Suy Niệm của Huệ Minh

Chuá nhật 29 Thường Niên, năm C


 

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.

Chúa Nhật Truyền Giáo.

Xh 17,8-13; 2Tm 3,14-4,2; Lc 18,1-8.

LÊN ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO

          Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo, nên có thể nói được rằng không bao giờ Giáo Hội thôi truyền giáo. Bốn phần năm dân số địa cầu chưa biết Chúa, nên Giáo Hội phải truyền giáo đã đành, nhưng ngay cả một phần năm đã biết Chúa, Giáo Hội cũng phải tái truyền giáo nữa. Xem như thế, truyền giáo vừa là sứ mạng, vừa là số mạng, tức là sự sống còn của Giáo Hội. Và tinh thần truyền giáo ấy một khi được hun đúc đều đặn bằng cầu nguyện và hoạt động, ta có quyền hy vọng khi Chúa Kitô đến, Người vẫn thấy niềm tin trên mặt đất.

          Hôm nay cùng với Giáo Hội ta dâng Lễ cầu nguyện cho việc truyền giáo, chúng ta nghe âm vang lời mời gọi của Chúa vẫn còn vang vọng tới hôm nay: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo". Chúa không nói riêng một ai. Chúa mời gọi tất cả. Chúa không đòi hỏi khả năng, bằng cấp, học vị mà chỉ cần có nhiệt huyết làm tông đồ cho Chúa.

          Việc truyền giáo, Chúa không đòi hỏi người truyền giáo phải hiểu biết tín lý thần học sâu xa, hay luân lý uyên thâm, Chúa chỉ cần có lòng quảng đại dấn thân mở mang nước Chúa. Chúa đã sai 72 môn đệ ra đi với đôi bàn tay trắng, thế mà khi trở về ai cũng vui mừng vì thành quả họ đã đạt được. Chúa đã thưởng công cho mỗi người như nhau, không phân biệt người đến sớm, kẻ đến muộn, người đạo gốc hay mới theo đạo. Từ người thợ giờ thứ 9 cho tới giờ thứ 11 đều được ân thưởng theo lòng nhân từ của Chúa.

          Sứ mạng loan Tin Mừng là một bổn phận phải làm chứ không phải là việc tuỳ thích. Thánh Phao-lô thú nhận: "đối với tôi rao giảng Tin mừng không phải là lý do để tự hào, nhưng là một sự cần thiết buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng." (1 Cr 9, 16).

          Việc loan Tin Mừng là một bổn phận bắt buộc. Chỉ khi nào chúng ta tự khai trừ mình ra khỏi Hội Thánh, tự tách mình ra khỏi Thân Thể Chúa Giêsu, thì chúng ta mới có thể cho phép mình ngừng loan báo Tin Mừng.

          Truyền giáo là loan báo Tin Mừng về tình yêu của Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu đã làm. Ngài không những đã hăng say loan báo tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người Ngài gặp gỡ, mà còn hy sinh mạng sống để làm chứng cho tình yêu đó. Hơn thế nữa, Ngài mạc khải tình yêu đó, nhập thể tình yêu đó nơi chính bản thân mình. Ngài là hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa. Nơi Ngài tình yêu đó đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế sứ điệp Tin Mừng Nước Thiên Chúa trở thành Tin Mừng Phục Sinh, Niềm Hy vọng cho toàn thể nhân loại.

          Truyền giáo không thể chỉ đi lễ, đọc kinh cầu nguyện là xong bổn phận chứng nhân cho Chúa. Nếu như thế mới chỉ là hành vi trả lại công bằng cho Chúa, vì việc tạ ơn là hành vi đền đáp lại ân ban của Thiên Chúa dành cho con người. Truyền giáo không phải là việc tuân giữ các giới răn của Chúa. Nếu như thế mới là giữ đạo chứ chưa truyền đao. Truyền giáo không phải là nói thật hay, thuyết trình thật hùng hồn là có thể đem nhiều người về với Chúa. Nếu như thế mới chỉ là tiếp thị chứ chưa mang đạo vào đời như muối như men ướp mặn trần gian.

          Trong thông điệp "khánh nhật truyền giáo 2006", Đức Thánh Cha Bênedictô 16 đã viết: "Sứ mạng truyền giáo, nếu không được định hướng bởi Lòng mến, nếu không phát sinh từ một hành động sâu xa của tình yêu thần thiêng, thì sứ mạng đó liền bị rút gọn về chỉ còn như là một hành vi nhân ái và xã hội không hơn không kém. Tình yêu mà Thiên Chúa có đối với mỗi người, kết thành trung tâm của kinh nghiệm sống và loan báo Phúc Âm".

          Như vậy, Đức Thánh Cha đã tái khẳng định cách thức mà Chúa Giêsu muốn chúng ta đi đó là thực hành bác ái. Không có lòng mến thì không thể trở thành nhân chứng cho niềm tin của mình. Yêu Chúa luôn đi liền với yêu mến tha nhân. Và thánh Phaolô còn quả quyết "Lòng mến chính là sợi giây ràng buộc chúng ta nên một với Đức Kitô".

          Khi đi truyền giáo, hãy trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chúa dạy ta: "Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép" để ta biết sống khó nghèo. Để ta đừng cậy dựa vào tài sức riêng mình. Để ta đừng cậy dựa vào những phương tiện vật chất. Biết mình nghèo hèn yếu kém, biết những phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối, ta sẽ biết trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chính Chúa sẽ làm cho việc truyền giáo có kết quả.

          Truyền giáo là một công việc đòi hỏi kiên trì. Vì việc truyền giáo có nhiều thất bại hơn thành công, có nhiều mệt nhọc hơn vui thích, nên việc truyền giáo đòi hỏi rất nhiều kiên trì. Kiên trì khi đã gặp thất bại. Kiên trì khi đã chán nản, mệt mỏi rã rời. Kiên trì khi gặp những trắc trở. Như lời thánh Phaolô khuyên dạy: "Hãy rao giảng Lời Chúa. Hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện" (2Tim 4,2).

          Các Tông đồ thật kiên trì, mặc dù đã thất bại sau suốt một đêm vất vả, các ngài vẫn tiếp tục ra khơi theo lệnh Chúa truyền. Trong quá khứ, ta đã gặp nhiều thất bại trong việc truyền giáo. Hôm nay Chúa lại mời gọi ta hãy ra khơi, hãy lên đường truyền giáo. Ta hãy mau mắn đáp lời Chúa mời gọi, kiên nhẫn làm việc trên cánh đồng truyền giáo, bất chấp mọi thất bại, bất chấp mọi chán nản.

