Suy Tư của Huệ Minh

by Huệ Minh

 

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH 2016

Cv 15,1-2.22-29; Kh 21,10-14.22-23; Ga 14,23-29

BÌNH AN CỦA CHÚA

          Đã lâu lắm rồi, cách riêng người Việt Nam không còn nghe súng đạn, không còn ngửi mùi thuốc súng nữa thế nhưng thử hỏi con người có được sự bình an gọi là bình an bình thường hay không ? Con người ngày mỗi ngày vẫn mong đi tìm sự bình an, đi tìm hạnh phúc của đời mình.

Cuộc sống của mỗi người là hạnh phúc hay khốn khổ tùy thuộc vào từng suy nghĩ, lời nói, việc làm của mình. Có những ngày ta thấy thật phấn khởi hân hoan khi vừa mở mắt thức giấc, muốn cùng muôn tạo vật cất lời ngợi ca; và khi chiều tà, lòng ta đầy hạnh phúc khi cất lên lời tạ ơn. Nhưng … làm sao tránh được những đêm trường giăng mắc cả khi bình minh sáng chói. Nhìn đâu cũng thấy ảm đạm, chán chường bởi trong lòng ta mất niềm tin tưởng, cảm thấy bế tắc trước những khó khăn, những áp lực liên tục xảy đến. Ta cầu xin cho thời gian qua mau để đem đi nỗi buồn bực nhưng kết quả gần như ngược lại. Khi ấy, ta đã đánh mất bình an.

Bình an thật sự trong tâm hồn thật quý giá, vậy bạn có biết thế nào là bình an đích thực không? Bình an không có nghĩa là được thanh thản trong môi trường tuyệt vời, như ý muốn. Bình an đích thực là khi bạn cảm thấy lòng mình không lay động trong những rộn ràng, sóng gió cuộc đời! Bình an cũng không phải có ở một gia đình giàu có, sung túc, quyền lực cao sang ! Bình an không phải có nơi sở hữu một chiếc xe hạng sang hay có được những món đồ cao cấp.

Có một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình.

Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một. Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào.

Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang bình thản đậu trên tổ của mình... Bình yên thật sự.

"Ta chấm bức tranh này! - Nhà vua công bố - Sự bình yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình yên có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của sự bình yên".

Biết bao bạo động, chiến tranh sảy ra đều phát xuất từ những dục tình xấu xa nơi tâm hồn người ta. Muốn dẹp chiến tranh bạo động trước hết phải học chế ngự những mầm mống nổi loạn của trí lòng. Muốn chế ngự được những mầm mống đó không thể không có sự trợ lực của hy sinh, khổ giá. Nhưng điều kỳ lạ mà Tin Mừng Đức Kitô mang cho con người lại là chính khi đón nhận khổ giá thì bình an và sự sống lại phát sinh dồi dào.

Bình an ấy ở đâu? Bình an ở có ở nơi tĩnh lặng thật sự mới có sự bình an! Nơi đó chỉ có ta tồn tại hữu hình. Và khi ta ý thức mình là cá thể độc nhất đang đối diện với Đấng Toàn Năng. Tâm ta sẽ mở rộng, phơi bày mọi thành công, thất bại, ưu cũng như khuyết điểm, vui buồn, lo lắng, … tóm chung, không có ai phải giấu giếm.

Từ đó, ta sẽ ý thức hơn về thân phận mỏng manh, bất toàn của mình, cảm thấy mình không là gì, không làm được gì và không chịu nổi bất cứ điều gì nếu không được Ơn trợ giúp. Nếu ta ý thức được điều này có nghĩa là ta đã biết được bình an rồi đó, ta biết nhận lấy bình an từ đâu rồi đó, vấn đề còn lại là ta có chịu mở lòng đón nhận hay không mà thôi!

Trang Tin Mừng hôm nay trình thuật lại cho chúng ta về phần cuối của cuộc diễn từ ly biệt giữa Chúa Giêsu và các môn đệ. Trong lúc chuẩn bị Thầy trò chia tay nhau để Ngài lên đường chịu chết, chuộc tội cho thiên hạ.

Vì thế, Chúa Giêsu đã để lại cho các ông một gia sản quý giá hơn hết mọi thứ, đó chính là sự bình an. Ngài không nói: “Anh em hãy ở lại bình an”, mà nói: “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”.

Bình an của Đức Giêsu trao tặng cho các môn đệ không chỉ dừng lại ở việc an toàn về mặt thể xác, mà còn đi xa hơn để đạt được thứ bình an trong sâu thẳm trong tâm hồn. Bình an này hướng người ta về mầu nhiệm cách chung, nhiệm cục cứu độ.

Chúa Giêsu chính nội dung của bình an; hay nói cách khác: Ngài chính là nguồn bình an, Ngài ban cho các ông chính bình an của Ngài.

Bình an của Chúa chắc chắn không phải là một lời chúc mang tính khách sáo, nhưng là một động thái Chúa Giêsu đã thể hiện giữa các môn sinh của mình.

Trong mỗi Thánh lễ, Giáo hội vẫn cầu nguyện xin Chúa Giêsu ban bình an xuống trên toàn thể Hội thánh giống như ngày xưa Ngài đã phú trao bình an cho các tông đồ trước khi đi thụ nạn. Nhưng sự bình an Chúa nói ở đây là bình an như thế nào?

Người ta vẫn thường nói: “Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh”. Cũng vậy, bình an mà Chúa Giêsu ban tặng đòi hỏi các học trò phải quyết liệt đi vào cuộc chiến đầy gian nan, đó chính là cuộc chiến đấu thiêng liêng. Trong cuộc chiến gian khổ ấy, chúng ta phải chấp nhận chết để được sống, phải đi vào mầu nhiệm tự hủy để được tái sinh trong đời sống mới.

Vì thế, Chúa đã nói: “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy không theo kiểu thế gian (c.27). Hòa bình theo cách thế gian chỉ dựa vào sức mạnh của vũ khí và tiềm lực quân sự, còn bình an mà Chúa Giêsu đem đến phát nguồn từ chính Thánh Thần. Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, Thánh Phaolô cũng viết: “Hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an” (Rm 8,6).

Niềm an bình Thiên Chúa ban khác hẳn, loại trừ khỏi tâm hồn con người mọi thái độ hung hăng, hiếu chiến, mọi thèm khát bất chính, để làm nảy sinh ra tình yêu thương, tình bằng hữu chân thành, vô vị lợi, lòng nhân từ tha thứ và sự công chính.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta luôn tín thác cuộc đời của chúng ta trong tay Chúa, trong sự hướng dẫn của Thần Khí để ta luôn luôn bước đi trong sự bình an nhờ có Chúa ở cùng.

 

