Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa

by Trầm Thiên Thu

June 14, 2022

 

GIÚP THIẾU NIÊN TỰ TIN
9 tháng 6 năm 2022
Có vẻ nghe chừng có vẻ “ngon lành,” nhưng cảm giác tự tin (thoải mái về chính mình) là một trong những điều giúp làm cho cuộc sống hạnh phúc hơn và thành công hơn. Tự tin và các khả năng là con đường dài dù bạn có hay không có những quyết định khó khăn, thích nghi với hoàn cảnh mới hoặc chịu áp lực nào đó. Đây là vài gợi ý “khởi động” để có thể xây dựng sự tự tin.
1. HÍT SÂU
Cứ thoải mái và “vô tư” có thể giúp bạn thấy không có gì đáng sợ. Đó cũng là “khung trí tuệ” khi bạn tiếp cận những điều bạn không giỏi. Dốt nát bị khinh, thông minh bị ghét. Đời là thế! Biết vậy rồi, đừng sợ chi cả!
2. KIỂM SOÁT THẾ MẠNH
Ai cũng giỏi về lĩnh vực nào đó, thậm chí có người giỏi về nhiều lĩnh vực. Thậm chí bạn không có tài năng hoặc chuyên môn về lĩnh vực nào đó, bạn vẫn có những sở thích mà bạn có thể biến thành ưu thế riêng.
Hãy liệt kê những thứ bạn giỏi, những điều bạn quan tâm và có thể bạn rành hơn. Hãy chia sẻ những điều này với cha mẹ, cô, dì, chú, bác,.. hoặc với giáo viên mà bạn tin tưởng. Họ có thể giúp bạn phát hiện những điều khác mà bạn giỏi, đồng thời họ giúp bạn đặt ra kế hoạch phát triển kỹ năng đúng hướng.
3. NHẬN BIẾT CHÍNH MÌNH
Nhân vô thập toàn, đừng quên điều này. Không hẳn luôn luôn như vậy, nhưng đó là sự thật. Nếu bạn sinh ra để trở thành nhạc sĩ, ca sĩ, văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, kỹ sư, vận động viên,… hoặc học sinh giỏi, vậy rất tốt. Bạn có tính cách và viễn cảnh về thế giới đó, hoàn toàn có giá trị. Nhưng ai cũng có những giới hạn riêng, có thể bạn rất giỏi về lĩnh vực này nhưng lại rất dở về lĩnh vực khác.
4. ĐỪNG TỰ TI MẶC CẢM
Một trong những điều lớn nhất khiến người ta không đạt được mục đích, và cảm thấy thiếu tự tin, là ý nghĩ tiêu cực. Nói cách khác, bạn cứ tự nhủ mình là người thua cuộc hoặc thất bại thì bạn tự cản bước mình đạt được điều mình muốn.
Bạn không giỏi về ngành nào đó, không có nghĩa là bạn không thể hoạt động trong ngành đó. Có thể bạn không được chuẩn bị hoặc chưa gặp thời. Cũng không có nghĩa là bạn sẽ không bao giờ thành công. Cảm thấy buồn một chút cũng chẳn sao khi thấy mọi thứ không xuôi chèo mát mái, nhưng rồi sẽ ổn và bạn hãy tiếp tục. Bạn sẽ tiến gần tới thành công theo ý muốn nếu bạn tích cực hành động.
5. TỰ NHỦ HẰNG NGÀY
Hãy tìm những điều nhỏ mà bạn có thể làm tốt mỗi ngày. Hãy tiếp tục hy vọng, dù thất vọng cũng đừng bao giờ tuyệt vọng, vận may sẽ mỉm cười với bạn vào một ngày nào đó: “Tôi ơi, đừng bao giờ tuyệt vọng. Cố lên!” Và rồi đó sẽ là niềm hãnh diện của riêng bạn và của chính gia đình bạn!
Cuối cùng, luôn nhớ lời Chúa Giêsu xác định với Thánh Phaolô: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cr 12:9) Đó là điều thực sự rất quan trọng. Khi động viên người khác cũng là tự động viên chính mình vậy!
TRẦM THIÊN THU
Lễ Chúa Ba Ngôi – 2022

NÀNG RAKHÁP
9 tháng 6 năm 2022
Nàng Rakháp là người Canaan, mặc dù là kỹ nữ, gái điếm, nhưng nàng đã nhận được lời khen ngợi đặc biệt vì đức tin và có vị trí trong dòng dõi của Chúa Cứu Thế Giêsu Kitô.
Nàng Rakháp đã không để hoàn cảnh ngăn cản mơ ước về một cuộc sống khác tốt đẹp hơn – cuộc sống của sự tôn trọng, yêu thương và gia đình. Khi Thiên Chúa ban cho Rakháp một lối thoát khỏi cuộc sống xấu xa và thoái hóa, nàng có cơ hội trở thành một phần của dân Ngài, và nàng đã kịp nắm bắt ngay.
Cuộc đời Rakháp là một hỗn hợp, được pha chế để tăng cường đức tin và sự kết nối với Chúa, giúp chúng ta hiểu rằng cuộc đời chúng ta có thể thay đổi và điều chúng ta mong muốn nhất có thể được viên mãn. Thế giới gán cho bạn nhãn hiệu gì cũng không quan trọng, vấn đề quan trọng là trái tim bạn có gì và là ai. Người ta không biết bạn là ai, nhưng Thiên Chúa biết rõ bạn là ai. Sự hỗn hợp của cuộc đời nàng Rakháp là cách mạnh mẽ để lan truyền lòng can đảm và niềm tin cần thiết để tiến về phía trước và làm bất cứ điều gì cần thiết để làm cho cuộc đời bạn là chính những gì có thể.
Trình thuật Gs 2:8-24 nói về giao kèo giữa các người do thám và nàng Rakháp:
Rakháp nói với họ: “Tôi biết Đức Chúa đã ban cho các ông đất này, tôi biết vì các ông mà nỗi kinh hoàng ập xuống trên chúng tôi, và mọi dân cư trong xứ đều rụng rời hốt hoảng trước mặt các ông. Vì chúng tôi nghe đồn là Đức Chúa đã làm cạn Biển Sậy trước mặt các ông khi các ông ra khỏi Ai Cập; chúng tôi cũng nghe đồn về những gì các ông đã làm cho hai vua Emôri là Xikhôn và Ốc, mà các ông đã tru hiến ở bên kia sông Giođan. Khi chúng tôi nghe đồn, thì tâm thần chúng tôi sợ hãi như muốn chảy tan ra, không ai còn nhuệ khí trước mặt các ông, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của các ông, là Thiên Chúa ngự chốn trời cao cũng như nơi đất thấp. Vậy bây giờ, xin các ông hãy nhân danh Đức Chúa mà thề với tôi là: bởi tôi đã lấy tình mà đối xử với các ông, thì các ông, các ông cũng sẽ lấy tình mà đối xử với gia đình tôi. Các ông sẽ cho tôi một dấu chắc chắn, đó là các ông sẽ để cho cha mẹ tôi, các anh chị em tôi và mọi người thân thuộc của họ được sống, các ông sẽ cứu chúng tôi khỏi chết.”
Những người ấy nói với cô Rakháp: “Chúng tôi xin thề lấy mạng đền mạng, trừ phi các người tiết lộ chuyện này! Vậy khi nào Đức Chúa ban đất này cho chúng tôi, chúng tôi sẽ lấy chữ tình chữ tín mà đối xử với cô.” Bấy giờ, từ cửa sổ cô thòng dây cho họ xuống, vì nhà cô sát vách tường thành và cô ở ngay trong tường thành. Cô nói với họ: “Các ông hãy đi về phía núi, kẻo những người đuổi theo bắt được các ông. Các ông cứ ẩn núp ở đấy ba ngày cho đến khi chúng trở về. Sau đó, các ông cứ đường mình mà đi.” Họ nói với cô: “Đây là cách chúng tôi sẽ giữ lời mà cô đã yêu cầu chúng tôi thề: Khi nào chúng tôi vào xứ này, cô sẽ buộc dây chỉ điều này ở cửa sổ, nơi cô đã thả chúng tôi xuống, rồi cô sẽ tập họp trong nhà, bên cạnh cô: cha mẹ, các anh chị em và cả nhà cha cô. Bấy giờ, ai bước qua cửa nhà cô mà ra ngoài, thì máu người ấy sẽ đổ xuống đầu người ấy, chúng tôi vô can. Nhưng người nào ở trong nhà với cô, thì máu người ấy sẽ đổ xuống đầu chúng tôi, nếu có ai tra tay hại người ấy. Cô mà tiết lộ chuyện của chúng tôi, chúng tôi sẽ khỏi phải giữ lời mà cô đã yêu cầu chúng tôi thề.” Cô ấy nói: “Mong được như lời các ông đã nói!” Rồi cô để họ đi, và họ ra đi. Cô buộc dây chỉ điều ở cửa sổ.
Họ lên đường và tiến về phía núi. Họ ở lại đó ba ngày cho đến khi những kẻ đuổi theo trở về. Những người này đã đi lùng họ trên cả con đường ấy mà không tìm được. Hai người kia trở về: họ xuống núi, qua sông Giođan, rồi tới gặp ông Giôsuê, con ông Nun, và thuật lại cho ông mọi việc đã xảy ra cho họ. Họ nói với ông Giôsuê: “Đức Chúa đã nộp tất cả miền đất ấy vào tay chúng ta, và mọi dân cư ở đó đều rụng rời hốt hoảng trước mặt chúng ta.”
Tiếp theo, trình thuật Gs 6:1-25 cho biết:
Giêrikhô đóng kín cổng thành, phòng thủ chống lại con cái Israel: nội bất xuất, ngoại bất nhập. Đức Chúa phán với ông Giôsuê: “Xem đây! Ta nộp vào tay ngươi thành Giêrikhô, vua và các dũng sĩ của thành ấy. Các ngươi, tất cả những người tham chiến, các ngươi sẽ đi vòng quanh thành, đi chung quanh thành một lần; các ngươi sẽ làm như vậy sáu ngày. Bảy tư tế sẽ cầm bảy cái tù và bằng sừng cừu đi trước Hòm Bia. Ngày thứ bảy, các ngươi sẽ đi vòng quanh thành bảy lần, và các tư tế sẽ thổi tù và. Khi tù và bằng sừng cừu rú lên, khi các ngươi nghe tiếng tù và, thì toàn dân lớn tiếng hò reo xung trận. Bấy giờ tường thành sẽ sụp đổ tại chỗ; dân chúng ai nấy cứ thẳng trước mặt mình mà tiến lên.”
Ông Giôsuê, con ông Nun, triệu tập các tư tế và nói với họ: “Các ông hãy khiêng Hòm Bia Giao Ước, và bảy tư tế phải cầm bảy tù và bằng sừng cừu đi trước Hòm Bia của Đức Chúa.” Ông nói với dân: “Hãy tiến tới và đi vòng quanh thành; những người được võ trang hãy qua phía trước Hòm Bia của Đức Chúa.” Điều đó đã xảy ra như ông Giôsuê đã nói với dân. Bảy tư tế cầm bảy tù và bằng sừng cừu qua phía trước nhan Đức Chúa, vừa đi vừa thổi; còn Hòm Bia Giao Ước của Đức Chúa thì đi sau họ. Quân tiên phong đi trước các tư tế đang thổi tù và. Quân hậu vệ đi theo sau Hòm Bia. Ai nấy bước đi theo tiếng tù và.
Trước đó ông Giôsuê đã ra lệnh này cho dân: “Anh em đừng hò reo xung trận, đừng để ai nghe thấy tiếng anh em, đừng hé môi nói ra lời nào, cho đến ngày tôi bảo anh em: Hãy hò reo xung trận! Bấy giờ, anh em mới hò reo xung trận.”
Hòm Bia Đức Chúa đi vòng quanh thành, đi một vòng chung quanh, rồi ai nấy trở về trại và qua đêm tại đó. Sáng hôm sau, ông Giôsuê dậy sớm, và các tư tế khiêng Hòm Bia Đức Chúa. Bảy tư tế cầm bảy tù và bằng sừng cừu đi trước Hòm Bia Đức Chúa, vừa đi vừa thổi; quân tiên phong đi trước họ, và quân hậu vệ theo sau Hòm Bia Đức Chúa; ai nấy bước đi theo tiếng tù và.
Ngày thứ hai, họ đi vòng quanh thành một lần, rồi trở về trại. Họ làm như vậy sáu ngày. Ngày thứ bảy, họ dậy sớm khi hừng đông ló rạng, và đi vòng quanh thành bảy lần cùng theo một cách thức. Chỉ có ngày đó họ mới đi vòng quanh thành bảy lần. Đến lần thứ bảy, khi các tư tế thổi tù và, ông Giôsuê nói với dân: “Hãy hò reo xung trận, vì Đức Chúa đã nộp thành cho anh em.”
“Thành và mọi sự trong thành sẽ bị án tru hiến để kính Đức Chúa, chỉ có cô kỹ nữ Rakháp và mọi người ở với cô trong nhà là sẽ được sống, vì cô đã giấu các sứ giả chúng ta sai đi. Tuy nhiên, anh em phải đề phòng án tru hiến, kẻo anh em bị án tru hiến vì lấy đồ vật nào trong số những gì bị án biệt hiến. Bằng không, anh em sẽ làm cho trại Israel phải bị án tru hiến, và như thế anh em gây tai họa cho trại. Tất cả vàng bạc, mọi đồ đồng, đồ sắt sẽ được thánh hiến cho Đức Chúa, và được xung vào kho tàng của Đức Chúa.”
Bấy giờ, dân hò reo xung trận, và người ta rúc tù và. Vừa nghe tiếng tù và, dân lớn tiếng hò reo xung trận, và tường thành sụp đổ tại chỗ. Dân chúng ai nấy cứ thẳng trước mặt mình mà tiến lên đánh thành, và đã chiếm được. Họ dùng lưỡi gươm mà thi hành án tru hiến mọi sự trong thành, từ đàn ông cho đến đàn bà, từ người trẻ cho đến người già, đến cả bò lừa và chiên cừu.
Ông Giôsuê nói với hai người đã đi do thám trong xứ: “Hãy vào nhà người kỹ nữ, và đem người đàn bà ấy cũng như mọi người thân thuộc của cô ra khỏi đó, theo như anh em đã thề hứa với cô.” Vậy các người thanh niên do thám vào nhà cô Rakháp, và đem cô ra khỏi đó cùng với cha mẹ, anh em cô và mọi người thân thuộc của cô; họ đem tất cả thị tộc của cô ra khỏi đó, và cho họ ở bên ngoài trại Israel.
Rồi họ phóng hỏa đốt thành cũng như tất cả những gì trong đó; ngoại trừ vàng bạc và những đồ đồng, đồ sắt, thì người ta nộp vào kho tàng nhà Đức Chúa. Nhưng cô kỹ nữ Rakháp cùng với gia đình cha cô và mọi người thân thuộc của cô, thì ông Giôsuê để cho sống. Cô ở giữa dân Israel cho đến ngày nay, vì cô đã giấu sứ giả ông Giôsuê sai đi do thám Giêrikhô.
Án tru hiến là gì? Theo Luật Môsê, (Đnl 7:1-5 và Đnl 20:16-18) đó là án tiêu diệt tất cả các nơi của phe bại trận, hình phạt là trục xuất khỏi cộng đoàn, một số trường hợp nặng nhất có thể đưa tới án tử hình.
Thánh Phaolô nói: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám.” (Dt 11:1-2) Và Thánh Phaolô xác định: “Nhờ đức tin, tường thành Giêrikhô đã sụp đổ, sau khi dân Israel đi vòng quanh trong bảy ngày. Nhờ đức tin, cô kỹ nữ Rakháp đã không phải chết cùng với quân phản nghịch, vì cô đã hòa nhã tiếp đón những người do thám.” (Dt 11:30-31) Thánh Giacôbê cho biết: “Đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.” (Gc 1:3)
Quả thật, nàng Rakháp là phụ nữ của đức tin, của sự thật, của lòng dũng cảm và sự tin tưởng. Trong số các phụ nữ thời Cựu Ước, nàng Rakháp là một trong những người tuyệt vời và kích thích ý tưởng nhiều nhất.
TRẦM THIÊN THU

