LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA, năm C

=2022 =


Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

Lương Thực Ban Sự Sống

(Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô)

Trường sinh bất tử là một ước mơ của con người mọi thời. Các bậc vua chúa, những người lắm tiền, nhiều của xưa nay vẫn tìm mọi cách thế, nhiều phương dược để mong được cải lão hoàn đồng hay kéo dài tuổi thọ nhưng đã hoài công. Dù biết rằng ít có ai can đảm đối diện với sự chết, nhưng rồi người ta vẫn phải chân nhận sự thật là kiếp người đã có sinh thời có tử. Chúng ta không lạ gì chuyện người Do Thái xưa kia cảm thấy chướng tai khi nghe Chúa Giêsu nói về lương thực trường sinh, vì Abraham đã chết và các ngôn sứ cũng đã chết (x.Ga 8,52). Vậy thế nào là trường sinh?

Là Kitô hữu, chúng ta tin nhận rằng sự sống đời đời là được hiệp thông với Thiên Chúa. Ai ở trong Thiên Chúa, ai có Chúa ở cùng thì đó là người đang sống, nghĩa là có sự sống như thuở ban đầu tạo dựng. Khi tội lỗi xuất hiện thì mới có sự chết. Ngày nay ít có ai hiểu sự chết về mặt thể lý, mà sự chết ở đây có nghĩa là tình trạng chối từ Thiên Chúa, cắt đứt sự hiệp thông với Người. Đến thế gian, sứ vụ của chính yếu của Chúa Kitô chính là nối kết mối dây hiệp thông giữa Thiên Chúa và loài người vốn đã bị cắt lìa ấy.

Thiên Chúa đã tự nguyện đi bước trước trong việc trao ban chính mình qua Người Con Một nhập thể làm người. Và Chúa Kitô đã thể hiện việc trao ban ấy cách cụ thể và trọn vẹn qua bí tích Thánh Thể. Hãy cầm lấy mà ăn…Hãy cầm lấy mà uống…nghĩa là hãy đón nhận chính Đấng vốn là Thiên Chúa nhưng đã đi bước trước để nối lại mối dây giao hòa, thông hiệp. Được giao hòa với Thiên Chúa thì nhân loại chúng ta được hiệp thông với Người và sự sống đích thực sẽ lại ban cho chúng ta. Có sự sống trong mình thì đương nhiên sẽ không còn ở trong bóng tối sự chết và như thế tội lỗi đã được thứ tha.

Tác giả thư gửi tín hữu Do Thái đã so sánh cách cụ thể rằng xưa máu con dê, con bò được rảy trên dân còn có sức thanh tẩy những người nhiễm uế thì huống là máu cực thánh châu báu Chúa Kitô. “Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9,14). Chính Chúa Kitô đã minh nhiên phán trong đêm Tiệc ly: Máu Người là máu giao ước mới, đổ ra cho anh em và muôn người đựơc tha tội (x.Mt 26,28). Được tha tội là được hiệp thông với Thiên Chúa và đương nhiên là có sự sống đời đời.

Để có sự sống đời đời, Chúa Kitô cũng đã từng mời gọi là hãy tin vào Người là Đấng mà Thiên Chúa sai đến (x.Ga 6,29). Và Người khẳng định: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ (Ga 6,35). Đón nhận Chúa Kitô, đặc biệt trong Bí Tích Thánh Thể, đòi hỏi phải có niềm tin và tiếp nhận Thánh Thể cũng là cách thế tuyên xưng đức tin. “Đây là mầu nhiệm đức tin”. Câu xướng sau khi truyền phép khẳng định chân lý này. Thánh Tông đồ dân ngoại đã phiền trách một số tín hữu thành Côrintô, vì say xỉn, vì chia rẽ, nên đã không có thái độ đức tin mỗi khi tham dự Lễ Bẻ Bánh, và vì thế sẽ chẳng nhận được ơn ích mà trái lại còn gánh lấy án phạt (x.1Cor 11,17-33).

Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều tường thuật lời khẳng định của Chúa Kitô: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17; x. Mt 9,13; Lc5,32). Trong phần hiệp Lễ, các tín hữu thành khẩn: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con…”, và còn thú nhận: “con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con…”. Những lời này nhắc nhủ đoàn tín hữu về thân phận tội lỗi và bất xứng của mình. Chỉ nhờ quyền năng và tình yêu của Đấng Cứu Độ, qua việc Người trao ban chính Người thì chúng ta mới nên xứng đáng, tức là nên lành mạnh. Đọc Tin Mừng, đặc biệt qua câu chuyên của Lêvi, của Giakêu, Mađalêna, chúng ta thấy được sự thật này: không phải vì chúng ta xứng đáng nên Chúa mới ngự đến, nhưng nhờ Chúa đoái thương ngự đến nên chúng ta mới nên xứng đáng.