26/05/2019
Chúa Nhật Tuần VI Mùa Phục Sinh 2019 

Cv 15, 1-2. 22-29; Kh 21, 10-14. 22-23; Ga 14, 23-29
YÊU VÀ GIỮ LỜI
Khi rời xa các Tông đồ, Đức Giêsu xác nhận rằng Người không bỏ rơi họ. Người nói với họ: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em” (Ga 16, 7). Và Người làm đúng như lời Người đã nói. Khi chúng ta sẵn lòng để Người khác ra đi, người ấy có thể rời xa chúng ta mà không làm cho chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi. Và chúng ta cởi mở lòng mình để đón nhận một điều mới mẻ mà nếu không ra đi người ấy sẽ không đem lại cho chúng ta.
            Và ra thấy rằng Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương chúng ta, nhưng Ngài cũng biết rằng đã đến lúc chúng ta cần khởi đầu một giai đoạn mới để được trở nên trưởng thành. Chẳng hạn như đã đến lúc chúng ta phải nhận ra rằng việc cầu nguyện không hệ tại những cảm xúc riêng tư. Và trong những lúc tâm hồn bị chai cứng thì chúng ta lại càng phải cầu nguyện và lời cầu nguyện trong một hoàn cảnh như thế lại thường là lời cầu nguyện tuyệt hảo nhất. Chính Chúa cũng đã xác quyết qua đoạn Tin Mừng hôm nay: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.’
Tại sao chúng ta phải giữ lời Chúa và giữ lời Chúa thế nào? Chúng ta giữ lời Chúa để chứng tỏ lòng chúng ta yêu mến Chúa. Yêu mến ai, chúng ta muốn ở gần người đó, tâm sự trò chuyện quan hệ mật thiết với người đó, thì chúng ta đối với Chúa cũng vậy, và còn hơn thế nữa, là để chúng ta nên giống Chúa. Tục ngữ có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Gần bạn hiền sẽ nên hiền. Và tục ngữ Tây phương cũng nói: “Anh nói cho tôi biết, anh đọc sách gì, anh bầu bạn với ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người thế nào”. Chúng ta cần tâm sự với Chúa Giêsu, chúng ta muốn nên giống Chúa, nay Chúa đã khuất mặt, thì chỉ còn một cách là đọc lời Ngài, suy gẫm cuộc đời Ngài, chúng ta sẽ học được những ý tưởng, những tâm tình của Ngài. Vì thế, ai muốn quan hệ mật thiết với Chúa, muốn nên giống Chúa, chỉ còn một cách là luôn luôn đọc lại bộ Tân ước, nhất là Tin Mừng, để thấy rõ chân tướng của Chúa Kitô mà học hỏi bắt chước.
Người hiện diện trong những kẻ yêu mến Người: “Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy”. Người hiện diện trong những kẻ thực hành và giữ lời Người: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy… Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy”..
Một câu Kinh Thánh đó thôi đủ định nghĩa thế nào là người yêu mến Chúa, nghĩa là dấu hiệu hay bằng chứng để chúng ta biết được hay người khác biết được chúng ta yêu mến Chúa là chúng ta tuân giữ lời Chúa. Và đây cũng là thước đo lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa nhiều hay ít, đó là chúng ta tuân giữ lời Chúa nhiều hay ít. Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu xem: Chúa bảo chúng ta tuân giữ lời Chúa, vậy lời Chúa ở đâu? Và chúng ta phải tuân giữ Lời Chúa thế nào?
Yêu mến ai, thì vâng lời người đó, làm theo điều người đó muốn. Không vâng lời ai, là không yêu người đó, ít nhất là không yêu đến độ bỏ ý riêng mà vâng lời. Thánh Y-nhã nói: “tình yêu hệ tại ở việc làm hơn tại lời nói”. Chúa Giêsu đã nói: “không phải những người nói ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Thiên Chúa” (Mt 7, 21).
            Ai vâng nghe Lời Chúa, được Thiên Chúa ở cùng, và người đó trở thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện cho người khác nữa.
Nếu Chúa Cha chính là Thiên Chúa trong tình trạng vô hình, thì Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng, hành động để cứu chuộc con người; và Thánh Thần cũng là Thiên Chúa, Đấng kéo dài cách thiêng liêng sự hiện diện, lời nói và hành động của Chúa Giêsu và Chúa Cha. Vì thế, Thánh Thần sẽ thông truyền trọn vẹn sự sống của Thiên Chúa cho con người, khi soi sáng dạy dỗ con người dần dần hiểu lời Thiên Chúa, Lời đó chính là Chúa Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha: “Thánh Thần sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14, 26).
Chúa Giêsu dạy ta biết có Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trong chúng ta: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy" (Ga 14, 23); lại có cả Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ cũng luôn hiện diện trong ta cùng với Chúa Cha và Chúa Con: "Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại những gì Thầy đã nói với anh em"
Những ai chối từ tình yêu Thiên Chúa (c. 24) thì không thể thấu triệt việc Thiên Chúa Ba Ngôi đến cách vô hình mà Chúa Giêsu vừa loan báo cho những ai yêu mến Ngài. Họ không “biết” Chúa Giêsu vì đã khước từ sứ điệp của Ngài. Họ không thể “biết” Chúa Cha, nguồn sứ điệp này (3, 31-34; 5, 37-38; 7,16-17; 8,47; 12, 48-50). Ở đây, Giuda tìm thấy lời giải đáp cho câu hỏi của ông: chỉ biết được Chúa Giêsu nhờ đức tin (1, 9-12), Ngài chỉ tỏ mình ra cho những kẻ tin (14, 19).
Chúng ta có nhiều cách để nói lên tình yêu thương dành cho một người nào đó. Chẳng hạn khi yêu thương ai, chúng ta có thể cầu nguyện cho họ, nghĩ tốt về họ và thầm mong cho họ được nhiều may mắn. Thế nhưng, ý nghĩ và tư tưởng thì trừu tượng, khó mà kiển chứng. Chẳng hạn khi yêu thương ai, chúng ta có thể ca tụng họ và nói tốt về họ. Thế nhưng, lời nói nhiều khi trở thành bôi bác và giả hình.
 Tuy nhiên, có một phương tiện chắc chắn nhất để biểu lộ tình yêu thương, đó là việc làm. Đức tin không việc làm, thì chỉ là một đức tin đã chết. Tình yêu không việc làm thì cũng chỉ là một tình yêu đã chết mà thôi. Chúng ta không thể chỉ cho người khác thấy một tình yêu không việc làm. Trái lại, căn cứ vào những việc làm, người ta sẽ đánh giá được tình yêu thương của chúng ta. Và đối với Chúa, việc làm đẹp lòng Ngài hơn cả, chính là tuân giữ những điều Ngài truyền dạy.
Thước đo lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa: chúng ta sẽ là kẻ không yêu mến Chúa khi chúng ta làm không đủ tiêu chuẩn như lời Chúa dạy. Chúng ta sẽ là người ghét Chúa khi chúng ta làm sai lời Chúa dạy. Chúng ta sẽ là kẻ phản bội lời Chúa nếu chúng ta tránh né, coi thường hay lười biếng không làm những việc đáng phải làm. Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không tuân giữ lời Chúa, thì có khác gì đứa con gọi dạ bảo vâng, nhưng không chịu làm theo lời cha mẹ dạy. Đó là thứ tình yêu giả hình và là thứ tình yêu đầu môi chót lưỡi mà thôi. Tình yêu phải được thử thách, phải được chứng nghiệm bằng việc làm…
Vì thế, yêu Chúa thì phải thực hành lời Chúa. Thực hành lời Chúa dù ở nhà thờ hay ở nhà mình, nơi làm việc hay ngoài đường phố, chợ búa. Nếu như mọi người đều nhiệt tình áp dụng và thực hành lời Chúa thì nhân loại này yêu thương nhau biết mấy. Nhưng đáng tiếc, lời Chúa dạy: “Các con hãy yêu thương nhau”, chúng ta chưa thực hành đến nơi đến chốn.
Thiên Chúa đã cho mặt trời mọc lên để soi sáng và sưởi ấm, đã cho mưa xuống để ruộng đồng được xanh tươi. Thế nhưng, muốn có được cơm gạo, bác nông phu đã phải làm lụng vất vả suốt ngày dưới ánh nắng gay gắt. Cũng vậy, để được Chúa yêu thương, chúc phúc và cứu độ, chúng ta cần phải cộng tác với Ngài, ít nữa bằng cách tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, bởi vì chính Ngài đã xác quyết với chúng ta qua đoạn Tin mừng hôm nay: Ai yêu mến Thầy, thì tuân giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy.

