| |
CN 32 TN-C
Niềm
Tin Xác Tín
Chúng ta sống trên đời này là để thờ phượng Chúa và phục vụ tha
nhân hầu được phúc hưởng nhan Thiên Chúa Hằng Sống đời sau. Để
được thế mỗi người phải chiếu giãi đức tin trong cuộc sống hằng
ngày. Còn gương lành nào chiếu giãi đức tin cho bằng gương của
bảy anh em lần lượt chịu tử đạo trước sự chứng kiến của người
mẹ can đảm trong Bài Đọc thứ nhất hôm nay? (x. 2Mac 7:1-2; 9-14).
Đây qủa là một tấm gương đáng được ghi nhớ muôn đời trong lịch
sử nhân loại!
Bảy anh em đã chiếu sáng sự thánh thiện và lòng kiên trì qua sự
chấp nhận những tra tấn dã man dưới tay phường vô nhân đạo. Sở
dĩ họ chịu đựng được những tra tấn cũng một phần do sự khuyên
bảo và khích lệ của người mẹ tràn đầy lòng tin. Đặc biệt hơn nữa
là vì họ có một niềm tin xác tín rằng Thiên Chúa Hằng Sống, Thiên
Chúa của công bằng và yêu thương, Đấng mà họ sẵn sàng hy sinh
mạng sống đời này, đã dành cho họ một cuộc sống vĩnh cửu trên
thiên đàng.
Trải qua hơn hai ngàn năm, hằng triệu Kitô hữu đã hy sinh mạng
sống cách anh hùng vì đức tin. Trong số đó có các Thánh Tử Đạo
Việt Nam của chúng ta. Ngày nay cũng có hằng triệu người đang
chịu đau khổ và tử đạo liên lỉ vì cùng một đức tin. Tuy nhiên,
họ may mắn hơn bảy anh em người Do-thái xưa vì họ có gương lành
của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Đấng đã chịu đựng một
cuộc tử đạo đau đớn dã man hơn mọi người. Vì thế, một cách nào
đó, gương lành của người mẹ và bảy anh em Do-thái đáng được ngưỡng
mộ hơn. Nhưng, điều quan trọng là cũng chính một Thiên Chúa, Đấng
đã ban cho họ những ơn cần thiết để chịu đựng mọi cơn thử thách,
ngày nay vẫn tiếp tục ban cho mọi Kitô hữu những ơn cần thiết
để chịu đựng mọi thử thách hầu được hưởng cuộc sống vĩnh cửu trên
quê trời với Thiên Chúa Hằng Sống.
Những gương anh dũng của các tiền nhân đều đáng cho chúng ta phải
thật sự ngưỡng mộ. Tuy nhiên, là những Kitô hữu, ngưỡng mộ không
chưa đủ! Ta cần phải bắt chước và thực hành những gương anh hùng
đó trong cuộc sống thường ngày. Theo tự nhiên, ai trong chúng
ta khi nghĩ đến những thử thách tra tấn cũng phải giùng mình kinh
hãi. Chắc chắn các đấng đi trước cũng vậy. Nhưng, khi cơn thử
thách đến thì Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết
để chịu đựng như Chúa đã ban cho các đấng tiền nhân.
Những tấm gương chứng nhân đức tin sáng ngời của các bậc đi trước
là một thách đố mà chúng ta có thể áp dụng cho cuộc sống ngày
nay. Chúng ta không cần phải hỏi, "Tôi có sẵn sàng chấp nhận
những cực hình và cái chết vì đức tin hay không?" Điều chúng
ta nên làm là xét xem mình có sẵn sàng và thật sự sống đức tin
trong cuộc sống hằng ngày chưa. Nghĩa là chúng ta đã sống tinh
thần chịu đựng, hy sinh và can đảm đúng với địa vị của mình hay
chưa? Thí dụ: vợ chồng có nhịn nhục, can đảm hy sinh chịu đựng
lẫn nhau hay không? Bố mẹ có quan tâm đến con cái và săn sóc,
dậy dỗ chúng nên người hay chỉ lo làm ăn đến độ bỏ bê chúng? Con
cái có biết vâng lời bố mẹ và chăm chỉ học hành cho giỏi hay chỉ
biết đi chơi và phá nghịch xóm làng...v.v.?
Cuộc
sống là một chuỗi ngày chiến đấu với ma quỉ, thế gian và xác thịt.
Vì thế, để sống đúng địa vị của chính mình không phải là một chuyện
dễ làm đối với bất cứ một ai. Với nhiều người đây chính là một
cuộc tử đạo liên lỉ. Nhưng, hãy nghĩ đến hoặc nhìn lại những tấm
gương xác tín đã tăng cường sức lực cho người mẹ và bảy anh em
Do-thái xưa. Mọi Kitô hữu phải luôn tạo cho mình có một niềm tin
xác tín vào Thiên Chúa Hằng Sống như thế.
