Suy Niệm của Huệ Minh

 

Chuá Nhật 22 Thường Niên, năm C



Chúa nhật 22 thường niên, năm C

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN 2019.

Hc 3,17-18.20.28-29; Hr 12,18-19.22-24a; Lc 14,1.7-14.

KHIÊM CUNG

          Chúa Giêsu không ngần ngại lên tiếng chỉ trích họ, nhân dịp Ngài được mời dự tiệc trong nhà một ông biệt phái. Dĩ nhiên đa số khách mời đều là biệt phái cả. Họ không ưa gì Chúa Giêsu và hôm nay họ được dịp dò xét kỹ để bắt lỗi. Chẳng hạn họ để ý xem Người có rửa tay trước khi ăn hay không? Nhưng họ đâu ngờ rằng chính họ lại đang bị Chúa Giêsu dò xét, bởi vì Ngài thấy ông nào ông nấy cũng đều ham địa vị cao, thích ngồi vào chỗ danh dự nhất trong đám khách được mời.

          Lời Chúa Giêsu dạy, không chỉ nhắm sửa đổi một lề thói xã hội, nhưng trên hết, Người nhắm tới những sự thực về Nước Trời. Trong bàn tiệc Nước Trời, những ai càng khiêm tốn lại càng được nâng lên cao. Vì khiêm tốn là đi vào con đường của Thiên Chúa, là trở nên giống Thiên Chúa.

          Ta cùng nhìn vào gương Chúa Giêsu. Người luôn luôn chọn chỗ cuối cùng. Là Thiên Chúa, nhưng Người không đòi cho mình được ngang hàng với Thiên Chúa, trái lại, Người đã tự huỷ mình, mặc lấy thân phận nô lệ hèn yếu như ta, trừ tội lỗi.

          Chả cần phải là một người thông minh, tài trí, cũng có thể thấy ở những bữa ăn ngày Sabbat ấy không có những hạng người nghèo khổ, bọn cùng đinh, bọn tội lỗi, bọn thu thuế hay đĩ điếm.. Một người Do Thái chân chính không thể hòa mình với bọn người ti tiện này. Đó là sự phân chia giai cấp hết sức rõ ràng trong xã hội Do Thái, sự phân chia mang tính "tôn giáo".

          Từ sự phân chia ấy, hình thành một lối suy nghĩ, một lối sống mặc nhiên, thầm kín nhưng hết sức mãnh liệt: "phải được xã hội thừa nhận địa vị ưu tuyển,thế giá đạo hạnh trước mọi người", lối sống mà Chúa Giêsu luôn phải đối diện: "sống giả hình", "những kẻ được mời, chọn chỗ nhất". Cách sống và suy nghĩ ấy đã đẩy xô đại đa số những người nghèo khổ vào nỗi tủi nhục "không danh phận", trong đời thường của những bữa ăn, và cả trong kinh nguyện và thờ phượng nữa.

          Sự có mặt của Chúa Giêsu trong bữa ăn hôm nay, hay ở nhà Simon biệt phái, cũng như trong mọi hiện diện khác mau chóng bộc lộ tính chất Tin Mừng. Nếu như khi đồng bàn với những người nghèo, với bọn thu thuế và tội lỗi, Chúa Giêsu bộc lộ thái độ trân trọng, yêu thương, tha thứ, để bất kể là ai trong số họ cũng nhận ra được tấm lòng bằng hữu của Người, được giải phóng khỏi tâm trạng bị khinh miệt, bị kết án, bị loại trừ, thì ở đây Người tố giác tính chất "giả hình", "tính ưa chuộng địa vị, tìm kiếm thế giá", để đòi hỏi phải mở rộng bữa ăn cho những người nghèo.

          Và ta nhìn vào hình ảnh bữa Tiệc Ly. Trong bàn tiệc ai là người cao trọng nhất? Thưa là Chúa Giêsu. Thế mà Người đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ. Thiên Chúa đã quỳ trước mặt nhân loại. Thực là một sự khiêm tốn thẳm sâu. Trong khi con người kiêu ngạo muôn vươn lên làm Chúa, thì Thiên Chúa lại khiêm tốn hạ mình xuống làm người. Trong khi con người hèn hạ muốn nâng mình lên bằng cách chà đạp người khác, thì Chúa Trời cao cả lại hạ mình xuống để nâng con người lên. Hạ mình, đó là con đường của Thiên Chúa.

          Khiêm nhường, đó là khuôn mặt của Thiên Chúa. Vì thế những ai khiêm tốn là trở nên giống Thiên Chúa, xứng đáng ngồi đồng bàn với Thiên Chúa trên Nước Trời. Nói xứng đáng không phải là do công phúc của ta, nhưng là do tình thương của Chúa. Ai tự nâng mình lên thì không có giá trị gì. Ai được người khác nâng lên, giá trị có đó, nhưng rất mong manh. Ai được Thiên Chúa nâng lên, giá trị đó mới thực cao quý, bền vững. Mà Chúa chỉ nâng cao những người khiêm tốn.

          Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là hèn nhát. Trái lại chỉ những ai dũng mạnh, can đảm mới dám hạ mình phục vụ anh em. Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là nô lệ. Trái lại khiêm tốn phục vụ là một cử chỉ đầy tình yêu, một thái độ hoàn toàn tự do, cao quý. Khiêm tốn hạ mình phục vụ là thoát khỏi cái tôi chật hẹp ích kỷ để đi vào con đường tự do thênh thang của Thiên Chúa, của Nước Trời.

          Bài học của Ngài hôm nay là bài học khiêm nhường, có lẽ đã làm cho họ ăn mất ngon và hẳn nhiều ông đã mất mặt. Chúa Giêsu không chỉ nhận xét về khách dự tiệc mà còn thẳng thắn đưa ra một bài học khác cho chủ nhà, bởi vì ông này mở tiệc đãi khách, thực ra không hpải vì khách mà vì mình. Thực vậy, cái thói mời người có chức quyền, mời người giàu sang để khoe rằng mình quen biết lớn, giao thiệp rộng, rằng bè bạn của mình toàn là những ông to bà lớn. Cái thói này ở mọi nơi, mọi thời đều rất thịnh hành. Ông chủ nhà hôm nay cũng là một trong những kẻ thích khoe khoang. Ông ta mời Chúa Giêsu có lẽ chẳng phải vì mến phục, nhưng chỉ để khoe với bè bạn về tài giao thiệp của mình, bởi vì lúc bấy giờ Chúa Giêsu đã là một nhân vật nổi tiếng.

          Khiêm tốn có nghĩa là bắt chước sống như Chúa, không sống cho riêng mình, nhưng sống cho người khác, dùng tài năng của mình để phục vụ, không phải cho bản thân và lợi ích riêng của cá nhân, mà là cho người khác và những nhu cầu của họ.

          Hôm nay, Chúa vẫn mời gọi chúng ta đi tiếp con đường Chúa đã đi. Con đường khiêm nhu để đến với anh em, để sống hoà hợp và phục vụ anh em. Con đường kiêu ngạo chỉ dẫn đến sự xa rời anh em, và gây nên những đổ vỡ bởi đố kỵ ghen tương. Vượt lên trên sự khiêm nhu là tình yêu đại đồng với tha nhân. Không phân biệt giai cấp hay chủng tộc. Không phân biệt màu da sắc tộc, mỗi người đều được đón nhận trong yêu thương và kính trọng. Có như vậy, thế giới chúng ta đang sống mới an vui thịnh vượng. Có như vậy, thế giới chúng ta đang sống mới đượm thắm tình yêu và rộn ràng niềm vui tiếng cười.

          Thế giới hôm nay nếu muốn cứu mình khỏi hố diệt vong cần phải biết xây dựng tình người hơn là xây dựng những cơ sở vật chất lộng lẫy nguy nga. Thế giới hôm nay muốn an vui thịnh vượng cần phải có những con người biết quên mình phục vụ anh em. Ước gì mỗi người chúng ta luôn học lấy bài học khiêm nhu của Chúa để đến với anh em, để tự hủy chính mình, để trở nên kẻ có ích cho tha nhân, ngõ hầu chúng ta cùng góp sức xây dựng cho quê hương được quốc thái dân an, cho nơi nơi thắm được tình Chúa tình người, cho mỗi người tìm được niềm vui trong việc lãnh nhận và trao ban những nghĩa cử yêu thương.

