|
LỊCH
SỬ VÀ GIÁ TRỊ KINH MÂN CÔI
Đúng
một tuần sau khi lên ngôi Giáo Hoàng, trưa 29-10-1978, trước hơn
100.000 người tới dự kinh Truyền tin tại công trường thánh Phêrô,
Đ.G Hoàng Gioan Phaolô II đã nói mấy lời vắn tắt nhưng đầy ý nghĩa
về kinh Mân côi như sau:
“Anh chị em thân mến, hôm nay Chúa nhật cuối cùng tháng 10, tôi
muốn kéo chú ý anh chị em tới kinh Mân côi, vì tháng 10 là tháng
dành riêng để đọc kinh Mân côi trong toàn thể Giáo Hội.
Kinh Mân Côi quả là một kinh tôi mến chuộng cách riêng. Kinh Mân
côi là một kinh đặc biệt lạ lùng vì vừa đơn sơ vừa phong phú.
Khi đọc kinh Mân côi, chúng ta lập lại nhiều lần lời Tổng lãnh
Thiên thần và thánh nữ Elisabeth chào kính Đức Mẹ. Và đây cũng
là lời Giáo Hội muốn dùng để ngợi khen Ngài.
Có thể nói, kinh Mân côi là một kinh dùng để cắt nghĩa chương
cuối cùng trong Hiến chế Lumen Gentium của Công đồng Vaticanô
II. Chương này bàn về sự hiện diện đặc biệt của Mẹ Thiên Chúa
trong mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo Hội. Vì khi đọc lên câu “Kính
mừng Maria” thì các biến cố chính của đời sống Đức Kitô sẽ diễn
lại ngay trước mắt ta. Kinh Mân côi, xét trong toàn bộ diễn lại
các mầu nhiệm vui, thương, và vinh hiển của Đức Kitô và làm cho
ta hiệp thông với đời sống Đức Kitô, nhờ Trái Tim Vẹn Sạch Đức
Mẹ. Đồng thời tâm hồn ta cũng có thể trình bày lên Chúa tất cả
những biến cố có ảnh hưởng tới đời sống cá nhân, gia đình, quốc
gia, Giáo Hội, nhân loại và những hoàn cảnh bản thân cũng như
tha nhân, nhất là của những người ta thương mến cách riêng. Như
thế kinh Mân côi làm cho đời sống con người hoà điệu với đời sống
Chúa Cứu Thế.....tôi khuyên mọi người hãy sốt sắng đọc kinh Mân
côi”.
Lời khuyên này chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thực hiện
trước hết. Ngày 21-10-1979, tại Pompei ngài tâm sự công khai với
dân chúng rằng khi ở trụ sở Liên hiệp quốc vào đầu tháng 10 vừa
qua Ngài vừa đọc diễn văn, vừa âm thầm lần chuỗi Mân côi. Chính
vì thế mà hiệu quả thực là lạ lùng như báo chí loan tin. Để hiểu
hơn nữa về kinh Mân côi, tôi xin hân hạnh trình bày chi tiết về
Lịch sử và giá trị của kinh đặc biệt này.
I- LỊCH SỬ KINH MÂN CÔI
Theo hình thức hiện có ngày nay, thì kinh Mân côi đã có một lịch
sử rất xa xưa, và những biến chuyển đáng kể. Một điều chắc chắn
là kinh Mân côi chưa có một kiểu nhất định và rõ ràng, khi thánh
Đaminh nhận được sứ mệnh của Đức Mẹ để rao giảng về cách thực
hành kinh Mân côi. Các ảnh vẽ, cả ngay từ thế kỷ 13, có diễn tả
việc Đức Mẹ trao tràng hạt cho thánh Đaminh. Nhưng đó chỉ là một
cách diễn tả những gì Thánh Đaminh phải làm theo ơn soi sáng riêng.
Thánh Đaminh sinh năm 1170 và tạ thế vào năm 1221. vậy Ngài đã
làm gì để xứng danh hiệu là “Đấng sáng lập kinh Mân côi”? Trước
Ngài đã có những thói quen nào? Để hiểu rõ vấn đề, xin bạn đọc
lưu ý là kinh Mân côi gồm 4 kinh : 1/ Lạy cha, 2/ Kính mừng, 3/
Thánh Maria, 4/ Sáng danh và việc suy ngắm các mầu nhiệm.