27/05/2019
Thứ Hai Tuần VI Mùa Phục Sinh

Cv 16, 11-15; Ga 15, 26 _ 16, 4
NGOAN NGÙY DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA THÁNH THẦN
            Tin Mừng hôm nay là những lời nhắn nhủ cuối cùng cho các môn đệ trước khi Chúa Giêsu về trời : “Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu”. Tiền đề lí luận để Chúa Giêsu đòi các môn đệ làm chứng cho Chúa đó là việc các ông “đã ở với Ngài”. Đây là điều kiện cần và đủ dành cho người “làm chứng cho Chúa”. Người ấy phải ở với Chúa. Không có kinh nghiệm “ở với Chúa”, không có kinh nghiệm “sống và hoạt động” cùng với Chúa, không có kinh nghiệm “nên một với Chúa” thì không thể làm chứng cho Chúa.
Chúa Giêsu muốn nhắc cho các môn đệ rằng: khi Chúa Thánh Thần đến, Người sẽ làm chứng và giúp các ông hiểu được tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm và những lời Ngài đã dạy trước đó. Mặt khác, Chúa Thánh Thần sẽ ban ơn phù trợ, để các ông can đảm làm chứng và sẵn sàng đón nhận tất cả mọi khổ đau vì Chúa Giêsu
Khi giới thiệu Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu muốn nhắc cho các môn đệ rằng: khi Chúa Thánh Thần đến, Người sẽ làm chứng và giúp các ông hiểu được tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm và những lời Ngài đã dạy trước đó. Mặt khác, Chúa Thánh Thần sẽ ban ơn phù trợ, để các ông can đảm làm chứng và sẵn sàng đón nhận tất cả mọi khổ đau vì Chúa Giêsu.
Thật vậy, nếu không có Chúa Thánh Thần, các môn đệ vẫn là những con người khờ dại, kém tin và sợ sệt thủa nào. Tuy nhiên, khi đón nhận Chúa Thánh Thần, các ông trở nên những người can đảm, uyên thâm, mạnh mẽ và dám chấp nhận tất cả, kể cả cái chết để làm chứng cho điều mình loan báo là có thật, đáng tin. Các ông đã thực hiện lời nói đi đôi với hành động.
Chúa Thánh Thần là một sự hiện diện vô hình và chứng tá của Chúa Thánh Thần cho Chúa Giêsu được thể hiện, được nhìn thấy nơi chứng tá của các môn đệ cho Chúa. Và như vừa nói trên, chứng tá này không phải là điều dễ dàng. Ðây là con đường nhỏ hẹp, gặp nhiều gian nan, thử thách. Theo Chúa đích thực làm cho ta ra khỏi thế gian và vì thế mà bị thế gian ghét bỏ, khai trừ. Nhưng trong những lúc gian nan thử thách như vậy, trong những giây phút cảm thấy trống rỗng và đau khổ trong cuộc đời của người đồ đệ, Chúa Thánh Thần, Ðấng an ủi, Ðấng bảo trợ, mà Chúa Giêsu sai xuống từ Thiên Chúa Cha, Ðấng ấy sẽ đồng hành với các môn đệ và trợ giúp họ, để các ngài được luôn trung thành làm chứng cho Chúa.
Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong đời sống của các môn đệ là nền tảng vững chắc cho niềm hy vọng của đồ đệ giữa những thử thách trên trần gian. Và chúng ta nhìn thấy điều này khi đọc qua những trang sách Tông Ðồ Công Vụ, sau khi được Chúa Thánh Thần ngự xuống, các tông đồ như được biến đổi hoàn toàn, từ lo sợ chạy trốn, chuyển sang can đảm, sẵn sàng hy sinh và cương quyết phục vụ. Trong lúc gặp thử thách, trước mặt những người quyền thế ngăn cấm không được làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh, các tông đồ can đảm trả lời công khai: "Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời con người".
Vai trò của Thánh Thần là soi sáng cho chúng ta hiểu biết sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa và Lời của Chúa Giêsu. Trong đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói rằng: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16, 12-13).
Thật vậy, trong khoảng thời gian sống với các môn đệ, có nhiều điều Chúa Giêsu mới chỉ hé mở một chút sự thật mà các ông đã không chịu nổi. Chúa cũng biết khả năng, sức lực, tâm hồn và trí khôn của con người thì có giới hạn trước những thực tại thiêng liêng. Cho nên, Chúa Giêsu hứa ban Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn cho chúng ta ngày càng hiểu biết và yêu mến Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể và là Đấng cứu chuộc nhân loại. Chúa Thánh Thần sẽ nhắc lại cho các thế hệ tín hữu tất cả mạc khải của Chúa Giêsu và giúp đào sâu qua các thời đại.
Nếu chúng ta không ở với Chúa mà chúng ta làm chứng, thì những lời chứng của chúng ta chỉ là “nói lại điều người khác nói”, “trích lại điều đã trích”. Không ở với Chúa, không cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa thì việc làm chứng không có nền tảng, gặp một điều khó khăn sẽ bỏ cuộc tháo chạy. Khi sai các tông đồ đi làm chứng cho Ngài, Chúa Giêsu đã nói : “vì anh em đã ở với Thầy ngay từ đầu”. Các tông đồ ra đi và họ làm chứng về những điều họ đã cảm nhận…
Ta dễ dàng thấy Chúa Giêsu sử dụng nền tảng cho lý luận tiền đề khi Ngài muốn các tông đồ làm chứng cho Ngài đó là : như Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ, Đấng ban nguồn lực cho các tông đồ, Đấng đã nên một với Chúa Giêsu trong màu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa “đã làm chứng” về Chúa Giêsu ; thì các tông đồ những người đã nên một với Chúa Giêsu “cũng phải làm chứng” về Chúa Giêsu. Đã ở với Chúa, đã nên một với Chúa, tất nhiên đã đủ điều kiện làm chứng cho Chúa.
Nhờ Chúa Thánh Thần làm chứng và soi sáng cho chúng ta, là những Kitô hữu, biết nhận ra trách nhiệm của mình đối với Đức Kitô, để trở nên giống hình ảnh Đức Kitô đi loan báo Tin mừng cho thế giới. Mỗi Kitô hữu phải là hình ảnh của Đức Kitô hiện diện trong thế giới, vì Đức Kitô sống lại không còn là Đức Giêsu đi lại cô độc ở Galilê và cầu nguyện cô đơn trong nơi thanh vắng của núi rừng hoang địa. Người chỉ hiện diện nơi các chứng nhân của Người.
Đức Kitô cần nhờ các tín hữu để nói với thế gian như Người đã nói với Phaolô: “Sao ngươi bắt Ta?”. Đức Giêsu sẽ không làm được gì nếu Người chỉ ở trên trời ngự trên ngai tòa bên hữu Đức Chúa Cha. Vì thế, cần phải thêm rằng Người đang hoạt động trên trái đất cùng với những ai đi rao giảng lời Ngài (Mc 16, 19-20). Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, Người cần có những kẻ được cứu chuộc. Đức Giêsu đã sai Thánh Thần đến như đã hứa ở bài này, cần có nhiều người đón nhận Ngài và với Ngài trở nên những chứng nhân làm chứng cho Đức Giêsu trước mặt loài người (Cv5, 32).
Khi nêu lí luận tiền đề để nhắc các tông đồ phải làm chứng, Chúa Giêsu cũng nêu ra một hệ quả tất yếu đó là : Khi làm chứng cho Chúa các tông đồ cũng sẽ “bị khai trừ”, “bị giết” như Chúa đã tiên báo. Cuộc đời của Chúa Giêsu là minh chứng hùng hồn cho các tông đồ và cho cả chúng ta nữa về điều này. Làm chứng cho Chúa chắc chắn sẽ gặp rắc rối khó khăn.
Thánh Thần làm chứng về Chúa Giêsu. Cùng với  Thánh Thần, cả các môn đệ nữa cũng phải làm chứng về “Giêsu”, làm chứng cho Ngài về những gì họ đã thấy đã nghe. Nhưng Chúa cũng đã báo trước: môn đệ phải trả giá rất đắt ngay cả đến trả giá bằng mạng sống để làm chứng về Chúa Giêsu.
Người Kitô hôm nay cần xét lại thái độ sống chứng nhân của mình. Có hai thái cực cần tránh đi, không thể có thái độ vênh vang tự đắc, cũng không được qụy lụy chiều theo qui mô của kẻ chống đối Chúa, cần sống khiêm tốn nhưng đồng thời can đảm mạnh mẽ trong việc phục vụ, chấp nhận phiền phức mà trong lòng vẫn vui tươi. Ðây là kinh nghiệm sống chứng nhân của thánh Phaolô tông đồ khi ngài tâm sự trong thư thứ hai Corintô chương 4, câu 7 và các câu tiếp theo như sau: "Thiên Chúa làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên dung mạo Kitô, nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong bình sành để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp, gian nan nhưng không tuyệt vọng, bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi, bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Chúa Giêsu, để sự sống của Chúa Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình của chúng tôi".
Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy ngoan ngùy dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Sẵn sàng can đảm loan báo lời Chân Lý, chấp nhận mọi thử thách đau thương để Lời Chúa được lan rộng khắp nơi. Tin và sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần còn là một lời mời gọi chúng ta từ bỏ con đường, cách sống và hành vi cũ, chấp nhận lột xác, trở nên con người mới để được biến đổi như các môn đệ khi xưa.