          Trong mối liên hệ với Chúa cũng như với người khác, ta hãy sống khiêm tốn, từ trong tư tưởng, lời nói đến việc làm, nhờ đó mà ta sẽ được người khác yêu mến và hơn nữa được chính Chúa chúc phúc. Bởi vì càng khiêm tốn, thì ta cùng trở nên cao cả và càng được Chúa yêu thương.

 

 

BÀI HỌC KHIÊM HẠ

-Hue Minh - Chúa nhật 22c-2016


        Từ ngàn xưa và cho đến ngày nay, người khiêm tốn đều đáng được người đời mến phục, kính yêu. Trái lại, kẻ kiêu ngạo thì đều bị chê trách. Nếu họ là người quyền cao, chức trọng thì người ta có thể sợ, nhưng không hề kính chút nào. Sách Huấn ca cho ta những lời dạy thiết thực: “Con ơi… càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa”.

Ta thấy rằng quyền năng Đức Chúa thì lớn lao: Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường. Kẻ kiêu ngạo thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó”(Hc 3,18.20.28) (bài đọc thứ nhất).

Câu chuyện hôm nay chúng ta nghe được Thánh Luca kể xảy ra tại nhà một người Pharisêu, ông này đã mời Chúa Giêsu đến dùng bữa trưa sau buổi cử hành phụng vụ ngày Sabát. Hẳn nhiên với quy luật thông thường của người Do Thái, vụ khách quan trọng nhất ngồi ở giữa, người chủ ở bên cạnh, còn những người khác cứ theo tuổi mà ngồi vào. Nhưng rồi cũng vẫn có người nào đó muốn ngồi vào chỗ cao hơn của ai đó, gần với trung tâm hơn.

Nhận thấy ở đó có những thực khách háo hức chọn chỗ nhất, Chúa Giêsu liền nói với họ một dụ ngôn, trong đó Ngài mời gọi người ta hãy sống khiêm nhường bằng cách chọn lấy địa vị sau chót: khi anh được mời đi ăn cưới, anh đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng cũng được mời... Trái lại, khi được mời, anh hãy ngồi vào chỗ cuối.

          Thật thế, rất dễ hiểu rằng con người vẫn thường bận tâm là đạt được vinh quang và danh tiếng, là xác định địa vị, đạt được các vị trí. Mỗi người cứ muốn ở cao hơn người khác, xa hơn người khác. Những người đồng bàn với Chúa Giêsu hôm ấy đã tỏ lộ khuynh hướng này ra qua việc muốn có những chỗ nhất. Chúa Giêsu hẳn là mỉm cười khi thấy cảnh tượng ấy, Người mới nói với họ một dụ ngôn.  

Khao khát danh dự và uy thế, ra sức đánh bóng hào quang của mình đều không có giá trị gì trước nhan Thiên Chúa. Chúng ta không được bận tâm về cái tôi của mình, vì đó là một thứ ích kỷ. Do đó, chọn chỗ cuối không phải để được người ta ca ngợi, nhưng để trở thành lớn trước nhan Thiên Chúa.

Khao khát danh vọng, chức tước, uy quyền là chuyện không đáng kể đối với Thiên Chúa. Chúng ta không được dành sức lực và thì giờ cho việc ấy. Tất cả những việc ấy đều là bận tâm lo cho cái tối của mình, là một dạng ích kỷ. Chúng ta phải để cho Thiên Chúa phân phối các chỗ ngồi. Giá trị và tầm quan trọng của chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Thiên Chúa, chứ không tùy thuộc tham vọng cua chúng ta. Đức Maria đã hiểu như thế khi hát: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 52). Tuy nhiên, thật không dễ gì có được “não trạng” của Thiên Chúa!
Qua đó, ta thấy Chúa Giêsu chỉ một quy luật ứng xử khôn khéo, đó là: khi đi dự tiệc cứ chọn chỗ thấp, không phải do khiêm tốn, nhưng do tính toán, và cứ để cho chủ nhà bố trí chỗ cho khách mời. Như thế, ta sẽ khỏi xấu hổ khi bị chủ nhà mời ngồi lùi xuống mà nhường chỗ cho người đáng trọng hơn, hoặc sẽ được nở mặt nở mày khi được chủ nhà mời ngồi lên trên. Hẳn là người ta nhớ đến đoạn sách Cn 25,6-7.

Thật ra, Chúa Giêsu muốn gợi lại quy luật ứng xử khôn khéo. Chúa nói theo kiểu dụ ngôn nhằm cho chúng ta hiểu rằng cứ lo tìm chỗ và tìm danh dự thì thất bại thôi; tốt nhất cứ để cho chủ nhà bố trí chỗ ngồi. Điều này đúng với loài người, theo những quy luật họ đang theo. Nhưng Chúa Giêsu nói thế để đưa chúng ta đến khẳng định: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được Thiên Chúa tôn lên” (c. 11). Chúng ta không thể không nghĩ tới dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế, với câu kết tương tự (Lc 18,14). Khi các môn đệ cãi nhau về chỗ nhất, Đức Giêsu đã dạy họ về sự phục vụ (22,24-27).

Lời khuyến cáo của Chúa Giêsu còn tiềm ẩn một ý nghĩa sâu sắc hơn. Ðối với Ngài, tiệc cưới tượng trưng cho Nước Thiên Chúa, trong đó kẻ nào nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. Vượt ngoài tầm đòi hỏi của xã giao, lời nói của Chúa làm cho con người đi xuống chiều sâu của khiêm nhường và tiến lên chiều cao của Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa là một vinh dự, một ân ban, mà chỉ những ai tự hạ và ý thức mình là hư vô mới có thể lãnh nhận. Còn kẻ tưởng mình cao trọng, chắc chắn không thể chiếm hữu Nước Thiên Chúa, và Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường.

Với tất cả tâm tình đó, ta được mời gọi nhìn nhận những gì chúng ta là, chúng ta có đều là do bởi lãnh nhận. Chúa Giêsu đã nhiều lần khẳng định Người bởi Chúa Cha mà ra và mọi sự Người có đều do Cha ban tặng (Ga 7, 29; 16, 28; 17, 1-26). Quanh ta, cạnh ta, ta vẫn thấy có nhiều người ngông cuồng, tự cao tự đại? Giản đơn để trả lời đó là vì họ vô tình hay chủ ý quên mất sự thật này: họ được tạo thành chứ không phải tự mình mà có. Nếu giả như họ xác tín rằng ngay chính sự sống và những khả năng, chức phận, những thành quả hay công nghiệp của họ đều do bởi đã lãnh nhận, thì chắc chắn sẽ không có lý do gì để lên mặt, để tự mãn trong cao ngạo hay cuồng ngông.

Và rồi nhìn nhận rằng chúng ta chỉ thực sự là mình nếu biết sống và hoạt động theo ý Đấng tạo nên chúng ta. Chúa Kitô nhiều lần khẳng định rằng Người đến thế gian này không phải làm theo ý riêng mà để chu toàn thánh ý Chúa Cha (Ga 6, 38; 7,17). Người nhìn nhận việc thực thi thánh ý Chúa Cha chính là lẽ sống của Người. “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34).

Khi đã tin nhận rằng những gì chúng ta đang là, đang đều do bởi đã lãnh nhận từ ai đó thì việc sử dụng sự sống mình, các khả năng của mình theo ý người ban tặng là lẽ tất yếu đương nhiên. Một trong những ý nghĩa của cuộc đời con người đó là sống cho tha nhân, sống vì tha nhân. “Con Người đến thế gian này không phải để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ người ta và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28).

Với lời mời gọi và gương sống tự hạ, khiêm nhường của Chúa từ lúc sinh ra cho đến lúc chết trên Thập giá, chúng ta hãy quyết đi vào con đường khiêm nhường bằng cách sống đúng với giới hạn của một thụ tạo nhỏ bé trước mặt Thiên Chúa vô biên, để nhờ đó Ngài sẽ là tất cả cho chúng ta.