Về kinh “Lạy Cha” thì ngay từ đầu Giáo Hội, tín hữu thường đọc
và đọc nhiều lần. Kinh “Thánh Maria” là kinh chỉ được thông dụng
từ thế kỷ 17. Kinh “Sáng danh” cũng đã được đọc từ lâu, sau mỗi
Thánh vịnh, khi nguyện nhật tụng. Còn lại vấn đåề là kinh “Kính
mừng” được đọc và đọc nhiều, đọc từng 150 lần như thấy hiện nay
là do sáng kiến nào? Xin nói ngay trước khi minh chứng: Đấy là
sáng kiến của thánh Đaminh.
1/ KINH KÍNH MỪNG TRƯỚC THẾ KỶ 12
Cho tới thế kỷ 12 không thấy có tài liệu lịch sử nào nói về việc
dân chúng đọc kinh Kính mừng cả. Nhưng kinh Lạy cha thì có. Các
Giáo phụ, các Công đồng chung thường khuyên đọc kinh Tin kính,
Kinh Lạy cha. Còn kinh Kính mừng thì mãi cuối thế kỷ 12 mới thấy
được khuyên đọc. Nhưng xét theo tư nhân thì thỉnh thoảng cũng
có người đọc kinh Kính mừng. Thánh Phêrô Đamianô có kể đến việc
một thầy dòng hằng ngày đến trước tựợng Đức Mẹ và đọc kinh Kính
mừng. Trong hồi ký của thánh Bartôlômêô de Carpinêtô có nói là
thầy Oliveriô chết đang khi đọc kinh Kính mừng. Nên chú ý là thánh
Albertô qua đời vào trung tuần thế kỷ 12 mỗi ngày đọc 50 kinh
Kính mừng và kinh này hoàn toàn như ta đọc ngày nay. Đây là tài
liệu sử đầu tiên về kinh Kính mừng.
Trừ một vài trường hợp riêng như vậy thì ta thấy lịch sử các thánh
thế kỷ 12 như thánh Nobertô, Brunô, Bernarđô, Hildelgarda, không
nói đến các đấng đọc kinh Kính mừng, tuy các ngài rất sùng kính
Đức Mẹ. Hiến pháp các dòng, văn thư của các Công đồng và các Đức
Giáo Hoàng cũng không thấy nói đến kinh Kính mừng. Hiến pháp của
dòng Guigues truyền các thầy trợ sĩ đọc 300 kinh Lạy cha để cầu
cho người quá cố thay vì đọc kinh nhật tụng. Mãi tới 1298 mới
thấy có tài liệu lịch sử về việc đọc kinh Kính mừng. Vì năm đó
Đức giám mục Eudes de Sully Giám mục thành Paris truyền cho các
linh mục phải dạy cho bổn đạo đọc kinh Tin kính. Lạy cha và Kính
mừng. Như thế ta nhận định được dễ dàng là cho tới cuối thế kỷ
12 chưa có thói quen đọc kinh Kính mừng trong Giáo Hội.
2/ THÁNH ĐAMINH VÀ VIỆC ĐỌC KINH KÍNH MỪNG
Cuối thế kỷ 12 thánh Đaminh ra đời. Ngài có liên quan gì tới việc
phổ biến kinh Kính mừng? Tài liệu lịch sử về vấn đề này tuy không
nhiều, vì đã thất lạc khá, nhưng cũng đủ để giúp ta tìm hiểu công
trạng và ảnh hưởng của ngài trong việc phổ biến này.
Theo
cuốn “Cách cầu nguyện” thầy Gêrardô de Teu-tonia viết lại về thánh
Đaminh, và đã nạp sách này cho công đồng dòng tại Luca năm 1288
có nói: khi cầu nguyện, thánh Đaminh đã đứng lên bái xuống rất
mềm mại... . khi thì Ngài âm thầm cầu nguyện, lúc thì ngài quỳ
như ngất trí lâu giờ và với gương sáng đó ngài dạy anh em cách
cầu nguyện này.
Ngài
đã dậy anh em cách cầu nguyện nào khi quỳ, khi bái như vậy? Galvano
de la Flamma trong cuốn niên sử Dòng trả lời: “Ngoài các cách
sùng kính Mẹ Thiên Chúa, các thầy Dòng Đaminh thường bái quỳ,
kẻ thì 100 lần kẻ thì 200 vừa bái vừa đọc kinh Kính mừng” đấy
chính là cách cầu nguyện thánh Đaminh dạy con cái.