          Trong việc cầu cho công cuộc truyền giáo cũng vậy, chúng ta thường cầu với Chúa rằng: "Lạy Chúa, xin cho có đông người, ngoại trừ con, biết quảng đại lên đường đi khắp muôn phương loan báo Tin Mừng cứu độ". Nếu ai cũng cầu xin kiểu đó, nghĩa là cầu cho người khác lên đường, ngoại trừ bản thân mình, thì cánh đồng truyền giáo sẽ vắng bóng thợ gặt, tìm đâu ra người đi loan báo Tin Mừng.

          Nhà truyền giáo phải hết sức thận trọng để luôn trung thành với giáo huấn cả Đức Kitô, hiệp nhất với toàn thể Giáo Hội và ý thức mình chỉ là "người được sai đi". Trong mọi hoàn cảnh, thuận lợi hay không thuận lợi, nhà truyền giáo luôn xác tín rằng tự đáy lòng mọi người đều mong chờ được đón nhận chân lý về Thiên Chúa, về con người và về con đường cứu độ. Như Đức Kitô xưa, nhà truyền giáo can đảm rao giảng Lời Chúa. Nếu nhà truyền giáo có bị xiềng xích, bị tù đầy hay bị mất mạng sống vì đức tin... thì đó là một lời loan báo Tin Mừng hùng hồn và có sức thuyết phục nhất

          Vậy thì lời cầu xin thiết thực nhất mà mỗi người chúng ta phải cầu xin với Chúa là: "Lạy Chúa, tuy con bất xứng, nhưng xin hãy sai con đi làm thợ gặt cho Chúa ngay hôm nay."

 

Thứ Hai Tuần XXIX Thường Niên.

Rm 4,20-25; Lc 12,13-21.

HÃY LÀM GIÀU TRƯỚC MẶT CHÚA

          Của cải vật chất làm cho cuộc sống thêm dồi dào, phong phú, đặc biệt trong xã hội hiện nay. “Có tiền mua tiên cũng được” người ta thường nói thế. Con người được đánh giá qua dáng vẻ bên ngoài: quần áo, giày dép, nón mũ, ngay cả cái kẹp tóc...cũng xài hàng hiệu. Có nhiều người không có, phải đi vay mượn, thậm chí đi trấn lột kẻ khác, để có xe chạy, tiền xài...

          Với Tin Mừng hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu kể một dụ ngôn về một người phú hộ chuyên tâm làm việc, tích trữ của cải và ở phần kết, Ngài bảo người phú hộ ấy là người ngu dại. Chúng ta có thể nói rằng ông là một người làm kinh tế giỏi. Bằng chứng là ông đã làm việc, quản lý ruộng nương để sinh ra nhiều hoa lợi. Ông cũng là người có tầm nhìn phát triển sự nghiệp: ông thầm tính phải mở rộng kho hơn nữa để có thể chứa được nhiều thóc lúa và của cải ngày một nhiều hơn của ông.

          Và hẳn ta còn nhớ và rất nhớ khi nói về vật chất của cải : “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.” (Lc 12, 20-21)

          Với kết quả đạt được như thế, rất có thể, nhiều người sẽ nể phục và ao ước được như ông. Và chính ông cũng hài lòng và nhủ lòng tận hưởng thành quả ấy. Vậy tại sao Thiên Chúa lại nói ông là “ngu dại”? Câu trả lời là “đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai? Vì kẻ tích trữ của cải cho mình, mà không làm giàu trước mặt Chúa” (Lc 12, 20 – 21). Như thế, điểm chính yếu khiến ông bị coi là “ngu dại” không phải do cách ông kiếm được của cải, mà là do ý hướng sử dụng của cải của ông hoàn toàn chỉ vì lòng vị kỷ, tận hưởng riêng cho bản thân, mà không hề quan tâm đến cần phải chia sẻ, giúp đỡ người khác.

          Ta có lẽ đã nghe đoạn Lời Chúa này nhiều lần rồi, nhưng đã có lần nào ta thắc mắc: “người phú hộ kia” mà Chúa Giêsu muốn nói đến là ai vậy? Phải chăng, Chúa muốn nói đến chúng ta, “người phú hộ thời nay”? Bởi lẽ, ta có thể đang sở hữu rất nhiều điều quý giá như: sức khỏe, kiến thức, điều kiện sống, của cải vật chất,…

          Chúa Giêsu khuyên dạy con người đừng mải mê thu tích của cải vật chất, nhưng trên hết cần biết ‘làm giàu trước mặt Thiên Chúa’. Trước khi giảng dậy cho người khác, Chúa đã sống điều mình dậy. Trong suốt cuộc đời công khai loan báo Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu không bám víu hay bận tâm đến của cải vật chất. Ngài đã sống thân phận của“Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8, 20).

          Tuy thế, ta thấy Chúa Giêsu lại rất giàu lòng thương xót và nhân ái. Ngài chạnh lòng thương những người bé mọn, nghèo khổ và Ngài “chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân” (Mt 4, 23). Đặc biệt hơn, toàn bộ đời sống của Chúa là một lời cầu nguyện. Chúa cầu nguyện để lắng nghe và thi hành theo thánh ý Thiên Chúa Cha. Qua đây, Chúa muốn chúng ta noi gương sống của Ngài, để chúng ta có thể thu tích cho mình một kho tàng đích thực trước nhan thánh Chúa.

          Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy hướng về chính lòng mình để xét xem chúng ta đã và đang sử dụng tài sản mà chúng ta đang sở hữu như thế nào? Tha nhân có nằm trong ý hướng sử dụng tải sản của chúng ta không? Chúng ta có đang sử dụng tài sản để làm giàu trước mặt Chúa không?

          Của cải cần thiết cho đời sống, nhưng Thiên Chúa không muốn chúng ta bảo đảm đời sống và tính mạng của mình bằng việc thu tích tiền của, vàng bạc hay bằng việc mua các loại bảo hiểm ở đời này. Trái lại, Ngài muốn chúng ta biết chia sẻ của cải mình có và giúp đỡ tha nhân ; khi làm việc đừng quên dưỡng nuôi đời sống thiêng liêng để được kết hợp với Thiên Chúa. Và như thế là chúng ta đã ‘làm giàu’ cho cuộc sống của mình ở đời sau. Hãy cảnh tỉnh đừng để chúng ta trở thành ‘đồ ngốc’ giống người phú hộ trong dụ ngôn của bài Tin Mừng.

          Của cải và nhu cầu vật chất là điều cần thiết cho con người, nhưng ham mê của cải đến mức tham lam thì Chúa Giêsu khuyên nên tránh. Nếu không cảnh tỉnh giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, thì đến một lúc nào đó chúng ta sẽ bị cuốn hút vào của cải. Nếu không cảnh tỉnh giữ mình, đến một lúc nào đó lòng tham mê của cải khiến chúng ta không còn giờ cho Chúa, không còn nghĩ đến những người xung quanh và quên luôn việc nhìn lại chính mình. Phải giữ mình tránh mọi thứ tham lam, đó là lời khuyên của Chúa Giêsu về thái độ đối với của cải cần phải tránh.