TIÊN TRI MALAKHI DẠY VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ
13 tháng 6 năm 2022
Một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa người Công giáo và hầu hết những người Tin Lành là cách hiểu khác nhau về Bí tích Thánh Thể. Đối với phần lớn những người anh em ly khai, Bí tích Thánh Thể chỉ là một nghi lễ tưởng niệm, nhưng người Công giáo chúng ta tin đó là sự tham dự thực sự vào sự hy tế của Chúa Giêsu trên Thập Giá. Dữ liệu Kinh Thánh về điểm này rất hiếm và thường không quyết đoán, vì vậy rất khó để xác định bên nào được Kinh Thánh ủng hộ.
Tuy nhiên, có một số đoạn văn quan trọng rõ ràng là nghiêng về quan điểm Công giáo, và một số đoạn văn đó thực sự có từ Cựu Ước. Ví dụ, hãy lấy đoạn văn này trong sách tiên tri Malakhi: “Quả thật, từ đông sang tây, Danh Ta thật cao cả giữa chư dân; và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta, bởi vì Danh Ta thật cao cả giữa chư dân.” (Ml 1:11)
Xét chung, phải công nhận rằng khó có thể thấy câu này có liên quan Bí tích Thánh Thể. Thật khó biết được điều mà tiên tri Malakhi đề cập. Tuy nhiên, nếu chúng ta tìm hiểu sâu hơn một chút, chúng ta thấy rằng thực sự đó là lời tiên tri quan trọng về Thánh Lễ. Mặc dù có sự mờ mịt, câu đó vẫn nêu bật một số sự thật cụ thể về hy tế Thánh Thể khiến ý nghĩa không thể nhầm lẫn khi chúng ta nhận ra điều đó.
1. DÂN NGOẠI HAY DO THÁI?
Để bắt đầu, hãy xem qua ngữ cảnh của những từ này. Trong chương đầu, tiên tri Malakhi khiển trách người Do Thái vào thời đó vì đã dâng những của lễ không tinh khiết cho Thiên Chúa, và trong câu này, ông đối chiếu những của lễ đó với một “của lễ tinh khiết” mà ông nói là được dâng “ở mọi nơi.”
Nhưng chính xác ông nói về cái gì? “Lễ vật thanh khiết” là gì? Lúc đầu, chúng ta có thể đoán rằng tiên tri Malakhi đang cố gắng hạ thấp đồng bào Do Thái bằng cách chỉ ra rằng những người ngoại giáo đã dâng của lễ tốt hơn họ, nhưng giả thuyết đó không phù hợp. Tiên tri Malakhi là một người Do Thái trung thành, vì vậy ông sẽ không tán thành những của lễ do bất kỳ ai cung cấp ngoại trừ dân Israel.
Tiếp theo, chúng ta có thể nghĩ rằng ông chỉ đơn giản là tra tấn người Do Thái ở Giêrusalem và nói rằng anh em của họ ở những nơi khác trên thế giới đã hy sinh hơn họ. Tuy nhiên, điều đó cũng không hoạt động. Cựu Ước hạn chế hy lễ trong đền thờ ở Giêrusalem. (Ds 12:5-14) Vì vậy tiên tri Malakhi không thể nói về bất kỳ loại hy lễ nào của người Do Thái có thể đã được dâng ở những nơi khác trên thế giới.
2. MỘT CỦA LỄ
Vì vậy, ông có thể đề cập điều gì? Theo tôi, bí quyết là hãy xem xét kỹ lưỡng từ ngữ chính xác mà tiên tri Malakhi đã sử dụng. Đầu tiên, ÔNG KHÔNG NÓI rằng những của lễ thuần túy (số nhiều) được dâng cho Thiên Chúa trên khắp thế giới. Thay vào đó, ÔNG NÓI rằng một lễ vật thuần túy (số ít) được dâng, và điều đó rất quan trọng. Ông không nói về nhiều của lễ như những người Do Thái và người ngoại giáo đã đưa ra. Không, ông đã nói về MỘT CỦA LỄ DUY NHẤT được dâng trên toàn thế giới.
Điều đó nghe có vẻ hơi vô lý, nhưng cứ bình tĩnh. Chúng ta chỉ cần xem xét thêm một chi tiết trong lời nói của tiên tri Malakhi, rồi mọi thứ sẽ đâu vào đó. Hầu hết các bản Kinh Thánh tiếng Anh đều dịch câu này như thể các động từ ở thì hiện tại, điều này ngụ ý rằng tiên tri Malakhi nói về “một của lễ tinh khiết” đã được ban vào thời của ông, nhưng trong tiếng Do Thái, văn phạm không rõ ràng cho lắm.
3. QUÁ KHỨ HAY HIỆN TẠI?
Để bắt đầu, câu này thực sự không có bất kỳ động từ nào. Nghĩa đen của nó là “Danh Ta cao cả giữa chư dân” và “người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta.” Chúng ta chỉ cần chèn động từ “là” vào những vị trí thích hợp. Chúng ta làm điều đó trong tâm trí khi đọc câu đó bằng tiếng Do Thái, và theo nghĩa đen, chúng ta đưa các từ vào bản văn khi dịch đoạn văn sang tiếng Anh.
Đáng kể là điều này cho phép chúng ta coi các động từ đó như bất kỳ “thì” gì chúng ta muốn (ít nhất là theo quan điểm văn phạm thuần túy). Chính bản văn không thực sự cho chúng ta biết tiên tri Malakhi nói về ngày của chính mình hay tiên tri về tương lai. Để tìm ra điều đó, chúng ta phải xem bối cảnh của đoạn văn, và như chúng ta đã thấy, câu này không có ý nghĩa gì nếu nó đề cập ngày của Malakhi. Không có thì hiện tại nào để ông có thể viết, vì vậy chúng ta phải coi đó như một lời tiên tri về tương lai. Do đó, chúng ta thực sự nên dịch Câu Ml 1:11 ở thì tương lai.
4. TIÊN BÁO THÁNH LỄ
Một khi chúng ta làm điều đó, mọi thứ sẽ ổn định, giống như tôi đã hứa. Giáo Hội sơ khai đã coi câu này như một lời tiên tri về Thánh Lễ, và vì lý do chính đáng. Thánh Lễ là sự tái hiện sự hy sinh của Chúa Giêsu trên Thập Giá. Mỗi khi chúng ta cử hành, sự hy sinh đó lại diễn ra với chúng ta – do đó có thuật ngữ “tái diễn,” chúng ta tham dự và cùng với Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha. Nói cách khác, đó KHÔNG PHẢI LÀ NHIỀU HY LỄ. Dù chúng ta có dâng bao nhiêu Thánh Lễ thì cũng chỉ là MỘT CỦA LỄ mà thôi.
Đó là những gì tiên tri Malakhi nói đến. Ông nói rằng mặc dù những người Do Thái vào thời của ông đã dâng những của lễ không tinh khiết, nhưng sẽ đến ngày dân Chúa dâng của lễ có thể chấp nhận được. Đó sẽ là một của lễ, không phải nhiều, và của lễ duy nhất phù hợp với luật này là Thánh Lễ. Chúng con, chúng ta có thể tin rằng Bí tích Thánh Thể không chỉ là một nghi lễ tưởng niệm. Đó là hy lễ thực sự, một sự tham dự đích thực vào sự dâng hiến của Chúa Giêsu cho Chúa Cha trên Thập Giá.
Vì vậy, về điểm này, ĐỨC TIN CÔNG GIÁO HOÀN TOÀN PHÙ HỢP VỚI GIÁO HUẤN CỦA KINH THÁNH.
JP NUNEZ
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