28/05/2019
Thứ Ba Tuần VI Mùa Phục Sinh 

Cv 16, 22-34; ga 16, 5b-11.
SAU ĐAU BUỒN SẼ HƯỞNG NIỀM VUI
Ta thấy trong cuộc sống lắm khi người Kitô hữu thấy Chúa Kitô như vắng mặt. Buồn chán, thất vọng, xao xuyến, sợ hãi, khô khan chiếm lấy lòng mình.Không phải lúc nào cũng thấy Chúa gần bên, ấm áp và thân thiện. Những lúc khó khăn đó lại có thể là dịp để ta tập yêu Ngài cách nhưng không, tin Ngài chỉ tìm điều có ích hơn cho ta, và kiên nhẫn đợi chờ quà tặng bất ngờ do Ngài gửi đến.
Quả thế, thường cuộc chia tay nào cũng có nhiều day dứt. Đặc biệt cuộc chia tay giữa những người thân, người yêu lại càng nhiều cảm xúc, lo lắng, lưu luyến – chưa xa mà lòng đã bồi hồi. Bởi thế, khi loan báo cuộc ra đi trở về cùng Cha, thầy trò Đức Giê-su cũng không tránh khỏi niềm xao xuyến ấy: “Bây giờ Thầy đến cùng Đấng đã sai Thầy, và không ai trong anh em hỏi: ‘Thầy đi đâu ?’ Nhưng vì Thầy nói ra các điều ấy, nên lòng anh em tràn ngập ưu phiền.” Tuy nhiên, vì tình yêu mà Thầy phải ra đi vì: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em.” Quả vậy, Chúa Thánh Thần – Thần Tình yêu và Chân Lý, Sự khôn ngoan của Thiên Chúa sẽ đến để ‘dạy bảo anh em mọi điều.
Thánh Thần minh oan cho Đức Kitô, Đấng Công minh sáng suốt: “Đấng Bảo Trợ cho thấy rằng, nếu cái chết của Đức Giêsu bị xem là nhục nhã dưới lăng kính người đời, thì lại được Chúa Cha tôn vinh.” Bởi vì cái chết của Đức Giê-su là do tình yêu hy sinh ‘hiến mạng vì bạn hữu’ của Ngài. Vì thế Ngài rất đẹp lòng Chúa Cha và được Cha tôn vinh đặt làm ‘Chủ tể muôn loài’. Cuộc đời có Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ giúp chúng ta thi hành sự công chính mà Đức Giêsu truyền dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau như chính thầy đã yêu thương anh em. Điều thầy truyền dạy là anh em hãy yêu thương nhau.” (Ga 15, 12.17). Vì theo Kinh thánh người công chính là người ‘chu toàn lề luật’.
Và lề luật Đức Giêsu dạy ở đây đó là “yêu thương nhau như Đức Giê-su” một tình yêu vị tha hoàn toàn vô vị lợi. Do đó, khi yêu thương chúng ta đừng sợ thiệt thòi. Trong lăng kính của tình yêu vị tha không bao giờ có sự tính toán và cảm giác thua thiệt khi yêu thương phục vụ và cho đi. Trái ngược lại, tình yêu vị kỷ luôn luôn qui về mình, về lợi ích của mình và kết án tình yêu vị tha là ngu dại. Nhưng dưới con mắt Thiên Chúa thì “Tất cả những gì thế gian cho là ngu dại lại là sự khôn ngoan của Người.” Chúng ta chọn Thiên Chúa hay chọn thế gian tùy vào niềm tin của chúng ta đặt vào đâu. Nếu chọn Thiên Chúa, sống theo lời Ngài thì phần thưởng nước trời sẽ là gia nghiệp của chúng ta.
Các môn đệ Chúa Giêsu đau buồn xao xuyến vì sắp chia tay Thầy; thế mà Chúa Giêsu lại trấn an họ rằng việc ra đi của Ngài là “có lợi” cho các ông. Quả vậy, qua cuộc tử nạn và phục sinh, Chúa Giêu khơi nguồn ơn cứu rỗi cho nhân loại. Nhưng để nguồn sống mới đó thấm nhập được nơi các tâm hồn, Chúa Cha sẽ ban Thánh Linh đến và ở cùng Giáo Hội luôn mãi. Thánh Linh sẽ giúp cho các môn đệ hiểu biết giáo huấn của Chúa Giê-su, ban cho các ông sức mạnh để làm chứng về Ngài. Chính Thánh Thần sẽ ban muôn ơn huệ dồi dào làm cho Giáo Hội xinh đẹp, sống dồi dào và luôn hiệp nhất với nhau để tiếp tục sứ vụ sứ mạng cứu rỗi của Chúa Giêsu ở trần gian. Như vậy Thánh Linh là Đấng đến để hoàn tất sứ vụ cứu thế của Chúa Giê-su.
Tâm trạng của con người trước sự ra đi nào cũng có những bùi ngùi xúc động, nhất là những cuộc ra đi thật xa. Sự ra đi của Chúa Giêsu xa chắc chắn sẽ để lại sự trống vắng, xao động và mất đi sức mạnh cho các tông đồ. Ngay cả tâm trạng của Chúa Giê-su trước khi ra đi trở về cùng Cha cũng không tránh khỏi những lo lắng ưu tư cho các môn đệ của Ngài còn ở lại trần gian: các tông đồ sẽ bơ vơ, sẽ bị chống đối, sẽ bị bắt bớ, sẽ bị chao đảo….Vì thế, Chúa Giê-su đã hứa với họ, Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần đồng hành với các môn đệ, khi Ngài không còn sự hiện diện hữu hình, nhưng Ngài sẽ không để các ông bơ vơ một mình: “Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Chính Chúa Thánh Thần sẽ làm chứng cho Đức Kitô
Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu là chiến thắng quyền lực của thần chết để có ai bước theo Ngài không còn lo buồn thất vọng, nhưng phấn khởi vui mừng vì một ngày kia cũng sẽ được thông phần vinh quang với Ngài. Tất cả biến cố Tử nạn và Phục Sinh này dù đã được Chúa Giêsu giảng giải, các tông đồ vẫn chìm trong tăm tối. Chỉ khi Chúa Thánh Thần hiện xuống ban sức mạnh cho họ thì họ mới vững mạnh tuyên xưng lòng tin và đám đông dân chúng nghe theo họ cũng được Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy họ hành động. Các tông đồ mạnh dạn rao giảng về Ðức Kitô, đám đông âu lo tìm kiếm xem họ phải làm gì và họ thực hành đúng điều Thiên Chúa muốn.
Khi Đức Kitô được siêu tôn vinh hiển, đến lượt Chúa Thánh Thần đóng vai trò nổi bật. Chúa Giêsu chấp nhận  xoá mình đi để nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần đến hoạt động trong Hội Thánh sơ khai. Và Ngài còn báo trước việc Ngài ra đi như thế là vì lợi ích của Hội Thánh. Mà quả thật là có lợi! Chúa Thánh Thần hoạt động nơi các tông đồ và các tín hữu đã làm cho Hội Thánh phát triển nhanh chóng.
Trong viễn tượng của mầu nhiệm Đức Kitô lên trời và mầu nhiệm Thánh Thần hiện xuống, chúng ta được mời gọi đặt mình trong niềm vui của Con Thiên Chúa và của Thiên Chúa, khi sai Thánh Thần đến với chúng ta ; và xin cho chúng ta nhận ra và cảm nếm, niềm vui của Thiên Chúa Ba Ngôi là niềm vui của chính chúng ta.
            Thánh Thần được sai đến với các môn đệ Chúa Giêsu và thế gian năm xưa, cũng chính là Thánh Thần mà Mẹ Giáo Hội đang muốn chuẩn bị cho con cái mình lãnh nhận trong lộ trình phụng vụ mùa phục sinh. Đấng Ấy sẽ đến với bộ mặt của tình yêu, với tiếng nói của tình yêu ; sẽ đưa những sai lầm của chúng ta đến với ánh sáng của tình yêu và sẽ đốt cháy những sai lầm ấy bằng ngọn lửa của lòng xót thương vô bờ nơi Trái Tim Thiên Chúa. Đó là cung cách hành động của Tình Yêu. Và khi Tình Yêu hành động, ta sẽ được biến đổi, được sống, được an bình trong Ánh Sáng Vĩnh Cửu của Đấng Phục Sinh.
Ta thử xét mình xem chúng ta đã gắn bó bản thân với Thiên Chúa hay chưa? Chúng ta có chấp nhận những chân lý Ngài dạy – chân lý về tình yêu, sự tha thứ, lòng khoan dung, tinh thần phục vụ… như là sự khôn ngoan, là kim chỉ nam để thi hành trong cuộc sống hay không? Hay chúng ta chỉ cậy dựa theo sự khôn ngoan thế tục trong cách hành xử của mình?
Rất thường, chúng ta hay gác lời dạy của Chúa sang bên lề cuộc sống để hành xử theo thế gian. Tuy không trực tiếp lên án, giết Chúa Giêsu, nhưng thực tế, Ngài đã bị bỏ quên hay chỉ còn là một món đồ trang sức cho cuộc sống của chúng ta. Đấng Bảo Trợ đến, Ngài sẽ phơi trần tội lỗi thế gian. Xin Chúa Thánh Thần đến với chúng ta để đem ra ánh sáng những vùng tối tăm trong tâm hồn, và xin Ngài thanh tẩy bằng lửa hồng mến yêu để chúng ta dám chết đi cho tội lỗi hầu đáng được hưởng phần vinh phúc với Đức Kitô.
Ta thấy ngày nay con người tiếp tục không tin và lên án giết Chúa Giêsu qua việc chống đối Giáo hội của Ngài. Sách Giáo lý Hội thánh Công Giáo định nghĩa: “Tin là gắn bó bản thân con người với Thiên Chúa, đồng thời chấp nhận tất cả chân lý được Thiên Chúa mặc khải.”
Xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sống được tâm tình của Chúa Giêsu là sẵn sàng hy sinh, lùi vào ở “ẩn” để nhường chỗ cho luồng khí mới, làm môi trường sống được đổi mới. Xin Chúa Thánh Thần cũng ban cho chúng ta ý thức hơn vai trò âm thầm nhưng thật mãnh liệt của Chúa Thánh Thần trong đời sống tâm linh để ta luôn biết gắn bó và hợp tác với Chúa Thánh Thần để biến đổi canh tân đời sống tâm linh cá nhân, và đời sống của giáo hội. 

