BUỔI TIẾP KIẾN CHUNG THỨ TƯ HÀNG TUẦN

của Đức Thánh Cha Phanxicô

 

Bài giáo lý 9: tuổi già

(11/05): Một tuổi trẻ đáng ngưỡng mộ, một tuổi già quảng đại

Sáng thứ Tư 11/05, tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh đã có buổi tiếp kiến chung hằng tuần với bài giáo lý tiếp theo trong loạt bài về tuổi già. Đức Thánh Cha đặt câu hỏi của những người nghỉ hưu, công việc kết thúc: “Tôi sẽ làm gì bây giờ khi cuộc sống của tôi sẽ trống rỗng, không còn những điều vốn đã lấp đầy trong thời gian dài?”

Đoạn Sách Thánh được đọc trước bài giáo lý được trích từ sách Giu-đi-tha.

Sau những ngày đó, ai nấy trở về phần đất gia nghiệp của mình. Bà Giu-đi-tha trở lại Bai-ty-lu-a và cư ngụ trong phần đất bà vẫn có. Ngay trong buổi sinh thời, tiếng tăm bà đã lừng lẫy khắp nơi. Danh tiếng bà mỗi ngày một thêm lừng lẫy. Bà sống tại nhà chồng bà, tuổi đời rất cao, thọ được một trăm lẻ năm tuổi . Bà trả tự do cho người nữ tỳ. Cuối cùng bà qua đời ở Bai-ty-lu-a và được chôn cất trong hang mộ bên cạnh ông Mơ-na-se, chồng bà. Nhà Ít-ra-en khóc thương bà suốt bảy ngày. Trước khi nhắm mắt, bà Giu-đi-tha đã phân phát của cải cho tất cả bà con bên chồng cũng như cho thân quyến của bà. (Gđt 16,21.23-24)

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay chúng ta sẽ nói về Giu-đi-tha, một nữ anh hùng trong Kinh Thánh. Phần kết của cuốn sách mang tên bà - chúng ta vừa nghe - tóm tắt phần cuối cuộc đời của người phụ nữ này, người đã bảo vệ Israel khỏi kẻ thù. Giu-đi-tha là một góa phụ Híp-ri trẻ tuổi và nhân đức, nhờ đức tin, sắc đẹp và sự khôn khéo của mình, đã cứu thành Bai-ty-lu-a và dân tộc Giuđa khỏi vòng vây của Hô-lô-phéc-nê, tướng của Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua nước Át-sua, một kẻ thù hống hách và khinh thường Thiên Chúa. Và như vậy, với cách hành động thông minh của mình, người phụ nữ này có khả năng giết chết bạo chúa chống lại đất nước mình. Người phụ nữ này dũng cảm, nhưng bà có một đức tin ...

Sau cuộc phiêu lưu lớn mà bà là nhân vật chính, Giu-đi-tha trở về sống ở thành phố của bà, Bai-ty-lu-a, nơi đây bà sống một tuổi già đẹp, đến 105 tuổi. Điều này cũng xảy ra với nhiều người: đôi khi sau một cuộc sống làm việc căng thẳng, sau một cuộc phiêu lưu mạo hiểm, hoặc một trong những cống hiến lớn lao. Sự anh hùng không chỉ là sự kiện trọng đại được chú ý, như vụ Giu-đi-tha đã giết chết bạo chúa: mà sự anh hùng thường được tìm thấy ở tình yêu bền bỉ dành cho một gia đình khó khăn và hỗ trợ một cộng đồng đang bị đe dọa.

Giu-đi-tha đã sống hơn một trăm tuổi, một phúc lành đặc biệt. Nhưng ngày nay cũng không hiếm người sống rất nhiều năm sau khi nghỉ hưu. Cần diễn giải thế nào, làm sao để tận dụng khoảng thời gian này của chúng ta? Tôi sẽ nghỉ hưu hôm nay, và sẽ còn nhiều năm nữa, và tôi có thể làm gì trong những năm này? Làm thế nào để tôi có thể lớn thêm - về tuổi tác thì tự nó, nhưng làm thế nào tôi có thể lớn thêm hơn về quyền bính, sự thánh thiện và khôn ngoan?