“Hãy cầm lấy mà ăn! Hãy cầm lấy mà uống!” Chúa đã tự nguyện đến với chúng ta trước, nhưng phần chúng ta cũng cần phải biết tiếp đón Người thì hiệu quả mới phát sinh. Và thái độ tiếp đón Chúa Kitô đẹp lòng Người nhất, đó là khiêm nhu nhìn nhận sự yếu đuối, tội lỗi của mình và tin tưởng, phó thác vào tình yêu và quyền năng của Người. Được hiệp thông với Chúa Kitô Thánh Thể là được thông phần sự sống đời đời. Cho dù sự thông phần ấy có giới hạn trong thời gian hình bánh và rượu còn nguyên thể dạng trong lòng ta, nhưng đó chính là dấu chỉ bảo đảm cho sự trường sinh sau này. Được nếm trước chút thực tại vĩnh cửu là động lực giúp ta vững bước tiến về quê trời. Việc trao “của ăn đàng” cho người gặp cơn nguy tử hay đang hấp hối giúp ta thêm xác tín điều này.

Bí Tích Thánh Thể là bí tích biệt loại, vì dấu chỉ cũng là thực tại. Thánh Thể vừa là ân ban vừa là chính nguồn của mọi ân lộc. Trước mầu nhiệm cao cả, khôn dò này, mọi diễn suy chỉ là nước bỏ biển. Không gì hơn, hãy thẳm sâu tôn thờ, đón nhận Mình Máu châu báu của Đấng Cứu độ trong sự khiêm nhu và tín thác.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

 

Chớ Xin Nhiều

15 Tháng 6 năm 2022

Bản thân đang phụ trách một địa bàn mục vụ trong đó có một số bà con di dân từ miền Bắc vào, vì sinh kế. Có lẽ do thói quen hay tập quán giao tiếp, tạm gọi là đạo đức của mình nên mỗi lần đến gặp tôi, linh mục quản xứ, để trình bày nhu cầu nào đó, bà con thường mào đầu bằng các câu: “Chúng con xin trông ơn cha” hay “xin cha thương ban”… Quả thật đã hơn một lần tôi không kìm được sự khó chịu nên đã buột miệng: “nếu anh chị em còn nói những câu như thế thì tôi không giải quyết chuyện gì cả”. Sau cơn nắng nóng, trời lại dịu mát, tôi dịu giọng giải thích: “giả như có một ai đó là lương dân hay bà con khác đạo ở đây, nghe thấy thì họ nghĩ ông cha này ra sao đây? Ông ta chắc là khó tính, hà khắc hay là bủn xỉn, keo kiệt dữ lắm?” Từ dữ kiện đời thường trên, chúng ta lần lên chuyện giữa chúng ta với Thiên Chúa, với những vị, những đấng bậc đang cầm quyền trong Hội Thánh cũng như ngoài xã hội.

Chuyện giữa chúng ta với Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy chúng ta là hãy cầu nguyện liên lỉ nhưng Người dạy ta là khi cầu nguyện thì “chớ có nhiều lời như anh em lương dân” (x.Mt 6,7). Không ai chối bỏ chuyện cần phải cầu xin. Trong kinh “Lạy Cha” lời kinh duy nhất mà Đức Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện thì chữ “xin” xuất hiện trên ba lần. Trong các kinh nguyện của các cử hành Phụng Vụ thì lời cầu xin không thể nói là ít được. Chúng ta phải xin để ý thức rằng mọi sự là do ân sủng Chúa ban (tout est grâce). “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công…” (Tv 126). Tuy nhiên, nếu không để ý thì việc mãi miết cầu xin đích thị là một lỗi lớn, có khi là tội không nhỏ. Xin đan cử một vài thứ tội sau mà có thể vì vô tri mà chúng ta vướng phải:

Tội thứ nhất: Làm biến dạng chân dung của Thiên Chúa. Thay vì tôn thờ một Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương, chậm bất bình và rất mực khoan dung thì chúng ta đã vẽ trong tâm trí mình một vị thần hà khắc, chờ con người sai lỗi để trừng phạt và có khi phạt cả con cháu đến ba bốn đời. Thay vì tôn thờ một Thiên Chúa là người cha trên các người cha vốn biết con cái mình cần những gì và sẵn sàng ban phát điều tốt nhất thì chúng ta đã hình dung Chúa như một vị thần keo kiệt bủn xỉn hay như một ông chủ gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát (x.Mt 25,14-39).