          Chúa Giêsu còn khuyên thực thi một thái độ tích cực nữa : Phải làm giàu trước mặt Thiên Chúa. Làm giàu trước mặt Thiên Chúa là chia sẻ cho anh chị em của mình. Làm giàu trước mặt Thiên Chúa là dùng của cải đời này để mua tinh yếu thương va lòng nhân nghĩa.

 

Thứ Năm Tuần XXIX Thường Niên.

Rm 6,19-23; Lc 12,49-53.

LỬA GIÊSU

          “Lửa” gợi lên một sức mạnh hủy diệt, tàn phá. “Lửa” mang lại cảm giác ấm áp, êm đềm khi trời đêm giá lạnh. “Lửa” là biểu tượng của sự nhiệt huyết, hết mình cho lý tưởng… Và “lửa” thật sự cao quý khi được thấm chất linh thánh như lời Gioan Tẩy Giả loan báo: “Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3, 16).

          Đừng đùa với lửa, vì lửa có thể thiêu rụi, tàn phá, hủy diệt. Một đốm lửa bé xíu có thể đốt cháy cả một cánh rừng xanh tươi bát ngát, có thể thiêu rụi cả một thành phố, làng mạc, có thể tàn phá công trình của cả một đời người, một thế hệ. Vua Nêrông đã thiêu rụi cả thành Rôma rồi đổ tội cho các Kitô hũu; vua Tần Thủy Hoàng cũng khét tiếng trong vụ “đốt sách chôn nho”…

          Chính vì sức tàn phá ghê ghớm đó của lửa, những hành vi phá phách, tiêu cực và nguy hiểm thường được diễn tả bằng những động từ liên quan đến lửa: “đốt”, “nướng”, “thiêu”, … chẳng hạn, “anh ta đốt hết gia tài vào cờ bạc”, “anh ta nướng cả tỷ bạc cho phi vụ bất chính này”, “anh ta lao vào ma túy như một con thiêu thân”… Cũng chính vì sức tàn phá đó, hình ảnh “lửa” cũng được biểu tượng cho chiến tranh, như chiến tranh khói lửa, chiến tranh lửa đạn, lửa chiến tranh, lửa căm thù…

          Chúa Giêsu không đề cập ở đây thứ lửa “vật chất” đó. Ngài cũng không dùng “lửa” theo nghĩa tiêu cực, như những kẻ chống đối Ngài muốn gán ghép để xuyên tạc chân lý. “Lửa” trong Kinh Thánh Cựu Ước có nghĩa là quyền năng vinh quang của Thiên Chúa, sự xét xử của Thiên Chúa, sự thanh luyện của Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh Tân Ước, “Lửa” có nghĩa là “lòng mong muốn”, là hình ảnh của Chúa Thánh Thần. “Lửa” mà Chúa Giêsu dùng ở đây trước hết có nghĩa là lòng khao khát, thao thức của Ngài để thi hành sứ vụ cứu độ cho muôn dân. Người Việt có câu “nóng lòng như lửa đốt”. “Lửa” ở đây chính là “sự nóng lòng” của Chúa Giêsu muốn hoàn thành cuộc Vượt Qua (chết và phục sinh) để mang ơn cứu độ cho anh em mình. Chính Ngài khẳng định điều này ở câu tiếp theo: “Thầy còn phải chịu một phép rửa và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất!”.

          Như thế, ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã ném vào thế gian chính là ngọn lửa Thần Khí, ngọn lửa tình yêu, tha thứ, ngọn lửa niềm tin và cứu độ. Chính Thần Khí ấy đã mở lòng trí cho các tông đồ thấu hiểu Kinh Thánh. Nay Thần Khí ấy cũng được Chúa Giêsu ban cho hết thảy mọi người phàm (x. Cv 2, 17), để thế gian nhận biết Lời rao giảng của Đức Giêsu là “Lời của Thần Khí và sự sống” (x. Ga, 6, 63). Lời ấy đang vang vọng đến từng ngóc ngách, khu xóm, với niềm khát khao con người mở cửa đón chào.

          Đức Kitô đem lửa tình yêu đến nung nấu thế giới không một chút tình người, không mảy may hy vọng vào sự hiệp thông phổ quát đích thực, không có tinh thần vô vị lợi. Chỉ có lửa đó mới nung nấu lòng người, dẹp tan mọi nghi kỵ hận thù và chiến tranh là những mối nguy cho tình bằng hữu giữa người với người, dân này khác với dân kia.

          Nhưng lửa ấy làm sao bùng cháy lên? Lửa ấy sẽ bùng cháy lên, vì lửa ấy chính là quyền năng của Thiên Chúa; lửa ấy chính là Thánh Thần Thiên Chúa, Thánh Thần tình yêu, Thánh Thần thánh hóa, canh tân, cứu độ. Phải, Chúa Giêsu là “Ánh Sáng thế gian”; Ngài đến để chiếu sáng, để sưởi ấm, để thanh luyện, để tôi rèn thế gian bằng ngọn lửa của Chúa Thánh Thần, như lời tiên tri Gioan đã loan báo: “Có Đấng đến sau tôi, Ngài sẽ rửa anh em bằng Thánh Thần và lửa”. Lửa Thánh Thần đó cần bùng cháy lên, cần đốt nóng lến, cần bừng sáng lên, cho thế gian được rạng ngời ơn cứu độ của Thiên Chúa.

           “Thầy đã ném lửa vào mặt đất và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Chúng ta hãy cùng thao thức với Chúa Giêsu, làm sao để cho lửa ấy bùng cháy lên, đốt nóng tâm hồn và rực sáng trong cuộc đời chúng ta,  trong gia đình và cộng đoàn chúng ta, để mỗi người chúng ta là một ngọn đèn rực lửa, chiếu sáng và sưởi ấm những người mà chúng ta gần gũi, gặp gỡ, tiếp xúc… “Những ngọn hải đăng không ầm ĩ, chúng chỉ chiếu sáng!”.

          Mỗi người chúng ta là một đốm lửa mà Chúa Giêsu đã ném vào thế gian. Ngày lãnh phép Rửa Tội, chúng ta đã đón nhận lửa thiêng Thánh Thần, đã đón nhận ánh sáng Chúa Kitô, đã đón nhận ngọn đèn đức tin. Ngọn lửa Kitô, ngọn lửa đức tin đó của chúng ta cần phải rực cháy, tỏa sáng mãi để góp phần chiếu sáng và sưởi ấm môi trường chúng ta đang sống. Chúng ta phải làm gì? Thánh Phaolô trong bài đọc hai đã chỉ dẫn chúng ta, đó là  “chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho chúng ta, mắt hướng về Chúa Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn niềm tin (…) hãy tưởng nhớ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí….” (Dt 12, 1-4).

