đồ này sử dụng để ngỏ cùng Kitô hữu Galata thật sự là không lịch sự gì hết, như chúng ta đã nghe thấy. Ở các Thư khác, chúng ta dễ dàng thấy được những lời bày tỏ như "Chư huynh" hay "các bạn thân mến"; ở đây lại không, vì ngài cảm thấy giận dữ. Ngài nói chung chung về Kitô hữu Galata, và không ít hơn 2 lần ngài cho họ là "khờ dại", một lời lẽ không được lịch sự. Khờ dại, cù lần, có thể mang nhiều ý nghĩa... Ngài nói thế không phải vì họ thiếu thông minh, mà vì, hầu như không ý thức, họ đang có nguy cơ mất đi đức tin nơi Chúa Kitô mà họ đã lãnh nhận hết sức nhiệt tâm. Họ khờ dại vì họ không ý thức thấy rằng mối nguy hiểm ở đây là mối nguy hiểm bị mất đi kho tàng quí giá, mất đi vẻ đẹp, nơi tính chất mới mẻ của Chúa Kitô. Nỗi ngỡ ngàng và phiền muộn của vị Tông đồ này là những gì hiển nhiên. Cảm thấy đắng cay chua xót, ngài đã gợi lên cho những Kitô hữu này ký ức về việc loan báo ban đầu của ngài, được ngài cống hiến cho họ cái khả thể đạt tới một thứ tự do mới mẻ, bất ngờ có được cho tới lúc ấy.

Vị Tông đồ này đặt vấn đề với Kitô hữu Galata, chủ ý làm cho họ bừng tỉnh lương tâm của họ: đó là lý do tại sao nó lại thật mãnh liệt như thế. Chúng là những vấn đề có tính cách hùng biện, vì Kitô hữu Galata ý thức rõ được rằng việc họ tin tưởng vào Chúa Kitô là hoa trái của ân sủng họ nhận được nhờ việc rao giảng Phúc Âm. Ngài đưa họ về lại khởi điểm của ơn gọi Kitô hữu. Lời mà họ đã nghe từ Thánh Phaolô đều tập trung vào tình yêu của Thiên Chúa, hoàn toàn được tỏ hiện nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô không tìm thấy được một bày tỏ nào thuyết phục hơn những gì ngài có lẽ đã lập đi lập lại cho họ một số lần trong việc ngài rao giảng rằng: "Không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi. Sự sống tôi hiện sống trong xác thịt đây là tôi sống niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến Mình cho tôi" (Galata 2:20). Thánh Phaolô không muốn biết gì khác ngoài Chúa Kito tử giá (cf. 1Cor 2:2). Kitô hữu Galata cần phải nhìn vào biến cố này, đừng để mình bị phân tâm bởi những thứ rao truyền khác. Tóm lại - ý muốn của Thánh Phaolô là thúc bách các Kitô hữu hãy nhận thức được những gì đang nguy biến ở chỗ họ để mình bị thu hút bởi những tiếng nói của thành phần muốn dẫn họ tới một thứ đạo giáo chỉ biết tuân giữ các chỉ thị một cách thận trọng. Vì họ, thành phần rao giảng mới mẻ đã đến Galata, đã thuyết phục họ phải quay đầu trở lại với các luật lệ những người này đã tuân giữ và hoàn trọn trước khi Chúa Kitô xuất hiện, Đấng nhưng không ban ơn cứu độ.

Ngoài ra, những Kitô hữu Galata đã hiểu rất rõ những gì vị Tông đồ này muốn nói tới. Họ thật sự đã cảm nghiệm được tác động của Thánh Linh nơi cộng đồng của họ, ở chỗ, như nơi các cộng đồng khác, dức bác ái và các đặc sủng khác nhau đã tỏ hiện cả giữa họ nữa. Khi bị thử thách, họ cần phải đáp lại để những gì họ đã nghiệm thấy trở thành hoa trái về tính chất mới mẻ của Thần Linh. Bởi thế, khởi điểm việc họ chấp nhận đức tin là việc khởi động của Thiên Chúa, chứ không phải bởi con người. Thánh Thần đã là tác nhân nơi cảm nghiệm của họ; vậy việc đẩy Thánh Linh vào hậu trường để ưu tiên cho c ác việc làm của họ - tức là việc hoàn trọn các chỉ thị của Lề Luật - sẽ là những gì liều lĩnh dại dột. Tính chất thánh đức là những gì xuất phát từ Thánh Linh và là việc cứu chuộc nhưng không của Chúa Giêsu: chúng ta được công chính hóa là như vậy.

Như thế, Thánh Phaolô mời gọi cả chúng ta nữa hãy suy nghĩ xem chúng ta đang sống đức tin của chúng ta ra sao? Tình yêu của Chúa Kitô, Đấng tử giá và phục sinh, vẫn là tâm điểm của đời sống chúng ta hằng ngày như nguồn mạch cứu độ hay chăng, hay chúng ta cảm thấy hài lòng về một vài hình thức đạo nghĩa để xoa dịu lương tâm của chúng ta? Chúng ta đang sống đức tin của chúng ta ra sao? Chúng ta có gắn bó với kho tàng quí báu, với vẻ đẹp nơi tính chất mới mẻ của Chúa Kitô, hay chúng ta thích một cái gì đó thu hút chúng ta trong chốc lát nhưng rồi lưu lại trong chúng ta những gì là trống rỗng? Những gì là phù du thường hay gõ cửa trong những ngày sống của chúng ta, nhưng nó lại là một thứ ảo tưởng u buồn, khiến chúng ta nông nổi chiều theo và ngăn trở chúng ta khỏi nhận thức được những gì là thực sự đáng sống.

Anh chị em ơi, tuy nhiên, chúng ta hãy tin tưởng rằng ngay cả khi chúng ta bị cám dỗ quay đi thì Thiên Chúa vẫn tiếp tục ban các tặng ân của Ngài. Qua giòng lịch sử, thậm chí ngay cả hôm nay đây, những sự việc xẩy ra giống như những gì đã xẩy ra cho Kitô hữu Galata. Ngay cả hôm nay đây, người ta hô hào chúng ta rằng: "Không, thánh đức là ở nơi các thứ chỉ thị này, nơi những điều kia, các bạn cần phải làm điều này điều nọ", và đề ra một thứ đạo nghĩa có tính cách uyển chuyển, một tính chất uyển chuyển lấy đi khỏi chúng ta cái tự do theo Thần Linh được ơn cứu chuộc của Chúa Kitô ban cho chúng ta. Hãy coi chứng tính cách cứng cỏi họ đề ra cho anh chị em: hãy cẩn thận. Vì ở đằng sau hết những gì là uyển chuyển đều có một cái gì xấu xa tệ hại, không xuất phát từ Thần Linh Chúa. Đó là lý do bức Thư này sẽ giúp chúng ta không nghe theo thánh phần có vẻ bảo thủ này đề ra để làm cho chúng ta thoái hóa đời sống thiêng liêng của chúng ta, và sẽ giúp chúng ta tiến bước  theo ơn gọi vượt qua của Chúa Giêsu.