Nếu
chúng ta trung thành với Chúa thì Ngài sẽ thưởng chúng ta. Nếu
chúng ta trung thành với giới răn của Chúa thì Ngài sẽ giữ lời
hứa của Ngài. Và nếu Chúa có muốn chúng ta hy sinh mạng sống để
làm chứng nhân cho Ngài thì Ngài sẽ ban cho chúng ta một cuộc
sống hạnh phúc trường sinh trên quê trời. Được thế thì chúng ta
đã hoàn tất được mục đích cuộc sống đời này; đó là chiếm được
cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu đời sau với Thiên Chúa Hằng Sống.
Br.
Quốc Toản, CMC
Họ
là con cái Thiên Chúa
giống như các thiên thần
Chúa nhật 32 thường niên C -2007
Bài đọc thứ nhất và Phúc Âm hôm nay có cùng một nội dung: sự
sống lại đời sau. Vấn đề sự sống lại trong bài Phúc Âm hôm
nay được nêu lên do nhóm Xađuxê. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu
qua về nhóm này: Hai nhóm vị vọng trong dân Do Thái thời
Chúa Giêsu mà Phúc Âm thường nhắc đến là Pharisiêu và Xađuxê.
Hai nhóm này có nhiều khác biệt. Điển hình là nhóm Pharisiêu
chủ trương lo việc tôn giáo, không nhúng tay vào chính trị.
Họ tin có sự sống đời sau và có thiên thần. Ngược lại Xađuxê
là một nhóm nhỏ nhưng có chỗ đứng trong guồng máy cai trị
của người Rôma. Phái Xađuxê không tin có thiên thần và không
tin có sự sống đời sau.
Nhìn
lại bối cảnh Phúc Âm, có lẽ sau khi nghe Chúa Giêsu nói về
sự sống đời sau, nhóm Xađuxê cảm
thấy "khó
chịu" nên muốn tìm cách gài bẫy Chúa Giêsu và đặt Ngài vào chỗ bí. Câu hỏi họ đặt
ra về việc một người đàn bà lần lượt lấy 7 anh em theo luật
Maisen có ghi trong sách Đệ Nhị Luật, đoạn 25, câu 5. Họ hỏi
nếu người
đàn bà đó lấy cả 7 anh em, thì sau khi sống lại, người đàn
bà đó sẽ là vợ của ai? Câu hỏi này khi mới nghe thì có vẻ hóc
búa
và có lẽ nhóm Xađuxê hí hửng vì bắt bí được Chúa Giêsu. Nhưng
câu trả lời của Chúa trước hết khiến cho họ bẽ mặt và làm cho
câu hỏi đó thật chỉ là câu hỏi có vẻ "trẻ con". Thứ nữa, câu trả lời của Chúa hé mở cho chúng ta thấy "tình trạng" con người được sống lại trên thiên đàng thế nào: trên thiên đàng người ta không
sống trong tình trạng vợ chồng nhưng sống như các thiên thần
(Lc 20:34-36). Thực sự chúng ta không biết các thiên thần "sống" như thế nào trên thiên đàng nhưng một số điều căn bản chúng ta biết về các thiên
thần là các ngài không có thể xác, không lệ thuộc vào vật chất,
và các ngài được hưởng kiến nhan Chúa nên được tràn ngập hạnh
phúc.
Kinh
nghiệm sống cho chúng ta thấy một tình trạng tâm lý tự nhiên
là khi người ta được an toàn dư dật trong cuộc
sống vật
chất
và danh vọng thì người ta coi nhẹ hay ít màng tới đời sống
tinh thần. Họ thoả mãn với cuộc sống hiện tại, nên việc họ
không tin
vào đời sống sau này cũng là một điều dễ hiểu. Một điều lạ
là ngày nay số người tin có sự sống sau khi chết (life after
death)
hay linh hồn bất tử tại Hoa Kỳ gia tăng. Nhưng nhiều người
chỉ tin một cách mơ hồ nào đó chứ không tin theo lối tin
truyền thống
của niềm tin Kitô Giáo. Là những Kitô Hữu đích thực, chúng
ta cần xác tín một chân lý là đời sống trên thế gian này
không phải
là đích tối hậu, nhưng là thiên đàng mai sau. Dầu thế, thiên
đàng bắt đầu ngay từ đời này. Do đó đời sống hiện tại của
chúng ta sẽ quyết định đời sống mai sau.
Theo
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, con người là chiếc cầu nối liền
thế giới thần linh (spiritual) và vật chất (material)
vì trong con người có cả hai yếu tố: linh hồn và thể xác.