           Chúa Giêsu mời gọi chúng ta lan toả ngọn lửa này vào trong thế giới, nhờ đó mà chúng ta được nhìn nhận là các môn đệ đích thực của Ngài. Ngọn lửa tình yêu, được Đức Kitô thắp sáng trong thế giới qua Chúa Thánh Thần, là một ngọn lửa không có giới hạn. Đó là một ngọn lửa mang tính hoàn vũ.

          Điều này đã là thế kể từ những ngày đầu của Kitô Giáo: việc làm chứng cho Tin Mừng đã được lan toả như một ngọn lửa hữu ích, vượt thắng mọi sự chia rẽ giữa các cá nhân, các kiểu xã hội, các dân tộc và các quốc gia. Việc làm chứng cho Tin Mừng bùng cháy. Nó thiêu đốt hết mọi hình thức chủ nghĩa đặc quyền và làm cho lòng bác ái mở ra với mọi người, với một sự ưu tiên cho người nghèo nhất và những người bị loại trừ.

          Hãy để cho ngọn lửa của Chúa Giêsu làm biến đổi tâm hồn chúng ta, canh tân đời sống chúng ta

Thứ Sáu Tuần XXIX Thường Niên.

Rm 7,18-25a; Lc 12,54-59.

TÌM NƯỚC TRỜI

          Sống trong thời đại nào cũng vậy, một khi chân còn đặt trên mặt đất thì tâm trí con người ta cũng chẳng thể thoát khỏi cách nghĩ nặng tính thực tế của thế gian. Đôi khi con người còn có óc thực tế đến phũ phàng, để rồi bỏ qua nhiều giá trị cao quí.

          Hàng ngày, con người nhìn thấy thiên nhiên vẫn hùng vĩ, bao la, mưa vẫn đến, nắng vẫn sang, nước vẫn chảy, cây vẫn mọc, biển vẫn có cá… Có một điều, con người cũng nhìn thấy mọi người không còn yêu thương nhau nữa, đua nhau đi tìm lạc thú trần gian, tranh giành quyền lực, hãm hại, chém giết lẫn nhau, lòng ghen ghét hận thù, họ xa lìa thiên nhiên, chối bỏ Thiên Chúa, con người đã không phân định được thật – giả. Chính cái hạn hẹp này thuộc về con người. Muốn sự giới hạn này được phân định rõ ràng, cần phải có Chúa Thánh Thần. 

          Suốt hành trình rao giảng, bằng tất cả lời nói, việc làm, cả đến phép lạ, Chúa Giêsu đã không ngừng nghỉ chỉ cho dân Do Thái thấy một thực tại thâm sâu vĩnh hằng cần thiết hơn cho hết mọi người. Thế nhưng, việc chỉ quan tâm đến những điều trước mắt đã biến họ thành những con người thực tế đến khô khan. Cảnh sắc đất trời, hay đến cái ăn, cái mặc, cái danh, cái lợi đã trở nên quan trọng hơn Đấng Hằng Sống đang ở giữa họ. Họ đã để thực tại trần gian che khuất thực tại Nước Trời. Cho nên, trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh dân chúng thêm một lần nữa.

          Việc hướng về thực tại Nước Trời không đồng nghĩa với việc xa rời thực tế. Trong mối tương quan thâm sâu, thực tại đời này là phương tiện cho ta vươn đến thực tại vĩnh cửu. Chúa Giêsu đã chẳng đề cao một ly nước lã khi người ta biết yêu thương kẻ bé mọn đó sao? Người cũng đã chẳng chúc phúc cho những ai biết xót thương, biết xây dựng hòa bình đó sao?

          Trang  Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng đã khen ngợi họ về sự lanh lợi, sự hiểu biết và mau lẹ ứng dụng kinh nghiệm sống của mình trong đời sống hàng ngày. Và Đức Giê-su cũng mong muốn họ áp dụng, thích ứng những kinh nghiệm dân gian đó vào đời sống đức tin, đọc ra được những dấu chỉ của thời cuộc.

          Tuy nhiên, kinh nghiệm sống, giỏi thiên văn của người Do thái dường như đã và đang chôn vùi họ trong sự tự tôn, trong sự ích kỷ, trong sự thiển cận của mình. Đức Giê-su đã mời gọi họ đi xa hơn những kinh nghiệm thường ngày mà họ đang cảm nhận. Ngài gọi mời họ khám phá, đi ra khỏi sự hạn hẹp và dám tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thế nhưng, mặc cho sự gọi mời, mặc cho chân lý vẫy gọi, người Do thái, những kinh sư, những luật sĩ, họ vẫn cứng lòng, chai dạ trước sự thật, trước đức tin.

          Ta thấy khi đặt công trình cứu độ của Thiên Chúa, trong chính sự hiện diện của Chúa Giêsu với con người, thì chúng ta thấy tình yêu là biểu hiện cao cả nhất của thực tại Nước Trời giữa lòng đời. Nên, hướng về Nước Trời, con người phải sống tốt với thực tại của mình, mà trong đó, tình yêu phải là cốt lõi. Quả vậy, tình yêu là thực tại của Thiên Chúa, đồng thời cũng là thực tại gắn với con người. Chính trong sự yêu thương, mỗi người chúng ta đang chỉ cho thế gian biết Nước Trời đang hiện diện ở giữa họ.

          Quả thật, đứng trước Giêsu, là thực tại Nước Trời, thiết nghĩ mỗi người phải mang tâm tình của người thương gia đi tìm ngọc quí. Ông đi tìm, rồi khi tìm thấy và nhìn ra giá trị của viên ngọc, ông sẵn sàng bán hết tất cả tài sản để mua cho được viên ngọc ấy.

          Hướng về thực tại Nước Trời trong chính Chúa Giêsu, đòi hỏi chúng ta cũng phải biết nhận ra vẻ đẹp, sự giàu sang và những giá trị vĩnh cửu mà Người mang đến. Điều đó chỉ có thể đến từ cái nhìn của con tim qua lời của Người. Thật vậy, những điều cốt yếu thì vô hình với đôi mắt nhưng tỏ rạng với trái tim. Cùng với đó, biết loại bỏ những giá trị trần thế đang ngăn cản ta trong hành trình tìm về bên Chúa là điều cần thiết.

          Lời Chúa ngày hôm nay gọi mời chúng ta biết dùng những khôn ngoan, kinh nghiệm của thời cuộc để khám phá, đào sâu và đọc ra được những dấu chỉ của thời đại. Đứng trước trào lưu trần tục hóa, người Ki-tô hữu cảm nhận được tình yêu vĩnh cửu của Chúa dành cho trần gian. Đối diện với sự tha hóa về đạo đức, người Ki-tô xác tín rằng chỉ nơi Chúa sự thật, công lý mới trường tồn, hằng bất biến.