 Đó là những gì vị Tông đồ này lập lại cho Kitô hữu Galata, khi ngài nhắc nhở họ rằng Chúa Cha "ban Thần Linh cho anh em và thực hiện các phép lạ giữa anh em" (3:5). Ngài nói ở thời hiện tại, ngài không nói "Chúa Cha đã ban cho anh em Thần Linh", đoạn 3, câu 5, không, ngài nói "đang ban"; ngài không nói "đã thực hiện" mà là "đang thực hiện". Vì, bất chấp tất cả mọi khó khăn chúng ta có thể gây ra cho tác động của mình, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi chúng ta, trái lại còn ở với chúng ta bằng tình yêu nhân hậu của Ngài. Ngài như một người cha hằng ngày ngong ngóng đứa con của mình trở về: tình yêu thương này của Chúa Cha không bao giờ biết mỏi mệt về chúng ta. Chúng ta hãy xin ơn khôn ngoan luôn nhận thức được thực tại này, và hãy tránh xa thành phần bảo thủ đề ra cho chúng ta một đời sống khắc khổ có tính cách nhân tạo, đẩy chúng ta xa khỏi cuộc phục sinh của Chúa Kitô. Việc khổ hạnh thì cần thiết đấy, nhưng khổ hạnh một cách khôn ngoan chứ không phải một cách nhân tạo.

 https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210901_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Thư Galata

 Bài 6- Những nguy hiểm của Lề Luật 25-8-2021

  

Xin chào anh chị em,

Thư Galata cho thấy một sự kiện lạ lùng khác nữa. Như chúng ta đã nghe thấy Thánh Phaolô nói rằng ngài đã trách móc Cephas hay Phêrô, trước cộng đồng ở Antiokia, vì tác hành của vị này đã tỏ ra không tốt đẹp gì. Những gì đã xẩy ra nghiêm trọng đến độ Thánh Phaolô cảm thấy buộc phải lên tiếng cùng Thánh Phêrô, bằng những ngôn từ dữ dội như thế chứ? Có lẽ Thánh Phaolô đã quá đáng chăng, trong việc để cho cá tính của mình lộ ra bất khả chế ngự? Chúng ta sẽ thấy không phải là vấn đề này, mà lại là những gì liên hệ giữa Lề Luật và tự do. Chúng ta cần phải thường xuyên trở lại với vấn đề này.

Khi viết cho giáo đoàn Galata, Thánh Phaolô đã cố ý đế cập đến tình tiết đã xẩy ra ở Antiokia trước đây. Ngài muốn nhắc nhở Kitô hữu của cộng đồng này rằng họ không tuyệt đối triệt để phải nghe theo những kẻ giảng dạy rằng cần phải được cắt bì, những gì làm cho họ "lệ thuộc Lệ Luật" cùng với tất cả mọi qui định của Lề Luật. Chúng ta nhớ là những thày dạy cực đoan bảo thủ này đã đến đó và đã gây ra rắc rối lầm lẫn, thậm chí còn làm cho cộng đồng này trở nên bất an. Mục tiêu của lời phê phán liên quan đến Thánh Phêrô đó là việc ngài tác hành khi ngồi xuống bàn. Đối với người Do Thái thì Lề Luật cấm không cho phép được ngồi ăn uống chung với những ai không phải là Do Thái. Thế nhưng chính Thánh Phêrô, ở một trường hợp khác, đã đến nhà của viên đại đội trưởng Corneliô ở Caesarea, dù biết rằng làm thế là ngài vi phạm Lề Luật. Do đó nên ngài đã xác minh rằng: "Thiên Chúa đã cho tôi hiểu rằng tôi không được gọi ai là thô tục hay dơ bẩn" (Tông Vụ 10:28). Khi ngài trở về Jerusalem, các Kitô hữu chịu cắt bì, thành phần trung thành với Luật Moisen, đã trách móc Thánh Phêrô về hành vi của ngài. Tuy nhiên, ngài đã tự biện minh như sau: "Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng: 'Ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần'. Vậy, nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa?" (Tông Vụ11:16-17). Chúng ta hãy nhớ rằng bấy giờ Thánh Thần đã đến nhà của viên đại đội trưởng Cornelio khi Thánh Phêrô tới đó.

 Một điều tương tự cũng đã xẩy ra ở Antiokia trước mặt Thánh Phaolô. Trước hết, Thánh Phêrô bấy giờ đang ăn uống với các Kitô hữu gốc dân ngoại chẳng có vấn đề gì; tuy nhiên, khi có một số Kitô hữu đã chịu cắt bì từ Jerusalem tới thành đó - những người gốc Do Thái - bấy giờ ngài ngưng không còn ngồi ăn uống như vậy nữa, vì ngài không muốn bị họ phê phán chỉ trích. Hãy coi chừng điều này, cái lỗi lầm của ngài là ở chỗ ngài lo bị phê bình chỉ trích, và muốn tạo một ấn tượng tốt đẹp. Đó là những gì hệ trọng trước mắt Thánh Phaolô, vì các người môn đệ khác đã bắt chước Thánh Phêrô, nhất là Barnabas, con người đã từng truyền bá phúc âm hóa dân thành Galata (cf Galata 2:13). Thánh Phêrô, khi làm như vậy, dù vô tình, cũng tỏ ra như bấp bênh làm sao ấy, không rõ ràng, chẳng minh bạch, thật sự đã tạo nên tình trạng chia rẽ bất chính trong cộng đồng này: "Tôi tinh sạch... Tôi đang theo đuổi chiều hướng này... Tôi cần phải làm như thế.... không thể làm như vậy được..."

Trong lời trách móc của mình - và đó là tâm điểm của vấn đề ấy - Thánh Phaolô sử dụng một từ ngữ giúp chúng ta có thể thấy được công trạng nơi việc phản ứng của ngài, đó là giả hình (cf Galata 2:13). Đó là một từ ngữ được lập lại một số lần: giả hình. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều hiểu được ý nghĩa của nó.... Việc tuân giữ Lề Luật về phần các Kitô hữu đã dẫn đến tác hành giả hình mà vị tông đồ này đã muốn mãnh liệt quyết thắng đối đầu. Thánh Phaolô là một con người chính trực, ngài có những khiếm khuyết của mình - nhiều khiếm khuyết ... với cá tính dữ dằn - thế nhưng ngài là người chính trực. Giả hình là gì? Khi chúng ta nói "Hãy coi chừng, người này là một kẻ giả hình", thì chúng ta đang muốn nói gì thế? Giả hình là gì? Có thể gọi nó là nỗi sợ hãi sự thật. Kẻ giả hình là người sợ sự thật. Thà giả vờ còn hơn là tỏ ra chính bản thân mình. Nó như thể son phấn cho linh hồn, làm đẹp cho hành vi cử chỉ của anh chị em, tiến hành làm sao cho có ấn tượng: đó không phải là sự thật. "Không, tôi sợ tỏ mình ra là ai...", tôi sẽ làm cho mình dễ thương bằng việc tác hành như thế. Việc giả vờ là những gì dập tắt đi lòng can đảm dám công khải nói những gì là chân thật; và vì thế mà trách nhiệm buộc phải luôn nói sự thật, ở bất cứ nơi đâu và bất chấp mọi sự là những gì dễ bị bỏ qua lắm. Việc giả vờ dẫn đền những sự thật nửa vời. Những sự thật nửa vời là một thứ giả mạo, vì sự thật là sự thật hay không phải là sự thật. Những thứ sự thật nửa vời là đường lối tác hành không chân thực. Như tôi đã nói, chúng ta thích giả vờ hơn là tỏ bản thân mình ra, và việc giả vờ này dập tắt đi lòng can đảm dám công khai nói sự thật. Như thế là chúng ta đào thoát khỏi nhiệm vụ - đó là mệnh lệnh bao giờ cũng phải nói sự thật; phải tỏ ra chân thực, ở chỗ nói sự thật ở khắp nơi bất chấp mọi sự. Trong môi trường của những giao tiếp liên cá thể có tính cách hình thức bề ngoài thì thứ vi khuẩn giả hình này dễ dàng lây lan. Nụ cười như thế đó lại không xuất phát từ cõi lòng. Có vẻ như tác hành tốt lành với hết mọi người đấy mà là chẳng với ai hết.