Qua
con
người, thế giới vật chất được nâng lên biên giới của thế
giới thần linh (xem God and the World, tr. 89). Như thế,
ngay ở
đời này, chúng ta cũng có thể bắt đầu "sống
như thiên thần", và nếu chúng ta muốn bắt đầu cuộc sống như thiên thần trên đời này, chúng ta
cũng cần phải đặt lại thứ tự giá trị cuộc sống: giá trị
tinh thần trên vật chất; đòi hỏi của Phúc Âm và Giáo Hội
trên
đòi hỏi của nhu cầu tự nhiên; hướng tất cả về đời sống
mai sau.
Có
lẽ chúng ta còn nhớ lời Chúa Giêsu dạy: "Được
lời lãi cả thế gian này mà mất linh hồn mai sau thì được
ích gì" (Mt 16:26). Lời Chúa hôm nay, một lần nữa kêu gọi chúng ta lựa chọn: Đời này
hay đời sau.
Lm.
Huy Châu, CMC - NS-TTĐM
Khi sống lại, người ta không còn dựng vợ gả chồng nữa.
LM. Anphong Nguyễn Công Minh, ofm11/9/2013
Khi sống lại, người ta không còn dựng vợ gả chồng nữa.
Cách đây ít lâu, trong giờ giáo lý về đề tài “Tứ chung, những sự cuối cùng,” dành cho các anh chị sắp theo Đạo… Tôi giật mình khi có một chị giơ tay phát biểu : “Em không tin.” Chả là hôm đó đang nói về đề tài : “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”… nên phát biểu “Em không tin” tức là “Em không tin có sự sống lại”.
Không phải chỉ có cô học viên đó mà cả tỉ người hiện nay cũng chẳng tin. Mà không chỉ thời nay, thời đại khoa học kỹ thuật, mà thời xưa, thời Đức Giêsu, cũng đã có không ít người chẳng tin, trong đó có phái Sađốc mà hôm nay Luca ghi lại cho chúng ta hay. Tin xác loài người ngày sau sống lại là một niềm tin khó nuốt nhất của Kitô giáo, của Đạo chúng ta.
Bởi vì nếu tin xác loài người sẽ sống lại, thì cả nghìn câu hỏi sẽ đặt ra mà không giải đáp : Sống lại tất cả chỗ đâu mà ở ? Lấy gì mà sống ? Lấy xác nào mà sống lại: xác ông già nếu mình chết lúc già, xác trẻ thơ nếu mình chết khi còn măng sữa, xác xồn xồn nếu mình tắt thở tuổi trung niên, hay là xác nào ? Hoặc xác không còn một tí gì nữa : hoả thiêu rồi, trở thành bụi mùn theo thiên niên kỷ, hoặc vung vãi tứ tung không thu được thì lấy xác nào mà sống lại ? Và khi sống lại rồi như vậy chuyện vợ chồng xưa sẽ ra làm sao ? Đúng là cả trăm câu hỏi. Chỉ xin dừng lại ở câu hỏi cuối phù hợp với bài Tin Mừng hôm nay : khi sống lại chuyện cưới vợ gả chồng sẽ thế nào – nếu như người Sađốc đặt vấn nạn cho Chúa : một bà kia lần lượt lấy 7 anh em ruột. Khi sống lại, bà là vợ của ai, vợ anh cả hay vợ của em út ?
Cũng phải cám ơn phái Sadoc vì nhờ một hạch hỏi có vẻ không tưởng của họ : 7 anh em ruột phải lấy một vợ, mà ta có được câu trả lời là bài dạy duy nhất của Chúa Giêsu về sự sống lại sẽ thế nào.
Một vài lần Đức Giêsu có nói về sống lại: Ta là sự Sống lại. Nhưng sống lại sẽ thế nào, thì đây là bài dạy duy nhất của Chúa Giêsu trả lời cho bè Sadoc : khi sống lại không còn dựng vợ gả chồng nữa.
Câu trả lời đầy đủ của Chúa Giêsu là : Con cái đời này mới cưới vợ lấy chồng, chứ những ai xét là xứng đáng hưởng hạnh phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ lấy chồng nữa, vì họ giống như các thiên thần. Họ là con cái của sự sống lại.
Từ câu trả lời của Chúa, ta thử đặt thành 2 vế :
1. Tại sao khi sống lại, người ta không còn dựng vợ gả chồng nữa ? Chúa Giêsu đưa ra 2 lý do :
a) Vì họ không chết nữa. Tai sao không chết lại liên quan tới chuyện hôn nhân ? Vì hôn nhân là nhằm sinh con đẻ cái, một hành động kéo dài cuộc sống của mình. Khi mình chết đi thì sự sống của mình sẽ nằm nơi con cái. Nói cách khác, sinh con đẻ cái, cha truyền con nối là muốn mình được sống mãi trong con cái. Bố họ Nguyễn con họ Nguyễn cháu nội họ Nguyễn chắt nội họ Nguyễn, Bố là Ken-nơ-đy, con là Kennedy, cháu cũng Kennedy…. Có con cái thì chết mà vẫn sống.