Thánh Giordano de Saxonia, vị Bề trên Cả kế tiếp sau thánh Đaminh,
khi ra chỉ thị về các giờ phụng vụ có truyền rằng sau mỗi thánh
vịnh các thầy phải bái quỳ và đọc kinh Kính mừng. Còn Gerardo
de Fracheto trong cuốn Vitae Fratrum, một cuốn thu tập các biến
cố và kỷ niệm từ ngày thành lập dòng Đaminh có kể lại việc một
thầy dòng khi bị cám dỗ đã đến trước tượng Đức Mẹ và bái quỳ để
đọc kinh Kính mừng như thói quen. Việc vừa đọc kinh Kính mừng
vừa bái quỳ là thói quen riêng biệt của dòng Đaminh ngay từ đầu.
Các nữ tu Đaminh cũng thi hành như vậy. Tại Ruan năm 1270 có một
nữ tu Đaminh tên là Perrete, chỉ đọc 100 kinh Kính mừng và nhờ
đó được lành bệnh. Một nữ tu khác tên là Satefania tại Unterlinden
trong suốt 50năm mỗi ngày đọc đủ 150 kinh Kính mừng vừa đọc vừa
bái quỳ như thường lệ. Thánh nữ Margariata de Hungaria con vua
nước Balan mỗi ngày đọc 1.000 lần Kính mừng Maria vừa đọc vừa
bái quỳ. Trong các người dòng Ba thì có thánh Magarita de Ypres
tạ thế năm 1237 mỗi ngày đọc 400 lần Kính mừng Maria đồng thời
bái quỳ. Thánh Louis vua nước Pháp mỗi ngày đọc 50 kinh Kính mừng
vừa đọc vừa bái quỳ theo kiểu riêng dòng Đaminh.
Việc đọc kinh Kính mừng không những là thói quen của dòng Đaminh
thời đó, mà còn là điều thánh Đaminh truyền cho con cái phải thi
hành. Thánh Raymundo de Capua, vị kế tiếp sau thánh Đaminh có
kể rằng: thánh Đaminh lập một hội các người giáo dân với danh
hiệu là “Binh lính của Đức Kitô” (đây chính là gốc tích dòng Ba
Đaminh) và Ngài truyền cho các nhân viên trong hội phải đọc mỗi
ngày một ít kinh Lạy cha và Kính mừng thay vì nhật tụng theo giáo
luật Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX, trong sắc châu phê hội này có
truyền cho các hội viên phải đọc mỗi ngày 7 lần, mỗi lần 7 kinh
Lạy cha và 7 kinh Kính mừng thay vì kinh nhật tụng về Đức Mẹ.
Sắc lệnh nói thêm: đây là theo như mẫu thánh Đaminh để lại. Đây
là sử liệu đầu tiên cho ta thấy kinh Mân côi bắt đầu thành hình
dưới hình thức 50 kinh nhất định. Còn tại sao có việc đọc kinh
nhật tụng về Đức Mẹ? Thì chính là để chống lại với bè rối Albigenses,
những người chối bỏ Đức Mẹ là Mẹ Đức Kitô, như Moneta de Cremona,
một sử gia thời đó kể lại.
Tại Gante có một hội dòng Ba đạo đức thành lập từ 1234 trong các
điều lệ có một khoản như sau: Mỗi nhân viên phải đọc hằng ngày
ba chuỗi gọi là “Chuỗi thánh vịnh của Đức Mẹ”. Nếu mỗi chuỗi là
49 kinh Kính mừng, theo kiểu đọc thánh vịnh hằng ngày trong kinh
nhật tụng thì ba chuỗi là 147 kinh Kính mừng. Kinh Mân côi gồm
15 chục bắt đầu thành hình từ đó, nghĩa là từ 1234.
Trong bản hiến pháp viết ra cho các nữ tu ở nhà dòng Xistô tại
Roma, thánh Đaminh truyền rằng: Khi các kinh sĩ nguyện kinh nhật
tụng , thì các nữ tu trợ sĩ phải đọc một chuỗi. Tại nữ tu viện
ElRial ở Madrid, tu viện chính thánh Đaminh sáng lập, thấy có
một bản sao bộ hiến pháp tiên khởi. Trong đó có rất nhiều chỉ
dẫn về cách cầu nguyện và về số kinh Kính mừng phải đọc. Chẳng
hạn, ban sáng khi thức dậy, ngày thường phải đọc 28 kinh Lạy cha
và Kính mừng. Đối với các tập sinh, thì sau khi nguyện nửa đêm,
và nguyện về Đức Mẹ, họ còn phải suy ngẫm các mầu nhiệm giáng
sinh, tử nạn và lên trời của Chúa Cứu thế và sau cùng phải kết
thúc bằng kinh Lạy cha và Kính mừng.