Trong Thánh Kinh, có một số trường hợp tính chất giả hình bị thách đố. Một chứng từ tuyệt vời chống lại giả hình đó là chứng từ của vị lão thành Eleazar, vị đã được yêu cầu giả vờ ăn thịt được cúng tế cho các thần linh ngoại giáo để cứu lấy sinh mạng của ông, tức là ông giả vờ ăn nó thôi chứ thật ra ông lại không ăn. Hoặc ông giả vờ ăn thịt heo nhưng bạn bè của ông đã dọn cho ông một thứ khác để ăn. Tuy nhiên, con người kính sợ Chúa này - một con người không phải mới 20 tuổi đầu - đã trả lời rằng: "Việc vờ vịt này không xứng đáng với thời điểm sống của chúng tôi đây, kẻo nhiều người trẻ cho rằng Eleasar 90 tuổi này mà còn theo ngoại giáo. Rồi bởi tôi đã giả vờ mà ham sống thêm một ít lâu nữa, nên họ bị tôi đánh lừa, còn tôi thì chuốc lấy vết nhơ và ô nhục cho tuổi già" (2Macabê 6:24-25). Một con người chân thực: ông đã không chọn đường lối giả hình! Thật là một tình tiết tuyệt vời để ngẫm nghĩ về việc tách bản thân chúng ta cho khỏi những gì là giả hình! Cả các Phúc Âm nữa cũng cho thấy những trường hợp Chúa Giêsu nặng lời trách móc những ai có vẻ công chính bề ngoài, nhưng trong lòng lại đầy những giả dối và gian ác (cf. Mt 23:13-29). Nếu hôm nay anh chị em có giờ thì hãy mở đoạn 23 Phúc Âm Thánh Mathêu ra mà xem, để thấy được bao nhiêu lần Chúa Giêsu nói "giả hình, giả hình, giả hình", đó là những gì về cách thức giả hình.

Thành phần giả hình là những con người giả bộ, tô điểm và lừa đảo vì họ sống bằng một thứ mặt nạ phủ khuôn mặt của họ và không đủ can đảm để đối diện với sự thật. Vì thế mà họ không thể nào thực sự yêu thương: kẻ nào giả hình thì không biết yêu thương. Họ chỉ sống cho cái tôi của họ và không đủ can đảm để tỏ ra cho thấy tâm can minh chính của họ. Có nhiều trường hợp giả hình ra tay hoạt động. Nó thường ẩn nấp nơi chỗ làm việc, khi mà có ai đó như thể thân tình với bạn bè của họ, đồng thời lại đâm sau lưng những người ấy bởi cạnh tranh. Trong chính trường thì không phải là bất thường có những kẻ giả hình, công cộng thì sống khác, tư riêng lại sống khác. Giả hình ở trong Giáo Hội là những gì ghê tởm; tiếc thay, giả hình lại hiện hữu trong Giáo Hội và có nhiều Kitô hữu giả hình và nhiều vị thừa tác giả hình. Chúng ta không bao giờ được quên những lời Chúa nói: "Những gì các con nói chỉ là 'có' hay 'không'; ngoài ra đều là xấu xa" (Mathêu 5:37). Hôm nay, thưa anh chị em, chúng ta hãy nghĩ đến vấn đề giả hình bị Thánh Phaolô lẫn Chúa Giêsu lên án: giả hình. Chúng ta đừng sợ sống chân thực, nói sự thật, nghe sự thật, tuân hợp bản thân với sự thật, để chúng ta có thể yêu thương. Kẻ giả hình không biết yêu thương là gì hết. Tác hành khác với những gì là chân thực tức là tác hại đến mối hiệp nhất của Giáo Hội, mối hiệp nhất như chính Chúa nguyện cầu. Xin cám ơn anh chị em.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210825_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Thư Galata

Bài 5 - Lề Luật như giám hộ viên

18 tháng 8 năm 2021

  

Xin chào anh chị em!

Thánh Phaolô, vị đã kính mến Chúa Giêsu và đã hiểu rõ ơn cứu độ là gì, đã dạy chúng ta rằng "con cái của lời hứa" (Galata 4:28) - tức là tất cả chúng ta đây, thành phần đã được công chính hóa bởi Chúa Giêsu Kitô - thì không còn lệ thuộc vào Lề Luật nữa, mà là được kêu gọi thực hành lối sống tự do cần có của Phúc Âm. Tuy nhiên, Lề Luật vẫn còn đó. Thế nhưng  còn đó một cách khác, ở chỗ, vẫn Lề Luật như vậy, vẫn Thập Giới, mà bằng một cách khác, vì tự mình nó không còn được công chính khi Chúa đến. Bởi thế, trong bài giáo lý hôm nay, tôi muốn giải thích điều này. Chúng ta đặt vấn đề: Theo Thư Galata thì đâu là vai trò của Lề Luật? Trong đoạn thư chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô đã nói rằng Lề Luật giống như một giám hộ viên. Đó là một hình ảnh đẹp đẽ, hình ảnh về thứ giám hộ chúng ta đã nói đến trong buổi triều kiến chung vừa rồi, một hình ảnh đáng được tìm hiểu đúng với ý nghĩa của nó.

Vị Tông đồ này dường như gợi ý là Kitô hữu hãy chia lịch sử cứu độ ra làm hai phần, như câu truyện đời của ngài. Có hai giai đoạn: trước khi trở thành tín hữu tin vào Chúa Giêsu Kitô và sau khi đã lãnh nhận đức tin. Ở tâm điểm của hai giai đoạn này là biến cố tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, một biến cố được Thánh Phaolô giảng dạy để tác động lòng tin tưởng vào Người Con của Thiên Chúa, nguồn mạch ơn cứu độ, và nơi Chúa Giêsu Kitô chúng ta được công chính hóa. Bởi thế, khởi đi từ lòng tin vào Chúa Kitô mới có chuyện Lề Luật có "trước đó" và "sau đó", vì Lề Luật vẫn còn đó, Thập Giới vẫn còn đó, thế nhưng thái độ lại khác nhau trước khi Chúa Giêsu xuất hiện và sau đó. Lịch sử trước đó được xác định là "lệ thuộc Lề Luật". Con người sống theo Lề Luật thì được cứu độ, được công chính hóa; giai đoạn lịch sử tiếp sau đó, tức giai đoạn sau khi Chúa Giêsu xuất hiện, lại sống theo Thánh Linh dẫn dắt (Galata 5:25). Đây là lần đầu tiên Thánh Phaolô sử dụng cụm từ: "lệ thuộc Lề Luật". Ý nghĩa sâu xa này ám chỉ một sự qui phục tiêu cực, tiêu biểu cho thành phần nô lệ: "bị lệ thuộc". Vị Tông đồ này làm sáng tỏ vấn đề khi nói rằng nếu một người "lệ thuộc Lề Luật" thì như thể bị "canh giữ" và "gò bó", một thứ bảo hộ phòng ngừa. Thánh Phaolô nói rằng giai đoạn này đã kéo dài một thời gian lâu dài - từ Moisen, cho tới khi Chúa Giêsu xuất hiện - và mãi mãi tồn tại với những ai sống trong tội lỗi.