          Cuối cùng, người Ki-tô hữu luôn được gọi mời sống tâm tình tạ ơn, xác tín vào lòng Chúa xót thương. Dám tin và đọc ra những dấu chỉ, sự gọi mời mà Chúa đã và đang gửi đến cho nhân loại chúng ta. Có như thế, cuộc đời người Ki-tô hữu luôn là một bản trường ca vang xa, tán tụng hồng ân Chúa như lời thánh vịnh đã nói lên rằng: “Ví như Chúa chẳng xây nhà. Thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 126).

 

 

 

Chúa nhật 29 thường niên, năm C-2016

HÃY KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN

Ta phấn khởi và nhận ra giá trị của lời cầu nguyện. Và thường khi nhớ đến câu chuyện Môsê cầu nguyện trên núi trong khi Giôsua đánh giặc, người ta vẫn để ý khía cạnh hiệu năng lạ lùng của việc cầu nguyện. Không có Môsê cầu nguyện, con cái Israel đã không chiến thắng.

Và khi cánh tay Môsê rũ xuống là lúc thất bại ngả về phía Israel. Tuy nhiên nếu chỉ hiểu câu chuyện của bài sách Xuất hành như vậy, chúng ta không biết đánh giá đúng mức một sự kiện rất ý nghĩa trong lịch sử Dân Chúa, và do đó trong đời sống đạo của chính chúng ta. Sự kiện này đã được ghi lại trong Kinh Thánh, không phải chỉ vì là một biến cố lịch sử, nhưng có thể nói, nhiều hơn là ý nghĩa sâu xa của nó.

Chúa Giêsu khuyên ta cầu nguyện luôn và không nản chí. Nếu ta ngưng cầu nguyện, chúng ta hầu như mất nhiệt tình và bỏ cuộc. Nếu ta cầu nguyện liên tục, chúng ta sẽ không bao giờ mất nhiệt tình. Cầu nguyện có nghĩa là đặt chính mình và số phận của mình trong đôi tay của Thiên Chúa. Ta cầu nguyện có nghĩa là ta trông cậy vào sức mạnh của Thiên Chúa chứ không phải sức mạnh của ta. Khi chúng ta cầu nguyện một thứ quyền lực khác trở thành có hiệu lực đối với chúng ta.

Chúa Giêsu nói với các môn đệ và với chúng ta hôm nay “Hãy cầu nguyện không ngừng và không bao giờ nên nản chí”. Một số người không nhận thấy giá trị của việc cầu nguyện thường xuyên. Họ nghĩ rằng chỉ cần cầu nguyện khi họ cảm thấy hứng thú.

Đây là một dụ ngôn dễ hiểu. Chúa Giêsu đưa ra hai tình ảnh trái ngược. Một bên là bà goá nghèo khổ, bé nhỏ, không có tiếng nói trong xã hội. Một bên là ông quan toà bất nhân, chẳng sợ trời mà cũng chẳng nể người. Thật là một hoàn cảnh tuyệt vọng cho người phụ nữ không có tiếng nói. Nhưng nhờ kiên trì, bà đã đạt được ý nguyện. Chúa kể dụ ngôn này với mục đích: dạy các môn đệ hãy noi gương bà goá, cầu nguyện luôn không được nản chí.

Ta không phải như một góa phụ, ít giá trị trước mặt xã hội. Ta là những người được Thiên Chúa ưu tuyển. Và Người không giống vị thẩm phán vô tâm; Người rất nhân hậu đối với con cái loài người. Ở đây Chúa Giêsu dường như muốn nói đến một "trường hợp cực chẳng đã", một hoàn cảnh tệ hơn cả, để chứng tỏ rằng những trường hợp và hoàn cảnh bình thường hơn tất nhiên sẽ tốt đẹp hơn nhiều. Nếu quan hệ giữa người góa phụ và vị thẩm phán cuối cùng còn như vậy, huống nữa là quan hệ giữa người ta và Thiên Chúa chắc chắn sẽ mỹ mãn vạn phần. Miễn là người ta phải kiên tâm cầu nguyện, tức là luôn tín nghĩa với Thiên Chúa. Chính điều kiện tín thành này là khó.

Thế nên Chúa Giêsu đã kết thúc bài giáo huấn hôm nay bằng một câu hỏi có vẻ não nuột nhưng rất chân thành: "Con Người đến sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa không?". Tức là các con người ưu tuyển có luôn giữ mãi lòng tín nhiệm với Thiên Chúa không? Thái độ nhàm chán của họ khi cầu nguyện không phải là dấu chỉ lòng trung tín của họ đã suy giảm rồi sao? Thế nên chúng ta phải tập kiên tâm cầu nguyện để duy dưỡng lòng tin, hầu mãi mãi nhận được lòng thương xót của Chúa.

Chúa Giêsu muốn ta hãy liên lỉ cầu nguyện và cầu nguyện cách kiên trì. Như Môsê quì giang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do Thái thắng trận, như bà goá suốt bao ngày tháng cầu xin quan toà minh xét cho bà, như thánh Mônica ròng rã 20 năm trường cầu nguyện cho người con là Augúttinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.

Một lời cầu nguyện được đáp lại, không phải khi chúng ta có được điều chúng ta cầu xin, nhưng khi chúng ta được ban cho cảm thức về sự cận kề của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện của một bệnh nhân được đáp lại không phải bởi bì bệnh của người ấy biến mất, nhưng bởi vì người ấy có được một cảm thức về sự kề cận của Thiên Chúa, sự bảo đảm rằng căn bệnh của người ấy không phải là một hình phạt của Thiên Chúa và Thiên Chúa không bỏ rơi người ấy. Cầu nguyện có thể không làm thay đổi thế giới cho chúng ta, nhưng nó có thể cho chúng ta lòng can đảm đối diện với thế giới.

Cầu nguyện là một sức mạnh cũng có thực như chính sức hút của trái đất, đó là sức mạnh mà Chúa Giêsu nói đến qua hình ảnh của người đàn bà góa kiên trì trong Tin Mừng hôm nay. Ông quan tòa đứng ra xử án không phải vì lòng công bình hay vì lòng tốt mà chỉ vì không chịu đựng nổi sự quấy rầy của bà góa. Thiên Chúa nhậm lời con người không phải vì sợ con người quấy rầy mà chỉ vì lòng tốt đối với con người mà thôi. Nói đến sức mạnh của lời cầu nguyện là tuyên xưng lòng nhân từ của Thiên Chúa vậy. Kiên trì trong lời cầu nguyện cũng là ân huệ của Chúa.

Chúa Giêsu bảo chúng ta phải cầu nguyện luôn, vì:

Sự cầu nguyện luôn soi sáng niềm hy vọng và những dự định của chúng ta.

Sự cầu nguyện luôn giúp ta phân biệt được điều gì là quan trọng, điều gì là tầm thường.

Sự cầu nguyện luôn giúp ta khám phá ra những ước vọng chân thật, những ray rứt lương tâm bị bóp nghẹt, những nỗi khát khao bị quên lãng.

