suy niệm , năm C-2016

by Trầm Thiên Thu

January 23, 2016

 

Đấng Thương Xót
(Chúa Nhật I TN, năm C – Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa)


Thương xót là chạnh lòng trắc ẩn, biết mủi lòng trước nỗi khổ của người khác. Cảm xúc mỗi người có mức độ khác nhau. Có người dễ rơi lệ, có người khó rơi lệ; có người đau lòng một thời gian dài, có người khóc òa, có người khóc không ra tiếng; có người đau lòng trong thời gian ngắn. Đó là cảm xúc trào dâng hầu như không thể kìm nén khi trong lòng nhói đau, mất mát điều gì đó quan trọng. Nhưng cảm xúc đó có thực sự hay không, đó mới là vấn đề.
Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta (Ep 2:4), Ngài là Cha giàu lòng từ bi lân ái và luôn sẵn sàng nâng đỡ ủi an (2 Cr 1:3). Vì là con cái của Ngài, chúng ta phải nên giống Ngài, như người Việt nói “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, nghĩa là chúng ta phải “cố gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, sống nhẫn nại và hiền hòa” (1 Tm 6:11).


Vì thương xót chúng ta, Chúa Giêsu đã nhập thể và nhập thế, sinh nghèo khó, sống khổ sở và chết đau thương. Tôi tớ không hơn chủ, trò không hơn thầy, thế nên chúng ta phải không ngừng cố gắng sống “nhân từ như Chúa Cha là Đấng nhân từ” (Lc 6:36) và “yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta” (Ga 13:34; Ga 15:12).
Chúa Giêsu là Đấng Ái Tử, phàm ngôn gọi là “con cưng”, nhưng Ngài không được chiều chuộng, không ngồi mát ăn bát vàng, mà phải chịu trăm cay ngàn đắng vì tuân phục và vì thương xót nhân loại chúng ta, nên Ngài có nickname là “Người Tôi Trung” hoặc “Người Tôi Tớ Đau Khổ”.


Ngôn sứ Isaia cho biết: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng, Ta cho thần khí Ta ngự trên nó; nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân. Nó sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai tiếng giữa phố phường” (Is 42:1-2). Người Tôi Trung đó là Con Thiên Chúa, nhưng Ngài tự hạ mình xuống ngang với chúng ta, thậm chí còn bị chúng ta ruồng bỏ và xử tệ, thế mà Ngài vẫn nín thinh, làm ngơ, không chấp lách chúng ta chỉ vì Ngài cảm thông tính bướng bỉnh của chúng ta, luôn yêu thương chúng ta hết lòng.


Phàm nhân không thể hiểu nổi Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, đúng như Blaise Pascal (1623-1662) cảm nhận: “Thiên Chúa là Đấng không thể dò thấu. Chúng ta không thể nói được gì về Thiên Chúa. Tất cả những gì chúng ta nói về Thiên Chúa đều chỉ là tưởng tượng”. Tuy nhiên, Lòng Chúa Thương Xót luôn hiện hữu và có thật. Quả thật, phong cách của Người Tôi Trung cũng rất lạ: “Cây lau bị giập, nó không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi. Nó sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý. Nó không yếu hèn, không chịu phục, cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu. Dân các hải đảo xa xăm đều mong được nó chỉ bảo” (Is 42:3-4). Lòng Chúa Thương Xót vô cùng mầu nhiệm, Đấng Thương Xót quá đỗi diệu kỳ!


Thiên Chúa đã minh định rạch ròi thế này về Đấng Ái Tử Giêsu Kitô: “Ta là Đức Chúa, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta. Ta đã nắm tay ngươi, đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước, để mở mắt cho những ai mù loà, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm” (Is 42:6-7). Hạnh phúc thay chúng ta được Chúa Cha trao ban cho Tặng Phẩm Vô Giá là chính Con Yêu Dấu của Ngài – Đức Giêsu Kitô, Đấng Emmanuel.