Mối liên hệ giữa Lề Luật và tội lỗi sẽ được diễn giải một cách có hệ thống hơn nơi Thư Roma, được viết ít năm sau Thư Galata. Tóm lại, Lề Luật dẫn đến xác định những gì là vi phạm và làm cho dân chúng nhận thức được tội lỗi của họ: "Anh em đã làm như thế nên Lề Luật - Thập Giới - mới nói rằng anh em phạm tội". Hay nói cách khác, như kinh nghiệm chung cho thấy, thứ luật này đưa đến chỗ tác động việc vi phạm. Trong Thư Roma, ngài viết: "Khi chúng ta còn bị tính xác thịt chi phối, thì các đam mê tội lỗi dùng Lề Luật mà hoạt động nơi các chi thể chúng ta, để chúng ta sinh hoa kết quả đưa tới cái chết. Nhưng nay, chúng ta không còn bị Lề Luật ràng buộc nữa, vì chúng ta đã chết đối với cái vẫn giam hãm chúng ta" (Roma 7:5-6) Tại sao? Vì việc công chính hóa của Chúa Giêsu Kitô đã tới. Thánh Phaolô bày tỏ vắn gọn quan điểm của ngài về Lề Luật như thế này: "Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật" (1Corinto 15:56). Một thứ trao đổi: anh em lệ thuộc lề luật và anh em ở đó như mở đường cho tội lỗi.

Theo chiều hướng ấy thì lề luật đóng vai giám hộ viên như được ám chỉ mới trọn vẹn ý nghĩa. Thế nhưng, Lề Luật là giám hộ viên dẫn anh em đi đâu? Đi đến với Chúa Giêsu. Theo đường lối học thức cổ thời thì giám hộ viên đây không có phận sự được chúng ta qui cho như ngày nay, tức là phận vụ nâng đỡ trợ giúp việc học hành của con trẻ nam nữ nào đó. Trái lại, vào thời ấy thì người này là một kẻ nô lệ có phận sự dẫn đứa con của vị chủ nhân đến thày giáo rồi sau đó mang con của chủ trở về nhà. Người này bảo vệ đứa nhỏ cần phải trông coi cho khỏi nguy hiểm và canh chứng nó cho khỏi các hành vi cử chỉ xấu. Phận vụ của người nô lệ đi trông coi con của chủ này thật sự là việc kèm giữ. Khi đứa nhỏ trưởng thành thì giám hộ viên này hết phận sự. Giám hộ viên được Thánh Phaolô ám chỉ ở đây không phải là thày giáo, mà là người đi kèm theo đứa nhỏ được giao cho kèm giữ, người canh chừng đứa bé và đưa nó về lại nhà.

Việc qui cho Lề Luật những ý nghĩa như thế giúp cho Thánh Phaolô có thể làm sáng tỏ vai trò của Lề Luật trong lịch sử của dân Do Thái. Ngũ Kinh, tức là Lề Luật, là một hành động hào phóng của Thiên Chúa đối với dân của Ngài. Sau việc tuyển chọn Abraham là một hành động cao cả khác Ngài tỏ ra đó là Lề Luật, ở chỗ chỉ cho dân Ngài con đường phải theo. Thật sự là nó có những phận vụ rào chắn, nhưng đồng thời nó lại bảo vệ dân của Ngài, nó đã giáo huấn họ, no đã kỷ cương họ và đã nâng đỡ họ nơi tình trạng yếu kém của họ, nhất là nó đã bảo vệ họ khỏi chiều hướng ngoại giáo; vào thời ấy có rất nhiều thái độ ngoại đạo. Ngũ Kinh dạy rằng: "Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và Ngài đã đưa chúng ta vào con đường của chúng ta". Một hành động thiện hảo của Chúa. Như tôi đã nói, nó thật sự là có những phận vụ rào chắn, nhưng đồng thời nó lại bảo vệ dân của Ngài, nó đã giáo huấn họ, no đã kỷ cương họ và đã nâng đỡ họ nơi tình trạng yếu kém của họ. Đó là lý do tại sao vị Tông đồ này tiếp tục diễn tả câu nói về lứa tuổi non dại. Ngài nói: "Bao lâu người thừa kế còn là thiếu niên thì không khác gì một nô lệ, mặc dù là chủ mọi tài sản. Nó phải ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý, cho đến khi mãn hạn người cha đã định. Chúng ta cũng vậy, khi còn là thiếu niên, chúng ta phải làm nô lệ những yếu tố của vũ trụ". (Galata 4:1-3). Nói tóm lại, niềm xác tín của vị Tông đồ này là ở chỗ Lề Luật thật sự đóng một vai trì tích cực - như giám hộ viên kèm giữ người mình coi sóc - thế nhưng nó có một nhiệm vụ giới hạn về thời gian. Nó không thể kéo dài quá xa, vì nó liên hệ tới tầm mức trưởng thành của cá nhân cùng với việc tự do chọn lựa của họ. Khi người ta biết tin tưởng thì Lề Luật mất giá trị kèm giữ của nó và phải nhường bước cho một thẩm quyền khác. Như thế nghĩa là gì? Nghĩa là sau Lề Luật chúng ta có thể nói: "Chúng tôi tin vào Chúa Giêsu Kitô và chúng tôi làm những gì chúng tôi muốn?" Không! Các Giới Răn vẫn còn đó, thế nhưng nó không còn công chính hóa chúng ta. Điều làm cho chúng ta nên công chính đó là Chúa Giêsu Kitô. Các Giới Răn cần phải tuân giữ, thế nhưng chúng không mang lại cho chúng ta sự công chính; đã có những gì là nhưng không của Chúa Giêsu, việc gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô mới hoàn toàn công chính hóa chúng ta. Công trạng của đức tin là lãnh nhận Chúa Giêsu. Chỉ có một công trạng duy nhất đó là cởi mở cõi lòng. Vậy chúng ta phải làm gì với các Giới răn đây? Chúng ta cần phải tuân giữ các Giới răn, nhưng như là một thứ phụ giúp để gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô thôi.

Giáo huấn về giá trị của Lề Luật này là những gì rất quan trọng, và đáng được cẩn thận suy xét để chúng ta khỏi bị hiểu lầm và trở nên sai lệch. Thật là hữu ích khi chúng ta tự vấn xem chúng ta vẫn sống trong giai đoạn chúng ta cần đến Lề Luật, hay trái lại chúng ta hoàn toàn nhận thức được mình đã lãnh nhận ơn được làm con cái của Thiên Chúa hầu sống trong yêu thương. Chúng ta đang sống ra sao? Bằng nỗi sợ hãi là nếu tôi không làm như thế thì tôi sẽ sa hỏa ngục? Hay tôi sống với cả niềm hy vọng, với niềm vui về ơn cứu độ nhưng không nơi Chúa Giêsu Kitô? Đó là một câu hỏi cần. Cả câu thứ hai này nữa: Tôi có coi thường các Giới răn hay chăng? Không. Tôi tuân giữ chúng, nhưng không tuyệt đối, vì tôi biết rằng chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng công chính hóa tôi.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210818_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

 

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Thư Galata 11 tháng 8 năm 2021