Sự cầu nguyện luôn chỉ cho ta thấy những lý tưởng cao đẹp cần vươn tới.

Và nhất là sự cầu nguyện luôn giữ ta thường xuyên gần gũi với Chúa.

Cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ, theo óc vụ lợi của chúng ta, cầu nguyện không phải là việc tránh né bổn phận để Thiên Chúa làm tất cả, cầu nguyện cũng không phải là việc liệt kê ước muốn để mong chờ Chúa thực hiện. Nhưng cầu nguyện đích thực chính là việc thực hành Đức Tin, nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để đối thoại với Người, van xin Người tiếp tục ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện thánh ý Người. Thấu hiểu sự yếu đuối của con người nên Chúa Giêsu than thở: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8). Vậy, cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa trong Đức Tin để trung thành với Chúa cho tới khi Người lại đến.

Cầu nguyện là dầu giữ cho ngọn đèn Đức Tin luôn cháy sáng.

Hoa trái của cầu nguyện là Đức Tin

Hoa trái của Đức Tin là tình yêu

Hoa trái của tình yêu là phục vụ

Và hoa trái của phục vụ là bình an.

Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta hãy tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa. Lý luận của Ngài trong dụ ngôn về một quan tòa bất công thật đơn giản: nếu quan tòa bất lương đến độ không kính sợ Thiên Chúa cũng chẳng kính nể người ta, mà còn phải chịu thua trước lời van vỉ của một bà góa, thì huống chi Thiên Chúa, Ðấng trọn hảo và yêu thương con người.

Ta tưởng Thiên Chúa câm lặng và vô cảm trước nỗi khổ đau và lời kêu cầu của con người; thật ra, công lý của Thiên Chúa không phải là công lý của loài người, lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa không phải là lẽ khôn ngoan mà chúng ta có thể thẩm định được theo tiêu chuẩn của loài người. Tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của loài người. Quyền năng và tác động của Ngài vượt trên mọi tính toán, cân lường, suy tưởng và chờ đợi của chúng ta.

Cuộc sống mỗi người Kitô là một cuộc sống trong đức tin và nhờ đức tin. Vì thế mỗi người đừng để mất đức tin hay giảm sút lòng tin. Nói một cách khác tích cực hơn là để trung thành với đức tin và phát triển đời sống đức tin. Chính việc cầu nguyện sẽ giúp chúng ta sống được như vậy.

 

KHÔNG NẢN CHÍ

Lời Chúa: Lc 18, 1-8
Khi ấy, Ðức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói: “Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: ‘Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi’. Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng ông ta nghĩ bụng: ‘Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nữa chăng?’” Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”

Suy niệm:

Ngày 14-10-2010 là ngày vui đối với người dân Chilê.
Ba mươi ba người thợ mỏ bị sụp hầm sâu gần 700 m, được giải cứu.
Mười bẩy ngày đầu họ sống trong bóng tối, cạn kiệt lương thực.
Họ còn phải sống gần hai tháng nữa mới được cứu lên khỏi mặt đất. 
“Tôi ở giữa Thiên Chúa và quỷ sứ. Tôi bị giằng co giữa hai bên.
Tôi nắm chặt lấy bàn tay Chúa, và Chúa đã cứu tôi.”
Đó là câu nói của anh Mario Sepulveda,
người thợ mỏ thứ hai được đưa lên khỏi “địa ngục”.
Khi còn ở dưới hầm, Jimmy Sanchez, anh thợ trẻ nhất nhóm đã viết lên:
“Ở đây chúng tôi có 34 người, vì Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi chúng tôi.”
Dù người ta nhắc đến khoa học như chìa khóa cho thành công,
nhưng chính việc cầu nguyện đã cho họ sức mạnh để đứng vững.
“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.”
Đó là điều Đức Giêsu nhắn nhủ chúng ta qua dụ ngôn bà góa quấy rầy.
Bà là người không còn chỗ dựa vững chãi của người chồng.
Bà lại còn là nạn nhân đáng thương của một sự bất công chèn ép.
Nhất quyết không để mình bị bóc lột,
bà đã nhiều lần đến gặp quan tòa để xin ông minh xét cho (c. 3).
Tiếc thay ông này lại là một vị quan tòa bất chính (c. 6),
nên vụ kiện bị ngâm trong một thời gian khá lâu.
Nhưng bà không hề nản chí, và cuối cùng bà đã thắng.
Ông quan tòa đã phải đem ra xử vụ kiện, chỉ vì bị bà quấy rầy liên tục.
Đức Giêsu đã táo bạo khi kể dụ ngôn trên.
Ngài dám so sánh Thiên Chúa với ông quan tòa bất chính.
Dĩ nhiên, Thiên Chúa thì tốt lành và chăm lo cho con người,
ngược hẳn với ông quan tòa chẳng coi ai ra gì (c. 2).
Nhưng cả hai lại có một nét chung.
Nhiều khi chúng ta có kinh nghiệm về một Thiên Chúa như hững hờ,
như không muốn đáp lại tiếng kêu của những người chịu bất công áp bức.
Có biết bao tiếng kêu như thế vang vọng từ khắp địa cầu.
Có biết bao người chịu bách hại mà không thể lên tiếng.
“Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho” (c. 3).
Đó vẫn là lời kêu nài muôn thuở của những người thấp cổ bé miệng.
Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Thiên Chúa không lên tiếng bênh vực,
không hành động gì để giải cứu, giải oan.
Đức Giêsu mong chúng ta đừng thất vọng trước sự bất công trên thế giới,
đừng nản lòng khi lời cầu nguyện của chúng ta có vẻ rơi vào quên lãng.
Hãy tiếp tục cầu nguyện, vì Thiên Chúa tốt hơn ông quan tòa nhiều.
Nếu quan tòa cuối cùng còn xử kiện cho bà góa chỉ vì tránh bị quấy rầy,
thì huống hồ là Thiên Chúa, Đấng sẽ làm rõ trắng đen vì lòng cảm thương.
Lẽ nào Người bắt những kẻ Người tuyển chọn,
những kẻ ngày đêm kêu cứu với Người phải chờ đợi mãi? (c. 7).
Lòng tin của chúng ta vẫn bị thách đố ngày nào còn bất công trên thế giới.
Chỉ mong ta vẫn giữ được lòng tin như người thợ mỏ ở trong hầm tối.

Cầu nguyện:
Lạy Cha,
con phó mặc con cho Cha,
xin dùng con tùy sở thích Cha.
Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.
Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.
Miễn là ý Cha thực hiện nơi con
và nơi mọi loài Cha tạo dựng,
thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.
Con trao linh hồn con về tay Cha.
Con dâng linh hồn con cho Cha,
lạy Chúa Trời của con,
với tất cả tình yêu của lòng con,
Vì con yêu mến Cha,
vì lòng yêu mến
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,
không so đo,
với một lòng tin cậy vô biên,
vì Cha là Cha của con.
(Chân phước Charles de Foucauld)

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

 

 

Thứ Ba Tuần XXIX Thường Niên.