Chúng ta có dành cả đời để tạ ơn Thiên Chúa cũng không đủ, vì Ngài ban Hồng Ân quá lớn lao. Dù bất xứng nhưng chúng ta vẫn phải biết ơn, như tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Hãy dâng Chúa, hỡi chư thần chư thánh, dâng Chúa quyền lực và vinh quang. Hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện” (Tv 29:1-2). Thiên Chúa khác thường mà bình thường, lạ mà quen, xa mà gần: “Tiếng Chúa rền vang trên sóng nước, Thiên Chúa hiển vinh cho sấm nổ ầm ầm, Chúa ngự trên nước lũ mênh mông. Tiếng Chúa thật hùng mạnh! Tiếng Chúa thật uy nghiêm!” (Tv 29:3-4).


Thiên Chúa nhẹ nhàng mà mạnh mẽ, êm đềm mà dữ dội. Kinh Thánh cho biết về “giọng nói” của Ngài: “Tiếng Chúa lay động cả rặng sồi, tuốt trụi lá cây cao rừng rậm. Còn trong thánh điện Người, tất cả cùng hô: ‘Vinh danh Chúa!’. Chúa ngự trị trên cơn hồng thuỷ, Chúa là Vua ngự trị muôn đời” (Tv 29:9-10). Kỳ diệu quá! Chỉ một thoáng chúng ta thiếu sự quan tâm và lòng thương xót của Ngài thì chúng ta sẽ biến thành hư vô ngay lập tức!


Đấng Thương Xót luôn trắc ẩn với mọi người, đối xử bình đẳng, không phân biệt bất cứ ai hoặc bất cứ thứ gì. Tuy nhiên, Ngài thấy ai càng yếu kém thì Ngài càng quan tâm, chăm sóc, nâng đỡ, vì Ngài đến với mục đích là “tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:10), thậm chí Ngài còn bỏ 99 con chiên béo tốt và đạo đức để đi tìm chỉ một con chiên ghẻ lở, ốm yếu, xấu xa, tội lỗi (Mt 18:12-14; Lc 15:4-7). Điều đó chứng tỏ Đấng Thương Xót không hề thiên tư tây vị bất cứ ai (Cv 10:34; Rm 2:11; Ep 6:9). Ngài không chỉ muốn chúng ta được sống mà còn muốn chúng ta được sống dồi dào (Ga 10:10), và Ngài yêu thương chúng ta đến cùng (Ga 13:1).


Thật vậy, thời gian sau khi Chúa Giêsu phục sinh, ông Phêrô đã minh định và dõng dạc tuyên bố với mọi người: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Thật vậy ư? Ông Phêrô giải thích: “Người đã gửi đến cho con cái nhà Ít-ra-en lời loan báo Tin Mừng bình an, nhờ Đức Giêsu Kitô, là Chúa của mọi người. Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giuđê, bắt đầu từ miền Galilê, sau phép rửa mà ông Gioan rao giảng” (Cv 10:36-37). Người Công giáo Việt Nam chúng ta có thể coi như những người con “út mót” của Thiên Chúa vậy. Được biết và tin nhận Ngài là Thiên Chúa cứu độ, chúng ta thực sự vô cùng diễm phúc. Tạ ơn Chúa – Deo gratias!


Ông Phêrô nói rõ ràng về Đấng Thương Xót: “Quý vị biết rõ: Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10:38). Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã từng xác định: “Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” (Mc 10:18; Lc 18:19). Vì vậy, chúng ta phải cố gắng thực hành theo Tôn Ý của Chúa Giêsu là không ngừng hoàn thiện để nên giống Chúa Cha (x. Mt 5:48).


Nhưng làm sao để nên giống Thiên Chúa Cha? Chắc chắn không có cách nào hơn là noi gương Thiên Chúa Con – Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai, Đấng Thương Xót, Đấng Luôn-Ở-Cùng-Chúng-Ta (Emmanuel). Ngài luôn ở với chúng ta, chẳng lẽ chúng ta lại không ảnh hưởng tính cách “hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29) của Ngài sao?
Hồi đó, khi dân đang trông ngóng Đấng Thiên Sai, họ thấy ông Gioan rất “khác người”, từ phong cách đến ý tưởng, đặc biệt là làm Phép Rửa, và trong thâm tâm họ, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia! Nhưng ông Gioan trả lời mọi người rất thẳng thắn: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong NƯỚC, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong THÁNH THẦN và LỬA” (Lc 3:16). Chính ông Gioan cũng đã xác định: “Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1:15 và 30). Rất lạ: đến sau mà có trước, và còn “kỳ lạ” hơn ông Gioan nhiều. Đó là sự thật, người không có đức tin sẽ “chói tai” và không thể hiểu nổi.


Khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, dù Ngài không cần chịu phép rửa, nhưng Ngài muốn nêu gương khiêm nhường và nhịn nhục. Khi Ngài đang cầu nguyện, trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Ngài dưới hình dáng chim bồ câu, và có tiếng từ trời phán: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3:22).
Lãnh nhận phép rửa là tái sinh bởi Nước và Thánh Thần, thoát kiếp nô tỳ của tội lỗi, thoát vòng kim cô của ma quỷ để trở nên con cái Thiên Chúa, con cái của Sự Sáng và Sự Thật. Và như vậy, chúng ta không thể không thương xót nhau như Thiên Chúa đã thương xót chúng ta trước, khi chúng ta còn là những tội nhân. Hoàn toàn hợp lý!


Lạy Thiên Chúa, xin thanh tẩy hồn xác con và tái tạo trái tim con nên giống Đức Giêsu Kitô, và xin giúp con cũng biết tẩy rửa cuộc đời bằng Lòng Thương Xót của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.


TRẦM THIÊN THU

Người Vô Thần Có Vào Thiên Đàng?
Ngày 21-5-2013, ĐGH Phanxicô tạo một đợt “bão tố” đối với sự tranh luận về tôn giáo sau một bài giảng nói về người vô thần. Trong bài giảng này, ngài nhấn mạnh rằng vấn đề không phải là gia nhập tôn giáo, nhưng là “chúng ta làm điều tốt”:
Thiên Chúa đã cứu độ tất cả chúng ta bằng Máu Thánh của Đức Kitô: Tất cả chúng ta, không chỉ người Công giáo. Mọi người. Kể cả người vô thần ư? Ngay cả người vô thần. Mọi người!... Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm làm điều tốt. Và tôi nghĩ rằng mệnh lệnh này đối với mọi người làm điều tốt là con đường tốt đẹp dẫn tới hòa bình. Nếu mỗi chúng ta làm phần việc riêng mình, nếu chúng ta làm điều tốt cho người khác, nếu chúng ta gặp nhau ở đó, tức là làm điều tốt, và chúng ta đi chậm, nhẹ nhàng, từng chút một, chúng ta sẽ tạo nên văn hóa của sự gặp gỡ: chúng ta cần điều đó rất nhiều. Chúng ta phải gặp nhau trong việc làm điều tốt. “Nhưng tôi không tin, vì tôi là người vô thần! Còn làm điều tốt: chúng ta sẽ gặp nhau ở đó”.
Sau bài giảng gây tranh luận đó, các hàng tít trên các tờ báo lớn và chủ yếu như báo New York Times đã kêu lên với chữ “tin quan trọng” theo Đức giáo hoàng, thậm chí người vô thần cũng có thể vào Thiên đàng: tất cả chúng ta, kể cả người vô thần, sẽ “gặp nhau ở đó [Thiên đàng]”, với điều kiện là làm điều tốt. Đây là một số ví dụ mà nhiều hàng tít lớn trên các tờ báo uy tín: “Thiên đàng dành cho người vô thần? Đức giáo hoàng tạo sự tranh luận”; “ĐGH Phanxicô có là tín đồ dị giáo? Không, nhưng ngài gợi lên các vấn đề”; “ĐGH Phanxicô nói: Ngay cả người vô thần cũng có thể vào Thiên đàng”.
Theo dòng tranh luận sôi nổi, LM Thomas Rosica, phát ngôn viên Tòa Thánh, đã “thanh minh” về câu nói của Đức giáo hoàng khi nói rằng Đức giáo hoàng bị hiểu lầm, rằng “họ không thể được cứu độ, biết Giáo hội được Đức Kitô thiết lập và cần ơn cứu độ, sẽ từ chối gia nhập Giáo hội hoặc vẫn ở trong Giáo hội”. Điều này làm cho nhiều nhà bình luận nói rằng sự “bào chữa” này của phát ngôn viên Tòa Thánh trái ngược với thực chất của điều giáo hoàng đã nói. Richard Dawkins, khoa học gia nổi tiếng và là người vô thần thẳng thắn, đã phản hồi: “Người vô thần lên Thiên đàng ư? Không. Xin lỗi thế giới, giáo hoàng bất khả ngộ đã hiểu sai. Vatican bước vào đó bằng sự sốt sắng”.
Đây không là lần đầu tiên ĐGH Phanxicô nói bằng cách nói tích cực đối với người vô thần. Trong cuộc gặp gỡ đại kết với các vị lãnh đạo các tôn giáo khác chỉ vài ngày sau khi đắc cử giáo hoàng, ĐGH Phanxicô đã nói rằng người vô thần và tín hữu có thể là “đồng minh quý giá” (precious allies) trong nỗ lực “bảo vệ nhân phẩm, xây dựng sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc và cẩn thận bảo vệ công cuộc sáng tạo”.