Bài 4 - Lề Luật Moisen 

Chào anh chị em,

"Tại sao luật?" (Galata 3:19). Đây là vấn nạn chúng ta muốn đào sâu hôm nay, tiếp tục với Thánh Phaolô, để thấy được tính chất mới mẻ của đời sống Kitô giáo là đời sống được khơi động bởi Thánh Linh. Thế nhưng, nếu Thánh Linh hiện hữu, nếu Chúa Giêsu là Đấng đã cứu chuộc chúng ta, thì tại sao lại còn phải có lề luật chứ? Đó là những gì chúng ta cần phải suy nghĩ hôm nay. Vị Tông đồ này đã viết: "Nếu anh em được Thần Linh dẫn dắt, thì anh em không còn lệ thuộc vào lề luật" (Galata 5:18). Trái lại, thành phần gièm pha phỉ báng vị tông đồ vẫn chủ trương rằng Kitô hữu Galata phải tuân theo lề luật nữa mới được cứu độ. Họ đã đi giật lùi. Họ hoài niệm về những thời điểm đã qua đi, về những thời điểm trước Chúa Giêsu Kitô. Vị Tông đồ này không đồng ý với họ một tí nào. Những điều này không phải là những từ ngữ ngài đã đồng ý với các vị Tông đồ khác ở Giêrusalem. Ngài nhớ rất rõ những lời của Tông đồ Phêrô khi vị Tông đồ này nói rằng: "Tại sao anh em lại thử thách Thiên Chúa, bằng cách chất lên đầu lên cổ của những người môn đệ này cái ách mà cha ông của chúng ta hay cả chúng ta nữa đã không thể nào mang nổi?" (Tông Vụ 15:10). Những giải định này đã xuất phát từ "công đồng thứ nhất" - công đồng chung đầu tiên đã diễn ra ở Giêrusalem - và những giải định này đã hiện lên rất ư là rõ ràng. Các vị đã nói rằng: "Vì Thánh Linh và chúng tôi quyết định là không nên áp đặt gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này, đó là anh em hãy kiêng lành những gì cúng tế cho các thứ ngẫu tượng [tức là thờ ngẫu tượng], máu huyết cùng những vật bị chết ngạt, cũng như những gì là dâm ô lăng loàn" (Tông Vụ 15:28-29). Những điều này liên quan đến việc thờ phượng Thiên Chúa, và việc tôn thờ ngẫu tượng, cùng những gì về đường lối nhận thức váo thời bấy giờ.

Khi Thánh Phaolô nói về Lề Luật, ngài thường ám chỉ đến Luật Moisen, luật được ban bố bởi Moisen, đó là Thập Giới. Nó có liên hệ đến, nó là một thứ dọn đường, nó liên quan tới Giao Ước Thiên Chúa đã thiết lập với dân của Ngài. Theo những bản văn Cựu Ước khác nhau, Ngũ Kinh - chữ Do Thái được sử dụng để nói đến Lề Luật - là tổng hợp tất cả những qui định và chuẩn định dân Do Thái cần phải tuân giữ bởi Giao Ước với Thiên Chúa. Một tổng luận hiệu năng về những gì là Ngũ Kinh có thể thấy được trong Sách Đệ Nhị Luật, như thế này: "Chúa hân hoan vì làm cho các ngươi được thịnh vượng, cũng như Người đã lấy làm vui nơi cha ông của các ngươi, miễn là các ngươi nghe tiếng Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, mà giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ của Ngài, được ghi trong sách Luật này, miễn là các ngươi hết lòng hết dạ trở về với Chúa, Thiên Chúa của các ngươi". Vậy, việc tuân giữ Lế Luật đã bảo đảm cho dân này các phúc lợi của Giao Ước, cùng bảo đảm mối liên hệ đặc biệt của họ với Thiên Chúa. Dân này, con người này, được liên kết với Thiên Chúa, và họ tỏ hiện mối liên hệ với Thiên Chúa ấy, bằng việc hoàn trọn, bằng việc tuân giữ Lề Luật. Để thực hiện Giao Ước với dân Do Thái, Thiên Chúa đã cống hiến cho họ Ngũ Kinh, Lề Luật, để họ có thể hiểu được ý muốn của Ngài và sống một cách công chính. Chúng ta phải nghĩ rằng vào thời điểm ấy, một thứ Lề Luật như thế là những gì cần thiết, nó là một tặng ân lớn lao Thiên Chúa đã ban cho dân của Ngài. Tại sao? Vì vào lúc ấy chiều hướng dân ngoại lan tràn khắp nơi, việc tôn thờ ngẫu tượng ở khắp chốn, và tác hành của con người là hậu quả của việc tôn thờ ngẫu tượng này. Vì thế mà lề luật mới là tặng ân cao cả Thiên Chúa đã ban cho dân của Ngài, để họ có thể kiên trì. Có một đôi lần, nhất là ở trong các sách ngôn sứ, đã đề cập đến việc không tuân giữ các chỉ thị của Lề Luật đã tạo nên một thứ phản bội thực sự đối với Giao Ước, khiến Thiên Chúa nổi giận. Mối liên hệ giữa Giao Ước và Lề Luật chặt chẽ đến độ hai thực tại này bất khả phân ly. Lề Luật là đường lối mà một người, một dân tộc chứng tỏ họ gắn bó với Giao Ước của Thiên Chúa.

 Bởi vậy, căn cứ vào tất cả những điều ấy, cũng dễ hiểu hơn nữa làm thế nào mà những tay truyền giáo này đã làm xâm nhập vào Kitô hữu Galata cái trò có vẻ hay ho đẹp đẽ này, bằng việc chủ trương rằng gắn bó với Giao Ước cũng bao gồm cả việc tuân giữ Luật Moisen như đã thực hiện thời bấy giờ. Tuy nhiên, chính ở chỗ này, chúng ta mới có thể khám phá thấy sự thông minh về tâm linh cùng với những minh thức cao cả được ngài bày tỏ, do ân sủng ngài đã lãnh nhận trong sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của ngài.

Vị Tông đồ này giải thích cho Kitô hữu Galata rằng, thực sự, Giao Ước và Lề Luật không liên kết với nhau một cách bất khả phân ly - Giao Ước với Thiên Chúa và Lề Luật Moisen. Yếu tố thứ nhất ngài dựa vào đó là Giao Ước Thiên Chúa thiết lập với Abraham được căn cứ vào đức tin trong việc hoàn trọn lời hứa, chứ không vào việc tuân giữ Lề Luật vào lúc nó chưa có. Abraham đã bắt đầu cuộc hành trình của mình nhiều thế kỷ trước khi có Lề Luật. Vị Tông đồ viết:  "Tôi muốn nói là: một giao ước đã được Thiên Chúa lập đúng thể thức (với Abraham khi Ngài gọi ông), thì Lề Luật, mãi bốn trăm ba mươi năm sau mới có (với Moisen), không phế bỏ giao ước đó được, và như vậy làm cho lời hứa ra vô hiệu". Lời này rất quan trọng. Dân Thiên Chúa, Kitô hữu chúng ta, chúng ta hành trình bởi đời sống hướng đến một hứa hẹn, thứ hứa hẹn lôi cuốn chúng ta, nó thu hút chúng ta tiến tới chỗ gặp gỡ Chúa. "Vì nếu nhờ Lề Luật mà người ta được hưởng gia tài, thì không còn phải là nhờ lời hứa nữa (lời hứa xẩy ra trước Lề Luật, lời hứa với Abraham); nhưng Thiên Chúa đã dùng một lời hứa mà ban ân huệ cho ông Áp-ra-ham" (Galata 3:17-18), sau đó 430 năm mới có Lề Luật. Với lập luận này, Thánh Phaolô đã tiến tới mục tiêu của ngài, ở chỗ Lề Luật không phải là nền tảng của Giao Ước vì nó có sau, nó là những gì cần thiết và chính đáng, nhưng trước nó đã có lời hứa, có Giao Ước.

Một lập luận như vậy đã bác bỏ tất cả những ai chủ trương rằng Lề Luật Moisen là một phần cấu tạo nên Giao Ước. Không, Giao Ước có trước, rồi tới Abraham được kêu gọi. Thật vậy, Ngũ Kinh, Lề Luật, không được bao gồm trong lời hứa với Abraham. Tuy nhiên, người ta không được nghĩ rằng khi nói như thế Thánh Phaolô chống lại Lề Luật Moisen. Không, ngài đã tuân giữ nó. Trong những lá Thư của mình, có mấy lần ngài bênh vực nguồn gốc thần linh của nó, và nói rằng nó có một vai trò rất chuyên biệt trong lịch sử cứu độ. Tuy nhiên, Lề Luật không cống hiến sự sống, nó không cống hiến cho việc hoàn trọn lời hứa vì nó không có khả năng hoàn trọn này. Lề Luật là một cuộc hành trình, một cuộc hành trình dẫn đến một cuộc gặp gỡ. Tông đồ Phaolô sử dụng một chữ, tôi không biết có trong bản văn hay chăng, một chữ rất quan trọng: lề luật là một "giáo dục viên" hướng về Chúa Kitô, một giáo dục viên hướng tới đức tin vào Chúa Kitô, tức là một ông thày dẫn dắt anh chị em đến với cuộc gặp gỡ này (cf. Galata 3:24). Những ai tìm kiếm sự sống đều cần phải hướng về lời hứa và đến chỗ hoàn trọn của lời hứa trong Chúa Kitô.