(Tr) Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II.

Rm 5,12.15b.17-19.20b-21; Lc 12,35-38.

TỈNH THỨC & SẴN SÀNG

          Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hay Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, tên khai sinh của Ngài là Karol Józef Wojtyła. Ngài sinh ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan, cách Kraków 50 cây số. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 264 của Giáo Hội Công Giáo Rôma và là người lãnh đạo tối cao của Vatican kể từ ngày 16 tháng 10 năm 1978.

          Cho đến khi qua đời, triều đại của Ngài đã kéo dài hơn 26 năm và trở thành triều đại Giáo Hoàng dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, sau triều đại Giáo Hoàng của Thánh Phêrô trải dài 34 năm và triều đại Đức Giáo Hoàng Piô IX trải dài 32 năm.

          Cho đến hiện tại, Ngài là vị Giáo Hoàng duy nhất người Ba Lan và là Giáo Hoàng đầu tiên không phải người Ý trong gần 500 năm, kể từ Đức Giáo Hoàng Ađrianô VI vào năm 1520. Ngài được tạp chí TIME bình chọn là một trong bốn người có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20. và cả những năm đầu thế kỷ 21.

          Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hay Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, tên khai sinh của Ngài là Karol Józef Wojtyła. Ngài sinh ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan, cách Kraków 50 cây số. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 264 của Giáo Hội Công Giáo Rôma và là người lãnh đạo tối cao của Vatican kể từ ngày 16 tháng 10 năm 1978.

          Cho đến khi qua đời, triều đại của Ngài đã kéo dài hơn 26 năm và trở thành triều đại Giáo Hoàng dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, sau triều đại Giáo Hoàng của Thánh Phêrô trải dài 34 năm và triều đại Đức Giáo Hoàng Piô IX trải dài 32 năm. Cho đến hiện tại, Ngài là vị Giáo Hoàng duy nhất người Ba Lan và là Giáo Hoàng đầu tiên không phải người Ý trong gần 500 năm, kể từ Đức Giáo Hoàng Ađrianô VI vào năm 1520. Ngài được tạp chí TIME bình chọn là một trong bốn người có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20. và cả những năm đầu thế kỷ 21.

          Trong triều đại của mình, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không ngừng mở rộng ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo trong Thế giới thứ ba. Ngài đã thực hiện rất nhiều chuyến tông du hơn 129 quốc gia, Ngài có thể nói được hơn 10 ngôn ngữ, ngoài tiếng Ba Lan còn có tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga và một chút tiếng Việt.

          Trong suốt triều đại của mình, Ngài đã lên tiếng phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình, phản đối chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, chế độ độc tài, chủ nghĩa duy vật, các phương pháp phá thai, thuyết tương đối, chủ nghĩa tư bản và cách thức chết êm dịu. Đức Giáo Hoàng cũng được coi là một trong những nguồn lực dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan và Đông Âu.

          Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên công khai xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội trong quá khứ. Ngài cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đứng ra hòa giải với Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo và Anh giáo. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đứng ra tổ chức cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo của các tôn giáo khác như Phật Giáo, Khổng Giáo, Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo, Cao Đài và Hồi Giáo. Ngài còn là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến thăm một ngôi đền Hồi Giáo ở Syria, và là vị Giáo Hoàng đầu tiên tổ chức ra Ngày Giới Trẻ Thế Giới hằng năm, và cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến thăm vùng Thánh Địa Jerusalem.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã được Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI phong là Đấng Đáng Kính vào ngày 19 tháng 12 năm 2009 và phong Chân Phước vào ngày 1 tháng 5 năm 2011. Mặc dù chưa chính thức được phong thánh nhưng vì Ngài là người sáng lập ra Đại hội Giới Trẻ Thế Giới nên Ngài được chọn là một trong những vị Thánh Quan Thầy bảo trợ cho ba kỳ Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới liên tiếp tại Sydney năm 2008, Madrid năm 2011, và tại Rio de Janeiro năm 2013. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sẽ được phong thánh vào ngày 27.4.2014 tại Roma.

          Với trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy tỉnh thức và sẵn sàng vì không biết giờ nào Thiên Chúa sẽ đến. Người đưa ra mẫu gương về người đầy tớ chờ đợi chủ. Người đầy tớ này luôn trong tư thế tỉnh thức: “thắt lưng và thắp đèn”, suốt đêm không hề chợp mắt để chờ đợi ông chủ trở về… Dường như anh luôn sống trong mối dây hiệp thông mật thiết với ông chủ của mình. Anh luôn nghĩ rằng ông chủ đang ở ngoài cửa, đang chờ đợi anh chạy đến chào đón ông. Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta chờ đợi Người trong tâm thức đó.

          "Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn". Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tỉnh thức. Có lẽ chúng ta rất tỉnh thức trong kinh kệ, trong nghĩa vụ đạo đức, nhưng lại mê ngủ trong những đòi hỏi của Tin Mừng. Kitô giáo không phải là đạo ru ngủ, nhưng luôn thức tỉnh chúng ta, bởi vì đạo là đường để đi. Người chăm chú đi đường không thể ngủ gật, trái lại luôn mở mắt để nhìn thấy cảnh trí chung quanh, để nhận ra hướng đi của mình, để đồng hành với người khác.

          Thiên Chúa rất yêu thương con người và luôn muốn con người sống trong tình hiệp thông với Ngài. Vào buổi đầu tạo dựng, con người được sống trong tương quan mật thiết với Thiên Chúa: “Ngày ngày, Thiên Chúa xuống viếng thăm và trò chuyện với con người”. Đến khi con người phạm tội, Thiên Chúa không cắt đứt mối dây hiệp thông với con người nhưng lại làm cho sợi dây đó thêm gần gũi và bền chặt hơn. Ngài đã cho Con Một của Ngài xuống thế, sống kiếp phàm nhân, để đồng phận và đồng cảm với con người. Với cái chết đầy tủi nhục trên thập giá, Người Con đã mang con người trở về với Thiên Chúa. Không chỉ có thế, Ngôi Hai Thiên Chúa còn luôn hiện diện giữa nhân loại qua Bí Tích Thánh Thể, Ngài ở đó và chờ đợi con người đến với Ngài.

          Thiên Chúa còn muốn chúng ta hiệp thông với Ngài qua tha nhân và qua vũ trụ này. Ngài ban cho chúng ta ngũ quan để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thế giới, để liên đới và yêu thương nhau.