Đối với nhiều người, viễn cảnh nghỉ hưu cũng là viễn cảnh được nghỉ ngơi xứng đáng và mong muốn thoát khỏi các hoạt động đòi hỏi và mệt mỏi. Nhưng cũng xảy ra rằng nó là sự kết thúc của công việc vốn thể hiện một nguồn quan tâm và được mong đợi với một số lo lắng: “Tôi sẽ làm gì bây giờ khi cuộc sống của tôi sẽ trống rỗng những điều vốn đã lấp đầy trong thời gian dài?”. Đây là vấn đề. Công việc hàng ngày cũng có nghĩa là một tập hợp các mối quan hệ, sự hài lòng trong việc kiếm sống, thực thi một vai trò, một sự cân nhắc xứng đáng, một khoảng thời gian tròn đầy ngoài những giờ làm việc đơn giản.

Tất nhiên, có một sự dấn thân vui vẻ và không mệt mỏi trong việc chăm sóc các cháu, và ngày nay ông bà đóng một vai trò rất lớn trong gia đình để giúp nuôi dạy các cháu; nhưng chúng ta biết rằng ngày nay ngày càng ít trẻ em được sinh ra, và cha mẹ thường ở xa hơn, phải đi lại nhiều hơn, với hoàn cảnh gia đình và công việc không thuận lợi. Thậm chí đôi khi họ miễn cưỡng với việc giao phó không gian giáo dục của các cháu cho ông bà, và chỉ nhờ những gì rất cần sự hỗ trợ. Nhưng có người nói với tôi, với một nụ cười khểnh, rằng: “Ngày nay, trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện tại, ông bà càng quan trọng hơn, vì ông bà có lương hưu”. Họ nghĩ như thế. Có những nhu cầu mới, cũng trong lĩnh vực giáo dục và các mối quan hệ của cha mẹ, đòi hỏi chúng ta phải định hình lại liên minh truyền thống giữa các thế hệ.

Nhưng, chúng ta tự hỏi: liệu chúng ta có đang thực hiện nỗ lực “phục hồi” này không? Hay đơn giản là chúng ta phải chịu sức ì của các điều kiện kinh tế và vật chất? Trên thực tế, sự chung sống của nhiều thế hệ đang kéo dài. Chúng ta có đang cố gắng làm cho sự chung sống này trở nên nhân bản hơn, tình cảm hơn, công bằng hơn, trong điều kiện mới của xã hội hiện đại? Đối với ông bà, một phần quan trọng trong thiên chức của họ là hỗ trợ các con trong việc nuôi dạy con cái. Những đứa trẻ học được sức mạnh của sự dịu dàng và tôn trọng đối với sự mong manh. Đây là những bài học không thể thay thế, mà với ông bà, những bài học này sẽ dễ dàng truyền đạt và tiếp nhận hơn. Về phần mình, ông bà học được rằng sự dịu dàng và mong manh không chỉ là dấu hiệu của sự sa sút: đối với những người trẻ, điều này là những bước làm nên con người tương lai.

Giu-đi-tha sớm trở thành góa phụ và không có con cái, nhưng như một phụ nữ lớn tuổi, bà có thể sống một mùa tràn đầy và thanh thản, với ý thức mình đã sống trọn vẹn sứ mạng mà Chúa đã giao phó cho bà. Đối với bà, đã đến lúc để lại di sản tốt đẹp của trí tuệ, sự dịu dàng, những món quà cho gia đình và cộng đồng: di sản về điều tốt chứ không chỉ về tài sản. Khi chúng ta nghĩ về sự thừa kế, đôi khi chúng ta nghĩ về tài sản, chứ không phải điều tốt đã làm trong tuổi già và đã được gieo trồng, điều tốt đẹp đó là cơ nghiệp tốt nhất mà chúng ta có thể để lại.