Tội thứ hai: Tự biến mình thành người nô lệ chứ không phải là con cái. Ở trong nhà Cha mà chúng ta cứ hành xử như mình là người làm thuê hay là người nô lệ. Phải xin nhiều thì mới được nhậm lời thì chúng ta vô tình hay hữu ý quên rằng “mọi sự của cha cũng là của con” (x.Lc 15,31). Trong Đức Kitô, đã được thừa hưởng gia tài Thiên Chúa hứa ban thế mà chúng ta làm như mình không được chút quyền nào cả. Cứ mãi cầu xin tha thứ thì chúng ta quên rằng Thiên Chúa đã tha cho ta ngay cả khi ta còn là tội nhân. Quên điều này thì chúng ta cũng dễ quên rằng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta được hưởng tình thương tha thứ của Người bằng cách tha thứ cho anh em, bằng cách đem những cái bên trong ra mà phân phát, bằng cách khoan dung, quảng đại, không xét đoán tha nhân… Khi biến mình thành nô lệ hay là người làm thuê thì chúng ta vừa bỏ quên quyền lợi lại vừa xao lãng nghĩa vụ của mình. Một trong những nghĩa vụ của người con trong gia đình là phải làm rạng rỡ gia phong. Đây chính là việc làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời (x.Mt 6,9-10). Là con cái trong nhà, chúng ta còn có nghĩa vụ yêu thương, liên đới với anh chị em của mình.

Chuyện giữa chúng ta với Hội Thánh, với xã hội, với quê hương, đất nước: Xin nhiều quá, cái gì cũng xin thì ta đang có lỗi với Đấng thiết lập Hội Thánh, với tiên tổ, những vị đã có công dựng xây quê hương, đất nước.

Tội thứ nhất: Cái gì cũng xin thì ta vô tình làm biến dạng những vị điều hành, lãnh đạo Hội Thánh, lãnh đạo quê huơng đất nước thành những ông chủ chứ không còn là đầy tớ của đoàn chiên, của nhân dân. Xin nhiều quá thì chúng ta rất có thể làm cớ cho những người vốn là đầy tớ nhân dân trở thành độc đoán, độc quyền và có thể thành độc tài, độc ác vì lợi, vì danh. Xin nhiều quá thì chúng ta có thể vô tình làm cớ cho những mục tử nhân lành vốn phải sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên lại thành những kẻ chăn thuê, chỉ biết lấy sữa, xén lông các con chiên béo mập mà bỏ rơi các con chiên bệnh hoạn tật nguyền. Xin nhiều quá cũng gây ra tệ nạn “giáo sĩ trị”.

Tội thứ hai: Cung cách hành xử kiểu cái gì cũng xin sẽ làm chúng ta quên mất mình là công dân, là thành viên của xã hội này, đất nước này. Nếu cái gì cũng xin thì chúng ta đã quên mất mình là một phần tử trong đoàn dân Chúa, đã được Đức Kitô thông chia các chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Người.

Là thành viên của một xã hội, là công dân của một quốc gia, là phần tử của Hội Thánh, chúng ta vừa có những quyền lợi căn bản hợp pháp vừa có những nghĩa vụ chính đáng, tất yếu của một công dân, của một người con cái Chúa trong lòng Hội Thánh mẹ. Đã là quyền lợi chính đáng, đã là nghĩa vụ phải đạo thì chúng ta phải hành xử cách tự do và tự nguyện. Và do đó không thể để chuyện xin xỏ hay xin – cho tồn tại tràn lan. Nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả đất nước chúng ta cũng đang nỗ lực hoàn thiện cơ cấu pháp luật để bãi bỏ dần cơ chế xin – cho.