          Sống trong xã hội ngày càng tiến bộ, con người tự nhiên muốn vượt lên khỏi những cái tầm thường hiện tại. Họ muốn tìm cho mình một địa vị nào đó để đảm bảo cho cuộc sống; họ ham muốn giàu sang, uy quyền, muốn chiếm cho mình chỗ nhất nơi công hội, tiệc tùng. Nhưng Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay lại đề ra nét đặc thù của Kitô giáo đi ngược với thái độ hám danh và cũng là bài học cho mỗi người, đó là bài học khiêm nhường.

Ta được mời gọi nhìn lên Chúa Giêsu hạ mình và xả thân một cách quảng đại với anh chị em đồng loại. Và như vậy khi ta sống tinh thần khiêm hạ, xả kỷ không phải chỉ là lời khuyên nhưng trở thành nếp sống đạo mới của chúng ta theo gương Chúa Giêsu, Ðấng đã dạy chúng ta hãy học với Người mà ở khiêm nhường và hiền lành trong lòng; và đã mở cửa Nước Trời và bàn tiệc Nước Trời chỉ dành cho những người như vậy.

 

Thứ Hai Tuần XXII Thường Niên. 

Ngày Quốc Khánh. Cầu cho Tổ Quốc được bình an thịnh vượng.

1Tx 4,13-18; Lc 4,16-30.

ĐỪNG LOẠI TRỪ NHAU

          Tin Mừng hôm nay là lời tiên báo về sự chống đối và bách hại mà Chúa Giêsu sẽ trải qua. Sau một thời gian rao giảng và làm nhiều phép lạ, danh tiếng Ngài được nhiều người biết đến. Thế nhưng, khi trở về quê hương, Ngài chỉ nhận được sự hững hờ và khinh rẻ của người đồng hương mà thôi.

          Quả thế, như Chúa Giêsu đã trích dẫn câu tục ngữ quen thuộc: "Không tiên tri nào được đón tiếp nơi quê hương của mình", đó là định luật tâm lý mà chính Ngài cũng không thoát khỏi. Nhưng quê hương đối với Chúa Giêsu không chỉ là ngôi làng Nazaréth nhỏ bé, mà sẽ là toàn cõi Palestina. Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà của Ngài đã không đón tiếp Ngài. Cái chết trên Thập giá là tuyệt đỉnh sứ mệnh ngôn sứ của Chúa Giêsu, là lời nói cuối cùng của Ngài như một vị ngôn sứ.

          Chúa Giêsu đã đến tuổi trưởng thành và Ngài đã được ông trưởng hội đường trao nhiệm vụ đọc sách cho Ngài trong ngày hôm ấy. Đó là sách ngôn sứ Isaia. Ngài không chọn lựa nhưng mở ra và bắt gặp một đoạn nói về việc khởi đầu cho công cuộc rao giảng của Ngài. Hiện tượng này không thể xem là ngẫu nhiên, nhưng có lẽ Thiên Chúa đã sắp xếp khi giới thiệu Con Ngài vào trần gian trong sứ vụ Đấng Mêsia: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi” (c. 18) ý nói về hoạt động của Chúa Giêsu là do Chúa Cha xức dầu và do Thánh Thần hướng dẫn.

          Và ta thấy đây chính là hoạt động của cả Ba Ngôi trong công trình cứu độ. Công việc của Chúa Giêsu là : “đem Tin Mừng cho người nghèo, loan báo cho kẻ giam cầm biết họ được phóng thích, ban cho người mù được thấy ánh sáng, kẻ bị áp bức được tha bổng, tự do, công bố năm hồng ân của Chúa” (18-19).

          Với vỏn vẹn trong 2 câu, Thánh sử Luca đã mượn lời ngôn sứ Isaia để nói về thân phận và sứ vụ của Chúa Giêsu. Ngài đến đem bình an, sự tự do và hạnh phúc cho những người nghèo khổ. Ngài chính là Đấng Mêsia mà dân Do Thái mong đợi. Ngài cởi bỏ xiềng xích, tháo gỡ gông cùm cho những người tù tội, nô lệ. Ngài công bố năm hồng ân của Chúa mà đối với người Do Thái phải 50 năm mới được hưởng một lần. Trong năm hồng ân, mọi của cải mất mát sẽ trở về, ruộng đồng được nghỉ ngơi. Đó là năm ân xá cho toàn thể dân chúng (Lc 25, 10-13). Chúa Giêsu đến, Ngài công bố năm hống ân sẽ được thực hiện, phúc lành Thiên Chúa sẽ ban dư tràn trên dân, trên những ai biết mở  lòng ra đón nhận.

          Chúa Giêsu giới thiệu mình chính là Đấng  Mêsia, Đấng đến từ Thiên Chúa mang phúc lành cho toàn dân và hôm nay ơn cứu độ đã đến. Mọi người đều tán thành những lời ấy (c.22). Họ tỏ ra hiểu được sứ điệp của lời Người vừa đọc và như sẵn sàng chuẩn bị đón chào con người của Ngài, là người vừa thốt ra lời hay ý đẹp.

          Đến đây, chúng ta tưởng rằng việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu đã thành công ngay bước khởi đầu, ngay ngày “ra quân”, thế mà họ lại xầm xì “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?”. Một câu hỏi như muốn lột trần Chúa Giêsu bằng con mắt tự nhiên ghen tỵ của họ. Họ thức tỉnh chính họ rằng: con người bằng xương bằng thịt đang đứng trước họ chỉ là con người bình thường trong một gia đình lao động mà họ biết rất rõ veà thân thế và sự nghiệp. Chúa Giêsu đã đọc được điều đó trong lòng họ, trong thái độ của họ nên Ngài vạch trần tỏ tường ghen tỵ ấy bằng một lời khẳng định : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (c. 24). “Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga, 11).

          Thực tế trong cuộc sống chúng ta hay có cái nhìn hay còn gọi là “bệnh thành kiến” về con người. Thành kiến là căn bệnh chung của nhiều người, có khi trở thành kinh niên bất trị. Thành kiến cũng có khi là một tâm trạng thiên lệch rất tai hại, là một sự yên trí, phán đoán, nhất là những tư tưởng suy đoán không hay cho người khác.  thích mới lạ, nhiều lý luận ngược chiều cho là hay, dựa theo dư luận số đông của mọi người. Nên trong Kinh Thánh Cựu Ước cho biết lý do: “Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, ai dò thấu được”(Gr 17, 9).

          Khi người ấy quen quá, gần quá, thân cận quá, thì chúng ta không nhận cái tài năng của họ, hoặc khi có một vĩ nhân về quê hương, chúng ta lại có cái nhìn tò mò, soi mói tìm hiểu, hơn là kính nể khi họ về quê hương hay xứ sở của mình, nếu người đó có tài nhưng gia đình nghèo thì coi rẻ rúng, cũng như Chúa Giêsu khi trở về quê nhà cũng bị dân làng nhìn theo kiểu “Ông không không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria , anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Gioxép, Simon và Giuđa sao? Bởi đâu ông được như thế?” (Mt 13, 55-56). Cũng vậy, Chúa hiểu rõ tâm lý của họ, nên bảo họ “Ngôn sứ có rẻ rúng thì cũng chính là ở quê hương mình và trong gia đình mình thôi” (Mt 13, 58).

          Lời giảng của Chúa Giêsu bước đầu đã được dân làng thán phục. Họ có vẻ hãnh diện vì một người trong làng được lừng lẫy tiếng tăm. Nhưng Chúa Giêsu không muốn mình bị chi phối bởi dân làng.Ngài không muốn bị buộc phải dành chút ưu tiên nào cho Nadarét (c. 23). Chúa Giêsu còn nhìn xa hơn đến sứ vụ nơi dân ngoại (cc. 25-27).Ngài nhắc đến hai vị ngôn sứ trong Cựu Ước là Êlia và Êlisa. Hai vị này đã giúp bà góa ở Xiđôn và tướng Naaman ở Xyri. Dân Nadarét phẫn nộ và định giết Chúa Giêsu khi Ngài nói rằngThiên Chúa chỉ sai hai ngôn sứ trên đến với dân ngoại mà thôi. 