Một chương về vô thần trong cuốn sách đầu tiên của ĐGH Phanxicô
Trong cuốn sách của ĐGH Phanxicô xuất bản lần đầu tiên, cuốn “On Heaven and Earth: Pope Francis on Faith, Family and the Church in the Twenty-First Century” (Trên trời và dưới đất: ĐGH Phanxicô nói về Đức Tin, Gia đình và Giáo hội trong thế kỷ XXI), có một chương dành riêng cho chủ đề vô thần. Sách này gồm nhiều bài thảo luận giữa ĐHY Bergoglio (nay là ĐGH Phanxicô), kể cả giáo sĩ Do Thái giáo Abraham Skorka, người Argentine, về nhiều chủ đề thuộc đức tin và tôn giáo.
Sự nhấn mạnh của chương này là tôn trọng và tha thứ cho người vô thần. ĐHY Bergoglio (nay là ĐGH Phanxicô) cho biết: “Khi tôi nói chuyện với người vô thần... tôi không đưa ra vấn đề về Thiên Chúa là điểm khởi đầu, trừ trường hợp họ đưa ra trước... Tôi không gạ gẫm họ vào đạo, hoặc từ bỏ chủ nghĩa vô thần; tôi tôn trọng họ và tôi chứng tỏ chính tôi là gì... Tôi cũng không nói đời họ bị kết án, vì tôi tin rằng tôi không có quyền phán xét về sự chân thật của người đó” (trang 11).
Mặt khác, giáo sĩ Do Thái giáo Skorka đã kết án cả người vô thần và tín hữu về “sự kiêu ngạo” của họ, thay vì ngầm khen họ là “người theo thuyết bất khả tri” (không thể biết, agnostic) – thuật ngữ này diễn tả những người nói rằng họ không chắc rằng có Thiên Chúa hiện hữu. Khi người vô thần phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, những người theo thuyết bất khả tri nói rằng không thể xác định sự hiện hữu của Thiên Chúa. Giáo sĩ Skorka nói: “Người theo thuyết bất khả tri nghĩ mình chưa có câu trả lời, nhưng một người vô thần 100% tin rằng Thiên Chúa không hiện hữu. Đó là sự kiêu ngạo tương tự dẫn tới chút nào đó chân nhận Thiên Chúa hiện hữu, cũng như chiếc ghế tôi đang ngồi đây. Những người theo tôn giáo là những người có niềm tin, nhưng họ lại không biết chắc Ngài hiện hữu...”.
Hơn nữa, giáo sĩ Skorka nói: “Mặc dù riêng tôi tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng là kiêu ngạo khi nói rằng Ngài hiện hữu như thể chỉ là sự chắc chắn nào đó trong cuộc sống. Tôi không ngẫu nhiên xác nhận sự hiện hữu của Ngài vì tôi cần sống sự khiêm nhường tương tự mà tôi đòi hỏi ở người vô thần”.
Về cơ bản, giáo sĩ Skorka nói rằng chúng ta nên “khiêm nhường” khi giải quyết với người vô thần bằng cách không khăng khăng cho rằng Thiên Chúa thực sự hiện hữu. Sự thật ở đây là ĐHY Bergoglio thực sự không mâu thuẫn với giáo sĩ Skorka về các câu nói trên đây, và thực sự, chương sách kết thúc bằng lời biện hộ của giáo sĩ Skorka về “sự khiêm nhường” trong thái độ của người theo thuyết bất khả tri.
Người vô thần có vào Nước Trời?
Nhiều người, kể cả người Công giáo đúng nghĩa, vẫn phản ứng ủng hộ bài giảng của ĐGH Phanxicô, khen ngài tha thứ cho người “không có đức tin”. Đó là tốt và đáng để chúng ta tôn trọng những người theo các tôn giáo khác, nhiều người quên rằng người vô thần từ chối Thiên Chúa. Làm sao một người từ chối Thiên Chúa có thể vào Thiên đàng chứ? Hoàn toàn trái ngược. Cuối cùng, Thiên đàng là Nước Trời của Thiên Chúa. Thiên đàng là nơi đời đời theo Chúa, tận hưởng vĩnh phúc.
Làm sao một người từ chối Thiên Chúa có thể vào Thiên đàng chứ? Người vô thần từ chối Thiên Chúa cho đến hơi thở cuối cùng là từ chối Nước Trời – họ từ chối tận hưởng vĩnh phúc, vì họ không tin điều đó. Vì chúng ta có ý chí tự do – một tặng phẩm Thiên Chúa không thể lấy đi khỏi chúng ta – Thiên Chúa không thể ép họ vào Nước Trời vì họ từ chối Ngài cho đến hơi thở cuối cùng.