Cha Gêtinô tóm lược các biến chuyển trên như sau: việc đọc kinh
Kính mừng thấy có trong thế kỷ 12, nhưng chỉ là việc cá nhân,
và ít ỏi. Đến thế kỷ 13 kinh Kính mừng được phổ biến sâu rộng,
và sau giờ kinh tối ,các thầy dòng đã say mê đọc kinh đó. Đối
với dòng Ba và trợ sĩ, thì kinh này được đọc thay cho Thánh vịnh.
Không những thế, thánh Đaminh đã làm cho kinh Mân côi tiến tới
một giai đoạn gần nhất định, nghĩa là phải đọc 50 kinh Kính mừng.
Vì như chúng ta đã nói trên các thầy dòng Đaminh bắt chước thánh
Tổ phụ vừa đọc kinh Kính mừng vừa bái quỳ, kẻ thì đọc 50, người
thì đọc 100 có kẻ đọc 200 lần trong 1 ngày. Tại Thụy Sĩ, trung
tuần thế kỷ 14 các nữ tu tại Toesz mỗi ngày đọc 150 kinh Kính
mừng. Trong cuốn Deapibus của Đức cha Thomas de Cati mapre kể
ra hai tích: có một thanh niên phóng túng, sau trở lại và từ đó
mỗi ngày anh đọc 50 kinh Kính mừng, và sau một thời gian anh thêm
lên ba lần 50. Một thanh niên khác mỗi ngày đọc ba chuỗi Rosarium.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử danh từ Rosarium, hay Mân côi
được đề cập tới. Những việc này xảy ra vào quãng trung tuần thế
kỷ 13 và như thế đủ biết trong thời này việc đọc kinh Mân côi
đã bành trướng mạnh.
Để kết thúc giai đoạn đầu của kinh Mân côi, ta có thể nói như
cha Gêtinô rằng:
Chính
Thánh Đaminh đã phổ biến việc đọc kinh Kính mừng trong Giáo Hội
bằng ba cách:
1/ Khi các kinh sĩ nguyện nhật tụng thì nên thêm kinh Kính mừng
ở sau mỗi thánh vịnh.
2/ Các người trợ sĩ và dòng Ba có thể đọc kinh Kính mừng thay
cho việc đọc thánh vịnh.
3/ Ngoài giờ phụng vụ, nếu đọc thì nên đọc 50 lần kinh Kính mừng.
Đó
là công trạng của thánh Đaminnh.
3.
VỀ CHUỖI MÂN CÔI
Đây là một đồ dùng để đếm số kinh đọc. Về điểm này thì ta phải
nói ngay rằng: Thánh Đaminh không lập ra,và trực tiếp ngay sau
ngài cũng không thấy phổ biến. Nếu thánh Đaminh có dùng một đồ
vật gì để đếm kinh Kính mừng, thì ngài cũng làm cách bí mật. Nhưng
theo các tài liệu khảo cổ tìm được thì ta thấy trong đời ngài
cũng đã có những thứ chuỗi dùng để đếm kinh Lạy cha gồm 10 hay
12 hạt. Các thầy dòng thường hay dùng chuỗi đó để đếm kinh Kính
mừng. Chẳng hạn thánh Marcôlinô de Forli, thế kỷ 14 mỗi ngày đọc
100 kinh Lạy cha và Kính mừng, thì ngài có dùng một thứ chuỗi
để đếm. Nhưng nói đúng ra đây không phải là chuỗi Mân côi như
có sau này. Lúc đó thì chuỗi dùng đếm kinh Kính mừng thay thế
hẳn chuỗi dùng để đếm kinh Lạy Cha vì nó đơn giản và bé nhỏ hơn.