ĐỆ NHẤT PHÉP MẦU
12 tháng 6 năm 2022
Mình Chúa Là Thần Lương Nuôi Nhân Thế
Máu Ngài Hóa Biệt Dược Chữa Tội Nhân
Có rất nhiều phép lạ đã xảy ra, thậm chí là hằng ngày. Đơn giản nhất mà rất quan trọng đối với sự sống muôn loài là Không Khí. Nhưng đặc biệt nhất là phép lạ Thánh Thể, và rồi hằng ngày vẫn xảy ra tại các nhà thờ Công giáo ở khắp nơi trên thế giới. Thánh Thể là Phép Lạ vĩ đại nhất, là Phép Lạ của các phép lạ.
Nổi bật nhất là phép lạ Thánh Thể đầu tiên xảy ra tại Lanciano, Ý, năm 700. Gần đây nhất là các phép lạ Thánh Thể đã xảy ra tại Chirattakonam, Ấn Độ, tháng 04-2001; tại Tixtla, Mexico, tháng 10-2006; tại Sokółka, Ba Lan, tháng 10-2008; tại Legnica, Ba Lan, tháng 12-2013. Các phép lạ xảy ra để củng cố đức tin của chúng ta – những người tin nhận Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất.
Chính Con Thiên Chúa đã minh định: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.” (Ga 6:54-56) Việc lãnh nhận Thánh Thể không chỉ là diễm phúc mà còn được hòa tan vào Ngài để có sự sống đích thực của Thiên Chúa.
Thánh Giáo Hoàng Piô X (1835-1914) đã xác định: “Bí tích Thánh Thể là con đường ngắn nhất và chắc chắn nhất đưa ta về Quê Trời.” Chắc chắn hành trình nào cũng cần có lương thực để duy trì sức khỏe, để có thể đủ sức tới nơi cần đến. Thật vậy, khi đi đường xa, người ta phải dự trữ ẩm thực cho hành trình, nhiều hay ít tùy đừng gần hay xa. Chắc chắn chúng ta không thể thiếu Thần Lương Thánh Thể suốt cuộc lữ hành về Nước Trời.
Lịch sử cho biết rằng giữa chiến trận chống lại quân Hồi giáo đế chế Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) hồi thế chiến I, quân đội Australia và New Zealand luôn được nhắc nhở điều quan trọng nhất là CHĂM SÓC LINH HỒN MÌNH TRƯỚC. Giữa sự nguy hiểm của làn bom mũi đạn, họ vẫn cung kính đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể. Trong cuộc chiến đó, chỉ riêng lực lượng Australia đã có hơn 8.000 binh sĩ tử vong. Có điều đặc biệt là ngay trong lúc nguy hiểm nhất, họ vẫn luôn ý thức tôn kính Thánh Thể qua việc rước lễ như “Của Ăn Đàng” vậy. Thật tuyệt vời biết bao!
Đã hứa gì thì làm. Chúa Giêsu xác định: “Tôi đến để cho chiên ĐƯỢC SỐNG và SỐNG DỒI DÀO.” (Ga 10:10) Thật tuyệt vời, vì chúng ta không chỉ được sống mà còn sống dồi dào nhờ sự sống của Ngài. Bí tích Thánh Thể là cách độc nhất vô nhị mà không ai có thể nghĩ ra được, và đó cũng là cách Ngài thực sự ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28:20) Thánh Thể được hiểu bao gồm cả Thánh Huyết – vì trong thịt luôn có máu.
Chúng ta phải ăn uống để có sự sống và duy trì sự sống. Nhưng lương thực chúng ta ăn hằng ngày không chỉ là các loại thực phẩm bình thường mà đặc biệt là chúng ta được ăn chính Thánh Thể Chúa Giêsu – Thần Lương và Nguồn Sống cho bất cứ ai đang lữ hành trần thế, để đủ sức vượt qua mọi vật cản mà đến đích bình an.
Thánh Thomas More (luật sư, triết gia, chính khách, 1478-1535, Anh quốc) chia sẻ bí quyết: “Nếu tôi xao lãng, việc hiệp lễ sẽ giúp tôi tịnh tâm trở lại. Nếu hằng ngày có những dịp xảy đến xúi giục tôi xúc phạm đến Thiên Chúa, tôi sẽ tự trang bị cho cuộc chiến mỗi ngày bằng việc lãnh nhận Thánh Thể. Nếu tôi đặc biệt cần đến ánh sáng và sự khôn ngoan để thực thi các phận sự nặng nề của tôi, tôi sẽ đến bên Đấng Cứu Độ, mong tìm được lời khuyên và ánh sáng của Ngài.
GIAO ƯỚC VĨNH CỬU
Một trong các Giao Ước vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã ký kết với chúng ta là Bí tích Thánh Thể, được ám chỉ từ ngàn xưa. Thật vậy, Kinh Thánh cho biết rằng tư tế Menkixêđê của Thiên Chúa Tối Cao, là vua thành Salem, ông đã mang bánh rượu ra và chúc phúc cho ông Ápram: “Xin Thiên Chúa Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất, chúc phúc cho Ápram! Chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao, Đấng đã trao vào tay ông những thù địch của ông!” (St 14:19-20) Sau đó, Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước Vĩnh Cửu với ông Ápram: “Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Ápram nữa, nhưng là Ápraham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc.” (St 17:5) Ông đổi tên và đổi đời.
Lời Kinh Thánh ngắn gọn nhưng có các chi tiết quan trọng: [1] Thời Cựu Ước, bánh và rượu được dùng làm lễ vật; thời Tân Ước, bánh và rượu được thánh hóa để trở thành chính Mình Máu Chúa Giêsu. [2] Có lễ vật thì cần có người dâng, đó là các tư tế, đại diện dân Chúa dâng lễ vật lên Thiên Chúa hằng ngày, họ được mệnh danh là những người theo phẩm trật Menkixêđê.
Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, đồng thời Ngài cũng thiết lập chức linh mục. Các linh mục thừa tác tiếp tục công việc tế lễ để Chúa Giêsu hằng ngày, để đền tội của họ và của người khác. Chính nhờ Mình Máu Ngài mà chúng ta được sống và sống dồi dào. Rất vui mừng nên Thánh Vịnh gia nói về sấm ngôn của Đức Chúa ngỏ cùng Chúa Thượng: “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con.” (Tv 110:1)
Từ Sion, Đức Chúa sẽ mở rộng quyền vương đế của Ngài: Giữa lòng địch quân, xin Ngài làm bá chủ. Chính Thiên Chúa tuyên phán: “Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh ra Con.” (Tv 110:3) Phàm nhân chúng ta chỉ là cát bụi, hoàn toàn bất xứng, nhưng lại diễm phúc khôn tả vì được Thiên Chúa ký kết giao ước đến muôn đời. Một lần là mãi mãi, Ngài không bao giờ rút lời: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê.” (Tv 110:4)
Thánh Phaolô chia sẻ rõ ràng: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” (1 Cr 11:23-24) Thánh Phaolô tiếp tục nhắc lại lời Chúa Giêsu: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” (1 Cr 11:25)
Sau lời truyền phép, Giáo Hội xác nhận: “Đây là mầu nhiệm đức tin.” Mọi người tung hô theo lời Thánh Phaolô: “Cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết.” (1 Cr 11:26) Quả thật, chúng ta phải dùng con mắt đức tin để bù đắp cho con mắt trần tục khi tin kính và tôn thờ Thánh Thể.
Trong những lần hiện ra với các thị nhân, Chúa Giêsu và Đức Mẹ vẫn luôn nhắc nhở người ta phải hết lòng tôn sùng và yêu mến Thánh Thể. Vừa nhắc nhở vừa cảnh báo, Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói: “Bạn không thể thấy Chúa Giêsu trong người nghèo nếu bạn không thấy Ngài trong Thánh Thể.” Thực sự con mắt đức tin rất cần thiết.
CHỨNG NGHIỆM TỎ TƯỜNG
Kinh Thánh xác định: “Đường lối Thiên Chúa quả là toàn thiện, lời Chúa hứa được chứng nghiệm tỏ tường.” (Tv 18:31) Bởi vì Ngài là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó, và là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời. (Tv 146:6) Đức Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa, vì thế Ngài luôn thực tế, nói cụ thể, không bao giờ nói suông, và đó cũng là cách Ngài củng cố lòng tin cho chúng ta – những kẻ phàm phu tục tử.
Qua trình thuật Lc 9:11-17, Thánh sử Luca cho biết: Có đám đông dân chúng đi theo Chúa Giêsu. Ngài tiếp đón họ, nói với họ về Nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần được chữa. Khi bóng đêm dần buông xuống, các môn đệ đến thưa với Ngài: “Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng.” Như vậy thì còn nói làm gì. Ngài bảo các đệ tử: “Chính anh em hãy cho họ ăn.” Đúng là “căng” thật! Có lẽ họ gãi đầu và nhìn nhau vì bí quá. Nhưng rồi có người thấy đứa bé có ít lương thực, nên liền thưa với Ngài: “Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá, trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám dân này.”
Người ta đông như kiến như cỏ, ước chừng có tới năm ngàn đàn ông, chưa kể phụ nữ và trẻ em, tính sát chắc phải cả chục ngàn người. Một bữa tiệc nhỏ còn phải chuẩn bị cả tuần trước, dù chỉ vài chục thực khách chứ nói chi vài trăm người. Thế mà đây có tới cả chục ngàn người. Phàm nhân tài giỏi mấy cũng phải “bó tay” mà thôi!
Chắc hẳn lúc đó các môn đệ bối rối và lo lắm, bị động và bị “triệt buộc,” nhưng Thầy Giêsu gỡ rối cho họ ngay: “Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một.” Các ông mau mắn bảo mọi người ngồi theo nhóm. Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, Chúa Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời CHÚC TỤNG, BẺ RA và TRAO CHO các môn đệ để họ dọn ra cho đám đông cùng hưởng dùng.
Điều kỳ diệu xảy ra nhãn tiền, rồi có điều lạ khác nữa: “Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được MƯỜI HAI THÚNG.” Cả đám đông chứng kiến chứ đầu đuôi chứ không phải là nghe người khác kể lại. Đúng là một phép lạ vĩ đại, một phép lạ của lòng thương xót.
Trong cuộc sống, miếng ăn liên quan các vấn đề khác, không chỉ về sự sống mà còn về quyền lợi. Tục ngữ Việt Nam nói: “Trâu cột ghét trâu ăn.” Một thực tế buồn nhưng vừa minh nhiên vừa mặc nhiên. Có lần Thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Một số cành cây ô-liu đã bị chặt đi, còn bạn là ô-liu dại đã được tháp vào đó, và cùng được hưởng sự sống dồi dào từ rễ cây ô-liu chính. Vì thế, bạn đừng có lên mặt khinh dể các cành khác.” (Rm 11:17-18a) Câu nói đáng suy tư nhiều. Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Bạn cứ lên mặt đi! Đâu phải bạn mang rễ, mà là rễ mang bạn.” (Rm 11:18b) Thật đáng quan ngại biết bao!
Dù vật chất hay tinh thần, điều quan trọng là biết chia sẻ. Việc chia sẻ liên quan động thái CHO và NHẬN: Phúc cho ai CHO mà không nhớ, NHẬN mà không quên.” (Elizabeth Bibesco) Cho và Nhận là hai động từ quan trọng và hàm súc. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.” (Kinh Hòa Bình) Quả thật, nếu chúng ta không chia sẻ với người khác về những thứ họ cần, đó là chúng ta cướp đi sự sống của họ. Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo cũng đề cập các vấn đề tương tự. Thật vậy, Thánh Giacôbê cho biết: “Kẻ nào biết làm điều tốt mà không chịu làm thì mắc tội.” (Gc 4:17)
LÝ LUẬN THÁNH THỂ
Tại Palestine, nơi vẫn còn nhiều người theo Hồi giáo. Một hôm, có một thầy lãnh đạo một cộng đoàn Hồi giáo mời một linh mục Công giáo đến để công khai tranh luận về bí tích Thánh Thể trước sự hiện diện của các tín đồ đôi bên.
Ông thầy hỏi: “Làm sao một miếng bánh nhỏ lại có thể trở thành Đức Kitô được?”
Linh mục trả lời: “Được chứ sao lại không? Tôi xin minh chứng cho thầy biết bằng một thí dụ đơn sơ. Nếu thầy ăn cơm, thầy có thể biến cơm thành máu thịt của thầy, đúng không? Vậy tại sao Chúa lại không thể biến tấm bánh nhỏ trở thành máu thịt Ngài chứ?
Ông thầy hỏi tiếp: “Làm sao Đức Kitô to lớn như thế lại có thể ở trong miếng bánh nhỏ xíu?”
Linh mục trả lời: “Thầy hãy nhìn trời, nhìn núi và các thôn làng. Bầu trời mênh môn, núi non hùng vĩ, còn thôn làng trải rộng mông mênh, thế mà con mắt nhỏ xíu của thầy vẫn có thể chứa được tất cả. Nếu con mắt của Thầy làm được chuyện đó thì tại sao Thiên Chúa lại không thể ở trong tấm bánh nhỏ xíu chứ.”
Chưa chịu thua, ông thầy lại hỏi: “Làm sao có thể cử hành nhiều thánh lễ cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới, mà mỗi thánh lễ lại có Mình Máu của Đức Kitô?”
Linh mục đáp: “Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được.”
Để chứng minh, linh mục lấy một tấm gương ném xuống đất vỡ tan thành rất nhiều mảnh nhỏ, rồi nói: “Trước đây, thầy thấy mặt thầy trong tấm gương này, phải không? Bây giờ thầy cũng thấy mặt thầy trong từng mảnh nhỏ kia. Thế thì tại sao Thiên Chúa lại không thể hiện diện tại nhiều nơi trong cùng một lúc?
Cuộc tranh luận đó giúp chúng ta hiểu được phần nào mầu nhiệm Thánh Thể mà Giáo Hội cử hành mỗi ngày trên khắp thế giới này.
Về Thánh Thể, Hiến chế Lumen Gentium nói: “Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu.” (số 11) Thánh Irênê giải thích: “Bí tích Thánh Thể là sự kéo dài thời gian nhập thể.” Thánh Tôma Aquinô tâm sự: “Tôi hiểu biết nhờ cầu nguyện trước Thánh Thể hơn là nhờ những cuốn sách tôi đã đọc. Tôi đã học biết nhiều điều khi quỳ dưới chân Thánh Giá Chúa hơn là tìm hiểu trong sách của các vị tiến sĩ.”
Lạy Thiên Chúa nhân hậu và thương xót, xin cảm tạ Ngài đã Của Ăn Đàng để chúng con đủ sức vượt qua cõi đời này, xin làm cho chúng con xứng đáng và siêng năng lãnh nhận Thánh Thể để mai này được hưởng sự sống đời đời. Theo lời Ngài hứa, xin cho chúng con được sống, đừng để chúng con phải thất vọng ê chề. (Tv 119:116) Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