Tại sao không nói về bằng chứng hiện hữu của Thiên Chúa?
Từ chối Thiên Chúa và vô thần là liều mạng vào lửa đời đời – trừ phi người vô thần sám hối trước khi chết. Người vô thần là người có linh hồn với nguy cơ vào hỏa ngục. Nếu chúng ta gặp ai đó sắp đâm đầu vào vách đá, rõ ràng là sẽ chết, chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta có “tôn trọng” họ mà để mặc họ liều mạng? Hay là chúng ta sẽ kêu cứu, la lớn, bảo anh ta dừng lại và đi đường khác?
Tại sao ĐHY Bergoglio nói về việc tha thứ cho người vô thần, và dành hẳn một chương về người vô thần? Chúng ta không nên nói với người vô thần về bằng chứng Thiên Chúa hiện hữu chăng? Thánh Thomas Aquinas, Thánh Anselm và nhiều Giáo phụ có bằng chứng hợp lý và mạnh mẽ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Không thích hợp chút nào để đưa ra bằng chứng Thiên Chúa hiện hữu. Thay vì vậy, có vẻ ngày nay nên nhấn mạnh sự tha thứ và chấp nhận những người không có niềm tin. Thay vì nhấn mạnh sự tha thứ và tôn trọng người vô thần, chúng ta không nên chia sẻ với họ về niềm vui và bình an nhờ tin vào Thiên Chúa, và số phận bi đát đang chờ những người từ chối Thiên Chúa đến cuối đời chăng? Sự thật đau lòng, nhưng vẫn cần nói về điều tốt của người vô thần.
Chứng thực mặc nhiên của thuyết vô thần/thuyết bất khả tri
Trong cuốn sách này, ĐHY Bergoglio không sửa đổi hoặc biện hộ lý thuyết về “sự không chắc chắn” của giáo sĩ Skorka. Chúng ta nhớ lại lời của giáo sĩ Skorka: Mặc dù riêng tôi tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng là kiêu ngạo khi nói rằng Ngài hiện hữu như thể chỉ là sự chắc chắn nào đó trong cuộc sống”.
Câu nói này chứng thực “thuyết bất khả tri” (không biết Thiên Chúa hiện hữu hay không). ĐHY Bergoglio nói: “...Theo cảm nghiệm về Thiên Chúa, luôn có câu hỏi không được trả lời, một cơ hội ngụp lặn trong Đức Tin... chúng ta có thể nói Thiên Chúa là ai, có thể nói về các thuộc tính của Ngài, nhưng không thể nói Ngài là cái gì... Tôi cũng nói rõ đó là kiêu ngạo, các lý thuyết đó không chỉ cố gắng xác định bằng sự chắc chắn và sự chính xác về các thuộc tính của Thiên Chúa, mà còn làm ra vẻ nói Ngài là ai”.
Chúa Giêsu ở đâu trong cuộc đối thoại?
Nếu tôi là ĐHY Bergoglio, đối thoại với giáo sĩ Skorka, làm sao tôi trả lời sự chứng thực của thuyết bất khả tri? Tôi sẽ trả lời bằng cách nói rằng Chúa Giêsu là bằng chứng tối hậu về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Cuộc đời của Ngài, việc làm của Ngài, và nhất là sự phục sinh của Ngài là bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô là bằng chứng thật, cụ thể, có tính lịch sử, không thể từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa.
Có lần Tông đồ Philipphê đã hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14:8). Chúa Giêsu nói: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?” (Ga 14:9-10).
Thay vì nói với người vô thần: “Là người vô thần cũng được, bạn vẫn vào Thiên đàng nếu bạn làm điều tốt”, thiết nghĩ chúng ta nên nói về mối nguy cơ của việc sống vô thần, bằng chứng không thể chối cãi về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và Thần tính của Chúa Giêsu. Họ có thể tranh cãi với chúng ta, la hét chúng ta, ghét chúng ta vì thách đố quan điểm của họ – nhưng nếu nói về “sự thật đau lòng”, và mặc dù như vậy, cũng cứ nên nói ra – chỉ vì muốn tốt cho họ.
PAOLO REYES
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