Ngày nay nước nhà chúng ta đang chuyển dần các thủ tục xin xỏ qua hình thức đăng ký. Đây là một nét tiến bộ, nhưng cũng là một quy luật tất yếu để người dân phát huy vai trò làm chủ, để không chỉ minh nhiên hành xử các quyền lợi căn bản mà còn tích cực thực thi các nghĩa vụ chính đáng của mình. Bộ Giáo Luật 1983 đã quy định rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của người tín hữu, của tín hữu hàng giáo dân từ điều 208 đến 231. Chẳng hạn điều 213: “Các tín hữu có quyền được lãnh nhận từ các Chủ chăn sự hỗ trợ nhờ các của cải thiêng liêng của Hội Thánh, nhất là Lời Chúa và các Bí tích” hoặc điều 222.2: “Các tín hữu có bổn phận cổ võ công bằng xã hội cũng như dùng tài sản riêng tư để giúp đỡ những người nghèo, theo lệnh truyền của Thiên Chúa”…

Xin khẳng định rằng không thể hoàn toàn bãi bỏ việc xin. Với Thiên Chúa, khi ta cầu xin là ta nhìn nhận mọi sự đều là hồng ân. Mọi sự ta đang có và nhất là sự “ta là” tức là sự hiện hữu của ta cũng như mọi vật mọi loài đều do bởi quyền năng và tình thương của Chúa. Ngay cả đối với những tập thể xã hội hay với Hội thánh thì chuyện xin vẫn còn đó. Điều này nói lên sự cần thiết, sự phụ thuộc của ta đối với Hội Thánh, đối với xã hội, vì không ai là một hòn đảo. Tuy nhiên, không thể và không được phép hành xử kiểu cái gì cũng xin. Thiết nghĩ rằng trong nhiều nguyên nhân phát sinh căn bệnh xin nhiều thì tình trạng “phép vua thua lệ làng” một nguyên nhân lớn. Chẳng hạn luật về “dâng lễ đồng tế” đã được Hội thánh hướng dẫn, thế mà tại nhiều giáo phận vẫn có đó tình trạng quy định ngặt hơn. Chuyện các giáo xứ thêm thắt các tục lệ để lãnh nhận các bí tích hay cử hành bí tích hôn phối thì vẫn còn đó. Ngoài thủ tục giấy tờ, điều kiện khắt khe thì chuyện nhiều giáo xứ dứt khoát không cho tín hữu đủ điều kiện được cử hành bí tích hôn phối trong Mùa Vọng, Mùa Chay là có thật. Theo lời dạy của Đức Giáo Hoàng Phanxicô mong sao các Đấng bậc đứng đầu các giáo phận cương quyết loại bỏ các hình thái “cấp quota ân sủng” thì tình trạng “xin nhiều” sẽ giảm dần.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

 

Thứ Hai sau Chúa Nhật XI TN – 1 V 21,1-16; Mt 5,38-42

13 tháng 6 năm 2022

Để sống đạo yêu thương đến cùng, xin mạn bàn về các nguyên nhân gây ra cái chết đau thương đầy bất công của Naboth mà bài đọc thứ nhất trích Sách các Vua tường thuật. Theo mạch văn câu chuyện chúng ta nhân ra năm nguyên nhân sau đây:

Nguyên nhân đầu tiên đó là lòng tham vô đáy của vua Acáp. Đã là vua của một nước thì của cải không thể thiếu, thậm chí còn thừa mứa đủ bề. Thế mà Acáp vẫn cứ tham cái vườn nho của Naboth. “Hãy nhượng vườn nho cho Ta, để ta làm vườn rau, vì nó gần đền ta: bù lại, ta sẽ đổi cho ngươi vườn nho khác tương đương”. Sự tham lam đã khiến vua Acáp xem “rau”, một loại thực phẩm nhỏ của mình lớn hơn cả “nho” là một nguồn sống lớn của Naboth và gia đình.

Nguyên nhân thứ hai đó là quyền lực. Hoàng hậu Giêzabel đã sử dụng quyền lực của chồng, dĩ nhiên có cả quyền lực của bà để thực hiện gian kế cướp vườn nho mà hậu quả thật đáng ghê sợ đó là cái chết của Naboth. Chính miệng lưỡi của bà đã vạch trần sự thật này: “Quyền thế nhà vua cao cả biết bao, và nhà vua cai trị nước Israel khéo như thế nào! Thôi, dậy ăn uống đi, và cứ yên tâm. Thiếp sẽ tặng cho nhà vua vườn nho của Naboth người Giêrahel”. Khi sự tham lam được hỗ trợ bằng quyền lực thì hậu quả thật khó lường.