          Không thể làm ngôn sứ mà không trải qua bách hại, khổ đau thử thách. Ðó là số phận chung của các ngôn sứ từ Cựu Ước qua Tân Ước. Những kẻ không được sai đi, tự lấy danh mình mà nói, đó là những tiên tri giả; còn các ngôn sứ thật ý thức mình được Chúa sai đi và chỉ nói những gì Ngài muốn, một sứ mệnh như thế thường tạo ra nơi vị ngôn sứ một cuộc chiến nội tâm mãnh liệt. Môsê và Êlia trải qua khủng hoảng và ngay cả thất vọng khi phải trung thành với Lời Chúa; Giêrêmia đã nhiều lần ca thán và có lúc chỉ muốn đào thoát. Ðau khổ nhất cho các ngôn sứ là thấy lời nói của mình không được lắng nghe.

          Lời Chúa hôm nay nhắn nhủ mỗi người Kitô hữu chấp nhận là những bước chân ra đi làm ngôn sứ để sống lời Chúa, loan báo Tin Mừng đến cho mọi người, dù mọi người không chấp nhận chân lý và sự thật, ngay cả Chúa Giêsu cũng đóng vai trò ngôn sứ bởi từ Chúa Cha mà đến, nhưng cũng cùng chung một số phận như bao ngôn sứ. Đồng thời chúng ta tham dự vào vai trò ngôn sứ của Chúa Giêsu ngay trong Ta hãy cảm thông với mọi người bằng sự thương yêu chân thành. Hãy thành thật nhìn lại chính mình vì đa số mỗi người chúng ta thường mắc phải “bệnh thành kiến”.

Hue Minh 2019

 

Thứ Ba Tuần XXII Thường Niên.

Thánh Grê-gô-ri-ô Cả, Giáo hoàng,  Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.

1Tx 5,1-6.9-11; Lc 4,31-37.

DỰA VÀO QUYỀN NĂNG THIÊN CHÚA

          Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ kính Thánh Giáo hoàng Grêgôriô Cả.

          Thánh Grêgôriô đã thủ giữ một chức vụ trong xã hội. Năm 573, Ngài được đặt làm tổng trấn thành phố. Nhưng Ngài luôn nuôi lý tưởng tu trì. Đó là lý do khiến Ngài không lập gia đình, và năm 574 Ngài đã rút lui khỏi đời sống công cộng để mặc áo tu sĩ.

          Ông Gordianô từ trần, thánh Grêgôriô thừa kế gia tài, nhờ thế Ngài đã có thể thiết lập 6 tu viện tại Sicily và biến nhà trên đồi Copelia thành tu viện thứ 7 dâng kính thánh Andre. Tại đây Ngài sống như một thầy đơn sơ. Có lẽ bộ luật Ngài thiết lập chính là luật dòng Bênedicto. Đây là những năm hạnh phúc nhất mà Ngài không bao giờ quên được. Nhưng lại chẳng kéo dài được lâu.

          Năm 578, Ngài được phong chức phó tế cai quản một trong bảy miền ở Romas. Năm 579 Ngài được gởi đi Constantinopple làm đại diện Đức giáo hoàng. Ngài mang theo một ít thày dòng và có rộng thì giờ để giảng cho họ về sách Giop, những bài giảng được thu góp lại thành cuốn luân lý.

          Thánh Grêgôriô làm đại sứ trong khoảng 7 năm. Sau đó trở về Roma, Ngài trở lại tu viện thánh Andrê làm viện trưởng (50 tuổi). Năm 590 Pêlagiô II từ trần và thánh Grêgôriô được chọn lên kế vị. Roma lúc ấy bị một cơn dịch tàn phá. Vị giáo hoàng được chọn tổ chức những cuộc hành hương trong thành phố, Ngài thấy tổng lãnh thiên thần hiện ra ở một địa điểm nay gọi là Custel Saint Angele, đứng tuốt gươm ra, cơn dịch tự nhiên bị chặn lại và dân Roma chào mừng Đức giáo hoàng mới, như một người làm phép lạ.

          Triều đại đức giáo hoàng Grêgôriô kéo dài trong mười bốn năm, đòi hỏi trọn sức mạnh tinh thần và ý chí lẫn kinh nghiệm quản trị và ngoại giao của Ngài. Đế quốc Roma đang suy sụp. Dầu vậy hoàng đế ở Constantinople chỉ hiện diện tại Ý bởi một phó vương với một triều đình nhỏ, Ravenna có rất ít quyền lực về luân lý và vật chất. Quân đội Bonabardô cướp phá bán đảo và Roma bị chiếm đóng năm 593. Đức Grêgôriô thấy phải lập quân đội để bảo vệ Roma và đặt điều kiện với quân xâm lược. Mọi việc thuộc đủ mọi phương diện trong quốc gia đang suy đồi đều đổ trên đức giáo hoàng.

          Trong khi đó đức Grêgôriô lo chấn chỉnh Giáo hội. Các địa phận lộn xộn, Ngài ấn định lại ranh giới. Các đất đai thuộc giáo hoàng được quản trị hữu hiệu. Chính nhà ở của đức giáo hoàng cũng cần phải tái thiết. Nhưng không có gì đáng ghi nhớ hơn trong cách Đức giáo hoàng đương đầu với các vấn đề Giáo hội Đông và Tây, là việc Ngài nhấn mạnh đến quyền tối thượng của tòa thánh Roma. Rất tôn trọng quyền của các giám mục trong các giáo phận, Ngài kiên quyết bênh vực nguyên tắc tối thượng của thánh Phêrô. Đối với hoàng đế, Ngài rất tôn trọng uy quyền dân chính, nhưng cũng bảo vệ quyền lợi mình và của các dòng trong Giáo hội.
Thánh Grêgôriô canh tân phụng vụ rất nhiều. Ít nhất là Ngài đã đặt các "điểm" hành hương. Dầu qua nhiều lần tranh cãi, nhưng dưới ảnh hưởng của Ngài, ngày nay nhạc và nghi lễ Giáo hội vẫn còn mang danh Ngài: nhạc Grêgôriô, lễ Grêgôriô.
Thánh nhân còn là văn sĩ rất phong phú. Ngoài cuốn luân lý Ngài còn viết hai cuốn gồm những bài giảng về sách Ezechiel, một cuốn khác về những bài Phúc âm trong ngày, 4 cuốn đối thoại và một cuốn sau tập các phép lạ do các thánh người Ý thực hiện. Cuốn sách chăm lo mục vụ trình bày những điều mà cuộc sống một giám mục và một linh mục phải làm. Sau cùng là một sưu tập thư tín.

          Thánh Grêgôriô còn được gọi là tông đồ nước Anh. Chính Ngài đã muốn đi truyền giáo để cải hóa luơng dân Saxon. Nhưng không đi được, năm 596 Ngài đã trao phó nhiệm vụ cho các tu sĩ dòng thánh Andrê do thánh Augustinô Conterbury dẫn đầu.

          Thánh Grêgôriô cả qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604. Ngài được mai táng trong đại giáo đường thánh Phêrô. Nấm mộ đầu tiên của Ngài mang bản chữ Latinh tóm gọn đời Ngài, Ngài được gọi là "chánh án của Chúa". Các chánh án của Roma đã qua đi. Chính đế quốc Roma đang hồi hấp hối nhưng thánh Grêgôriô là điểm nối giữa thời các giáo phụ với thời các giáo hoàng, giữa vinh quang của thành Roma lịch sử với vinh quang của kinh thành Thiên Chúa.

          Và trong Thánh Lễ hôm nay, ta thấy thánh sử Luca đã đề cập tới quyền năng thần linh của Chúa Giêsu tại Caphácnaum. Chúa Giêsu tỏ quyền năng qua lời giảng dạy, qua các phép lạ, qua việc xua trừ tà thần… để minh chứng rằng: không những Thiên Chúa đang ở với Ngài, mà chính Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến, là Đấng "Thiên Chúa ở cùng" con người. Vì thế, Ngài dùng quyền năng duy chỉ tìm kiếm cho vinh quang Cha Ngài và hoàn tất ý định của Thiên Chúa Cha mà thôi.