29/05/2019
Thứ Tư Tuần VI Mùa Phục Sinh  

Cv 17, 15. 22 - 18,1; Ga 16, 12-15
THÁNH THẦN VÀ SỨ MẠNG
Trong trình thuật Tin mừng hôm nay Đức Giêsu nói với các môn đệ Người cũng có ‘nhiều điều’ hơn, hay nói khác đi Người hứa hẹn có một “Đấng đa năng” có thể giải quyết ‘nhiều điều’ để cho các môn đệ cũng như cho bạn và cho tôi; nhưng không như những mặt hàng quảng cáo, chúng ta không phải trả bất kỳ khoản phí vận chuyển hoặc xử lý phân phối bổ sung nào. Tất cả những gì là kiến thức, trí tuệ, sự hiểu biết và tình yêu - Người muốn ban tặng tất cả những điều đó cho chúng ta và Người muốn chúng trở thành của mỗi cá nhân, của bạn cũng như tôi!
Khi Đức Giêsu nói những lời trên với các môn đệ, Ngài biết rằng họ đang lo lắng về tương lai của họ; bởi vì Người đã nói với họ rằng Người sẽ ra đi, mà không phải là đi lên vinh quang, nhưng là đi để chịu khổ nhục, chịu bắt bớ, lên án và bị giết chết - còn nỗi buồn phiền nào hơn! Tuy nhiên điều tệ hơn nữa, Người còn loan báo cho họ biết rằng sau khi Người ra đi, chính họ sẽ phải trải nghiệm nhiều sự chống đối và bách hại…. Tất cả những gì họ học được từ Chúa Giê-su trong ba năm theo Người, và những kinh nghiệm từ chính bản thân họ dường như không đủ để họ đối mặt với viễn cảnh của một cuộc sống mà không có Người. Vì vậy, những lời của Đức Giêsu ở đây có tác dụng động viên khích lệ các môn đệ để các ông vững tin vào người.
Đức Kitô khi đến trong trần gian đã đem lại cho nhân loại sự thật về Thiên Chúa tình yêu. Ngài rao giảng sứ điệp đó không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng cả một cuộc đời hiến tế, để có thể nói lên tiếng nói yêu thương cho đến cùng, cho đến chết trên thánh giá. Tuy nhiên, con đường đó lại là “điên rồ đối với người Hy lạp”, “vấp phạm đối với người Do thái”, và cũng là “nghịch lý” đối với người thời nay. Vì thế, đó cũng là con đường không mấy ai hiểu, không mấy ai theo; hoặc không muốn hiểu, không muốn theo: “Bây giờ, anh em không có sức chịu nổi”. Sự thật toàn vẹn đó chỉ có thể hiểu nổi, theo nổi nhờ Thần Khí.
          Thánh Thần được ban cho các môn đệ khi Đức Giêsu ra đi về cùng Cha. Nói cách khác, Đức Giêsu, Đấng Được Xức Dầu đến và hành động theo thánh ý Chúa Cha là do bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Nay công cuộc cứu độ đã hoàn tất, Ngài lại ban Thánh Thần cho nhân loại để tiếp tục hoàn thành ơn cứu độ ấy nơi lòng của từng người và của thế giới. Như thế vai trò của Chúa Thánh Thần hôm nay trong Hội Thánh là đưa dẫn Hội Thánh tới của ơn cứu độ trọn vẹn. Để thực hiện vai trò này, Chúa Thánh Thần không làm điều gì khác. Ngài chỉ nhắc cho Hội Thánh nhớ lại những gì Đức Kitô, và khi Hội Thánh đã nhớ, Ngài giúp cho Hội Thánh thấu hiểu. Chúa Thánh Thần chính là “trí nhớ của Hội Thánh”.
          Ðón nhận hiểu biết từ Thánh Thần đối với các môn đệ là một khám phá lại về Đức Giêsu, vì Thánh Thần loan truyền những gì đã lãnh nhận từ Ngài. Ðây chẳng phải là một vòng luẩn quẩn hay dư thừa, vì dù cho đã sống ba năm hay hơn nữa, các môn đệ vẫn chưa hiểu về Thầy, nếu không được Thánh Thần hướng dẫn.
Biến cố hiện xuống của Chúa Thánh Thần là lật lại trang sử cuộc đời của Đức Giêsu. Nếu trước đây các tông đồ đã sống trong những trang sử ấy và đã không hiểu gì thì bây giờ nhờ sự trợ giúp của Thánh Thần, các ông sẽ đọc được ý nghĩa của các dấu chỉ. Bây giờ Phêrô sẽ không còn khó chịu khi thấy hai bàn tay đã làm nhiều phép lạ lại sẵn sàng đưa ra cho người ta bắt trói. Ông cũng sẽ không còn trốn chạy trước khổ hình Thập Giá. Nhờ Thánh Thần, Phêrô và các tông đồ đã thực sự hiểu biết. Sự hiểu biết đã mang lại cho các ông sức mạnh, vì hiểu biết giúp các ông sáp nhập vào Ðức Kitô. Họ sống nhưng không còn là họ sống nữa mà là chính Ðức Kitô sống trong họ.
Và cũng chẳng có một sự thật, một con đường và một sự sống nào khác ngoài Chúa Kitô, nên người tín hữu hôm nay cũng được mời gọi hướng về Ngài. Như các tông đồ xưa, họ đã chẳng khám phá ra Ðức Kitô, nếu không được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Thiếu vắng Thánh Thần, cái nhìn của tín hữu chỉ là cái nhìn chủ quan, hiểu biết cũng hạn hẹp, mù lòa. Chính khi đã khám phá ra sự thật, họ mới vững niềm tin và mạnh dạn bước theo tiếng gọi của Ngài.
Những điều Thiên Chúa muốn nói qua Người Con đã được ghi lại trong bộ Thánh Kinh, còn Chúa Thánh Thần dần dần vén màn cho chúng ta thấu hiểu được sự thật toàn vẹn. Chính vì thế, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy các tông đồ phải đợi đến khi Chúa Thánh Thần hiện xuống mới hiểu được những lời Chúa Giê-su đã nói. Và cũng không lạ khi những lời đã được viết ra cả hằng ngàn năm nay, mỗi khi được tuyên đọc, vẫn khơi dậy trong chúng ta những tâm tình những hiểu biết và những sứ vụ luôn luôn mới.
Nhờ sự hướng dẫn của Thần Khí giúp ta quyết định đúng đắn hay khi ta phải xem xét một tình huống khó khăn, hoặc có một cuộc trò chuyện căng thẳng, mà  có một câu hát, dòng nhạc từ bài thánh ca nào đó làm sáng lòng bạn, soi dẫn những tâm tư suy nghĩ của bạn, thì đó cũng có thể là do Thần Khí. Hoặc có một câu Kinh thánh tác động đến bạn như một phương thế để bạn có thể giúp một trong những đứa con của bạn, hoặc những đứa trẻ mà bạn có trách nhiệm; đó cũng là nhờ bởi Thần Khí. Hay khi có một người bạn trao tặng một lời khuyên làm xuyên thấu tâm tư, rung động trái tim của bạn - một lần nữa, đó có thể là nhờ Chúa Thánh Thần…
Như vậy, trong cuộc sống của chúng ta luôn có Chúa Thánh Thần làm bạn đồng hành mà chúng ta có thể cậy dựa, cầu xin bất cứ lúc nào như lời Ðức Giêsu đã hứa “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.” (c. 13b) - Chúa Thánh Thần là “Đấng Đa Năng” tuyệt vời!
Thánh Thần chỉ có sứ mạng là đưa con người đến với Cha và Con là Ðức Giêsu. Ngài chẳng tìm vinh quang cho mình, nhưng chỉ tìm tôn vinh và làm chứng cho Ðức Giêsu. Cha cũng chẳng tim mình. Cha chẳng giữ gì làm của riêng. “Mọi sự Cha có đều là của Thầy” (c.15) Cha là nguồn mạch luôn trào dâng qua Con. Con là Con vì đón nhận tất cả từ Cha. Tình yêu liên kết Cha và Con là Thánh Thần, Khi chiêm ngắm thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta thấy đó là một cộng đoàn lý tưởng. Mỗi ngôi vị đều sống cho hai ngôi vị kia. Yêu thương và hiệp thông với nhau đòi từ bỏ Nhưng từ bỏ lại làm cho mỗi ngôi vị trọn vẹn là mình, và sống trong hạnh phúc viên mãn. 
Đức Chúa Giêsu đã muốn dạy dỗ và đào tạo các môn đệ, về mọi phương diện để các ông có thể trở nên nhân chứng có uy tín về Đấng Thiên Chúa sai đến giải thoát nhân loại. Nhưng vì các môn đệ Chúa chưa được vững dức tin lại nhát gan và khả năng tiếp thu chưa được phát triển. Điều này cũng cần phải có thời gian, cần thử thách. Nên khi về cùng Thiên Chúa Cha, Đức Giêsu sẽ xin Thiên Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến để khơi dậy những điều Chúa Giêsu đã dậy các ông. Đồng thời Chúa Thánh Thần cũng cho các ông nhớ lại gương sáng của Đức Giêsu.
Các môn đệ cũng vì cảm thấy mình còn thiếu thốn về hiểu biết, về ngôn ngữ để trình bày chân lý nên cũng sợ, cũng lo. Vậy Chúa Giêsu đã nói với các ông: Thày có nhiều điều phải nói nhưng vì anh em không có sức tiếp thu cả một lúc, nhưng khi Thần khí được Cha sai đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Đức Chúa Thánh Thần sẽ nói cho anh em những điều Thày đã nói với anh em, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em những điều sẽ còn xảy đến.