 

Trưởng Thành Trong Đức Tin


“Tôi đã cho anh em uống sữa chứ không cho dùng thức ăn, vì anh em chưa chịu nổi. Nhưng bây giờ anh em cũng vẫn còn không chịu nổi, vì anh em còn là những con người sống theo tính xác thịt. Bao lâu giữa anh em có sự ghen tương và cãi cọ, thì anh em chẳng phải là những con người sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm sao?” (1 Cr 3:2-3).

Bạn đã bao giờ thắc mắc mình đang uống sữa trên hành trình tâm linh hoặc đang dùng đồ ăn hay không? Có nhiều dấu hiệu cho thấy sự trưởng thành tâm linh? Làm sao trưởng thành tâm linh? Làm sao chúng ta biết mình tiến bộ đủ đối với sự sống đời đời để chúng ta có thể thôi uống sữa mà dùng thức ăn?
Trước tiên, có một câu hỏi khó trả lời: “Tôi trưởng thành trong đức tin chưa?”. Bước đầu tiên là chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận mình chưa thực sự trưởng thành tâm linh, nhờ đó chúng ta mới có thể đi đúng đường.
Chúng ta bắt đầu tự hỏi xem mình đang ở đâu trong hành trình tâm linh. Điều này giúp chúng ta nhận biết các tình huống. Có thể gọi đó là “siêu nhận thức”.
Bước thứ nhì tiến tới sự trưởng thành tâm linh là cách chúng ta nhìn vào cuộc sống của mình.
Chúng ta không dễ loại bỏ những thói quen xấu. Điều này không có nghĩa là chúng ta rất kiên nhẫn mà là mất kiên nhẫn, lương tâm cứ giằng co chúng ta. Chúng ta “xem xét” tính huống để chúng ta có thể biết gốc rễ của nó và nhổ bật gốc nó khỏi cuộc đời chúng ta. Đó là một hành trình dài nên chúng ta phải sẵn sàng và cương quyết đấu tranh. Rất cần thiết.
Bước thứ ba tiến tới sự trưởng thành tâm linh là gánh nặng chúng ta bắt đầu gánh vác vì quan tâm việc triệt tiêu những gì làm chúng ta xa cách Chúa. Thật vậy, trong hành trình tâm linh, chúng ta có thể nhận thấy khó khăn và cực khổ khi “tự giải thoát” khỏi những thứ vướng mắc.
Chúng ta thấy có thêm những thập giá trong cuộc sống vì chúng ta đang bắt đầu nhìn mọi thứ theo cách ảnh hưởng mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Không dễ chút nào vì có vẻ càng khó khăn hơn.
Lúc này, chúng ta phải tăng cường cầu nguyện. Chúng ta dành nhiều thời gian cầu nguyện, tìm hiểu Lời Chúa, và đào sâu về đức tin. Mỗi mặc khải mới sẽ làm chúng ta khao khát Ngài nhiều hơn.
Thánh Augustinô đã diễn tả: “Lòng con còn bồn chồn lo lắng cho đến khi nào được nghỉ ngơi trong Chúa Giêsu”. Nhưng đây không là sự áy náy rúng động của thế giới, đó là sự ao ước, sự khao khát đến gần Đức Kitô hơn.
Trưởng thành tâm linh đạt tới đỉnh cao — mặc dù không vĩnh viễn, không như kiểu tĩnh điện — khi chúng ta kết hợp ý muốn của chúng ta với Ý Chúa. Chúng ta có thể đạt tới cao trào nhiều lần trong hành trình tâm linh khi chúng ta cảm thấy gần gũi Chúa hơn, và vẫn có cơ hội sống đức tin sâu hơn, mạnh hơn.
Khi chúng ta trưởng thành tâm linh, chúng ta có thể thấy mình thỏa mãn một chút, nhưng không bao giờ thỏa mãn mãi mãi. Chúng ta muốn Chúa đưa chúng ta vào nơi nghỉ ngơi tĩnh lặng của Ngài — và rồi chúng ta lại khởi đầu hành trình với mức độ mới.
Tất cả chúng ta đều được mời gọi đạt tới sự trưởng thành tâm linh, lời mời gọi đó luôn có trên hành trình mỗi ngày cho tới khi nào kết thúc hành trình cuối cùng là bước vào đời sau, về Quê Trời đích thực.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