TRẢI NGHIỆM SỨC MẠNH BIẾN ĐỔI CỦA THÁNH LỄ

Tôi được đặc ân lớn là dâng lễ nhiều lần trong nhiều tu viện của dòng nữ Thừa Sai Bác Ái. Vì vậy, tôi đã quen nhìn thấy những dòng chữ này ở một nơi nổi bật trong phòng thánh, nơi các linh mục chuẩn bị cho Thánh Lễ: “Hỡi linh mục của Chúa Giêsu Kitô, hãy cử hành Thánh Lễ này như thể là Thánh Lễ đầu tiên, Thánh Lễ cuối cùng, và Thánh Lễ duy nhất.”
Trong những lời này có một lời mời gọi gấp đôi đối với tất cả các tín hữu, đặc biệt là đối với linh mục, nếu chúng ta cảm nghiệm được sức mạnh biến đổi mạnh mẽ của Thánh Lễ. Trước hết, chúng ta phải chuẩn bị Thánh Lễ cho tốt. Không chuẩn bị đúng đắn thì chỉ là xuất hiện trong Thánh Lễ. Thứ hai, chúng ta phải để hy tế Thánh Thể biến đổi chúng ta từ trong ra ngoài. Nếu Thánh Lễ biến đổi chúng ta thì chúng ta không thể giữ lối suy nghĩ và hành động ích kỷ.
Bây giờ chúng ta hãy suy ngẫm về cách chúng ta đáp lại lời mời gấp đôi này để chúng ta cảm nghiệm được sức mạnh của Thánh Lễ trong cuộc sống hằng ngày của mình.
Trước hết, chúng ta chuẩn bị Thánh Lễ bằng lời cầu nguyện cá nhân sâu sắc, nhờ đó chúng ta lắng nghe Chúa Kitô và sau đó nói với Ngài từ đáy lòng chúng ta. Chúng ta phải cầu nguyện theo cách để cho Đức Kitô có thể biến đổi trí nhớ, trí tuệ, trí tưởng tượng và ý chí của chúng ta. Lời cầu nguyện như vậy đòi hỏi chúng ta không chọn lọc lời Ngài nói với chúng ta và chúng ta không cố gắng che giấu bất cứ điều gì với Ngài.
Lời cầu nguyện như vậy chắc chắn sẽ đào sâu đức tin và lòng khao khát Chúa Thánh Thể của chúng ta. Cuộc trò chuyện kéo dài nhưng đầy tính sáng tạo của Chúa Giêsu với đám đông tại Caphácnaum khiến họ khao khát tấm bánh mầu nhiệm mà Ngài đang ban cho họ: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” (Ga 6:34) Bí tích Thánh Thể có thể biến đổi chúng ta như thế nào khi chúng ta đón nhận Chúa Giêsu như một người hoàn toàn xa lạ và ít hoặc không ước muốn hiệp thông với Ngài sâu xa hơn? Qua lời cầu nguyện chân thành, chúng ta cho phép Chúa Giêsu đốt cháy tâm hồn chúng ta bằng tình yêu đối với Bí tích Thánh Thể như Ngài đã làm cho hai môn đệ trên đường Emmau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24:32)
Chúng ta cũng chuẩn bị Thánh Lễ bằng đời sống hoán cải liên tục. Ngoài việc từ chối tội lỗi, sự hoán cải như vậy còn đòi hỏi sự phát triển tâm linh không ngừng từ tốt đến tốt hơn. Các tội lỗi chưa sám hối và sự thờ ơ của chúng ta đối với sự tiến bộ tâm linh ngăn cản chúng ta nhận sự tác động đầy đủ của ân sủng bí tích từ Thánh Thể. Đó là lý do việc lãnh nhận Thánh Thể đòi hỏi sự xưng tội thường xuyên qua bí tích Hòa Giải. Đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải tự hỏi khi tham dự Thánh Lễ: “Làm sao tôi có thể trở nên giống Chúa Giêsu Kitô hơn và ít là chính mình hơn qua Thánh Lễ này?”
Việc chúng ta chuẩn bị Thánh Lễ cũng nên bao gồm đời sống dấn thân phục vụ người khác và làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô. Bí tích Thánh Thể sẽ tác động đến chúng ta tới mức chúng ta cũng nhận ra Chúa Kitô nơi anh chị em của mình và cung kính phụng sự Ngài trong họ theo cách phản ánh tình yêu thương, sự tha thứ và tình yêu vị tha của Chúa Kitô. Chúng ta không thể mong đợi bất kỳ sự biến đổi nào của Thánh Thể trong cuộc sống khi chúng ta lợi dụng người khác và trở nên vô cảm với nhu cầu của người khác, nhất là những thai nhi dễ tổn thương nhất. Làm sao chúng ta có thể biến đổi qua Thánh Lễ khi cuộc sống của chúng ta là phản chứng hoàn toàn với tình yêu vị tha và hiến mạng của Chúa Giêsu?
Ngoài việc chu đáo chuẩn bị Thánh Lễ, chúng ta cũng phải để Chúa Thánh Thể biến đổi cách suy nghĩ và cách đánh giá của chúng ta. Bánh mới Thánh Thể đòi hỏi cách suy nghĩ và cách sống hoàn toàn mới: “Đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ.” (Ep 4:17)
Chúa Thánh Thể của chúng ta chiếu sáng tâm hồn chúng ta bằng ánh sáng của chính Ngài để chúng ta sẵn sàng “phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, và phải để Thần Khí đổi mới tâm trí.” (Ep 4:22-23) Chúng ta không thể cảm nghiệm được sự biến đổi của Thánh Thể khi chúng ta vẫn giữ những giá trị và lối suy nghĩ cũ của mình. Làm sao Đức Kitô có thể biến đổi chúng ta khi chúng ta chỉ muốn hòa nhập và nên giống người khác, thay vì cố gắng ngày càng nên giống Đức Kitô mà chúng ta có được sự sống của Ngài một cách nhưng không?
Hỡi anh chị em thân mến của tôi trong Đức Kitô, điều mạnh mẽ nhất trên thế giới này là sự sống mới của chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô. Thánh Thể là bảo chứng thiêng liêng để chúng ta có được sự sống đó ngay cả trên thế gian này: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” (Ga 6:27) Không gì có thể chấm dứt cuộc sống này của chúng ta trong Chúa Kitô, ngay cả cái chết và mồ mả.
Sự sống trong Chúa Kitô được ban cho chúng ta trong mỗi Thánh Lễ. Tại sao chúng ta không được biến đổi mạnh mẽ bởi các Thánh Lễ chúng ta dâng và tham dự? Tại sao chúng ta mất niềm tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể? Tại sao chúng ta lại quy phục tinh thần thế gian một cách vô vọng thay vì biến đổi thế giới bằng ánh sáng của Tin Mừng? Tại sao các giáo sĩ luôn bị lôi kéo vào các vụ bê bối? Tại sao chúng ta – linh mục, tu sĩ và giáo dân – lại vi phạm và từ bỏ các lời khấn, lời hứa và lời cam kết hôn nhân một cách dễ dàng như vậy? Tại sao chúng ta lại trở nên hư hỏng, lười biếng, vô đạo đức, không trung thực, tức giận, không vui vẻ, vô vọng,... như những người không tin vào Chúa Giêsu Thánh Thể, Thánh Lễ và không quan tâm việc rước lễ?
Câu trả lời rất đơn giản: Chúng ta chỉ hiện diện trong Thánh Lễ. Chúng ta không coi mỗi Thánh Lễ là Thánh Lễ đầu tiên, Thánh Lễ cuối cùng, hoặc Thánh Lễ duy nhất. Do đó, chúng ta không muốn tiếp nhận Chúa Giêsu, không sẵn sàng cho phép Ngài biến đổi chúng ta. Ngài luôn đến với mỗi người chúng ta trong mỗi Thánh Lễ hợp lệ, nhưng Ngài không thể áp đặt chính Ngài trên chúng ta để biến đổi chúng ta. Chính mỗi chúng ta phải cho phép Ngài làm như vậy.
Mẹ Thánh Teresa Calcutta nhắn nhủ: “Hỡi linh mục của Chúa Giêsu Kitô, hãy cử hành Thánh Lễ này như thể là Thánh Lễ đầu tiên, Thánh Lễ cuối cùng, và Thánh Lễ duy nhất.” Hãy tưởng tượng Giáo Hội của chúng ta sẽ như thế nào nếu tất cả các tín hữu Công giáo, đặc biệt là các linh mục, sẽ đến gần Hy Lễ Thánh của Thánh Lễ với những lời của Mẹ Teresa được gieo vào tâm trí và tâm hồn chúng ta một cách vững bền. Hãy tưởng tượng các phụng vụ và cuộc sống hằng ngày của chúng ta sẽ như thế nào nếu chúng ta coi mỗi Thánh Lễ là Thánh Lễ duy nhất của mình. Hãy tưởng tượng niềm tin vui và sự mong đợi mà chúng ta sẽ có trong mỗi Thánh Lễ nếu chúng ta tiếp cận nó như Thánh Lễ đầu tiên. Hãy tưởng tượng những tấm gương anh hùng thánh thiện tuyệt vời mà chúng ta sẽ trưng bày nếu chúng ta xem mỗi Thánh Lễ như “của ăn đàng” (viaticum) của mình, chính Bí tích Thánh Thể cuối cùng của chúng ta chuẩn bị cho chúng ta gặp trực diện Thiên Chúa.
Quyền năng biến đổi của mỗi Thánh Lễ vẫn còn bởi vì Chúa Kitô mãi mãi hiện diện thực sự trong mỗi người và mỗi tấm bánh được thánh hiến. Ngài nói với chúng ta: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc 12:49) Chúa Giêsu Thánh Thể có quyền năng và ý chí để biến đổi chúng ta trước, và sau đó là thế giới, qua việc chúng ta tham dự mỗi Thánh Lễ. Điều Ngài yêu cầu chúng ta là chuẩn bị Thánh Lễ cho tốt và để cho Ngài biến đổi chúng ta qua Thánh Lễ, phần còn lại chắc chắn Ngài sẽ làm.
LM. NNAMDI MONEME, OMV
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Tháng 06-2022