          "Ngài xuống Caphácnaum, một thành miền Galilê". Thánh sử Luca giới thiệu về địa điểm hoạt động trong một ngày điển hình của Chúa Giêsu tại thành này như tóm lược hoạt động cứu thế của Ngài. Ở đây, chúng ta không thấy thánh sử nhắc đến các môn đệ, vì ông chưa thuật lại việc kêu gọi các đệ tử. "Ngày sabát, Chúa Giêsu giảng dạy dân chúng", đó là thói quen của Chúa Giêsu khi Ngài đến hội đường trong các dịp lễ hội "Ngài giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh"(4, 15). "Dân chúng sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Ngài có uy quyền", không như các kinh sư khác, dân chúng nhận ra quyền năng trong chính lời giảng dạy của Chúa Giêsu, khiến họ xầm xì, bàn tán và ngạc nhiên. Lời nói của Ngài có sức mạnh lạ thường. Lời đầy quyền năng và lời trừ quỷ thần ô uế kế tiếp là một trong những biểu hiện của lời quyền năng ấy. Giáo huấn và chữa lành có liên hệ mật thiết với nhau.

          "Trong hội đường, có một người bị quỷ thần ô uế nhập". Người Do Thái ưa dùng từ "thần ô uế" nghĩa là xấu xa. Điều đó chỉ rõ sự đối kháng giữa sức mạnh ác thần và sức mạnh Thánh Thần. Ở đây, thánh sử Luca viết về một người bị quỷ ô uế nhập. Việc chữa lành đầu tiên của Chúa Giêsu sau khi Ngài giảng dạy dân chúng là thực hiện việc trục xuất quỷ ô uế này, giải thoát con người khỏi sự kiềm chế của sự dữ. Quỷ ô uế la to "Ông Giêsu Nagiaret…. ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao?...ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa".

          Qua và với lời này, chúng ta thấy tên quỷ nhận ra người trừ tà là ai và  biết rõ sứ vụ của Ngài, nên nó chống cự lại. Nó tự hỏi đã đến giờ thế giới của sự ác, của tối tăm, của ma quỷ sụp đổ chưa ? Chúa Giêsu có đến tiêu diệt nó sớm quá chăng? có trước thời hạn không? Tên quỷ này còn biết danh xưng của Chúa Giêsu "Đấng Thánh của Thiên Chúa".

          Ở đây không phải là lời tuyên xưng đức tin, nhưng như một lời cám dỗ về địa vị, về thiên tính của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không muốn quỷ nói ra danh xưng đó vì  "giờ" của Ngài chưa đến, nên Ngài quát mắng tên quỷ "Câm đi! " và ra lệnh "Hãy xuất khỏi người này!". Đây là một lời hăm dọa và cũng là lệnh truyền. Lời Ngài có uy quyền khiến ma quỷ phải tuân lệnh. Quỷ vật người ấy ngã xuống, nhưng không làm hại người bệnh và xuất ra. Quỷ xuất ra cách công khai. Mọi người đều thấy và nhận ra quyền năng trong lời nói của Chúa Giêsu "Lời ấy là thế nào? Ông ấy lấy uy quyền và thế lực mà ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải xuất". Dân chúng đã nhận ra sức mạnh của Lời phát xuất từ con người Chúa Giêsu. Lời chữa lành. Lời xua trừ tà thần. Lời giải phóng con người khỏi sự khống chế của sự dữ. Lời đem lại sự sống. Và họ đồn thổi danh tiếng Ngài ra khắp vùng đó.

          Trong cuộc sống ngày nay, giữa một xã hội thực dụng và tội lỗi, tà thần lan tràn và len lỏi vào từng ngóc nghách của cuộc sống, tâm hồn của con người. Càng ngày càng có nhiều người tâm thần không ổn định, nội tâm bị cưỡng bức. Họ tìm đến y học, pháp thuật, ma thuật… mà quên đi Đấng có quyền xua trừ ma quỷ và chữa lành nội tâm họ. Họ tìm đến con người để được chữa lành thể xác nhưng lại quên đi một vị thần linh, một vị Thiên Chúa uy quyền, toàn năng trên mọi người, mọi vật, có quyền sinh tử cả xác và hồn. Con người ngày càng bị lệ thuộc, bị khống chế bởi tà thần khác nhau như : danh vọng, địa vị, tiền bạc, hưởng thụ… đến khi không được đáp ứng theo nhu cầu hoặc cuộc sống không có lối thoát, họ tìm cách kết liễu cuộc đời.

          Và rồi trong cuộc sống thường ngày, ta có thể bị cám dỗ lợi dụng người khác để mưu cầu lợi ích riêng mình. Với trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã không vì tư lợi mà dửng dưng trước nỗi đau của người bị quỷ nhập, trái lại Chúa Giêsu đã bỏ qua lợi ích riêng để giải thoát người bị quỷ nhập. Noi theo thầy Giêsu, ta hãy sống không chỉ vì lợi ích riêng mình mà còn vì lợi ích của mọi người.

Hue Minh 2019

 

 

Thứ Tư Tuần XXII Thường Niên.

Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh, Trùm họ (U1838), Tử đạo.

Cl 1,1-8; Lc 4,38-44.

LÒNG TRẮC ẨN CỦA THIÊN CHÚA

          Tin Mừng hôm nay phác họa lại một ngày sống tiêu biểu của Chúa Giêsu. Vào buổi sáng, Người vào hội đường để giảng dạy và chữa lành một người bị thần ô uế ám (Lc 4,31-37).

          Sau đó, khoảng gần trưa, Người rời hội đường đến nhà ông Simon. Thấy mẹ vợ ông Simon đang bị sốt nặng, Người ra tay cứu chữa. Xế chiều, Người đặt tay chữa lành tất cả các bệnh nhân trong làng được đưa đến với Người. Sáng sớm ngày hôm sau, Người ra nơi thanh vắng để cầu nguyện (Mt 1, 35). Ngài làm việc luôn tay luôn chân, không quản ngại gian lao vất vả vì Nước Trời và ích lợi mọi người. Những hy sinh, cống hiến đó chắc chắn phải phát xuất từ một trái tim đầy tình yêu thương, một tâm hồn đầy lòng trắc ẩn.

          Trong Tin Mừng, ta tìm thấy các quy chiếu khác nhau về Trái Tim Chúa Giêsu. Chẳng hạn có một trích đoạn mà qua đó chính Đức Kitô đã nói: “Hãy đến với Tôi, tất cả anh em là những người lao nhọc và gồng gánh nặng nề, Tôi sẽ cho anh em được nghỉ ngơi. Hãy mang lấy ách của Tôi, và hãy học với Tôi, vì Tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 28-29).

          Tường thuật của Gioan về cái chết của Đức Kitô là cơ bản nhất. Thật thế, Thánh sử Gioan làm chứng cho điều mình đã thấy trên đồi Canve, nghĩa là, khi Đức Giêsu đã chết, một tên lính lấy ngọn giáo đâm thủng cạnh sườn Người, và từ vết thương này, máu và nước đã chảy ra (Ga 19, 33-34).

          Qua dấu chỉ bề ngoài có vẻ ngẫu nhiên này, Gioan đã nhận thấy lời các Tiên tri đã được ứng nghiệm: Từ Quả Tim của Đức Giêsu, Con Chiên chịu sát tế trên Thánh giá, đã tuôn trào ơn tha tội và sự sống cho mọi người.  Nhưng lòng nhân từ của Đức Giêsu không chỉ là một cảm xúc, mà là một sức mạnh mang lại sự sống, phục sinh con người!