 

Trưởng Thành Tâm Linh

imagesĐến lúc trưởng thành tâm linh, chúng ta không chỉ được “biếu không” mà chúng ta còn đang phát triển. Để đánh giá sự phát triển tâm linh, tôi đã soạn một số điểm quan trọng về tâm linh. Hãy kiểm tra xem mình đã hành động thế nào. Nhưng hãy nhớ rằng đó chỉ là bước khởi đầu. Hãy đọc Kinh thánh để biết cách phát triển tâm linh hoàn toàn!
Chúng ta biết rằng phát triển tâm linh là khi chúng ta càng ngày càng nhận biết mình tội lỗi và yếu đuối. Khi đọc hạnh các thánh, tôi thấy rõ ràng các thánh “không khá hơn” theo tuổi tác và chín muồi về tâm linh. Nhưng các ngài càng ngày càng trở nên nhạy bén hơn với việc lệ thuộc vào Thiên Chúa. Hơn nữa, sự tiến bộ hiển nhiên khi chúng ta phản ứng với tội lỗi bằng lòng sám hối mau mắn. Thất bại xử lý tội lỗi là nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Những người trưởng thành về tâm linh đều tránh xa các hành vi xấu và yêu thích sự công chính. Khi chúng ta sống biết ăn năn và lệ thuộc vào Chúa, đức vâng lời của chúng ta sẽ mạnh mẽ và càng ít bị tội lỗi lôi cuốn.
Sự phát triển tâm linh cũng được đánh dấu bằng mức tăng trong hai điều: Vui mừng và đấu tranh. Đức tin thường được tăng trưởng qua những gian nan thử thách nhờ sống các quy luật của niềm tin và chịu đựng. Chúng ta sẽ trưởng thành trong mối quan hệ mật thiết với Thiên Chúa khi chúng ta coi những thử thách và những cám dỗ là cơ hội để phát triển tâm linh.
Các thánh Phaolô, David, và Daniel đều chứng tỏ rằng nghịch cảnh có thể giúp hình thành tâm linh. Những con người này đã nhận ra Thiên Chúa uy linh là Đấng canh giữ cuộc đời họ. Chúng ta sẽ trưởng thành về tâm linh nếu chúng ta hiểu điều xảy đến cho mình là Thánh Ý Chúa, cũng có nghĩa là Ngài đều làm thành tốt: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” (Rm 8:28).

CHARLES STANLEY - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Jesus.org)