Anh chị em thân mến, việc trình bày đầu tiên này của vị Tông đồ cho Kitô hữu Galata cho thấy tính chất mới mẻ nồng cốt của đời sống Kitô giáo, đó là tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô đều được kêu gọi sống trong Thánh Linh, Đấng giải phóng chúng ta khỏi Lề Luật, đồng thời, làm cho Lề Luật am hợp với giới luật yêu thương. Điều này rất quan trọng. Lề Luật dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu. Thế nhưng một người nào đó trong anh chị em có thể nói với tôi rằng: "Thế nhưng, thưa Cha, chỉ một điều duy nhất thôi sao, phải chăng có nghĩa là nếu con cầu Kinh Tin Kính, thì con không cần tuân giữ các giới luật nữa?" Không, các giới răn vẫn có hiệu lực ở chỗ chúng là "những thày dạy" dẫn bạn đến cuộc gặp gỡ Chúa Kitô. Nhưng nếu bạn loại trừ việc gặp gỡ Chúa Giêsu và muốn lùi lại bằng cách gán cho các giới răn tầm quan trọng hơn, thì đó là vấn đề của những tay truyền giáo cực đoan ấy, thành phần đã xâm nhập vào Kitô hữu Galata để làm cho họ lầm lẫn.

Xin Chúa giúp chúng ta hành trình theo đường lối các giới răn, nhưng hướng tới tình yêu của Chúa Kitô, hướng tới cuộc gặp gỡ Chúa Kitô, với ý thức rằng việc gặp gỡ Chúa Kitô thì quan trọng hơn tất cả mọi giới răn.

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210811_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Thư Galata 30 thang 6-2021

Bài 2- Thánh Phaolô: Vị Tông Đồ Đích Thực

 

 

Thân mến chào anh chị em,

Chúng ta hãy cùng nhau tiến vào Thư Galata mỗi lần một chút. Chúng ta đã thấy được các Kitô hữu ở đây rơi vào cuộc khủng hoảng về cách thức làm sao sống đức tin. Tông đồ Phaolô bắt đầu viết bức thư này để nhắc nhở họ về mối liên hệ quá khứ của họ, cảm nhận khắc khoải của ngài khi xa cách họ, và tấm lòng yêu thương bất khả đổi thay của ngài đối với từng người trong họ. Tuy nhiên, ngài vẫn không quên bày tỏ mối quan tâm của ngài về việc Kitô hữu ở Galata cần phải theo đuổi con đường chân thực: đó là mối quan tâm của một người cha, vị đã sinh ra các cộng đồng này trong đức tin. Ý nguyện của ngài rất rõ ràng, đó là cần phải lập lại tính chất mới mẻ của Phúc Âm, những gì Kitô hữu Galata đã lãnh nhận nhờ việc rao giảng của ngài, để xây dựng một căn tính đích thực làm nền tảng cho đời sống của họ. Căn tính nền tảng này đó là nguyên tắc tái khẳng định tính chất mới mẻ của Phúc Âm mà họ đã lãnh nhận từ ngài.

Chúng ta nhận thức ngay được rằng Thánh Phaolô có một kiến thức sâu xa về mầu nhiệm Chúa Kitô. Ngay đầu Bức Thư này của mình, ngài không tranh cãi vặt thường được sử dụng bởi thành phần gièm pha phỉ báng của ngài. Vị Tông đồ này "cao bay" và tỏ cho chúng ta thấy nữa, cách tác hành khi xẩy ra những xung khắc trong cộng đồng này. Thật vậy, chỉ vào đoạn cuối của Bức Thư mới cho thấy vấn đề cắt bì là trọng tâm của việc công kích, vấn đề chính yếu theo truyền thống Do Thái giáo. Thánh Phaolô muốn đào sâu hơn, vì cái nguy cơ chính là chân lý của Phúc Âm và sự tự do của Kitô hữu được bao gồm trong chân lý này. Ngài không dừng lại ở bề mặt của các vấn đề, của những xung khắc, như chúng ta thường có khuynh hướng thực hiện để được giải quyết tức thời, những gì khiến chúng ta lầm tưởng rằng tất cả chúng ta đều có thể đồng ý về một thứ thỏa hiệp nào đó. Thánh Phaolô yêu mến Chúa Giêsu và biết rằng Chúa Giêsu không phải là một con người, một vị Thiên Chúa của những thứ thỏa hiệp. Đó không phải là cách thức hành động của Phúc Âm, nên vị Tông đồ này đã chọn con đường thách thức khó khăn hơn. Ngài viết: "Vậy tôi đang tìm cách để được con người hay Thiên Chúa ưng chuẩn đây?" Ngài không cố gắng để xoa dịu hết mọi người. Ngài tiếp tục viết: "Hay tôi đang chiều lòng người ta? Nếu tôi vẫn chiều lòng người ta thì tôi sẽ không phải là tôi tớ của Chúa Kitô nữa" (1:10).

Trước hết, Thánh Phaolô cảm thấy phận vụ của ngài cần phải nhắc nhở Kitô hữu Galata rằng ngài là một vị tông đồ đích thực, không bởi công lao của ngài, nhưng bởi ngài được Thiên Chúa kêu gọi. Ngài thuật lại câu chuyện về ơn gọi của ngài cùng việc hoán cải của Người, một sự việc xẩy ra trùng hợp với việc Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với ngài trong hành trình Damasco (Acts 9:1-9). Cũng hay khi thấy rằng ngài xác nhận về đời sống của ngài trước biến cố đó. Đây là những gì ngài nói về cuộc sống trước đó của ngài: "Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái: tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông" (1:13-14). Thánh Phaolô đã dám khẳng định rằng ngài vượt trổi hơn tất cả những người khác về Do Thái giáo, ngài quả thực là một tay biệt phái nhiệt thành, "vì tôi sống công chính theo lề luật thì chẳng ai trách được tôi" (Philiphe 3:6). Hai lần ngài nhấn mạnh rằng ngài là một tay bênh vực "các truyền thống của cha ông" và là "một tay kiên cố chống đỡ lề luật". Đó là câu chuyện về Thánh Phaolô.

Một mặt thì ngài còn nhất trí nhấn mạnh đến việc ngài hung hăng bách hại Giáo Hội và ngài đã từng là "một tên lộng ngôn, một kẻ bách hại và là một con người hung bạo" (1Timotheu 1:13). Ngài không bỏ qua các thứ tĩnh từ: ngài tự diễn tả mình như thế. Mặt khác, ngài đề cao lòng thương xót Chúa đối với ngài, khiến ngài trải qua một cuộc biến đổi tận gốc rễ, như tất cả đều biết. Ngài viết: "Nhưng lúc ấy các Hội Thánh Đức Ki-tô tại miền Giu-đê không biết mặt tôi. Họ chỉ nghe nói rằng: 'Người trước đây bắt bớ chúng ta, bây giờ lại loan báo đức tin mà xưa kia ông những muốn tiêu diệt'" (1:22-23). Ngài đã hoán cải, đã đổi thay, đổi thay tâm can của ngài. Vậy Thánh Phaolô đề cao sự thật về ơn gọi của ngài, bằng một sự tương phản nảy lửa đã xẩy ra trong cuộc đời của ngài: từ chỗ là một tay bách hại Kitô giáo vì không giữ truyền thống và lề luật, ngài đã được kêu gọi trở thành một tông đồ để loan báo Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô. Thế nhưng chúng ta thấy rằng Thánh Phaolô tỏ ra tự do thanh thản: ngài được tự do thanh thản để loan báo Phúc Âm và ngài cũng tự do xưng thú tội lỗi của ngài. "Tôi là như thế đó": đó là sự thật làm cho con tim được tự do, và đó là thứ tự do của Thiên Chúa.