          Còn nhớ trong giai thoại về bà goá làng Naim, nói cho chúng ta (Lc 7,11-17). Cùng với các môn đệ của mình, Đức Giêsu đến Naim, một ngôi làng tại Galilê, ngay đúng lúc một đám tang đang đi qua. Người ta đem một thanh niên, đứa con duy nhất của một bà goá, đi mai táng. Ngay lúc đó, cặp mắt của Đức Giêsu nhìn thẳng vào người mẹ đang đầm đìa nước mắt. Thánh sử Luca nói: “Và khi Chúa thấy bà, Người động lòng cảm thương bà” (c. 13). “Lòng trắc ẩn” này là tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, đó là lòng nhân từ, nghĩa là thái độ của Thiên Chúa khi tiếp xúc với cảnh khốn cùng của con người, với cảnh cơ cực của chúng ta, với nỗi đau khổ của chúng ta, với nỗi thống khổ của chúng ta. Từ “lòng trắc ẩn” trong Kinh Thánh làm cho chúng ta nhớ lại dạ của người mẹ. Thật thế, người mẹ cảm thấy một phản ứng đặc biệt khi đối diện với sự đau khổ của con cái mình. Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa cũng yêu chúng ta như thế đó.

            Khi Chúa Giêsu đến nhà mẹ vợ ông Phêrô, bà đang sốt nặng và bà không thể cầu xin Chúa Giêsu chữa lành cho mình. Trình thuật nói “họ xin Ngài chữa cho bà”, họ ở đây chắc hẵn là những nguời thân của bà, những người hàng xóm láng giềng với bà; chính nhờ lời cầu xin của họ, hay nói đúng hơn nhờ lòng tin của họ mà Chúa Giêsu đã cứu chữa bà. Cũng vậy “Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người.  Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ”. Những người được chữa lành này, ta thấy cũng không phải bởi sự cầu xin của chính họ, nhưng là của những người đưa họ đến với Chúa Giêsu.

          Chắc hẵn, ở nơi chính những bệnh nhân ấy, họ cũng có lòng tin vào Chúa Giêsu, nhưng chính họ không thể tự mình đến, hoặc có thể họ không dám đến vì những mặc cảm nơi mình, hoặc cũng có thể là chưa đủ tin vào quyền năng Thiên Chúa. Nhưng điều đáng nói ở đây là, những người được chữa lành ở ngôi nhà nhỏ hôm ấy có một sự cộng tác rất tích cực của những người khác, những người biết dẫn người khác đến với Chúa và dẫn Chúa đến với họ. Cuộc sống nơi mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, luôn được mời gọi để cầu nguyện cho người khác, hướng dẫn người khác đến với Chúa và giúp họ cảm nhận được tình yêu thương của Chúa.

          Bệnh tật phần hồn thì quan trong hơn bệnh tật phần xác, vì nó ảnh hưởng đến vận mạng đời đời của ta, nên khi ta xin Chúa chữa bệnh phần xác thì đừng quên xin Chúa chữa trị các tính mê tật xấu, đam mê xác thịt, tội lỗi của ta, và ta mau mắn trở lại với Chúa, sống con người mới. Ta không những cầu xin cho mình, và phải biết cầu xin cho người khác nữa. Sức mạnh để ta chiến thắng sự dữ và ma quỷ là ở nơi danh Chúa, nên ta cần cầu nguyện luôn, cần gắn bó với Chúa mới đủ sức chống trả với sự dữ, lướt thắng mọi cám dỗ của ma quỷ thế gian và xác thịt, vì chúng luôn luôn hoành hành quấy nhiễu ta.

          Và rồi ta phải nhìn nhận mọi ơn lành Chúa ban cho ta, mà khơi dậy lòng biết ơn cách thiết thực bằng việc thờ phượng Chúa và phục vụ tha nhân, qua việc bổn phận hằng ngày và chu toàn công tác tông đồ truyền giáo, tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng, rao giảng ơn cứu độ, chính là rao giảng Nước Thiên Chúa và triều đại của Ngài, để đưa mọi người về với Thiên Chúa.

          Chúa luôn luôn đồng hóa mình với những người bệnh tật, những người nghèo đói, những kẻ sa cơ lỡ bước, những người bị cầm tù. Ngài nói: "Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta". Qua cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đem lại cho đau khổ và bệnh tật ý nghĩa và giá trị cứu rỗi.

           Tình yêu chân thật phải được thể hiện bằng hành động. Không thể có một tình yêu thuần túy trong ý tưởng. Ngoài linh hồn là phần thiêng liêng, con người còn có thể xác. Tình yêu dành tặng cho nhau vì thế cũng cần được thể hiện cụ thể ra bên ngoài để giác quan có thể cảm nghiệm. Tình yêu chân thật còn phải mang đến sự hiệp thông vì tự bản chất, tình yêu là thế. Nó đưa mọi người đến với nhau. Đây chính là nét đặc trưng làm nên vẻ đẹp Kitô giáo. Ước chi mọi việc ta làm đều được thúc đẩy và quy hướng về tình yêu, và tình yêu đưa đến hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người.

 

Thứ Năm Tuần XXII Thường Niên.

Thứ năm đầu tháng. Ngày các linh mục.

Cl 1,9-14; Lc 5,1-11.

THEO CHÚA

Mẻ lưới lạ lùng khởi đi từ việc Chúa Giêsu xin ông Phêrô chèo thuyền ra xa bờ một chút (Lc 5, 3a). Với tất cả kinh nghiệm chài lưới của mình, Phêrô đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng ông đã khiêm tốn vâng theo lời Chúa để tiếp tục thả lưới. Mẻ cá mà ông thu được vượt quá sức tưởng tượng của tất cả những ngư phủ đi đánh cá hôm ấy (Lc 5, 6).

Thả lưới nơi vùng nước sâu thường có nhiều rủi ro bởi không biết nơi sâu thẳm đó rủi ro gì đang chờ đợi. Điều rõ ràng thám hiểm vùng nước sâu dành cho người trưởng thành, dám mạo hiểm. Họ không mạo hiểm một mình nhưng có Đức Kitô cùng đồng hành với họ. Môn đệ có kinh nghiệm mẻ cá lớn nơi nước sâu bởi các ông lắng nghe và thực thi điều Đức Kitô phán bảo. Các ông bỏ mọi sự, mẻ cá, cả thuyền lẫn chài bước theo Đức Kitô. Chúng ta cần tin vào tài năng mình, trí không minh, và sức khoẻ trời ban nhưng cần tin vào Đức Kitô nhiều hơn.

Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ thấy được quyền năng giải thoát của Ngài khi thực hiện mẻ cá lạ lùng trước mặt các ông. Chiếc lưới được thả vào lòng biển khơi để vớt cá lên, đó là hình ảnh của công cuộc cứu thoát mà Ngài đang thực hiện. Ngài đến là để lôi kéo con người khỏi vực sâu của tội lỗi và sự dữ. Chính trong ý nghĩa ấy, Chúa Giêsu dùng kiểu nói "đánh lưới người" mà Ngài sẽ trao phó cho các môn đệ và Giáo Hội mà Ngài sẽ thiết lập; trở thành ngư phủ đánh lưới người có nghĩa là tham dự vào công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu.

Qua mẻ cá lạ lùng, Chúa Giêsu muốn chứng tỏ cho các môn đệ thấy rằng tự sức họ, họ không thể làm được gì. Thánh Phêrô đã ý thức được điều đó: "Chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả". Thánh Phêrô không chỉ nói lên cái giới hạn bất toàn của con người, mà còn nhận ra thân phận tội lỗi yếu hèn của mình: "Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi". Ý thức về thân phận ấy và sống cho đến cùng thân phận ấy là cả một cuộc chiến đấu cam go.

Và rồi ta thấy hơn ai hết, thánh Phêrô đã cảm nghiệm được sự yếu đuối mỏng giòn của con người khi chối Thầy; cả cuộc đời ngư phủ đánh lưới người của Phêrô chỉ trở thành hữu hiệu với ý thức ấy. Càng thấy mình yếu hèn, con người càng sống gắn bó với Chúa; càng thấy mình vô dụng, con người càng trở nên hữu hiệu trong quyền năng của Chúa. Ra đi tản mát khắp nơi để trở thành ngư phủ đánh lưới người, tất cả các môn đệ đều nhớ lại bài học của mẻ cá lạ ấy và tâm niệm lời Chúa Giêsu: "Không có Thầy, các con không làm được gì".