Chính ở tuổi già, Giu-đi-tha đã “trả tự do cho người nữ tỳ của bà”. Đây là dấu hiệu của một cái nhìn quan tâm và nhân văn đối với những người đã gần gũi với bà. Người nữ tỳ này đã đồng hành cùng bà trong cuộc phiêu lưu để cắt cổ và chiến thắng bạo chúa. Khi bạn già, bạn mất đi một chút thị giác nhưng cái nhìn bên trong trở nên thấu hiểu hơn: bạn nhìn bằng trái tim. Một người có khả năng nhìn thấy những thứ trước đây lẩn khuất. Người già biết cách nhìn và biết nhìn thấy... Nó là thế này: Chúa không chỉ giao những nén bạc của Người cho người trẻ và người mạnh: Người trao cho tất cả, tuỳ theo khả năng của mỗi người, phù hợp với từng người, ngay cả đối với người già. Cuộc sống của các cộng đoàn của chúng ta phải có khả năng tận hưởng những nén bạc và đặc sủng của nhiều người cao tuổi. Theo biên chế thì họ đã nghỉ hưu, nhưng họ là một gia sản đáng được trân trọng. Điều này đòi hỏi, về phía những người cao tuổi, một sự lưu tâm sáng tạo, một sự để tâm mới, một tấm lòng quảng đại. Các kỹ năng sống hoạt bát trước đây mất đi phần nắm giữ và trở nên nguồn để ban tặng: dạy dỗ, khuyên nhủ, xây dựng, chữa lành, lắng nghe... Ưu tiên cho những người thiệt thòi nhất, những người không có khả năng học tập hoặc những người bị bỏ rơi trong cô đơn của họ.

Bà Giu-đi-tha đã trả tự do cho người nữ tỳ của mình và khiến mọi người chú ý. Khi còn trẻ, bà đã giành được sự kính trọng của cộng đồng bằng lòng dũng cảm của mình. Khi là một người lớn tuổi, bà xứng đáng nhận điều đó bởi sự dịu dàng vốn làm phong phú thêm cho sự tự do và tình cảm của bà. Giu-đi-tha không phải là một người nghỉ hưu buồn sầu, sống trong sự trống vắng của mình: bà là một cụ bà say mê lấp đầy thời gian mà Chúa ban bằng những món quà.

Tôi khuyên anh chị em: trong những ngày này, hãy cầm lấy Kinh Thánh và mở sách Giu-đi-tha: nó nhỏ, anh chị em có thể đọc nó... khoảng 10 trang, không hơn. Hãy đọc câu chuyện về một người phụ nữ can đảm kết thúc như thế, với sự dịu dàng, với lòng bao dung, một phụ nữ cao quý. Và vì vậy tôi ước mong những người bà của chúng ta: can đảm, khôn ngoan và để lại cho con cháu di sản không phải tiền bạc, mà là di sản của trí tuệ, được gieo vào cháu chắt của họ.

 

Bài thứ 8: giáo lý tuổi già

Tiếp kiến chung 4/5: Lòng thành tín của tuổi già và danh dự của đức tin

Sáng thứ Tư 4 tháng 5 năm 2022, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung với khoảng 12 ngàn tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô với bài giáo lý tiếp theo về chủ đề tuổi già. Đức Thánh Cha khuyến khích những người cao tuổi đảm nhận sứ mạng rất quan trọng là khôi phục lại danh dự cho đức tin, giúp người trẻ xây dựng một tương lai vững chắc.

Vatican News

Bài đọc trước bài giáo lý được trích từ chương 6 của sách Maccabê quyển 2:
Có một người tên là E-la-da, một trong những kinh sư quan trọng tuy tuổi đã cao nhưng trông rất đẹp lão. Ông đã tự ý tiến ra nơi hành hình. […] Ông nói : “Ở tuổi chúng tôi, giả vờ là điều bất xứng, e rằng có nhiều thanh niên sẽ nghĩ là ông già E-la-da đã chín mươi tuổi đầu, mà còn theo những lề thói dân ngoại. Rồi bởi tôi đã giả vờ và ham sống thêm một ít lâu nữa, nên họ bị lầm lạc vì tôi, còn tôi thì chuốc lấy vết nhơ và ô nhục cho tuổi già.” (2 Mcb 6,18.23-25)

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha:
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong hành trình các bài giáo lý về tuổi già, hôm nay chúng ta gặp một nhân vật trong Kinh thánh tên là E-la-da, người sống vào thời kỳ bách hại của vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê. Hình tượng của ông cho chúng ta một bằng chứng về mối tương quan đặc biệt giữa lòng thành tín của tuổi già và danh dự của đức tin. Đây là một điều hãnh diện. Tôi muốn nói chính xác về danh dự của đức tin, chứ không chỉ về tính kiên định, về lời tuyên bố, về sự bền bỉ của đức tin. Danh dự của đức tin thường xuyên bị đặt dưới áp lực, thậm chí là bạo lực, của những người thống trị, những người tìm cách làm suy yếu đức tin bằng cách xem nó như một tàn tích khảo cổ, một sự mê tín cổ hủ, hay sự ngoan cố lạc hậu.