Khi nghĩ lại câu chuyện này, Thánh Phaolô tràn đầy những ngỡ ngàng và tri ân. Như thể ngài muốn nói với Kitô hữu Galata rằng ngài chỉ có thể là một vị tông đồ. Ngài đã từng được dưỡng dục từ thuở bé để trở thành một con người công chính tuân giữ Lề Luật Moisen, và hoàn cảnh đưa đẩy đã khiến ngài chiến đấu với thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Tuy nhiên, một điều bất ngờ đã xẩy ra, đó là, bởi ân sủng của mình, Thiên Chúa đã tỏ ngài về Con của mình, Đấng đã chịu chết và phục sinh, nhờ đó ngài có thể trở thành một người rao giảng tin mừng giữa Dân ngoại (1:15-16).

Khôn thấu biết bao đường lối của Chúa! Chúng ta cảm nghiệm thấy điều này hằng ngày, nhất là khi chúng ta nghĩ lại những lúc Chúa gọi chúng ta. Chúng ta không bao giờ được quên thời điểm và cách thức Thiên Chúa đã đi vào cuộc đời của chúng ta: chúng ta hãy gìn giữ trong tâm trí của mình về cuộc gặp gỡ trong ân sủng được Thiên Chúa dùng để biến đổi cuộc sống của chúng ta. Biết bao nhiêu lần, trước những công việc cao cả Chúa làm, vấn đề được đặt ra là thế nhưng Chúa có thể sử dụng một tội nhân, một con người mỏng dòn yếu hèn để làm theo ý của Chúa hay sao? Tuy nhiên, chẳng có sự gì như vậy mà lại tình cờ xẩy ra hết, vì hết mọi sự đã được sửa soạn theo dự án của Thiên Chúa. Ngài đan kết lịch sử của chúng ta, và, nếu chúng ta tin tưởng đáp ứng dự án cứu độ của Ngài, chúng ta sẽ nhận ra nó. Ơn gọi bao giờ cũng bao hàm một sứ vụ chúng ta nhắm tới; đó là lý do tại sao chúng ta cần phải nghiêm túc sẵn sàng, ý thức rằng chính Thiên Chúa là Đấng sai chúng ta, chính Thiên Chúa là Đấng trợ giúp chúng ta bằng ân sủng của Ngài. Thưa anh chị em, chúng ta hãy để cho mình được tác động bởi nhận thức ấy: quyền năng của ân sủng biến đổi cuộc sống và làm cho nó đáng được phục vụ Phúc Âm. Quyền lực của ân sủng bao phủ tất cả mọi tội lỗi, biến đổi tâm can, thay đổi đời sống, và làm cho chúng ta thấy được những đường nẻo mới. Chúng ta đừng quên điều ấy. Xin cám ơn anh chị em.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210630_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Thứ tư hàng tuần 23 tháng 6-2021

ĐTC PHANXICÔ - GIÁO LÝ VỀ THƯ THÁNH PHAOLÔ GỬI GIÁO ĐOÀN GALATA bài 1

 

Xin chào anh chị em thân mến,

Sau hành trình dài tập trung vào vấn đề cầu nguyện, hôm nay chúng ta bắt đầu một chu kỳ giáo lý mới. Tôi hy vọng nhờ tiến trình về vấn đề cầu nguyện, chúng ta đã tiến triển trong việc cầu nguyện tốt đẹp hơn một chút, cầu nguyện hơn chút nữa. Hôm nay tôi muốn chia sẻ về một số đề tài được Tông Đồ Phaolô nêu lên trong Thư ngài gửi cho Kitô hữu Galata. Đây là một Bức Thư quan trọng, tôi dám nói là quyết liệt nữa, chẳng những để biết rõ hơn về Vị Tông Đồ này, nhất là về một số đề tài ngài sâu xa nói đến cho thấy vẻ đẹp của Phúc Âm. Trong Thư này, Thánh Phaolô nói đến những chi tiết về tiểu sử của ngài, nhờ đó chúng ta có thể hiểu được việc hoán cải của ngài và việc ngài quyết định dấn thân phục vụ Chúa Giêsu Kitô. Ngài cũng bàn đến một số đề tài quan trọng về đức tin, như quyền tự do, ân sủng và lối sống của Kitô hữu, những gì hết sức thời sự vì chúng đụng chạm tới nhiều khía cạnh của đời sống Giáo Hội ngày nay. Bức thư này rất thời sự. Nó dường như được viết cho thời đại của chúng ta đây.

Đặc tính thứ nhất nơi Bức Thư này đó là đại cuộc truyền bá phúc âm hóa do Vị Tông Đồ này thực hiện, người đã viếng thăm các cộng đoàn Galata ít là 2 lần trong các hành trình truyền giáo của ngài. Thánh Phaolô đề cập đến các Kitô hữu ở những miền đất ấy. Chúng ta không biết chính xác miền đất theo địa dư được ngài nói tới, và cũng không thể nói chắc chắn về ngày tháng ngài viết Bức Thư này. Chúng ta thật sự biết rằng Kitô hữu Galata là thành phần dân Celtic xưa, sau bao nhiêu là thăng trầm, đã định cư ở một vùng đất bao rộng mà thủ đô là Ancyra, ngày nay là Ankara, thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ. Thánh Phaolô chỉ nói rằng, vì bị bệnh mà ngài buộc phải ở lại vùng đất ấy (4:13). Thánh Luca, trong cuốn Tông Vụ, lại thấy được một cái gì đó có động lực linh thiêng. Ngài nói rằng "họ đã đi khắp miền Phry'gia và Galatia, vì Thánh Linh không cho phép các vị rao giảng Lời Chúa ở Á Châu" (16:6).

Hai sự kiện này không mâu thuẫn nhau: trái lại, chúng cho thấy rằng con đường truyền bá phúc âm hóa không phải bao giờ cũng tùy thuộc vào ý muốn của chúng ta và vào các dự tính của chúng ta, mà đòi phải sẵn sàng để mình được uốn nắn và theo đuổi những con đường bất ngờ khác. Giữa anh chị em đây, có một gia đình đã chào tôi: họ nói rằng họ đã học tiếng Latvian, và tôi không biết ngôn ngữ nào khác, vì họ sẽ đi truyền giáo ở đất nước đó. Ngày nay Thần Linh tiếp tục làm cho nhiều nhà truyền giáo lìa bỏ quê hương của mình để đến xứ sở khác thực hiện việc truyền giáo của họ. Tuy nhiên, những gì chúng ta thực sự thấy được đó là nơi công cuộc truyền bá phúc âm hóa không biết mỏi mệt của mình, Vị Tông Đồ này đã tiếp tục việc thành lập một số cộng đoàn nhỏ rải rác ở khắp vùng đất Galata. Thánh Phaolô, khi ngài đến một thành phố nào đó, một miền nào đó, đã không kiến thiết liền một đại vương cung thánh đường, không. Ngài đã thiết lập các cộng đoàn nho nhỏ làm men cho nền văn hóa Kitô giáo chúng ta ngày nay. Ngài đã bắt đầu bằng việc thiết lập các cộng đoàn nho nhỏ. Để rồi các cộng đoàn này tăng trưởng, họ tăng trưởng và họ lên đường. Ngày nay nữa, phương pháp mục vụ này được áp dụng ở hết mọi miền truyền giáo. Tuần vừa rồi tôi đã nhận được một bức thu từ một vị thừa sai ở Papua New Guinea, kể cho tôi biết rằng ngài đang rao giảng Phúc Âm ở trong rừng cho dân chúng, thành phần thậm chí không biết đến Chúa Giêsu Kitô là ai. Tuyệt vời! Người ta bắt đầu bằng việc hình thành các cộng đoàn nho nhỏ. Ngay cả hôm nay đây phương pháp truyền bá phúc âm hóa này là phương pháp của công cuộc truyền bá phúc âm hóa đầu tiên.  