Vậy khi sống lại, không còn chết nữa thì chẳng cần gì phải kéo dài sự sống nơi con cái, do đó chẳng có chuyện hôn nhân nữa. Nhưng lý lẽ này ít thuyết phục được ai, nên Chúa Giêsu đưa thêm một lý lẽ nữa, đó là :
b) Khi sống lại người ta không còn dựng vợ gả chồng nữa, vì người ta sống như các thiên thần. Chúng ta giải thích thêm : Chúa nói : khi sống lại, người ta sống tựa như các thiên thần.
Chữ “như” ở đây không phải là giống hệt đâu. Bởi vì thiên thần là loài thiêng liêng – và chỉ thiêng liêng mà thôi. Còn con người là thiêng liêng và cả xác thể nữa, dù cho xác đó là xác phục sinh. Con người sống lại vẫn khác thiên thần. Vì thế chữ NHƯ mà Chúa Giêsu nói nhằm đến công việc : như các thiên thần, nghĩa là chẳng còn mải lo chuyện gì khác ngoài việc phụng sự tán dương yêu mến Chúa. Do đó cũng chẳng còn lo chi đến chuyện cưới gả chồng con vợ cái. Để hoá giải những thắc mắc mà trong phần đầu chúng ta đề ra : nào là chỗ đâu mà ở, lấy gì mà sống, hồn nhập xác nào đây, xác Mỹ hay xác Việt, xác già hay trẻ, xác gãy chân cụt tay hay xác lành lặn tươi tốt hay đã tiêu tán ra ma, lấy gì mà nhập lại, thì chữ “như” các thiên thần trong câu trả lời của Chúa giúp ta thảnh thơi.
“Như” có nghĩa là tựa tựa, hao hao. Thiên thần là loài thiêng liêng, sáng láng. Ta sống lại cũng hao hao sáng láng như vậy. Đến đây ta nghe các nhà khoa học – mà là khoa học cao cấp: khoa học nguyên tử lên tiếng về xác sống lại : Họ nói : chuyện xác sống lại không phải là chuyện khó tin vì vật chất và ánh sang có họ gần với nhau.
Khi đạt đến một điều kiện nào đó thì vật chất biến thành ánh sáng (đây là khởi điểm của bom nguyên tử và ánh sáng kết tinh lại là vật chất).
Vậy tại sao chúng ta lại ngạc nhiên, lại khó tin khi theo chương trình của Tạo Hoá : thân xác vật chất của chúng ta sẽ biến thành ánh sáng. Nếu uranium, plutonium huỷ đi, phải vỡ nguyên tử nó ra thì mới biến thành sức nóng năng lượng ánh sáng chói loà được, thì thân xác của chúng ta cũng phải chết đi, huỷ ra, tan ra, mới trở thành thân xác sáng láng vinh quang được. Chúa Giêsu và thánh Phaolô đã lấy hình ảnh hạt lúa để so sánh với sự sống lại. Hạt lúa có chết đi có huỷ tan mới nảy sinh cây lúa.
Vậy chẳng có gì khó tin khi đến một ngày nào đó thân xác tan rã của chúng ta biến thành thân xác sáng láng tựa như thiên thần.
Ta đã bước vào tín điều khó nuốt nhất: xác loài người sống lại. Nếu xác sống lại cũng giống như xác bây giờ, cũng ăn cũng ngủ cũng lập gia đình… thì quả khó tin; nhưng nếu là xác sáng láng thì lại được, khả tín, có thể tin.
2. Vế thứ hai là vế ngược lại. Từ câu trả lời của Chúa ta mở ra một góc cạnh khác. Nếu khi sống lại trên thiên quốc, người ta không còn dựng vợ gả chồng nữa, thì khi đang sống tại trần gian, những người không lấy vợ lấy chồng, họ là ai ? Thưa họ là những người sống trước, những người tiên báo cuộc sống phục sinh mai sau. Đó chính là các tu sĩ với lời khấn khiết tịnh, các linh mục với lời hứa độc thân. Cuộc sống của họ minh chứng và tiên báo cho sự sống lại mai sau. Nhưng ngoài họ ra, tất cả những ai đang sống độc thân, tự nguyện hay do cảnh ngộ, những người không lấy ai, hay chẳng ai lấy, những người ở vậy nuôi con và những người không đi bước nữa, họ cũng cách này cách khác sống trước mầu nhiệm phục sinh. Tất cả đều có thể là dấu chỉ cho sự phục sinh mai sau. Vì khi thân xác sống lại, người ta không còn dựng vợ gả chồng nữa. Amen.
Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
M
November 11, 2013
|
|