Câu chuyện trong Kinh thánh – chúng ta đã nghe một đoạn ngắn, mà rất hay nếu đọc nguyên câu chuyện – thuật lại chi tiết những người Do Thái bị buộc tuân theo một sắc lệnh của nhà vua phải ăn thịt đã hiến tế cho các thần. Khi đến lượt cụ E-la-da, một người già ở tuổi chín mươi, được mọi người kính trọng, các quan của nhà vua khuyên ông nên làm một cử chỉ tượng trưng, đó là giả vờ ăn thịt mà không thực sự làm điều đó. Như vậy, cụ E-la-da sẽ được cứu, và - họ nói - nhân danh tình bạn, ông sẽ nhận được cử chỉ trắc ẩn và tình cảm của họ. Họ nhấn mạnh, đó chỉ là một cử chỉ tối thiểu, giả vờ ăn mà không cần ăn, một cử chỉ chẳng đáng kể.

Phản ứng bình tĩnh và dứt khoát của cụ E-la-da dựa trên một đề tài khiến chúng ta kinh ngạc. Điểm trung tâm là đây là: đức tin bị ô nhục trong tuổi già để sống thêm được một vài ngày, điều đó không thể so sánh với di sản để lại cho những người trẻ, cho các thế hệ mai sau. Một người già đã sống trung thành trong đức tin của mình suốt cả cuộc đời, và bây giờ giả vờ từ chối, thì chẳng khác nào nói với thế hệ trẻ rằng toàn bộ đức tin chỉ là hư cấu, một lớp vỏ bọc bên ngoài có thể bị lột bỏ, khi nghĩ rằng đức tin có thể giữ trong tâm thôi. “Không được”, cụ E-la-da nói. Hành vi như vậy không tôn trọng đức tin, ngay cả trước mặt Thiên Chúa. Và tác động của sự tầm thường hoá bên ngoài này sẽ phá huỷ nội tâm của những người trẻ. Sự kiên định của người già này là nghĩ về người trẻ, nghĩ về sự kế thừa tương lai, nghĩ về dân tộc của mình.
Chính tuổi già ở đây nói lên vị trí quyết định và không thể thay thế của chứng tá này. Một người cao tuổi, vì lý do dễ bị tổn thương, nếu chấp nhận coi việc thực hành đức tin là không quan trọng, thì sẽ khiến cho người trẻ nghĩ rằng đức tin không có mối liên hệ thực sự với cuộc sống. Nếu vậy, nó sẽ cho thấy, đức tin ngay từ đầu có vẻ như một tập hợp các hành vi, mà nếu cần, có thể được giả vờ hoặc cải trang, bởi vì không có hành vi nào quá quan trọng đối với cuộc sống.
Thuyết Ngộ đạo cổ đại, vốn là một cái bẫy rất lớn và rất quyến rũ đối với Kitô giáo trong những thế kỷ đầu, rằng: đức tin là một điều thuộc tinh thần, không phải là một thực hành; một sức mạnh của tâm trí, không phải là một lối sống. Theo thuyết này, lòng trung thành và danh dự của đức tin không liên quan gì đến hành vi của cuộc sống, của các thể chế cộng đoàn, các biểu tượng của thân thể. Sự quyến rũ của thuyết này rất mạnh mẽ, bởi vì nó diễn giải, theo cách riêng của nó, một sự thật không thể chối cãi rằng: niềm tin không bao giờ có thể bị thu hẹp thành một tập hợp các quy tắc ăn uống hoặc thực hành xã hội. Niềm tin là một điều khác. Mối nguy nằm ở chỗ sự cực đoan hóa chân lý này của thuyết Ngộ đạo sẽ huỷ bỏ việc thực hành đức tin Kitô. Bởi vì đức tin Kitô là hiện thực, đức tin Kitô không chỉ là đọc Kinh Tin kính, mà còn nghĩ về Kinh Tin kính, cảm được Kinh Tin kính và thực hành Kinh Tin kính, là hoạt động với đôi tay. Ngược lại, đề xuất của Thuyết Ngộ đạo này là một sự “giả vờ”, điều quan trọng là bạn có điều thiêng liêng bên trong và sau đó bạn có thể làm bất cứ điều gì bạn muốn. Đây không phải là Kitô giáo. Đây là dị giáo đầu tiên của những người theo thuyết Ngộ giáo, và hiện đang rất thịnh hành ở đây, bây giờ, ở rất nhiều trung tâm tâm linh. Nó gạt bỏ những chứng tá của dân chúng, những người cho thấy các dấu hiệu cụ thể của Thiên Chúa trong đời sống cộng đoàn. Những chứng tá này chống lại sự bóp méo tâm trí bằng những cử chỉ cụ thể.