30/05/2019
Thứ Năm Tuần VI Mùa Phục Sinh  

BÀI ĐỌC I: Cv 18, 1-8; Ga 16, 16-20
CHÚA PHỤC SINH ĐANG HIỆN DIỆN
Chúa Giêsu đến trần gian để chu toàn sứ mạng cứu độ Chúa Cha trao phó. Sứ mạng yêu thương ấy được Ngài thực hiện ngang qua cuộc tử nạn và phục sinh của Ngài. Sau cuộc tử nạn đầy thương đau thảm khốc, Chúa Giêsu đã âm thầm chịu an táng trong mồ ba đêm ngày. Đây là một thời gian ngắn ngủi Ngài vắng mặt, không còn hiện diện bên các môn đệ. Rồi sau khi hoàn tất sứ mạng cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu lại trở về bên cung lòng yêu thương của Cha, nơi Ngài đã phát xuất. Chính sự ra đi này của Ngài đã để lại trong lòng các môn đệ một sự mất mát, một sự trống vắng và một nỗi buồn khó tả. Cảm thông được tâm trạng của các môn đệ, Chúa Giêsu đã loan báo Ngài sẽ trở lại với các ông, và khi ấy niềm vui sẽ lại tràn trào bất tận.
Tin Mừng theo Thánh Gioan hôm nay như Lời nhắn nhủ riêng thật thắm thiết với mỗi người chúng ta. Bởi vì những Lời này đã được Chúa tâm sự trong bữa tiệc chia tay. Chúa nói với các môn đệ: “Một ít nữa, anh em sẽ không xem thấy Thầy, rồi một ít nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy”. Câu này thật khó hiểu đối với các môn đệ ngày ấy, nhưng có thể dễ hiểu với chúng ta ngày nay, vì chúng ta biết rõ cái chết trên thập giá đang chờ Chúa Giêsu. Và chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, các môn đệ không còn được thấy Thầy mình nữa. Rồi chúng ta lại biết rằng chỉ một thời gian ngắn sau đó, Chúa Giêsu sẽ Phục sinh, và sẽ hiện ra cho các môn đệ thấy.
Lời tâm sự của Chúa Giêsu với các tông đồ đang trong bối cảnh Bữa Tiệc Ly: ngay sau đó Chúa bị bắt, bị đánh đập, xét xử, bị lên án và bị đóng đinh trên thập giá, lúc này các tông đồ sẽ không thấy Chúa. Nhưng sau ba ngày Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu sống lại. Từ đây Đức Giêsu sẽ khởi đầu một đời sống mới, đời sống vinh quang muôn đời, đời sống bất diệt, lúc này các tông đồ sẽ vui mừng được nhìn thấy Chúa.
“Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy”. Đây là hai thái độ chiêm ngắm Đức Giêsu hoàn toàn khác nhau: Nhìn thấy Đức Giêsu trong lúc Chúa chịu đau thương và dẫn đến cái chết, là cái nhìn thể lý bằng xương bằng thịt. Nhìn Đức Giêsu Kitô Phục Sinh vinh hiển là cặp mắt nhìn trong đức tin, trong kinh nghiệm thiêng liêng.
Thật sự mất Thầy là một thách đố thật lớn trong đời người môn đệ. Thầy là chỗ dựa, là lý do khiến họ chấp nhận cuộc sống bấp bênh này. Chính Thầy đã gọi, đã kéo họ ra khỏi gia đình và nghề nghiệp ổn định, để lang thang đó đây. Bây giờ mất Thầy, các môn đệ biết đi về đâu và đi với ai?
Vì thế hơn ai hết, cái chết và sự Phục sinh của Chúa Kitô gắn liền với sự đau khổ và niềm vui của các môn đệ. Hay nói một cách chính xác hơn cái chết và sự Phục sinh của Chúa Kitô chiếu dọi ánh sáng vào mọi đau khổ của con người. Niềm tin Kitô giáo không chối bỏ cái chết và sự đau khổ, nhưng qua cái chết và sự Phục sinh của Chúa Kitô, Kitô giáo không còn nhìn cái chết và sự đau khổ như một ngõ cụt của cuộc sống. Trái lại, trong ánh sáng Phục sinh của Chúa Kitô, cuộc sống con người mang một ý nghĩa thật tuyệt vời, cho dù đâu đó còn đầy dãy những đau khổ mà con người phải trải qua.
“Anh em sẽ khóc lóc và than van… Anh em sẽ buồn phiền…”. Khi tảng đá đã khép kín ngôi mộ, chẳng còn thấy Thầy nữa, khi thế gian và thủ lãnh của nó hả hê vui sướng vì chiến thắng, liệu người môn đệ có vượt qua được nước mắt đau đớn này không?
“Một ít nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy… và nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui”. Anh em sẽ lại thấy Thầy lúc Thầy hiện ra gặp anh em sau Phục sinh, lúc Thầy sai Thánh Thần đến nâng đỡ anh em, và nhất là lúc Thầy đồng bàn với anh em trong bữa tiệc Thiên Quốc.
Chúa Giêsu mời gọi người môn đệ hãy tham dự vào mầu nhiệm vượt qua của Ngài, có nghĩa là cả những lúc tăm tối nhất của cuộc đời, những lúc như không còn thấy Chúa, thì vẫn phải bám chặt lấy Ngài để tiến bước. Đời sống người Kitô hữu đan xen giữa vui với buồn. Có lúc như thấy mất Chúa và mất hướng, thấy thất vọng và buồn chán. Đó là lúc chúng ta phải chia sẻ cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa. Cuộc sống cho dẫu có đau khổ thế nào đi chăng nữa, người theo Chúa vẫn luôn tìm được ý nghĩa đích thực cho cuộc sống mình, vì mình đang đi trên con đường chính Chúa đã đi.
Cạnh đó, tham dự vào mầu nhiệm của Chúa cũng còn có nghĩa là bằng con mắt đức tin, nhận ra Chúa nơi những người anh chị em đang đau khổ ở xung quanh chúng ta, yêu thương  những anh chị em đó như chính Chúa đã yêu thương ta. Sự cảm thông, chia sẻ, phục vụ đối với những anh chị em đang đau khổ này,giúp họ chấp nhận được cuộc sống với những bất toàn, những trái ý, làm cho tâm hồn họ cũng có được bình an , niềm vui và hy vọng. Và như thế, ánh sáng Tin mừng Chúa Phục sinh đang thực sự làm cho tâm hồn mỗi người chúng ta đang được hồi sinh.
Và rồi ngày nay Chúa không còn hiện diện hữu hình bên chúng ta như xưa bên các môn đệ. Nhưng Ngài hiện diện trong Thánh Thể, Lời Chúa, Giáo hội và mọi biến cố trong cuộc đời ta. Ngài vẫn luôn âm thầm đồng hành bên chúng ta trên hành trình Emmau của mỗi cuộc đời. Ngài nhẹ nhàng ủi an nâng đỡ và phấn khích chúng ta hãy can đảm vượt thắng những cám dỗ, lôi cuốn của trần thế để trung thành sống đức tin giữa dòng đời. Ngài mời gọi chúng ta hãy tiếp tục sứ mạng yêu thương của Ngài trong mọi môi trường sống của chúng ta. Ngài nhắc nhở chúng ta hãy gieo niềm vui, tình yêu thương của Ngài đến với mọi tâm hồn chúng ta tiếp xúc trên hành trình cuộc sống. Chúng ta cần phải xác tín sâu xa rằng: đức tin chính là điều cốt yếu trong cuộc sống của chúng ta hôm nay.
Đời sống người Kitô hữu luôn luôn bao gồm những lúc chờ đợi với ít nhiều buồn thảm và những lúc gặp gỡ vui mừng. Như một đợt sóng có lúc hạ xuống. Đời sống con cái Chúa cũng bồng bềnh trong đau khổ và niềm vui như vậy. Xin đừng quên Lời Chúa: “Nỗi vui mừng của các con không ai giật mất được” (c.22). Niềm vui của chúng ta là niềm vui đã được Chúa cứu chuộc, không còn bị án nào nữa. Chúng ta đã được gia nhập vào Giáo Hội cùng phép Rửa Tội, được Chúa huấn luyện bằng Lời Chúa, được Ngài nuôi dưỡng bằng Mình Máu Ngài. Mỗi ngày sống chúng ta vui mừng vì sẽ được về gần trời.
Và rồi nếu ta trung thành với Chúa, biết đón nhận các hoàn cảnh ấy cách vui tươi, thì nhờ ơn Chúa, các gian nan, khó cực, và thất bại ấy sẽ giúp ta trở thành người Ki-tô hữu trưởng thành hơn. Khi sinh con, người sản phụ đau đớn, nhưng sau đó, vui mừng vì một người con mới ra đời, người mẹ sẽ không còn nhớ cơn đau quặn trước đó. Các môn đệ sẽ lo sợ, buồn phiền trước các đau khổ xảy ra cho Thầy mình và cho các ông. Thế nhưng, Ngài muốn các ông hướng nhìn về niềm vui trọn vẹn không ai có thể tước đoạt khỏi các ông, khi các ông chứng kiến Ngài sống lại vinh quang.
Con người hôm nay đang bị nhận chìm giữa bao lớp sóng của thú vui, hưởng thụ, ích kỷ, đam mê, tranh chấp . . . Họ tưởng rằng những thứ ấy sẽ mang lại cho họ niềm vui và hạnh phúc. Nhưng thật thương tâm biết bao, khi mỗi ngày con người chỉ cảm thấy chán chường, bất an, lo âu, sợ hãi trước muôn vàn nguy cơ đang muốn vùi lấp họ trong những thứ giả tạo ấy.
Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy là chứng nhân đức tin đích thực của Đức Kitô trong cuộc sống thường ngày. Một cuộc sống thanh thoát với của cải vật chất, không bận tâm tới danh vọng quyền chức, chỉ tha thiết sống yêu thương, biết gieo niềm vui đến cho mọi người, tận tâm phục vụ tha nhân và luôn sẵn sàng chia sẻ với mọi người. Hãy chứng tỏ cho mọi người thấy rằng: Chúa Kitô Phục Sinh đang hiện diện và đồng hành bên chúng ta hôm nay và mãi mãi. Chỉ nơi Ngài và trong Ngài, con người mới có được niềm vui và hạnh phúc viên mãn.