THÁNH THỂ HY TẾ VÀ BÍ TÍCH

Bí tích Thánh Thể vừa là hy tế vừa là bí tích. Bởi vì sự sống sinh học không là gì khác ngoài sự phản chiếu, tiếng vang và bóng dáng của sự sống thần thánh, người ta có thể tìm thấy những điều tương tự trong trật tự tự nhiên đối với những vẻ đẹp thần thánh. Chẳng phải tự nhiên có phương diện kép là hy sinh và vật thiêng đó sao? Thực vật được phục vụ tại bàn ăn, thịt được đặt trên đĩa, đó là các bí tích tự nhiên của cơ thể con người. Nhờ chúng mà người ta sống. Nếu có thể nói thì chúng sẽ nói: “Nếu bạn không hiệp thông với tôi, bạn sẽ không thể sống.”
Nhưng nếu người ta hỏi làm thế nào mà việc tạo ra hóa chất, thực vật hoặc thịt lại trở thành lời thề hay sự hiệp thông của con người, và ngay lập tức người ta biết đến ý tưởng về sự hy sinh. Chẳng phải các loại rau đậu phải được nhổ bật rễ lên từ đất, chịu quy luật sự chết, rồi trải qua thử thách của lửa trước khi có thể trở thành vật nuôi sống thể xác, hoặc hiệp thông với thể xác đó sao? Chẳng phải thịt trên đĩa từng là sinh vật sống, nó chịu khuất phục trước  con dao, máu nó đổ trên đất Ghếtsimani và Canvê trước khi thích hợp để giới thiệu cho con người đó sao?
Do đó, vấn đề tự nhiên là lễ hy sinh phải có trước một bí tích, cái chết là khúc dạo đầu cho sự hiệp thông. Theo một cách nào đó, nếu nó không chết đi thì nó sẽ không bắt đầu sống ở một vương quốc cao hơn. Ví dụ, để có thể hiệp lễ mà không có của lễ, theo thứ tự tự nhiên, giống như ăn rau sống và thịt sống. Khi đối diện với thực tế cuộc sống, chúng ta thấy rằng chúng ta đang sống bằng những gì chúng ta đã giết. Nâng tầm điều này lên trật tự siêu nhiên, chúng ta vẫn sống bằng những gì chúng ta đã giết.
Chính tội lỗi của chúng ta đã giết Chúa Giêsu Kitô trên đồi Canvê, nhưng nhờ quyền năng của Thiên Chúa đã sống lại từ cõi chết và ngự trị vinh hiển trên Thiên Đàng, giờ đây Ngài trở thành sự sống của chúng ta, hiệp thông với chúng ta, và chúng ta hiệp thông với Ngài. Theo trật tự tâm linh, phải có Hy Tế hoặc Truyền Phép trước khi có thể có bí tích hoặc sự hiệp thông giữa linh hồn và Thiên Chúa.
1. MỐI LIÊN HỆ GIỮA BÍ TÍCH THÁNH TẨY VÀ THÁNH THỂ
Phép Rửa là sự khởi đầu của đời sống Kitô hữu, tương ứng theo trật tự sinh học đối với sự khởi đầu của sự sống. Nhưng việc sinh ra sự sống thần thánh chỉ đến qua cái chết, nghĩa là sự dìm mình dưới nước tượng trưng một cách thần bí cho sự chết và được mai táng cùng với Đức Kitô. Bí tích Thánh Thể là hy lễ, cũng kết hợp chúng ta với cái chết của Đức Kitô. Tuy nhiên, Phép Rửa là sự thể hiện thụ động hơn về cái chết đó, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh, nơi ý chí của trẻ sơ sinh không phục tùng, nếu không thông qua người bảo trợ. Bí tích Thánh Thể là sự đại diện tích cực hơn nhiều về cái chết của Chúa Kitô, bởi vì Thánh Lễ là cách trình bày rõ ràng về cái chết hy sinh của Chúa Kitô bên ngoài tường thành Giêrusalem.
Các giáo phụ luôn ấn tượng bởi mối liên hệ giữa Bí tích Rửa Tội và Bí tích Thánh Thể. Máu và Nước chảy ra từ cạnh sườn của Đức Kitô trên Thập Giá có ý nghĩa sâu sắc. Nước là biểu tượng cho sự tái sinh của chúng ta, và đó là dấu chỉ của Phép Rửa; Máu là giá của Sự Cứu Chuộc, và đó là dấu chỉ của Thánh Thể.
Điều này đặt ra câu hỏi, nếu có mối liên hệ với cái chết của Chúa Giêsu Kitô trong cả hai bí tích thì có khác biệt gì? Một trong những điểm khác biệt là trong Bí tích Rửa Tội và các bí tích khác, ngoại trừ Bí tích Thánh Thể, chúng ta được kết hợp với Chúa Kitô đơn giản nhờ tham dự vào ân sủng của Ngài, nhưng trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô hiện hữu thực sự – Mình, Máu, Linh Hồn và Thần Tính. Trong Bí tích Thánh Thể, con người nhận ra sự kết hợp trọn vẹn của mình với Sự Chết và Phục Sinh của Chúa Kitô hơn là trong Bí tích Rửa Tội. Theo trật tự vật chất, sinh ra luôn giống cha mẹ, nhưng khi một người mẹ nuôi dưỡng con mình, có sợi dây liên kết mới được thiết lập giữa đứa trẻ và người mẹ.
Vì vậy, trong Phép Rửa có sự tương đồng với bản chất thiêng liêng được tạo ra, mặc dù chúng ta được tạo thành “những Kitô khác,” nhưng trong Bí tích Thánh Thể chúng ta nhận được chính bản thể của Chúa Kitô. Vì mối quan hệ chặt chẽ giữa hai bí tích, Công Nghị Mayence năm 1549 đã hướng dẫn các mục tử thực hiện Phép Rửa vào buổi sáng trong thời gian diễn ra Thánh Lễ, hoặc ít nhất là ngay sau Thánh Lễ.
Giữa Bí tích Rửa Tội và Bí tích Thánh Thể có một mối tương quan nào đó giống như giữa đức tin và đức ái hoặc tình yêu trọn vẹn. Bí tích Rửa Tội là bí tích của đức tin, vì đó là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Bí tích Thánh Thể là bí tích của bác ái hay tình yêu, vì đó là sự tái hiện hành động yêu thương hoàn hảo của Chúa Kitô, nghĩa là cái chết của Ngài trên Thập Giá và sự tự hiến chính Ngài khi chúng ta rước lễ.
2. CỰU ƯỚC VÀ THÁNH THỂ
Sẽ mất nhiều trang để hình dung trước về Bí tích Thánh Thể trong Cựu Ước. Menkixêđê dâng bánh và rượu là hình ảnh chính Chúa Giêsu Kitô, Ngài đã chọn bánh và rượu trong Bữa Tiệc Ly làm yếu tố cho cả hy tế và bí tích. Manna trong sa mạc cũng là biểu tượng của Bí tích Thánh Thể, chính Chúa đã tuyên bố: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.” (Ga 6:51) Thánh Phaolô nói rằng những gì người Do Thái ăn trong sa mạc là hình ảnh thức ăn tinh thần của chúng ta: “Tất cả cùng ăn một thức ăn linh thiêng... Những sự việc ấy xảy ra để làm bài học, răn dạy chúng ta đừng chiều theo những dục vọng xấu xa như cha ông chúng ta.” (1 Cr 10:3, 6)
Máu của Chiên Vượt Qua được phết trên các ngưỡng cửa để bảo vệ người Do Thái khỏi bị hủy diệt, đó là dấu hiệu chưa hiện thực, nhưng là hình ảnh của Máu Đức Kitô đổ trên linh hồn chúng ta và cứu chúng ta khỏi sự dữ. Vì Chiên Vượt Qua là hình bóng Chúa Kitô, nên chính vào ngày lễ Vượt Qua mà Chúa đã ban cho Giáo Hội Bí tích Thánh Thể mà Ngài đã hứa hơn một năm trước tại Capharnaum.
TGM FULTON J. SHEEN
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Tháng 06-2022


HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CÔNG GIÁO

Tháng Sáu tạo cơ hội duy nhất để đi vào trái tim sống động của lòng sùng kính Công giáo, và theo nghĩa đen, đi đến Trái Tim thể lý của Chúa Giêsu, bắt đầu với Lễ Mình Máu Thánh Chúa.
Lễ Mình Máu Thánh Chúa (Corpus Christi) có nguồn gốc từ lòng sùng kính Thánh Thể nhiệt thành của một vị thánh người Bỉ thế kỷ 13 – Thánh Julianna Cornillon. Bà đã thị kiến Chúa Giêsu yêu cầu một bữa tiệc đặc biệt để gia tăng lòng sùng kính đối với sự hiện diện của Ngài trong bí tích Thánh Thể. Bà đã trình bày thị kiến của bà cho người tổng quản của GP Jacques Panteleon, tại Liège, Bỉ, và năm 1246, lễ Mình Máu Thánh Chúa được thiết lập cho giáo phận.
Mười bốn năm sau, một linh mục người Ý nghi ngờ về sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể khi cử hành thánh lễ. Lúc truyền phép, khi Bánh Thánh được nâng lên thì nó bắt đầu chảy máu. Nhiều người đã chứng kiến điều này. Linh mục này lấy khăn thánh quấn vào Bánh Thánh đang chảy máu và đem đến cho Đức giám mục tại Orvieto.
Theo ý Chúa quan phòng, giám mục này đã truyền bá vấn đề với ĐGH Urban IV, trước đây cũng đã là Tổng quản của GP Jacques Panteleon, người mà lúc đầu Thánh Julianna đã trình bày thị kiến của bà.
Phép lạ đã được xác thực, Bánh Thánh và khăn thánh vẫn ở Orvieto để tôn kính cho đến ngày nay. Năm 1264, ĐGH Urban IV đã thiết lập lễ kính Mình Máu Thánh Chúa cho Giáo Hội hoàn vũ.
Đáng buồn thay, một cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew năm 2019 cho thấy hầu hết những người Công giáo nói rằng họ không tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể.
– Gần 7/10 người Công giáo (69%) nói rằng bánh và rượu được dùng để rước lễ “là biểu tượng của Thịt và Máu Chúa Giêsu Kitô trong Thánh lễ Công giáo.”
– Chỉ 1/3 người Công giáo Hoa Kỳ (31%) nói rằng họ tin “bánh và rượu thực sự trở thành Thịt và Máu Chúa Giêsu khi được truyền phép trong Thánh lễ Công giáo.”
Có vẻ như một lần nữa, giống như thế kỷ 13, Thiên Đàng đang phản ứng với sự thiếu hiểu biết ngày càng tăng của người Công giáo. Từ năm 1992 đến 2013, một loạt phép lạ liên quan Bí tích Thánh Thể đã được báo cáo từ Buenos Aires đến Ba Lan. Trong mỗi trường hợp, các tấm bánh được thánh hiến đã biến thành chất thịt và máu.
KHOA HỌC HIỆN ĐẠI NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG
Những tấm bánh rước lễ được thánh hiến trước đây đã được nhiều bác sĩ và khoa học gia nghiên cứu. Trong một số trường hợp, các bác sĩ không được cho biết nguồn gốc của chất liệu để tăng thêm tính khách quan.
Đây là những gì người ta đã khám phá:
– Phần máu là máu người, nhóm máu AB; DNA của con người đã được tìm thấy… Trong một trường hợp, máu rõ ràng phát ra từ bên trong, bởi vì máu trên bề mặt đã bắt đầu đông lại nhưng máu bên trong vẫn còn tươi, như một vết thương đang rỉ máu.
– Phần thịt là mô cơ tim của người thuộc tâm thất trái của tim bị sưng; trong các phép lạ từ Argentina và Ba Lan, có bằng chứng về chấn thương do huyết khối, cho thấy tình trạng thiếu ôxy lặp đi lặp lại; các tổn thương cho thấy sự co thắt tim nhanh điển hình trong giai đoạn cuối của sự chết.
– Trong phép lạ ở Sokolka, Bánh Thánh còn lại liên kết chặt chẽ với các sợi mô của con người, xuyên qua nhau và không thể tách rời – như thể bánh đang biến thành thịt. Tiến sĩ Sobaniec-Lotowska, một trong những chuyên gia khảo sát đã xác định: “Ngay cả các khoa học gia NASA, những người có trong tay các kỹ thuật phân tích hiện đại nhất, cũng không thể tái tạo nhân tạo một thứ như vậy.”
Với sự hiểu biết về Bí tích Thánh Thể như là mô tim bị tổn thương của Chúa chịu đóng đinh, chúng ta càng cảm kích sâu sắc hơn đối với Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, được cử hành vào cuối tháng Sáu.
Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa thể hiện Trái Tim của Chúa Giêsu bị gai nhọn bao quanh, bên trên có Thánh Giá, và cháy lửa tình yêu đối với gia đình nhân loại. Sự sùng kính này có từ thế kỷ 11.
Thánh nữ Margaret Maria Alacoque đã nhiều lần được mặc khải về Chúa Giêsu và Thánh Tâm trong những năm 1673-1675. Chúa Giêsu đã chia sẻ 12 lời hứa với Thánh Margaret cho những ai tôn kính Thánh Tâm. Một vài trong số những lời hứa này rất thích hợp với thời đại của chúng ta: Đặc ân để gia đình bình an và chữa lành; niềm an ủi trong những lúc thử thách, và quan trọng nhất là Chúa Giêsu hứa: “Các tội nhân sẽ tìm thấy trong Thánh Tâm Ta một đại dương vô tận của lòng thương xót.”
TRÁI TIM CHỮA LÀNH – KHÔI PHỤC NIỀM TIN
Việc nghiên cứu khoa học với các phép lạ Thánh Thể cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể.
Theo nghĩa đen, Chúa Giêsu muốn chia sẻ tấm lòng của Ngài với chúng ta trong sự hiệp thông mật thiết. Nhưng những người đã từng phá thai và bị lạm dụng khác có thể phải vật lộn để xử lý kinh nghiệm của mình, đau buồn hoặc tin tưởng người khác. Điều này có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ của họ với Thiên Chúa, và khả năng lãnh nhận tình yêu, lòng thương xót và sự chữa lành phát xuất từ Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Rất may là các chương trình chữa bệnh có sẵn kết hợp các phương pháp điều trị tâm lý với các bài suy niệm đặc biệt về Kinh thánh và các bí tích của Giáo Hội. Quá trình chữa lành cảm xúc và tâm linh giúp trái tim và tâm hồn mở ra một cách an toàn để những người tham gia có thể vượt qua những nỗi đau đớn đó và nhận thấy mình không đơn độc. Ánh sáng bắt đầu chiếu sáng nơi có bóng tối. Khi tiến trình chữa lành phát triển, trái tim lắng dịu và mở ra để tiếp nhận ơn tha thứ, sự chữa lành và tình thương xót của Thiên Chúa.
Ước gì những ngày lễ trọng đại và những việc sùng kính trong tháng Sáu thánh đức này kéo bạn đến gần Thánh Tâm nhân lành của Chúa Giêsu Kitô.
KEVIN & THERESA BURKE
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Tháng 06-2022

 

TÌM CHÚA GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Với tư cách là một họa sĩ sơn dầu, khi xem xét phong cảnh để có ảnh tham khảo hoặc các địa điểm để vẽ theo vị trí, tôi thấy mình đang tìm kiếm và chú ý đến nhiều màu sắc hơn chỉ là xám và nâu. Có màu nâu đỏ đậm đà ở khắp mọi nơi. Có những mảng rêu xanh và địa y băng giá chạy dọc theo cây cối và mặt đất. Bầu trời thường trong xanh, nhưng vào những ngày nhiều mây, tôi cố gắng xác định chính xác sắc độ của những đám mây. Màu xám gần như màu tím, xanh lam hay xám?
Mặc dù tôi rất vui trong mùa đông đầu tiên khi thực sự nhận thấy những sự thay đổi màu sắc tinh tế này, tôi vẫn thấy mình thiếu một màu. Mùa đông năm nay cũng là mùa đông đầu tiên của tôi với tư cách là một người nuôi chó. Khi tôi và con chó đi bộ đường dài ngoài thiên nhiên, chúng tôi thỉnh thoảng bắt gặp một màu quý giá này – trên một cây thường xanh hoặc bụi rậm, trên một mảng rêu tươi tốt – và đó màu xanh lá cây sẽ giống như là hơi tỏa ra trong trái tim tôi.
Khi viết điều này, tôi nhìn qua cửa sổ phòng vẽ ra phía sân sau cỏ um tùm nhưng xanh tươi. Mỗi lần nhìn thấy màu sắc đó, tôi lại thấy mình dễ thở hơn một chút.
Là người giúp nhà thờ, công việc của tôi là thay đổi mọi thứ trên cung thánh với sự thay đổi theo các mùa phụng vụ. Khi tôi dành ngày Thứ Bảy Tuần Thánh để đánh bóng chân đèn bằng đồng, thay tấm màn của Nhà Tạm thành màu trắng, đảm bảo hoa loa kèn trắng được tưới nước và khăn bàn thờ màu trắng. Rồi sau năm mươi ngày, chúng ta trở lại với màu xanh lá cây nhàm chán. Thật bình thường và thật buồn!
Tuy nhiên, vẫn như mọi năm, màu sắc của các mùa phụng vụ chuyển từ màu trắng và màu đỏ sang màu xanh lá cây – và tôi hít thở thật sâu.
NIỀM AN ỦI CỦA NHỮNG ĐIỀU BÌNH THƯỜNG
Là một người mẹ của ba cô con gái, đồng thời là người huấn luyện và là chủ của một chú chó con dễ thương, tôi đã quá quen thuộc với tầm quan trọng của lịch trình và thói quen. Một điểm chung mà cả trẻ em và chó con đều có là chúng phát triển theo thói quen. Năm học đã kết thúc, và tôi bắt tay ngay vào việc tìm thói quen vào mùa hè. Khi những đứa con nhỏ của tôi biết điều gì sẽ xảy ra mỗi ngày, chúng bình tĩnh hơn, hạnh phúc hơn và tự do hơn. Chúng biết những gì sẽ xảy ra trong ngày và không phải mất thời gian lo lắng về những gì sắp xảy ra tiếp theo.
Tất nhiên, trẻ em (và chó con) thích những ngày lễ và những điều đặc biệt. Nhưng ngay cả khi chúng thích thì chúng cũng bỏ qua. Ngay sau khi kỳ nghỉ kết thúc, chúng vô cùng hạnh phúc khi trở lại với công việc thường ngày. Vì vậy, điều đó ở với chúng ta và với Mùa Thường Niên.
Chủ Nhật X Mùa Thường Niên. Chúa Nhật XI, XII,... Có điều gì đó vô cùng an ủi và nhẹ nhàng về sự ổn định của Mùa Thường Niên. Khi các con của tôi còn nhỏ và đang học giáo lý về Chúa Chiên Lành, chúng đã học một bài hát về các Mùa Phụng Vụ của Giáo Hội, và câu hát về Mùa Thường Niên thế này: “Màu xanh lá cây là thời gian lớn lên của chúng ta.”
Cũng ly kỳ như sự thăng trầm của niềm an ủi tinh thần và sự tan hoang có thể xảy ra, sự trưởng thành thực sự xảy ra trong những ngày bình thường của đời sống tâm linh.
Điều này đúng với mọi ơn gọi – có việc cử hành sự dấn thân ban đầu cho ơn gọi, sau đó là nhịp điệu bình thường của người sống ơn gọi đó. Đám cưới rất đáng yêu, và nhiều đám cưới xa hoa – nhưng sự phát triển thực sự xảy ra trong việc mua sắm hằng ngày, dọn dẹp, chuẩn bị bữa ăn, những bất đồng, thể hiện tình cảm, thay tã cho con, đưa đón con đi học. Tương tự, những người tuyên khấn trong đời sống tu trì hoặc là các trinh nữ thánh hiến sẽ dấn thân trong các Thánh Lễ, sau đó là cử hành với cộng đoàn và/hoặc gia đình, cùng với bạn bè của họ. Nhưng sự trưởng thành thực sự đối với họ xảy ra trong những công việc bình thường của cuộc sống của họ – một trinh nữ thánh hiến tiếp tục đi làm, một tu sĩ đóng góp vào công việc của tu viện, một tu sĩ tích cực tham gia việc tông đồ của dòng, và họ đọc Kinh Phụng Vụ hằng ngày.
Các lễ phong chức và các thánh lễ đầu tiên giống như những cái nhìn thoáng qua về Thiên Đàng trên thế gian này. Tân linh mục được bao bọc bởi rất nhiều tình yêu và sự hỗ trợ. Ơn gọi của họ được cử hành và đón nhận với niềm vui. Thánh lễ đầu tiên của tân linh mục thường có âm nhạc hay nhất, người đồng thanh tốt nhất và nhiều lời chúc mừng. Nhưng sự trưởng thành thực sự xảy ra một cách bình thường – giáo dân “nhai” linh mục sau thánh lễ vì họ không thích bài giảng của họ, hối nhân ở lâu hơn trong tòa giải tội với nỗi đau khôn tả đè nặng trong lòng họ, thời gian dành cho một tòa giải tội trống rỗng chờ đợi những hối nhân không bao giờ đến, nửa đêm gọi điện thoại đến giường bệnh của ai đó, và sự mệt mỏi khi thức dậy chuẩn bị thánh lễ sáng sau một đêm có xu hướng đối với một thành viên giáo dân đang cần.
Thiên Chúa hoàn thành công việc trưởng thành của chúng ta trong sự phát triển bình thường, trần thế, ẩn giấu.
MÙA THƯỜNG NIÊN VÀ NADARET
Chúa Giêsu đã dành ba năm trong sứ vụ công khai của Ngài – rao giảng, giáo huấn, làm các phép lạ, và hoàn thành công việc bằng sự chết và sự phục sinh.
Nhưng Ngài đã trải qua ba mươi năm để sống một cuộc sống trần gian bình thường. Ngài sống trong một gia đình bình thường, ở một ngôi làng nhỏ, học làm việc giản dị và hèn mọn.
Có điều gì đó trong Mùa Thường Niên gợi nhớ đến Nadaret. Thế giới hướng đến những thành tựu to lớn, danh tiếng và sự giàu có. Nhưng qua sự nhập thể, Thiên Chúa cho chúng ta thấy món quà tuyệt vời của sự bình thường và tiềm ẩn. Ngài kêu gọi chúng ta đến Nadaret. Ngài gặp chúng ta ở đó trong Mùa Thường Niên.
MICHELE CHRONISTER
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