      Trong cuộc sống của mỗi người, có thể chúng ta đã nhiều lần trải qua kinh nghiệm thất bại của Phêrô : “Vất vả suốt đêm nhưng không bắt được gì”. Chúng ta cũng cần trải qua kinh nghiệm khiêm tốn vâng lời của Phêrô để thưa cùng Chúa rằng :” Dựa vào lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5, 6b). Phép lạ xảy ra năm xưa vẫn còn tiếp tục tái diễn nơi những tâm hồn nhỏ bé, đơn thành, hết lòng tín thác vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa.

Theo Chúa Giêsu, đó là lời mời gọi trở nên một trong tình yêu Đấng là Thầy là Chúa, theo Chúa Giêsu không phải để được bổng lộc thế gian, nhưng là được Chúa làm gia nghiệp, được thông phần vào mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Đấng làm người làm Chúa. Theo Chúa Giêsu để cùng hiệp thông thả lưới bắt cá, đi theo Chúa Giêsu để được dự phần vào công cuộc cứu các linh hồn với Đấng cứu độ trần gian. Ngày hôm nay, ơn gọi theo Chúa Giêsu vô cùng phong phú, nhưng nét đẹp hoàn hảo nhất vẫn là sự tự do bỏ mình, bỏ tính ích kỷ của mình và mặc lấy tinh thần mới trong Đức kitô. “Vì lời Thầy, tôi sẽ thả lưới, và các ông đã bắt được rất nhiều cá”. Vì tình yêu của Đức Kitô, người môn đệ sẽ nhận ra sự bất toàn của mình, và sức mạnh của tình yêu kitô mới thực sự trở nên trọn vẹn trong đời sống nơi mỗi người theo Chúa.

Người môn đệ theo Đức Kitô thời nào cũng phải đối diện với nhiều khó khăn, nhiều người môn đệ vẫn đang than thở: thưa thầy, chúng con vất vả cực nhọc suốt đêm suốt ngày mà chẳng bắt được con cá nào ! Hẳn Chúa Giêsu Ngài vẫn đang khích lệ, đang chỉ đạo hãy kiên nhẫn, hãy nhận lấy tình yêu của tín thác, hãy sống bao dung trong phục vụ, hãy để Chúa làm chủ cuộc đời của mình. Phêrô và các bạn phải bỏ ý riêng để vâng nghe ý kiến của Thầy, đẩy thuyền ra chỗ nước sâu thả lưới, họ đã có kinh nghiệm thế nào là từ bỏ mình. Tiền nhân chúng ta nói rất có lý: người xuất chúng là người biết chấp nhận sự thật, và đương đầu với khó khăn cách kiên cường. Người theo Chúa sẽ được biết mình là ai, sẽ biết sống liên đới cậy trông, khiêm tốn để nghe, để hiểu, để chu toàn bổn phận cách tốt đẹp nhất.

Cộng tác với Đức Kitô các tông đồ biết rõ Đức Kitô ban cho sức mạnh khi các ông mệt mỏi, thất vọng Ngài ban hy vọng, tay trắng Ngài ban thuyền cá đầy, đi trong tối tăm Ngài ban ánh sáng. Buồn sầu Ngài là suối nguồn yêu thương. Khi không biết phải làm gì đến cùng Đức Kitô Ngài ban ơn soi sáng. Tin vào Đức Kitô, Ngài sẽ đón tiếp khi chúng ta sang bên kia thế giới, bởi Ngài là chủ của thế giới bên kia. Chúng ta không đi đơn độc nhưng có Đức Kitô cùng đồng hành và Ngài sẽ ban cho chúng ta tình yêu vô tận và lòng vị tha vô bờ.

Còn cả một thế giới mênh mông chưa biết Chúa vì còn quá nhiều người tưởng rằng mình vô dụng và không ra tay cộng tác với Chúa. Chúa đang cần chúng ta đấy ! Chúa cần những bà mẹ biết lo lắng dạy con biết Chúa. Chúa cần những người cha nêu gương sáng cho con sống đạo. Chúa cần những cụ già ngày đêm cầu nguyện cho việc truyền giáo, Chúa cần những bệnh nhân chấp nhận đau khổ cho các linh hồn. Chúa cần những người biết yêu thương mà không cần đòi hỏi lại. Chỉ cần chúng ta từ bỏ mọi sự để theo Ngài.

huệ Minh

 

Thứ Sáu Tuần XXII Thường Niên.

Thứ Sáu đầu tháng. Ngày đền tạ Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu.

Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự, Linh mục (U1838), Tử đạo.

Cl 1,15-20; Lc 5,33-39.

ĂN THEO THUỞ - Ở THEO THỜI

Thời đại nào cũng có sự phân biệt và giằng co giữa cái mới và cái cũ. Có những người luôn chống lại với cái mới và tìm mọi cách để bảo vệ cái cũ như các Biệt-phái và Kinh-sư hôm nay. Chúa Giêsu không hoàn toàn chống lại những cái cũ của họ vì có những cái cũ tốt cần được giữ lại, nhưng Chúa muốn cho họ chấp nhận những cái mới để kiện toàn những cái cũ, hay lọai bỏ đi những cái cũ không hay. Nhưng để có thể chấp nhận những cái mới, họ cần có một tâm hồn hay trái tim mới. 

Chúa Giêsu mang đến cho con người kỷ nguyên mới, kỷ nguyên ơn cứu độ và tình thương của Thiên Chúa. Vì vậy, những điều luật cũ, truyền thống khắt khe và nhiều trường hợp sai lệch của Cựu Ước không còn phù hợp với Tin Mừng Tân Ước mà Chúa Giêsu mang lại.

“Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ, vì như vậy, không những họ xé áo mới, mà miếng vải áo mới cũng không ăn với áo cũ.” Khi vá áo, con người thường chọn miếng vá từ những vải dư thừa hay áo cũ chứ không ai dại cắt miếng vá từ áo mới. Không những thế, họ còn phải chọn miếng vá nào cùng mầu và cùng độ giãn với áo cũ; nếu không, độ giãn của miếng vá mới sẽ làm cho chỗ rách tệ hại hơn.

 “Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì phải đổ vào bầu mới. Cũng không ai uống rượu cũ mà còn thèm rượu mới. Vì người ta nói: “Rượu cũ ngon hơn.”” Bầu da mới có độ co giãn trong khi bầu da cũ đã khô và mất hết độ co giãn. Rượu mới có rất nhiều áp suất, đó là lý do tại sao phải đổ vào bầu da mới. Các Biệt-phái và Kinh-sư cũng giống như những người thích uống rượu cũ, vì họ luôn bảo vệ những truyền thống và quay lưng lại với những thay đổi mới.

Khi Chúa Giêsu và các môn đệ đang dự tiệc tại nhà ông Lêvi – người thu thuế được Chúa hoán cải, những người Pharisêu và những kinh sư mới nói với Người rằng: “Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pharisêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống!” Ðức Giêsu trả lời: “Chẳng lẽ các ông lại có thể bắt khách dự tiệc cưới ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi, ngày đó, họ mới ăn chay” (Lc 5, 33-35).

Người ta không ăn chay trong đám cưới, không nhậu nhẹt trong đám tang, không lang thang nơi chiến trận, không hờn giận trong ngày vui, không lui cui khi khẩn cấp, không hấp tấp khi gặp việc hệ trọng… Có những điều thật bình thường trong cuộc sống, theo lẽ thường tình ai cũng cư xử như vậy. Vậy mà lại xảy ra điều trái khoáy là nhiều Ki-tô hữu đang sống với chàng rể là Đức Ki-tô, nhưng với bộ mặt đưa đám! Do đâu mà cuộc đời bạn u ám như sương mù Đà Lạt? Do mây mù bệnh tật, thất bại trong công ăn việc làm, “ngậm bồ hòn làm ngọt” trong đời sống vợ chồng con cái ư? Do chán nản buồn phiền vì cuộc sống đơn điệu không lý tưởng ư? Đức Giê-su là chàng rể đem niềm vui bất tận, là người thầy chỉ dạy lý tưởng sống cao đẹp, là người anh sống thân tình với đàn em. Tin vào lời Ngài và chọn sống theo Ngài, mây mù nào cũng sẽ tan, niềm vui sẽ luôn ngự trị trong tâm hồn và gia đình chúng mình.