 

31-5-2019 Thứ Sáu tuần VI PS
Xp 3, 14-18a; Hoặc đọc: Rm 12, 9-16; Lc 1, 39-56
NIỀM VUI THĂM VIẾNG
          Trong đời sống đức tin, chúng ta được chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà chị họ Elizabeth. Đó là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Sự gặp gỡ ấy được thúc đẩy trong ân sủng của Thiên Chúa. Giây phút gặp gỡ đó là sự chia sẻ niềm vui trọng đại mà lòng thương của Thiên Chúa tuôn đổ trên hai chị em. Hơn thế nữa, đó còn là một sự giúp đỡ nhau trước những khó nhọc và gánh nặng sẽ đến trong thời kỳ mang thai của hai người.
          Đức Maria lãnh nhận được một niềm vui cao trọng là cưu mang Con Một Thiên Chúa trong cung lòng của mình. Niềm vui cao trọng ấy đã không đưa Mẹ đến với thái độ tự cao, tự đại. Nó cũng không đưa Mẹ đến chỗ khép kín lòng mình để hưởng riêng hạnh phúc ấy. Nhưng ngay lập tức, Mẹ đã lên đường để chung chia niềm vui với người chị họ của mình là Elizabet. Niềm vui sâu thẳm đó đã không ngăn nổi bước chân yếu mền của người phụ nữ, trước vạn dặm xa xôi, đường xá cách trở để viếng thăm người chị họ của mình.
          Đức Mẹ nhận thấy Chúa Giêsu trong cung lòng Mẹ đã sớm làm những việc lạ lùng và, Mẹ được đặc ân cao cả nên Mẹ đã khiêm hạ cất tiếng cao rao chúc tụng Chúa (Lc 1, 46-55). Chỉ có Chúa Giêsu âm thầm trong cung lòng Đức Mẹ, không tỏ ra dấu hiệu nào. Coi như Chúa thụ động nhưng lại rất chủ động trong biến cố Thăm viếng này. Chúa thường giấu ẩn uy quyền của Người để tỏ cho chúng ta biết quyền lực của Người vô hình, chuyển động mọi sự, điều khiển mọi sự cách kín đáo. Thế nhưng ảnh hưởng quyền lực của Người rất sống động và sâu rộng. Người làm cho thai nhi Gioan được khỏi tội Nguyên tổ trong lòng Thánh Elizabeth. Đó là phép lạ đầu tiên trong ơn thánh mà Chúa âm thầm làm ngay khi còn trong cung lòng Mẹ Maria.
          Đức Mẹ đi thăm chị họ của mình cũng có thể nói là Mẹ ra đi truyền giáo. Theo Tin Mừng viết thì Đức Mẹ đi một mình. Nhưng với niềm tin của chúng ta, Đức Mẹ đi cùng với Thiên Chúa vì Mẹ đã được Thiên Chúa chúc phúc, được tuyển chọn, là người của Chúa, thuộc về Chúa và cũng đang cứu mang Con Một Thiên Chúa. Như vậy trên đường đến thăm chị họ, Đức Mẹ luôn có Chúa đi cùng. Đức Mẹ đi trong niềm vui và mang niềm vui đến cho mọi người. Niềm vui ấy được thể hiện nơi thai nhi của bà Êlisa bét: “Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng” (Lc 1, 44). Chúng ta hãy bắt chước Mẹ lên đường trong niềm tin rằng chúng ta không bao giờ đi một mình, chúng ta luôn có Chúa thân hành và hiện diện.
          Thứ đến, động lực thúc đẩy Đức Mẹ lên đường là do lòng yêu mến và tình người của Đức Mẹ. Khi đã có lòng yêu thương thì có gian nan, xa xôi thì cũng điều vượt qua. Đức Mẹ biết chị họ đã già, lại có thai lần đầu tiên và được sáu tháng nên rất cần người giúp đỡ. Đức Mẹ đã đến ở và giúp người chị của mình. Học nơi mẹ, chúng ta đừng có thái độ làm ngơ hờ hững với anh em họ hàng của mình. Chúng ta hãy yêu thương, quan tâm giúp đỡ khi họ cần vào lúc thuận tiện có thể. Nhờ đó, chúng ta được thêm niềm vui và anh em mình cũng được hạnh phúc như Đức Mẹ vậy.
          Chính cuộc viếng thăm ấy, Đức Mẹ cảm thấy vô cùng hạnh phúc không gì diễn tả nổi. Đức Mẹ đã cất cao bài “Magnificat”. Một bài ca vang mãi muôn đời. Bài hát mà Giáo Hội đã làm lời kinh trong phụng vụ. Cùng với Giáo Hội chúng ta hãy hát lên và sống bài ca ấy. Bài ca của niềm vui trọn vẹn và đích thực. Niềm vui vì nhìn thấy được công trình cứu chuộc của Thiên Chúa; vui vì tìm được nguồn chân lý, công bằng và sự thật và vui vì con đường đến với Thiên Chúa còn có rất nhiều người cùng đi.
          Họ đến với nhau để san sẻ, họ đã đến với nhau bởi tình người, họ đến với nhau để niềm vui được nhân lên và họ đến với nhau nhờ tình Chúa.
          Mẹ đã lên đường không chỉ để đem niềm vui đến với Elizabet. Mẹ còn lên đường để đến giúp đỡ, san sẻ gánh nặng mà Elizabet sẽ đối diện khi đang mai thai đứa con đầu lòng ở tuổi già. Mẹ đã hình dung được sự cần giúp đỡ nơi người chị họ của mình. Mẹ thấu hiểu được sự quan trọng trong tương quan tình người giữa những lúc khó khăn. Mẹ đã đến ở với Elizabet, phục vụ chị trong lúc lòng mang dạ chửa. Mẹ đến để nơi đó, cả niềm vui lẫn khó khăn sẽ trở nên cảm xúc chung của cả hai chị em.
          Và rồi ta thấy đáp lại lời chào mừng của Đức Trinh Nữ, bà Elizabeth nói: "Phúc cho em là người đã tin mọi điều Chúa phán truyền cho em sẽ được ứng nghiệm" (Lc 1, 45). Những lời này được nói ra do Chúa Thánh Linh và đề cao nhân đức cốt yếu của Mẹ Maria là "đức tin". Các Giáo phụ của Giáo hội đã suy niệm nhiều ý nghĩa của nhân đức này trong cuộc sống của Đức Trinh Nữ. Các ngài không ngần ngại diễn tả những bình luận có thể làm chúng ta ngạc nhiên. Như Thánh Augustinô nói: "Tính cách người mẹ của Đức Trinh Nữ không ích chi cho Người, nếu Người không cưu mang Chúa Kitô trong tâm lòng hơn là trong cung dạ".
          Niềm vui của hai người phụ nữ gặp nhau đã được nhân lên bội phần khi đứa con trong lòng Elizabet nhảy vui hớn hở. Khi niềm vui được sẽ chia thì cũng là lúc giá trị của nó được nâng lên. Niềm vui của họ đã lan tỏa cả đến những người con của họ, dù đang ở trong bào thai. Niềm vui của mẹ cũng sẽ là niềm vui của con. Niềm vui của em cũng sẽ là niềm vui của chị. Đó là khung cảnh diệu kỳ trong giây phút gặp gỡ của hai chị em. Hơn thế nữa, đó còn là giây phút tình Chúa hòa quyện với tình người trong sự sẽ chia và tương trợ lẫn nhau.
          Tình người trong cuộc sống là sợi dây vô hình giúp chúng ta cảm thấy nhẹ gánh và dễ dàng thăng tiến hơn. Khi mà thế giới này đang đưa con người đến chỗ ích kỷ, hờ hững, thờ ơ với nhau thì mỗi chúng ta được mời gọi hãy mạnh dạn lên đường trao ban và chia sẽ cả niềm vui lẫn nỗi buồn của cuộc sống.
          Nhờ đức tin của Mẹ, Mẹ Maria có thể không sợ hãi tới gần vực thẳm chủ định cứu độ khôn dò của Thiên Chúa: Không dễ gì tin rằng Thiên Chúa muốn "mặc xác phàm và đến ở giữa chúng ta" (Ga 1, 14). Người muốn ẩn mình trong đời sống thường ngày vô nghĩa của chúng ta, và mặc lấy nhân tính yếu hèn phải chịu nhiều điều kiện mất thể diện. Mẹ Maria đã dám tin dự án "bất khả hữu = impossible" này. Mẹ tin cậy vào Đấng toàn năng và trở thành người cộng tác vào sáng kiến lạ lùng của Thiên Chúa đã mở ra niềm hy vọng cho lịch sử chúng ta.
          Và rồi mỗi Kitô hữu chúng ta hãy xin ơn và luôn bắt chước gương thăm viếng của Mẹ Maria. Hãy thăm viếng nhau và đem lại cho nhau những niềm vui và sự bình an. Hãy thăm viếng những người yếu đau và có thể mang theo những món quà với tình thương mến. Bề trên hãy thăm viếng những người bề dưới với sự đồng cảm và sẻ chia. Bề dưới hãy thăm viếng bề trên với lòng hiếu kính. Đặc biệt, trong các cuộc thăm viếng hãy mang Chúa đến cho tha nhân, như Đức Mẹ đem Chúa đến cho cả gia đình ông Giacaria ngày xưa.

01   Thứ Bảy đầu tháng tuần 6 PS.

Thánh Justinô, Tđ. Lễ nhớ

Cv 18:23-28; Ga 16:23b-28

            GẮN KẾT VỚI CHÚA ĐỂ HƯỞNG TRỌN NIỀM VUI

Trong lúc truyện trò thân mật với các môn đệ trước khi bước vào cuộc thương khó, Đức Giêsu đã ân cần căn dặn: “Chúa Cha yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15, 9-11).