NỔI LOẠN

Tất cả mọi loài Thiên Chúa tạo nên đều tốt lành. Nhưng sau đó, thiên thần Luxiphe đã kiêu ngạo và trở nên tồi tệ. Đó là Satan – ma quỷ. Satan muốn mọi người trên trái đất thờ phượng hắn thay vì thờ phượng Thiên Chúa. Kinh Thánh cho biết:
Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác. Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” (St 2:9, 16, 17)
Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo: Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” Người đàn bà nói với con rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: “Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.” Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân. (St 3:1-7)
Từ câu chuyện có thật này, chúng ta biết rằng Satan là kẻ nổi loạn và dối trá. Cả Êva và Ađam đều chết. Có lần Chúa Giêsu đã nói thẳng với người Do Thái: “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối.” (Ga 8:44)
CÁC THIÊN THẦN NỔI LOẠN
Cựu Ước nói: “Khi loài người bắt đầu thêm đông trên mặt đất, và sinh ra những con gái, thì các con trai Thiên Chúa thấy con gái loài người xinh đẹp; những cô họ ưng ý thì họ lấy làm vợ.” (St 6:1-2)
Tân Ước nói: “Những thiên thần đã không giữ địa vị của mình, nhưng rời bỏ nơi mình ở thì Người dùng xiềng xích mà giam giữ họ đời đời trong nơi tối tăm, để chờ phán xét trong Ngày Lớn Lao. Còn Sôđôm, Gômôra và các thành lân cận làm chuyện gian dâm như họ và chạy theo những thú vui xác thịt trái tự nhiên thì đã phải chịu lửa đời đời làm hình phạt để nêu gương.” (Gđ 1:6-7)
Điều đó gây ra nhiều rắc rối cho nhân loại. Những người vợ sinh con đẻ cái, nhưng chúng không phải là những đứa trẻ bình thường. Chúng to lớn, hung bạo và độc ác: “Có những người khổng lồ trên mặt đất vào thời bấy giờ và cả sau đó nữa, khi các con trai Thiên Chúa đi lại với con gái loài người, và các cô này sinh cho họ những người con. Đó là những anh hùng thuở xưa, những người có tên tuổi. Đất đã ra hư hỏng trước nhan Thiên Chúa và đầy bạo lực. Thiên Chúa nhìn đất và thấy nó đã ra hư hỏng, vì mọi xác phàm đã theo nếp sống hư hỏng trên mặt đất.” (St 6:4, 11-12)
Cuối cùng trái đất trở nên đầy bạo lực đến nỗi Thiên Chúa quyết định tiêu diệt những kẻ gian ác bằng một trận lụt lớn: “Đức Chúa xóa bỏ mọi loài có trên mặt đất, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời; chúng bị xóa bỏ khỏi mặt đất, chỉ còn lại ông Nôê và những gì ở trong tàu với ông. Nước dâng lên trên mặt đất suốt một trăm năm mươi ngày.” (St 7:23-24)
Tuy nhiên, các thiên thần gian ác trở lại cõi tinh thần chứ không chết. Nhưng họ bị trừng phạt, không được phép trở lại gia đình gồm các thiên thần công bình của Thiên Chúa. Ngài cũng không cho họ mặc xác phàm nữa. Cuối cùng, họ sẽ đau khổ đời đời: “Thiên Chúa không dung thứ cho các thiên thần có tội, nhưng đã đẩy họ vào hố Địa Ngục tối tăm, giữ họ để chờ cuộc phán xét.” (2 Pr 2:4) Đó là bài học tồi tệ của quá khứ.
SATAN BỊ TRỤC XUẤT
Sách Khải Huyền mô tả điềm lạ vĩ đại: “Có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con. Lại có điềm khác xuất hiện trên trời: đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện. Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà.” (Kh 12:1-4)
Sau đó thế nào? Thánh Gioan cho biết: “Bấy giờ, có giao chiến trên trời: thiên thần Micael và các thiên thần của người giao chiến với Con Mãng Xà. Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến. Nhưng nó không đủ sức thắng được, và cả bọn không còn chỗ trên trời nữa. Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Satan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó. Nào thiên quốc cùng chư vị ở chốn thiên đình, hãy vì đó mà mừng vui hoan hỷ! Khốn cho đất và biển, vì ma quỷ đã xuống với các ngươi, nó giận điên lên vì biết rằng nó chỉ còn một ít thời gian.” (Kh 12:7-9, 12)
Satan và những kẻ đồng lõa gian ác của hắn đã lừa dối và gây ra nhiều khốn khổ cho loài người trên trái đất. Các thiên thần độc ác chính là ma quỷ, là kẻ thù của Thiên Chúa. Tất cả ma quỷ đều xấu xa, nguy hiểm. Đừng bao giờ thỏa hiệp với hắn bất cứ điều gì!
Người đời nói: “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.” Thật vậy, cái gì cũng có cách trị, và cũng có người trị kẻ ngang ngược. Kinh Thánh nói: “Trăm roi đánh người dại không bằng một lời mắng người khôn. Ác nhân chỉ mưu tìm nổi loạn, nhưng một sứ giả dữ dằn sẽ được sai đến trừng trị nó.” (Cn 17:10-11)
Có điều này cần lưu ý: “Ma quỷ đích thân đến cám dỗ chúng ta hoặc xui xiểm những người không có lòng kính sợ Thiên Chúa chống lại chúng ta. Chúng đích thân cám dỗ khi chúng ta rút vào những nơi xa cách với đời, vì chính Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ trong hoang mạc. Chúng dùng người khác để cám dỗ khi chúng ta giao tiếp với đời, như chúng đã từng cám dỗ Chúa Giêsu qua những người biệt phái. Nhưng nếu chăm chú nhìn ngắm Chúa Giêsu, tấm gương của chúng ta, chúng ta sẽ xua đuổi được chúng trong từng trường hợp.” (Thánh Maximus hiển tu)
TRẦM THIÊN THU
Lễ Hiện Xuống – 2022