Các môn đệ là khách dự tiệc, còn Chúa Giêsu là chàng rể. Không ai dự tiệc cưới mà trang điểm sự rầu rĩ trên khuôn mặt, vả lại cũng chẳng  ai dự tiệc cưới mà lại ăn chay. Vì tiệc cưới là một bữa tiệc tràn ngập không khí vui vẻ – hạnh phúc. Khi nào tiệc cưới vẫn còn sự hiện diện của “Chàng Rể”, thì khi ấy tiệc cưới vẫn diễn ra trong niềm vui của khách dự tiệc. Bởi lẽ, chính Chúa Giêsu là nguồn vui đích thực. Khi ta có Chúa, trong ta tràn đầy niềm vui, và “Chàng Rể” sẽ chẳng bao giờ còn “bị đem đi” nữa, vì “Chàng Rể” đã chiến thắng cái chết và phục sinh trong vinh quang, mở ra cho ta một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của niềm vui dù ta có phải chịu đựng bao nhiêu thử thách.

Đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu, chúng ta hãy đối chiếu thực trạng đời sống của mình với Lời Chúa, để từ đó nhận ra và sửa đổi những khuyết điểm, lầm lạc của mình và quyết tâm thay đổi để phù hợp với Tin Mừng, hầu lãnh nhận ơn cứu độ Chúa ban.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại niềm tin trong cuộc sống hàng ngày. Cuộc sống của chúng ta hằng ngày hay cuộc sống của nhiều người ngày xưa thường bị những cơn cám dỗ về sự thỏa hiệp lôi kéo. Một đàng chúng ta muốn làm môn đệ Chúa Kitô, nhưng đàng khác lại muốn đeo đuổi những gì nghịch với Tin Mừng của Ngài. Đi theo Chúa Kitô, nhưng lại không muốn sống theo giáo huấn Chúa dạy.

 

Hue Minh 2019 September 11, 2019

 

Thứ Bảy Tuần XXII Thường Niên.

Cl 1,21-23; Lc 6,1-5.

HÃY BAO DUNG – ĐỪNG SOI MÓI

Vào thời Chúa Giêsu, không thiếu những người nhân danh luật pháp để triệt hạ và chối bỏ người khác. Và rồi câu chuyện được ghi trong Tin Mừng hôm nay là một điển hình cho biết bao trường hợp nhân danh pháp luật để đè bẹp con người. Chúa Giêsu đã thách thức cho đến cùng thái độ như thế.

Thật vậy, Chúa Giêsu không phải là một con người sống ngoài luật pháp, Ngài đến để kiện toàn lề luật. Nhưng sở dĩ Chúa Giêsu chống lại luật pháp là bởi vì luật pháp đó phi nhân hoặc chối bỏ con người. Các môn đệ vì đói nên bứt bông lúa mà ăn, thật ra không phải là vi phạm ngày Hưu lễ. Không có khoản luật nào trong các sách luật xem một hành động như thế là vi phạm ngày Hưu lễ; nếu có thì chỉ là vi phạm một trong 39 hành động mà các nhà chú giải Do thái đã thêm vào qui định của ngày Hưu lễ mà thôi.

Hơn nữa, Chúa Giêsu đã dẫn chứng hành động của Vua Ðavít và Ngài khẳng định: hành động của các môn đệ không hề vi phạm ngày Hưu lễ. Lề luật vì con người, chứ không phải con người vì lề luật. Ðó là ý nghĩa của luật pháp mà Chúa Giêsu nêu bật trong cuộc tranh luận với những Biệt phái. Khi luật pháp chống lại con người, nghĩa là chối bỏ phẩm giá và quyền lợi cơ bản của con người, thì luật pháp đánh mất ý nghĩa và không còn lý do để hiện hữu nữa; trong trường hợp đó, dĩ nhiên không tuân hành luật pháp là một thái độ thích đáng.

Người Do Thái giữ rất nghiêm luật nghỉ ngày Sa-bát; đó là ngày nghỉ, không ai được phép lao động, vì Thiên Chúa đã nghỉ ngơi và thánh hoá ngày đó (St 2, 2-3). Việc các môn đệ của Chúa Giêsu bứt lúa rồi vò trong tay mà ăn bị người Pha-ri-sêu xem như là đã “gặt lúa” và “xay lúa”, một việc bị cấm trong ngày Sa-bát, thì quả thật là quá đáng. Quả là các ông Pha-ri-sêu này đã “chẻ sợi tóc làm tư” khiến luật nghỉ việc ngày Sa-bát đã trở nên gánh nặng và là cái cớ để bắt bẻ, kết án người khác. Chúa Giê-su đã lên án thái độ đó vì nó làm con người thành nô lệ cho lề luật, và Ngài tuyên bố: “Con Người làm chủ ngày Sa-bát”.

Những người Biệt phái Do Thái thì thủ cựu và hẹp hòi. Họ tỉ mỉ giữ luật, và nếu cần phải hy sinh một giá trị nào đó của con người cho một việc giữ luật thì họ sẵn sàng hy sinh. Rõ ràng họ quá sai lầm trong việc đánh giá đâu là chính yếu và đâu là tùy phụ trong việc chu toàn Lề Luật của Chúa: Nhiều khi họ lấy cái phụ làm cái chính, và lấy cái chính làm cái phụ. Chúa Giêsu thì không như thế. Ngay từ đầu, Ngài đã quan niệm rằng ngày hưu lễ được lập ra vì loài người, chứ không phải con người vì ngày hưu lễ.

Khi luật pháp chối bỏ hoặc chà đạp những quyền cơ bản của con người, thì luật pháp đó cũng xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Thánh Phêrô và thánh Gioan đã hành động một cách cương quyết khi dõng dạc tuyên bố trước Công nghị Do thái: "Thà vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người". Chẳng hạn, khi luật pháp một quốc gia cho phép phá thai, nghĩa là tước đoạt quyền sống của con người, thì chống lại luật pháp đó là một nghĩa vụ. "Thà vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người". đó là nguyên tắc nền tảng hướng dẫn người Kitô hữu trong các quan hệ xã hội của họ. Chúa Giêsu luôn đòi hỏi các môn đệ của Ngài một thái độ dứt khoát tận căn: không thể vừa vâng lời Thiên Chúa, vừa chạy theo những gì chống lại Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã chỉ cho biết luật tối thượng tôn thờ Thiên Chúa là nhằm kiến tạo lại mối tương giao giữa Thiên Chúa và con người, mối tương giao cha-con mà ngay từ ban đầu trong công trình tạo dựng Thiên Chúa đã thiết lập. Thật vậy, khi tạo thành trời đất muôn loài muôn vật trước lúc tạo dựng con người chính là Thiên Chúa đã chuẩn bị mọi thứ cho con người, để khi con người hiện diện họ có đủ mọi thứ để sinh sống. Việc chăm lo như thế không là việc của người cha lo cho con cái đó sao? Và khi tạo dựng con người Thiên Chúa đã cho con người dự phần vào sự sống của Ngài, như người cha trao ban sự sống cho người con, Thế nhưng, nguyên tổ đã không nhận ra mối tương quan cha-con giữa Thiên Chúa với con người nên đành tâm bẻ gãy mối tương qua qua hành vi chống lại Thiên Chúa bằng việc bất tuân lệnh truyền của Ngài.

Chúa Giêsu đã đến khai mở con đường yêu thương. Chúa tha thứ và thương xót những hối nhân. Chúa gọi một Phêrô còn nông nổi và một Mátthêu còn dính bén vật chất. Chúa không ngại ăn uống chia sẻ cuộc sống với người tội lỗi, Chúa còn tha thứ cho cả kẻ giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34b). Chúa lên án cái nhìn “bới lông tìm vết”, “vạch lá tìm sâu” và thói quen chỉ trích, giả hình của những người Biệt phái.

          Theo gương Chúa Giêsu, chúng ta hãy có lòng thương xót và biết nhìn người khác bằng tinh thần cảm thông, tha thứ. Ước chi chúng ta mang lấy ánh mắt và tầm nhìn của Chúa để luôn biết yêu thương và chấp nhận nhau.

 

 

huệ minh- September 11, 2019