Nguyên nhân thứ ba đó là luật lệ. Luật lệ, cách riêng luật xã hội dân sự có ra chủ yếu là để ổn định các mối tương quan xã hội, gìn giữ sự công bằng, bảo vệ kẻ cô thân, yếu thế, tránh tình trạng “mạnh được, yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Luật tôn giáo cũng có vai trò như thế và còn thêm vai trò giúp tín hữu sống niềm tin của mình cách hữu hiệu. Tuy nhiên, vì là sản phẩm do tay con người làm ra nên nhân luật có sự giới hạn và sự bất cập của nó. Thực tế cho thấy đã và đang có đó tình trạng không ít người lợi dụng luật lệ để phục vụ gian kế, để hợp pháp hóa hành vi bất chính của mình. Bà Giêzabel đã lợi dụng luật “lời chứng của hai người” để hãm hại Naboth.

Nguyên nhân thứ tư đó là “những người vô lại”. Thời nào cũng có một số ít người được xếp vào hàng “vô lại” làm công cụ cho những người có quyền chức thực hiện những điều xấu xa. Lịch sử cho thấy nhiều người có quyền cao, chức trọng nếu thiếu lương tri hoặc độc tài thì thường thích sử dụng hạng người này làm công cụ. Hoàng hậu Giêzabel đã dùng hai người vô lại mà Kinh Thánh gọi là “con cái ma quỷ”, là “hạng quỷ sứ” để thực hiện gian kế của mình. Hai người vô lại này đã đứng ra làm chứng gian rằng Naboth đã “nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua”.

Nguyên nhân thứ năm đó là sự thiếu hiểu biết và cuồng tín của đám đông dân chúng. Kinh Thánh tường thuật rằng khi nghe “hai tên vô lại” cáo gian thì dân chúng vì thiếu hiểu biết và cuồng tín đã kéo Naboth ra khỏi thành và ném đá ông cho đến chết. Vườn nho của Naboth đã về tay Acáp bằng giá máu của người vô tội.

Ma quỷ không hề biết nghỉ ngơi. Đã lôi kéo con người thì chúng lôi kéo đến cùng. Chính vì thế sự gian ác của con người thường khó có điểm dừng. Để chống lại chước mưu độc hiểm của thần dữ, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phải đi đến cùng trong tình yêu. Bài Tin Mừng Giáo hội cho nghe trích đọc hôm nay tường thuật những lời huấn dụ của Chúa Giêsu về điều này. Dùng lối nói theo văn phong ngoa ngữ, nghĩa là nói quá đi để nhấn mạnh điều muốn nói, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy vượt qua đòi hỏi sự công bằng giao hoán kiểu “mắt đền mắt răng đền răng” hầu có thể sống yêu thương cách triệt đễ, đến cùng. “Ai vả má bên này thì đưa cả má bên kia. Ai muốn đoạt áo ngoài thì đưa cả áo bên trong…”. Chính tình yêu đến cùng, không có biên giới mới là vũ khí chiến đấu chiến thắng sự gian tà, độc ác của thần dữ và những người theo chúng.

Yêu thương không chỉ là quảng đại chia sẻ những gì mình có cho tha nhân, giới hạn trong việc thương xác 7 mối là cho kẻ đói ăn, cho lẻ khát uống…mà còn phải thương linh hồn 7 mối là răn bảo kẻ có tội, mở dạy kẻ mê muội…Trước mặt Thượng tế Caipha khi một người lính vả mặt mình thì Chúa Giêsu đã không đưa cả má bên kia nhưng Người lại thẳng thừng: “Nếu tôi nói sai thì hãy chỉ ra sai chỗ nào, còn nếu tôi nói đúng thì tại sao lại đánh tôi” (x.Ga 18,23). Chính khi nhận diện rõ và mạnh dạn tố cáo nhiều nguyên nhân hình thành tội ác là chúng ta đang sống đạo yêu thương, đang chiến đấu với thần dữ và những người theo nó.

Hãy biết cẩn trọng với các hình thái tham lam. Cần đề phòng sự tham lam khi nó có quyền lực hỗ trợ. Biết tôn trọng luật lệ nhưng không được thượng tôn và nô lệ lề luật vì ngày Sabbat tức là luật lệ có ra vì con người chứ không phải con người có ra vì ngày Sabbat (x.Mc 2,27). Thời nào cũng có những người tự xếp vào “hạng vô lại”. Hãy nhận diện và canh phòng những người này. Nếu chưa có thể giúp họ hoán cải thì tốt hơn hãy lánh xa, chớ làm dịp cho họ dấn sâu vào tội ác. Và xin chớ cuồng tín, mê lầm mà cứ tưởng rằng mình đạo đức. Hãy sống đức tin cách trưởng thành trong sự ý thức và tinh thần trách nhiệm.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

VHD- June 16, 2022