Điều chúng ta cần ghi nhận đó là mối quan tâm mục vụ của Thánh Phaolô, những gì thật là nóng bỏng. Sau khi thành lập những Giáo Hội ấy, ngài nhận thấy một mối nguy hiểm cả thể cho việc tăng trưởng đức tin của họ - vị mục tử này giống như một người cha mẹ nhận thấy ngay những nguy hiểm xẩy ra cho con cái của mình. Họ tăng trưởng cùng với các nguy hiểm xuất hiện. Như có người nói: "Những con kền kền giận dữ xuất hiện để tàn phá trong cộng đoàn". Thật vậy, có một số Kitô hữu thuộc Do Thái giáo đã xâm nhập vào những giáo hội ấy, và bắt đầu gieo rắc các thứ lý thuyết phản lại với giáo huấn của Vị Tông Đồ này, đến độ gièm pha phỉ báng ngài. Họ bắt đầu bằng giáo điều - "Phủ nhận cái này, chấp nhận cái kia", rồi họ đã chê bai bôi nhọ Vị Tông Đồ. Đó là thứ phương pháp thông thường, ở chỗ làm suy yếu thẩm quyền của Vị Tông Đồ. Như chúng ta biết, đó là việc thực hiện ngày xưa có những lúc cho mình là sở hữu chủ duy nhất của đức tin, của những gì là nguyên tuyền, và nhắm đến chuyện làm giảm uy tín công việc của người khác, thậm chí bằng cách vu khống. Thành phần đối phương của Thánh Phaolô đã lập luận rằng ngay cả Dân ngoại cũng cần phải được cắt bì và sống theo các qui luật của Luật Moisen. Họ đã trở về với những việc tuân giữ trước đó, những thứ tuân giữ đã từng được thay thể bởi Phúc Âm. Bởi thế, dân Galata cần phải từ bỏ căn tính về văn hóa của họ để thuần phục các qui chuẩn, qui định và tập tục mẫu mực của người Do Thái. Chẳng những thế, thành phần đối phương này còn lập luận rằng Phaolô không phải là tông đồ thật, nên không có thẩm quyền giảng dạy Phúc Âm. Chúng ta hãy nghĩ đến cách thức xẩy ra ở các cộng đồng hay giáo phận Kitô giáo, trước hết là những câu chuyện xẩy ra, sau đó đến chuyện làm mất uy tín vị linh mục hay giám mục. Đó chính là đường lối của tên gian ác, của những ai chia rẽ, những ai không biết xây dựng. Trong Bức Thư cho Giáo đoàn Galata này chúng ta thấy được tiến trình ấy.

Dân Galata rơi vào tình trạng khủng hoảng. Họ đã làm gì? Lắng nghe và theo đuổi những gì Thánh Phaolô đã giảng dạy cho họ, hay nghe theo các tay giảng dạy mới để cáo buộc ngài? Cũng dễ hình dung ra được tình trạng bất ổn tràn ngập lòng họ. Đối với họ, việc nhìn nhận Chúa Giêsu và tin vào công cuộc cứu độ được hoàn tất nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Người, thực sự là khởi đầu của một sự sống mới, một sự sống tự do. Họ đã bắt đầu con đường giúp họ cuối cùng được tự do, bất chấp sự kiện lịch sử của họ bị đan kết với nhiều hình thức nô lệ bạo lực, đặc biệt là những hình thức nô lệ đã bắt họ thuần phục hoàng đế Roma. Bởi thế, trước những phê phán bình phẩm của những tay giảng dạy mới ấy, họ cảm thấy bị bối rối và không biết phải tác hành ra sao: "Ai đúng đây? Phaolô hay là những con người bấy giờ rao giảng những điều mới mẻ? Tôi cần lằng nghe ai đây?" Tóm lại là rất nguy hiểm!

Tình trạng này vẫn còn tồn tại nơi kinh nghiệm của nhiều Kitô hữu ngày nay. Thật vậy, cả ngày nay nữa, không thiếu những kẻ giảng dạy, nhất là qua các phương tiện truyền thông mới mẻ, có thể làm lũng đoạn các cộng đồng. Họ cho mình chẳng những là thành phần chính yếu trong việc loan báo Phúc Âm của Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người nơi Chúa Giêsu Tử Giá và Phục Sinh, mà còn nhấn mạnh mình là "những người gìn giữ chân lý" - như họ cho mình là như thế - đối với đường lối hay nhất để làm Kitô hữu. Họ mạnh mẽ khẳng định rằng Kitô giáo đích thực là thứ Kitô giáo họ gắn bó, thường được đồng hóa với những hình thức nào đó trong quá khứ, và việc giải quyết cho các thứ khủng hoảng ngày nay đó là trở về để làm sao đừng làm mất đi những gì là nguyên tuyền của đức tin. Cả ngày nay nữa, như bấy giờ, xẩy ra một khuynh hướng khép mình lại nơi một vài niềm tin có được ở những truyền thống quá khứ. Thế nhưng làm sao chúng ta có thể nhận ra những con người này? Chẳng hạn, một trong những dấu vết của việc nhận thức này đó là tính cách bất khả uyển chuyển ứng biến. Những loại người này lại cứng ngắc trước giáo huấn của Phúc Âm là những gì làm cho chúng ta được tự do thanh thoát, khiến chúng ta hân hoan. Bao giờ cũng cứng ngắc: các người phải làm thế này, các người phải làm thế kia... Tính chất bất khả uyển chuyển ứng biến là kiểu mẫu của những con người này. Việc tuân theo giáo huấn của Tông Đồ Phaolô trong Bức Thư gửi Giáo đoàn Galata của ngàisẽ giúp chúng ta hiểu được đâu là đường lối cần phải theo. Con đường được vị Tông Đồ này đề cập đến đó là con đường giải phóng và luôn mới mẻ của Chúa Giêsu, Đấng Tử Giá và Phục Sinh; đó là đường lối của việc loan báo rao giảng, một đường lối đạt được nhờ lòng khiêm nhượng và tình huynh đệ - những kẻ giảng dạy mới mẻ không biết đến khiêm tốn là gì, tình huynh đệ là chi. Đó là con đường của lòng tin tưởng hiền lành và dễ dạy - nhưng kẻ rao giảng mới mẻ chẳng biết cả hiền lành lẫn tuân phục. Con đường hiền lành và dễ dạy này dẫn đến niềm tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong Giáo Hội ở hết mọi thời đại. Nói cho cùng thì đức tin nơi Chúa Thánh Thần đang hiện diện trong Giáo Hội là những gì giúp chúng ta tiến bước và sẽ cứu độ chúng ta.

 

https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2021/documents/papa-francesco_20210623_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

+ October 1, 2021