Niềm vui của người kitô hữu là một cảm nghiệm chân thực khi đáp lại lời mời gọi ở lại trong tình thương của Chúa. Ở lại là gắn kết, là lắng nghe và thấu hiểu. Ở lại để chia sẻ mọi niềm vui nỗi buồn. Ở lại trong Chúa cũng chính là để sống mãi trong tình yêu thương. Đức Giêsu ở lại trong Chúa Cha là thi hành trọn vẹn ý muốn của Cha, là đón nhận mọi khổ đau để đưa nhân loại tiến về miền đất hoan lạc hạnh phúc.

Qua cái chết của Ðức Kitô, không chỉ các môn đệ mà còn tất cả những ai tin Ngài đều được đón nhận tước vị ấy. Và nhờ bí tích Rửa Tội, mỗi người Kitô hữu cũng được lãnh nhận tước hiệu làm con Thiên Chúa. Ðây không phải là một tước hiệu khoác lên con người, nhưng là một tiếp xúc với sự sống Thiên Chúa. Với Ðức Kitô và trong Ðức Kitô, điều Kitô hữu cầu xin sẽ được nhận lời. Ðức Kitô đã đem lại cho tín hữu một giá trị mới nhưng đồng thời Ngài đòi buộc họ sống xứng đáng với giá trị ấy: "Chính Cha yêu mến chúng con bởi vì chúng con yêu mến Thầy và tin rằng Thầy bởi Thiên Chúa mà ra". Tin nhận và yêu mến Ðức Kitô sẽ cho phép người tín hữu sống trong tình yêu của Thiên Chúa. Như các tông đồ, Kitô hữu cũng được Chúa Giêsu chọn làm bạn tri kỷ của Ngài. Tất cả những hiểu biết về Thiên Chúa đã được gói gọn trong lời Ngài, và chẳng thể được gọi là bạn tri kỷ hoặc là kẻ yêu mến Ngài một khi lời Ngài bị đuổi đi không được đón nhận và đáp trả.

Chúa không chỉ biến ưu phiền của chúng ta thành niềm vui, Ngài còn muốn làm cho niềm vui đó nên trọn vẹn. Điều đó có thể thấy được nơi Maria Magđala, vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần hôm ấy, hay nơi những người đã thấy Đức Kitô sống lại. Còn chúng ta, khi vẫn còn bước đi trong đức tin chứ không phải được hưởng kiến, và mới chỉ lĩnh hội được một chút gì của mầu nhiệm Thiên Chúa chứ không phải là “toàn vẹn sự thật” của Ngài, thì niềm vui có thể gọi là trọn vẹn được không? Có đấy! Hãy nghiệm lại những lời Chúa nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” và “Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn.” Để sống trong niềm vui trọn vẹn với Thiên Chúa chúng ta hãy sống như những người con cái của Ngài, mối quan hệ mới được thiết lập nhờ Đức Giêsu Kitô. Chính nhờ Ngài, mà niềm vui của chúng ta nên trọn vẹn và không ai có thể cướp mất được. Nhân danh Ngài, chúng ta cầu xin và nhờ Ngài lời cầu xin chắc chắn được đón nhận.

Từ thời Cựu Ước, ngôn sứ Isaia đã diễn tả rất sống động niềm vui của ngày Chúa đến. Đó là ngày “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi. Rằng: Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên nhà Thiên Chúa của Giacóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ” (Is 2, 2-3). Sự hiện diện của Chúa làm náo nức lòng người. Mọi chiến binh ngừng chiến, họ lấy gươm đao vũ khí đúc thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Đức Chúa đến đem lại cảnh hòa bình thịnh vượng, mọi người không còn vung kiếm sát hại nhau. Niềm vui ơn cứu rỗi tràn đầy trong thời Thiên Sai khiến mọi tạo vật cùng cất tiếng ca: “Trời hãy reo hò, đất hãy hân hoan, các núi non hãy bật tiếng reo cười, vì Chúa đã an ủi dân Người, Người đã chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ” (Is 49, 13).

Niềm vui mong chờ Chúa đến được tiếp nối trong thời Tân Ước. Bài Tin Mừng hôm nay diễn tả niềm vui phát xuất từ Thiên Chúa.Sau khi Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ biết Người sẽ chịu khổ hình, còn các ông sẽ bị thế gian tấn công và phải chịu chung một số phận với Thầy. Các môn đệ tỏ ra hoang mang lo lắng, Đức Giêsu liền trấn an các ông đừng sợ hãi vì có Đấng Bảo Trợ sẽ đến giúp đỡ. Đức Giêsu khuyên các ông hãy cầu xin Chúa Cha ban cho những ơn cần thiết để vượt qua cơn gian nan thử thách và tìm thấy niềm vui đích thực: “Anh em xin Chúa Cha điều gì, Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy. Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn” (c. 23-24).Lời khẳng định của Đức Giêsu là niềm an ủi lớn cho mỗi người chúng ta.Thiên Chúa là Cha nhân từ sẵn sàng ban nhiều ân sủng nếu cho chúng ta thực tâm cầu xin.

Chúa muốn nói đến cách cầu nguyện sâu xa và thầm kín hơn. “Thầy không nói với anh em là Thầy sẽ cầu xin Chúa Cha cho anh em. Chính Chúa Cha yêu mến anh em vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến” (Ga 16,26-27). Chúa Giêsu ước ao cho chúng ta trở nên giống như Người, theo gương bắt chước Người để đi vào kế hoạch của Chúa Cha. Như vậy, chúng ta đã thấm nhập với Chúa Giêsu, nên một với Chúa trong đức tin và đức mến. Được như thế, Chúa Giêsu sẽ dẫn đưa chúng ta vào cuộc đối thoại thần linh với Chúa Cha, và chắc chắn sẽ được Chúa Cha yêu thương đón nhận lời chúng ta.

Chính Đức Giêsu cũng phải đối mặt với nỗi sợ hãi nhưng Người đã tìm được sự an ủi nhờ liên kết mật thiết với Chúa Cha. Hành trình lên Giêrusalem và tiến về núi Sọ là nỗi ám ảnh đè nặng trên Đức Giêsu, nhưng Người đã vượt qua tất cả nhờ sức mạnh của Thánh Thần trong Chúa Cha yêu dấu.

Trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh với chúng ta về sự biến đổi mãnh liệt của các môn đệ sau biến cố Chúa Phục Sinh: “Niềm vui của Tin Mừng là niềm vui lấp đầy đời sống cộng đồng của các môn đệ, làmột niềm vui truyền giáo. Bảy mươi hai môn đệ đã cảm thấy vui mừng khi trở về từ sứ vụ truyền giáo. Chúa Giêsu đã cảm thấy điều ấy, Người vui mừng trong Chúa Thánh Thần và chúc tụng Thiên Chúa vì đã mặc khải cho những người nghèo hèn và những người bé nhỏ. Đó là điều cảm thấy bởi những người đầu tiên trở lại là những người đầy ngưỡng mộ khi nghe các Tông đồ rao giảng vào ngày lễ Ngũ Tuần. Niềm vui này là một dấu chỉ cho thấy Tin Mừng được công bố và sinh hoa trái”.

Chỉ có Chúa mới giải thoát chúng ta khỏi mọi lo lắng trần gian, khỏi mọi nỗi sợ hãi để tận hưởng niềm vui linh thánh ngọt ngào. Niềm vui ấy không phải chỉ biểu hiện qua tiếng cười nhưng còn âm vang trong giọt nước mắt, xuyên qua những thất bại. Niềm vui của Chúa không đọng lại trên những thành công nhưng chan chứa trong cả nỗi mất mát đớn đau.

Có một lúc nào đó trong cuộc đời, chúng ta cũng phải đối mặt với gánh nặng của thân phận con người, của gia đình vợ chồng con cái làm chúng ta thất vọng chùn bước. Hãy tựa nương vào sức mạnh của tình thương và ân sủng Chúa, Người sẽ không lìa bỏ mà còn nâng đỡ để chúng ta tìm thấy niềm ủi an. Thiên Chúa luôn mời gọi chúng ta đến tận hưởng hạnh phúc, đến để sống và sống dồi dào. Để có được niềm vui trọn vẹn, chúng ta phải sống gắn kết mật thiết với Thiên Chúa như cành nho liền với cây nho. Đi vào chiều sâu của tình yêu chúng ta mới hiểu được giá trị của đau khổ, mới dám dấn thân phục vụ và sống trọn nghĩa yêu thương. 

Thật đúng như lời Chúa Giêsu nói ở trước chương này, trong dụ ngôn cây nho: “Nếu chúng con ở trong Thầy và Thầy ở trong chúng con, thì chúng con muốn xin gì cứ xin, chúng con sẽ được như ý” (Ga 15, 7). Và điều này rất đúng, bởi vì khi chúng ta và Chúa Giêsu ở trong nhau, nên một với nhau thì Chúa Giêsu muốn gì, xin gì thì ắt chúng ta cũng muốn và xin như thế. Nói cách khác chúng ta không muốn và không xin gì ngoài những gì Chúa Giêsu muốn và xin. Và bởi vì Chúa Cha luôn nhận lời Chúa Giêsu xin nên cũng sẽ luôn nhận lời chúng ta.

huệ minh June 14, 2019