          Quả thật, khi chúng ta mở ra với thế giới, chúng ta sẽ cảm nhận được thiên nhiên như một người bạn rất gần gũi và thân thiết, đồng thời cũng nhận ra được sự hiện diện của Chúa ẩn tàng trong những quy luật và những kỳ quan của vũ trụ. Khi chúng ta tiếp xúc, giúp đỡ hay làm một việc gì đó cho tha nhân, chúng ta sẽ cảm nhận được niềm vui khi “sống với và sống cho”, đồng thời nhận ra được một điều: tha nhân không chỉ là hình ảnh của Chúa mà còn là chính Chúa (Mt 25, 35-45).

Thứ Tư Tuần XXIX Thường Niên.

Rm 6,12-18; Lc 12,39-48.

SẴN SÀNG

          Trang Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ: “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay”. Thiên Chúa ví như ông chủ đi dự tiệc cưới sẽ trở về bất cứ lúc nào, vì thế các đầy tớ không được lơ là bổn phận nhưng phải tỉnh thức sẵn sàng đợi chờ để mở cửa cho ông chủ

          Ta thấy xem ra Thiên Chúa thích chơi trò đánh đố với loài người. Tiệc cưới có vui vẻ và kéo dài đến mấy ngày thì cũng phải kết thúc, thế nhưng ông chủ xem ra như người không có giờ giấc nên ông sẽ về bất cứ lúc nào. Thiên Chúa tôn trọng tự do của mỗi người, đồng thời Chúa cũng muốn để con người bày tỏ lòng trung tín qua việc tỉnh thức đợi chờ thời khắc vô cùng quan trọng ấy. Đó là lúc con người được hưởng hạnh phúc viên mãn hay sẽ bị luận phạt.

          Lòng quảng đại và tình thương của Thiên Chúa thể hiện ở chỗ Người đã chỉ cho đầy tớ biết trong lúc chờ đợi cần làm hai việc chính, đó là: “Hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sáng”. Hành động “thắt lưng cho gọn” thể hiện tư thế của người đầy tớ luôn sẵn sàng thi hành theo ý muốn của chủ. Hành động “thắp đèn cho sáng” thể hiện mọi suy nghĩ, tâm tư của người đầy tớ phải luôn hướng về người chủ. Người đầy tớ nào làm được hai điều quan trọng trên sẽ được chủ trọng thưởng và được chính ông phục vụ tại bàn ăn. 

          Thiên Chúa nhân lành quảng đại đã ban lúa gạo, cơm bánh để nuôi sống con người, Người cũng không ngừng đổ đầy trên cuộc sống chúng ta những ân phúc thiêng liêng giúp chúng ta chu toàn bổn phận hàng ngày làm người và làm con cái Chúa.

          Thế nhưng, Thiên Chúa sẽ khiển trách khi chúng ta chỉ lo tìm kiếm và hưởng thụ của cải vật chất mà quên đi giá trị của Nước Trời. Chúng ta mải mê điên cuồng đuổi theo những gì là phù hoa hư ảo, chạy theo cơn cám dỗ của tiền bạc vật chất, đam mê xác thịt. Chúng ta say sưa ngủ yên trên những vinh quang đạt được mà quên rằng cuộc sống này chỉ là tạm bợ, trời đất này sẽ qua đi vì bản chất của nó chỉ là vật chất không thể tồn tại vĩnh viễn. Chúng ta quen sống trong sự giả dối ngu muội, ù lì chìm trong các thói hư tật xấu. Ngày của Chúa sẽ đến một cách bất ngờ, phúc cho những ai biết khôn ngoan chuẩn bị cho cuộc sống mai sau để có được hạnh phúc viên mãn.

          Qua trang Tin mừng hôm nay, Chúa nhắc nhở chúng ta nhận biết ngày giờ của Chúa sẽ đến và bộ mặt thế gian này sẽ qua đi nhanh như một giấc mộng, sẽ tan biến như làn khói, mọi thứ sẽ trở về cát bụi hư vô. Lúc đó mỗi chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về những việc làm của mình. Thánh Anphongsô có kinh nghiệm về điều này, thánh nhân đã khuyên nhủ: “Các con hãy nhớ những việc các con đã làm đều có quan hệ đến phần rỗi đời đời. Vì thế con phải hết sức cẩn thận và chu toàn bổn phận vì con sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa về mọi việc làm của mình”.

          Và thánh tiến sĩ Augustinô cũng cật vấn chúng ta bằng một câu hỏi: “Bạn nhìn những người vĩ đại của thế gian, họ mang theo những gì từ cái giường chết”. Đối với Thiên Chúa, Người không đòi chúng ta làm những việc phi thường quá sức của mình, Người chỉ cần chúng ta có lòng yêu mến Chúa và tha nhân, biết tìm kiếm những giá trị của Tin Mừng. Tuy vậy,Thiên Chúa cũng là Đấng công bình ngay thẳng, thưởng phạt đúng người đúng việc.

          Sự chết là điểm đến chung cuộc của phận người (Gv 6, 6). Thế nhưng, không ai biết mình sẽ chết lúc nào, bởi đó là giờ phút ta không ngờ (Lc 12, 40). Tuy vậy, cái chết không phải là dấu chấm hết của một kiếp người (Mt 25, 31-46), bởi lẽ, con người là họa ảnh của Thiên Chúa Tình Yêu (St 1,26) và được mời gọi thông phần vào sự sống thần linh của Ngài (Ep 1, 3-7).

          Để chuẩn bị cho điểm đến này, thì tinh thần “tỉnh thức – sẵn sàng” là điều tối cần đối với những ai muốn cùng với Chúa đi trọn cuộc hành trình dương thế để tiến về quê trời. Hình ảnh người quản gia trung tín và khôn ngoan (Lc 12, 42-44) mà Chúa Giêsu trưng dẫn, được coi như khuôn mẫu cho những ai muốn thuộc trọn về Ngài.

          Nhưng trên tất cả, Chúa Giêsu luôn là khuôn mẫu tuyệt hảo (Ep 1,14). Tinh thần tỉnh thức luôn thấm đượm trong nếp sống của Ngài. Thái độ tỉnh thức đã giúp Chúa Giêsu có thể lắng nghe và sẵn sàng thực thi Thánh ý của Thiên Chúa Cha trong mọi lúc. Nhờ thế, cái chết mà Ngài đã trải qua, đã trở thành giờ vinh thắng khải hoàn tiêu diệt sự chết, và là niềm hy vọng phục sinh cho những ai tín thác vận mệnh của mình trong tay Ngài (Cl 1, 18-20; Pl 2, 8-9; Ep 1, 7).

          Học cùng Chúa Giêsu, người tín hữu được mời gọi mau mắn sống tinh thần tỉnh thức, để có thể lắng nghe, và sẵn sàng sống trọn vẹn ơn gọi làm người trước mọi biến chuyển của thời đại. Với hy vọng, khi đối diện với giờ sau hết của một kiếp người, người tín hữu có thể sẵn sàng ra nghênh đón Thiên Chúa Tình Yêu.

 

- October 26, 2019