Cám dỗ Ngộ đạo có thể nói là một trong những dị giáo, một trong những lệch lạc tôn giáo của thời nay, cám dỗ Ngộ đạo luôn tồn tại. Trong nhiều xu hướng xã hội và văn hóa của chúng ta, việc thực hành đức tin trải qua một biểu hiện tiêu cực, đôi khi dưới hình thức mỉa mai văn hóa, đôi khi bằng việc gạt sang bên lề cách kín đáo. Đối với những người theo thuyết Ngộ đạo, vốn đã có từ thời Chúa Giê-su, việc thực hành đức tin bị coi là một thứ bề ngoài vô dụng và thậm chí có hại, như một tàn tích cổ xưa còn sót lại, như một sự mê tín trá hình. Tóm lại, nó là một điều dành cho người già. Áp lực mà thuyết này tác động lên thế hệ trẻ là rất mạnh. Chắc chắn, chúng ta biết là việc thực hành đức tin có thể trở thành một thứ bề ngoài vô hồn – điều này là một nguy hiểm khác – nhưng tự nó không phải vậy. Đối với chúng ta, những người cao tuổi, chúng ta có một sứ mạng rất quan trọng là khôi phục lại danh dự cho đức tin, làm cho nó trở nên nhất quán, đó là chứng tá của cụ E-la-da, kiên vững đến cùng. Việc thực hành đức tin không phải là biểu tượng cho sự yếu đuối của chúng ta, mà là dấu chỉ sức mạnh của đức tin. Chúng ta không còn là những đứa trẻ. Chúng ta không đùa khi bước trên con đường của Chúa!

Đức tin đáng được tôn trọng và tôn vinh cho đến cùng: nó đã làm thay đổi cuộc sống của chúng ta, làm trong sạch tâm trí của chúng ta, dạy chúng ta sự tôn thờ Thiên Chúa và tình yêu đối với người lân cận. Đức tin là một lời chúc phúc cho tất cả mọi người! Nhưng đó phải là tất cả, không phải một phần, của đức tin. Chúng ta sẽ không đánh đổi đức tin để lấy một vài ngày an bình, nhưng chúng ta sẽ làm như cụ E-la-da, kiên định cho đến cùng, cho đến khi tử vì đạo. Chúng ta sẽ minh chứng, bằng tất cả sự khiêm tốn và kiên định, chính trong tuổi già của chúng ta rằng, tin không phải là điều gì đó “dành cho tuổi già", mà là một điều của cuộc sống. Hãy tin vào Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho mọi sự trở nên mới mẻ, và Ngài sẽ sẵn lòng giúp đỡ chúng ta.

Anh chị em cao tuổi thân mến, xin hãy nhìn đến người trẻ. Họ nhìn chúng ta, chúng ta đừng quên điều này. Tôi nhớ về một phim hậu chiến rất hay: “Những trẻ em nhìn chúng ta”. Chúng ta cũng có thể nói như vậy với người trẻ: những người trẻ nhìn chúng ta và sự kiên định của chúng ta có thể mở ra một con đường sống tươi đẹp cho họ. Ngược lại, bất kỳ sự giả hình nào cũng sẽ gây hại rất nhiều. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Xin Chúa chúc lành cho tất cả người già chúng ta!

 

May 21, 2022

vaticannews.va