CẢI CÁCH và BIẾN DẠNG

Cải cách là một trong những sai lầm lớn của lịch sử. Bởi vì hầu như không cải cách gì sau đó và bây giờ. Một cái tên phù hợp hơn cho thời đại đó sẽ là Biến Dạng, mặc dù cái tên đó có lẽ quá lành tính, do tác động tàn phá của phong trào này và nhiều nguồn gốc của nó đã lây nhiễm văn hóa Tây phương từ năm 1517.
Đối với phong trào của thế kỷ 16 này thực sự là cuộc tấn công dị giáo vào bản chất và nội dung của của sự thật. Một sự phủ nhận có chủ ý và “sự biến dạng” giáo lý về đức tin, sự bóp méo bản chất của Thiên Chúa và từ chối món quà lý trí của Ngài. Đó là cuộc nổi dậy chống lại quyền hành của Giáo Hội được Thiên Chúa ban cho. Sự sai lầm có ảnh hưởng to lớn khiến chúng ta hầu như không có sự hiệp nhất thực sự mặc dù trái ngược với các mệnh lệnh và lời cầu nguyện của Chúa Giêsu.
Hiện nay, sự phân mảnh hiển nhiên của Nhiệm Thể Chúa Kitô với hơn 36.000 hệ phái Tin Lành trên toàn thế giới. Bằng chứng rất rõ ràng. Như Chúa Giêsu đã nói: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.” (Mt 7:16-17) Kết quả của những dị giáo “biến dạng” cũng vậy.
Như với hầu hết các dị giáo khác, bằng chứng rõ ràng và không thể phủ nhận. Đối với các dị giáo này đã được tuyên bố rõ ràng và trực tiếp, như hầu hết các dị giáo thường như vậy. Đó là những sai lầm của trật tự đầu tiên, những sai lầm chính về những sự kiện đầu tiên của đức tin. Ví dụ, một nguyên tắc đặc trưng của sự biến dạng dị giáo là luận thuyết của họ để nhận biết, nguyên tắc của họ để tìm ra chân lý về đức tin và luân lý. Những người dị giáo ban đầu này và những người theo họ cho đến ngày nay đã khẳng định ý tưởng về cái gọi là “sola sciptura” – chỉ có Kinh Thánh, như là nguồn chân lý duy nhất về đức tin và luân lý. Nguyên tắc này vẫn còn cho đến ngày nay.
Ngược lại, kiến thức Công giáo về sự thật đức tin và luân lý dựa trên ba nguồn rõ ràng. Kinh Thánh, các truyền thống bằng lời nói và văn bản của Giáo Hội từ ngày thành lập, và thẩm quyền được Chúa Giêsu ban cho qua Thánh Phêrô. Đó là ba nguồn rõ ràng và hoạt động một cách hài hòa. Mặc nhiên các nguồn này được hiểu và hòa hợp theo các quy luật của lý trí.
Tuy nhiên, nếu lý thuyết của bạn đối với việc biết sự thật về đức tin và luân lý là không đúng, như đối với những người làm biến dạng thì đó là điều chắc chắn tuyệt đối và sự thật không thể tránh khỏi rằng nội dung sự thật về đức tin và luân lý của nó cũng sẽ sai. Với một luận thuyết dị giáo để nhận biết, sự sai lệch đối với tính chính thống của Công giáo là điều chắc chắn và không thể tránh khỏi ngay từ đầu.
“Sola scriptura” nhấn mạnh tính ưu việt của sự mặc khải khi nó tới sự thật. Tính chính thống của Công giáo khẳng định rõ ràng sự mặc khải, nhưng nó cũng dành chỗ cho lý trí và được gọi là thần học tự nhiên. Lý thuyết của Công giáo về sự hiểu biết kết hợp thần học mặc khải và thần học tự nhiên với nhau như những viễn cảnh khẳng định lẫn nhau và bổ túc cho nhau. Khi đó, “những người biến dạng” phủ nhận, coi thường hoặc hạ thấp vai trò của lý trí và thần học tự nhiên, mặc dù điều này có thể thay đổi theo mức độ dựa trên sở thích của giáo phái.
Theo truyền thống làm biến dạng, bất kỳ trường hợp nào về đức tin và luân lý của Tin Lành đều phải được thực hiện bằng cách chỉ sử dụng Kinh Thánh, mặc dù điều này thường dẫn đến sự hấp dẫn đối với các văn bản Kinh Thánh được chọn lọc xác định các kết luận đã có trước, các tiền đề và giả định đã có trước. Điều đó được gọi là “văn bản bằng chứng.” Đó là lý do tại sao có rất nhiều giáo phái khác nhau, rất nhiều ý kiến trái ngược nhau về các sự thật quan trọng của giáo lý và luân lý, thậm chí còn có rất nhiều bản dịch Kinh Thánh khác nhau.
Cũng có sự mâu thuẫn kinh khủng và sự phi lý kinh hoàng đối với sự khẳng định, xác tín và quy ước này về nguồn chân lý duy nhất chỉ có trong Kinh Thánh. Sự thật của sự khẳng định cho rằng chỉ có Kinh Thánh là nguồn chân lý duy nhất phải được chứng minh trong chính Kinh Thánh. Điều này không chỉ nên được nêu rõ ràng trong Kinh Thánh, nhưng một giáo lý quan trọng như vậy đòi hỏi nhiều trường hợp khẳng định như vậy trong suốt chiều dài Kinh Thánh để thực sự có giá trị và khả thi như một khuôn mẫu để nhận biết, như một nhận thức luận xác định chỉ dựa vào Kinh Thánh.
Tuy nhiên, không nơi nào và mọi cuốn sách trong Kinh Thánh đã nói “chỉ có Kinh Thánh.” Điều được nói hoàn toàn trái ngược. Thánh Phaolô nói: “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính.” (2 Tm 3:16) Nhưng “tất cả Kinh Thánh” không giống như “chỉ có Kinh Thánh.” Không có sách hay câu nào từng nói “chỉ có.” Hoàn toàn ngược lại.
Trong Tân Ước, thư Giuđa không chỉ đề cập đến các nguồn truyền khẩu, đặc biệt là những lời dạy của các tông đồ: “Anh em thân mến, phần anh em hãy nhớ lại những lời các Tông Đồ của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã nói trước kia.” (Gđ 1:17) Không còn nghi ngờ gì về các truyền thống truyền khẩu và văn bản của Giáo Hội, kể cả Kinh Thánh. Đó là sự mâu thuẫn kinh khủng của những người biến dạng và những người theo họ cho đến ngày nay.
Nhưng, dị giáo của những người biến dạng thậm chí còn sâu xa hơn. Vì chẳng những từ ngữ “chỉ có” không có trong Kinh Thánh theo khả năng mà những người biến dạng đã khẳng định, mà ngay cả Kinh Thánh cũng không được họ định nghĩa một cách chính xác. Kinh Thánh của Tin Lành ngắn hơn Kinh Thánh của Công giáo. Những người biến dạng của thế kỷ XVI đã bỏ bảy cuốn sách Cựu Ước nguyên thủy, ngày nay được tín đồ Tin Lành gọi là ngụy thư – apocrypha, bởi vì các sách đó có những ý tưởng mà họ không đồng ý dựa trên niềm tin của họ, kiểu niềm tin không dựa vào Kinh Thánh.
Đây là điều phi lý hợp lý kinh khủng, cũng như sự mâu thuẫn nhận thức luận về lĩnh vực thảm họa. Ai sẽ nghĩ rằng những người khẳng định “sola sciptura” lại tin vào điều gì đó rõ ràng không có trong Kinh Thánh và lại là những người đã thay đổi quy tắc Kinh Thánh mà họ cho là rất tôn kính? Bạn không thể tạo ra những thứ này. Vì nó gây tai hại cho trường hợp của họ, theo định nghĩa của riêng họ.
Cho đến thời kỳ Biến Dạng, Kinh Thánh là tiêu chuẩn được viết và mặc khải cụ thể trong Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, cùng với điều đó là một nhóm những người theo dị giáo khẳng định mối quan tâm sâu sắc đối với sự tinh tuyền của đức tin, những người vi phạm tông truyền về giáo quyền, những người loại bỏ bảy cuốn sách khỏi Kinh Thánh mà họ rất tôn kính, những người đặt ra một cách phi lý về phiên bản Kinh Thánh rút gọn với vai trò như là nguồn chân lý duy nhất, sau đó có sự liều lĩnh và phản bội để tự gọi mình là những nhà cải cách và phong trào cải cách.
Tại sao sự phụ thuộc đơn độc và đơn lẻ này về sự mặc khải lại nổi bật và phổ biến như vậy đối với những người biến dạng? Tại sao các ý tưởng của họ lại loại trừ lý trí và triết học, các truyền thống truyền khẩu và văn bản của Giáo Hội cũng như di sản và thẩm quyền tông đồ của Giáo Hội? Có một yếu tố đóng góp chính bắt đầu từ sự khác biệt cơ bản giữa Giáo hội Công giáo lúc bấy giờ và bây giờ với những người biến dạng ban đầu và những người theo họ lúc đó và bây giờ.
Đức tin Công giáo luôn nhấn mạnh “tâm trí Thiên Chúa” là vị trí thần học chính yếu, trong khi những người biến dạng lại nhấn mạnh “ý muốn Thiên Chúa” để loại trừ tất cả những thứ khác. Đó là lý do các nhà cải cách nhấn mạnh sự mặc khải được thể hiện trong Kinh Thánh rút gọn để loại trừ lý trí và triết học. Sự nổi bật của “tâm trí Thiên Chúa” trong đức tin Công giáo đã cho phép thần học tự nhiên và sự mặc khải được kết hợp và hòa hợp. Giáo Hội có thể sử dụng lý trí để chứng minh và giải thích nội dung quan trọng về Thiên Chúa bằng cách sử dụng khả năng lý trí do Thiên Chúa ban cho. Giáo Hội có thể tiếp nhận và hiểu biết, mở rộng và áp dụng nội dung mặc khải của Kinh Thánh không rút gọn.
Điều nhấn mạnh đến “tâm trí Thiên Chúa” là điều hiển nhiên trong lịch sử Công giáo và trong sự lỗi lạc của nhiều nhà thần học và nhà biện giải. Thánh Augustinô, Thánh Tôma Aquinô và tất cả các nhà tư tưởng lỗi lạc khác đều bắt đầu từ tâm trí Thiên Chúa. Họ cũng công nhận Thiên Chúa ban cho con người khả năng suy nghĩ, suy luận, chứng minh sự thật về Thiên Chúa, bản chất của Ngài và kế hoạch của Ngài. Ngoài ra, bằng cách nhấn mạnh tâm trí Thiên Chúa như là tiền đề thần học chính, con người nhờ sử dụng đúng đắn năng lực trí tuệ của mình mà có thể biết rất nhiều về Thiên Chúa, và bằng cách đó, con người có thể thực sự gặp gỡ Ngài.
Sự nhấn mạnh về tâm trí Thiên Chúa cũng ảnh hưởng đến cách cấu trúc của việc chuẩn bị. Hầu hết các linh mục thường hoàn thành khóa đào tạo triết học đầu tiên trước khi nghiên cứu thần học. Việc đào tạo triết học liên quan đến cái được gọi là “thần học tự nhiên,” nghiên cứu về Thiên Chúa bằng cách sử dụng khả năng lý trí, phản biện và logic của chúng ta. Lưu ý rằng có sự pha trộn giữa lý trí và sự mặc khải trong quá trình nghiên cứu của Công giáo. Ngược lại, trong hầu hết các chủng viện Tin Lành có sự nhấn mạnh không ngừng và nghiêm ngặt về việc phân tích và giải thích đúng đắn các bản Kinh Thánh rút gọn, và nếu có thì ít nhấn mạnh về triết học, ngoại trừ có lẽ ngầm hiểu trong khóa học biện giải hoặc các tôn giáo trên thế giới.
Khi những người biến dạng tấn công vào đức tin Công giáo, Giáo hội Công giáo và Kitô giáo, họ không cố gắng cải cách Giáo Hội. Họ quá thông minh và được giáo dục vì động lực nhân từ và vị tha như vậy. Họ biết rõ các đề nghị và chương trình của họ sẽ làm gì, có lẽ không chi tiết, nhưng chắc chắn là tổng quát. Nhưng dù sao thì họ cũng đã làm được. Từ đó, thế giới của chúng ta không còn giống như vậy.
Chắc chắn Giáo Hội cần cải cách lúc bấy giờ và bây giờ. Nhưng cuộc cải cách cần thiết là sự cải cách luân lý cá nhân của các linh mục và hệ thống phẩm trật, những người đi lệch với chân lý luân lý và chân lý thần học của đức tin. Chắc chắn cần cải cách hành vi lãnh đạo và hành chính, tập trung vào chính kiến, quan hệ cộng đồng ở mức sự thật, trách nhiệm luân lý và thái độ chân chính.
Nhưng sự cải cách của phong trào cải cách là bất cứ điều gì đó chứ không hề cải cách. Đó là dị giáo của trật tự đầu tiên, vì đó là nơi dị giáo bắt đầu. Những người biến dạng bắt đầu cuộc tấn công dị giáo của họ với sự xác định sai lầm về cách có thể biết sự thật. Vì khi sự thật được biết là sai lầm, dị giáo là điều không thể tránh khỏi và sai lầm rất nhiều. Vì nếu một luận thuyết sai lầm về cách có thể biết sự thật được làm theo, nó làm ô nhiễm mọi thứ. Sai lầm mở rộng theo cấp số nhân. Tầm với của dị giáo không có giới hạn thực tế. Đó là những gì lịch sử cho chúng ta thấy.
Đó là lý do chính tại sao lòng khoan dung, chứ không phải sự thật, là nguyên tắc cơ bản của chúng ta để đánh giá các triết lý và giá trị cạnh tranh. Đây là lý do lý trí bị giảm xuống ngữ nghĩa và tu từ thay vì giữ nguyên giá trị của nó là nguồn chân lý chính về cuộc sống và sự sống. Đây là lý do tại sao tôn giáo bây giờ chỉ là vấn đề quan điểm và sở thích, hơn là một vấn đề thực tế. Đó là lý do mà Biến Dạng là cái tên chính xác và đúng nhất cho thời đại lịch sử này, thời đại của tà thuyết hoặc dị giáo hiển nhiên và sự kiêu căng ngạo mạn của những người biến dạng, ngay cả trong thời đại của chúng ta ngày nay.
F.X. CRONIN
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Lễ Hiện Xuống – 2022