Còn vào thời nào chuỗi Mân côi thành hình như thế, thì khó mà
nói đúng được. Chỉ biết rằng Stephan de Borbon có kể lại về cha
Romeo de Llivia vị sáng lập tu viện Lyon năm 1218 rằng Cha này
qua đời trong tay nắm chặt một thắt nút dùng để đếm 1.000 kinh
Kính mừng ngài thường đọc hàng ngày, nhưng lại không nói rõ có
bao nhiêu nút. Dầu sao đây là một sử liệu đầu tiên nói rõ về việc
dùng dây thắt nút để đếm kinh Kính mừng. Sử gia Mezard ghi nhận
có 18 trường hợp của anh em Đaminh, trước thời thánh Alanô de
la Roch, đã mang thứ chuỗi đếm này. Chuỗi của thánh Catarina de
Siena làm quà cho bố của chị Alesia gồm 100 hạt. Chuỗi của thánh
Marcôlinô de Forli cũng có 100 hạt. Nhưng chuỗi này nhiều khi
được kết lại bởi những vật quý giá bằng thủy tinh, bằng trai,
bằng bạc. Vì thế Công đồng tỉnh tại Arvietô năm 1261 cấm các thầy
không được dùng những chuỗi bằng trai hay các vật quý giá. Nhưng
cho đến này chưa thấy chi rõ hạt nào dùng để chỉ kinh Lạy cha,
hạt nào chỉ kinh Kính mừng.
Cuốn nhật ký cuộc hành hương tới Rôma do thánh Venturinô de Bergamô
tổ chức gồm 30.000 người có kể: tất cả tay phải cầm gậy (để đi
đường) tay trái cầm chuỗi để đếm các kinh Lạy Cha và Kính mừng.
Tại các ngôi mộ thế kỷ 14 và 15 thấy có những tượng cầm chuỗi
trong tay, những chuỗi này có phân từng chục bởi những hạt lớn.
Một bức họa vào năm 1474 tại Cologne bên Đức để kỷ niệm năm thành
lập họ Mân côi tại đó có vẽ Đức Mẹ đeo tràng hạt trên cổ và cầm
ở nơi tay. Nhưng tràng hạt này gồm nhiều chục, mỗi chục cách nhau
bằng một hạt lớn.
Xét theo các sử liệu kể trên, cha Getinô kết luận:
1. Chuỗi đầu tiên dùng để đếm kinh Kính mừng chính là thứ chuỗi
dùng để đếm kinh Lạy Cha.
2. Người đầu tiên dùng thứ chuỗi để đếm kinh Kính mừng mà nay
ta gọi là chuỗi Mân côi, phải là cha Romeo de Llivia, giảm tỉnh
miền Provence.
3. Thứ chuỗi dùng để đếm kinh Kính mừng đó, từ thời đầu không
thấy chia rõ thành từng chục hạt.
4. Danh từ 5 chục, hay “Thánh vịnh Mân côi” thường là những danh
từ dùng để chỉ cách đọc kinh Kính mừng trong thời đầu, tức là
thế kỷ 13: nhưng cũng trong thời đó đã thấy nói đến danh từ Rosarium,
hay “Mân côi” nơi tác giả Thomas de Cantimpre và ít sách truyện
khác.
5. Trung tuần thế kỷ 15 đã thấy có chuỗi Mân côi gồm 15 chục,
mỗi chục cách nhau bằng một hạt lớn như ta thấy hiện nay. Việc
này thấy rõ ràng ở nơi tấm ảnh vẽ bên Đức năm 1474, như ta vừa
nói trên.
4 VIỆC ĐỌC KINH LẠY CHA
CÙNG VỚI KINH KÍNH MỪNG:
Việc đọc kinh Lạy Cha cùng với kinh Kính mừng ta thấy lần đầu
tiên trong bản hiến pháp thánh Đaminh ra cho dòng Ba của Ngài.
Ngài truyền cho họ phải đọc 7 kinh lạy cha, 7 kinh Kính mừng trong
mỗi giờ phụng vụ thay vì 7 thánh vịnh. Mỗi ngày 7 lần như vậy
tổng cộng là 49 lần. Và thay vì nguyện nhật tụng về Đức Mẹ, họ
cũng có thể đọc 49 kinh Lạy cha và Kính mừng thay, đấy chính là
nguồn gốc việc đọc kinh Mân côi thay cho Thánh vịnh.
Cách đọc kinh Lạy cha cùng với kinh Kính mừng là thói quen thánh
Đaminh thường thực hiện. Nhưng hằng ngày Ngài đọc bao nhiêu kinh
Kính mừng, thì ta phải thú thực là không có bằng chứng lịch sử.
Những người liền sau thánh Đaminh để lại nhiều cách đọc kinh Kính
mừng khác nhau. Chỉ biết rằng đầu tiên người ta thường đọc nhiều
kinh Lạy cha, và đọc nhiều lần. Sau đó thêm kinh Kính mừng và
thêm nhiều, thậm chí chỉ còn đọc một lần kinh Lạy Cha trước khi
đọc 10 kinh Kính mừng.
5. SUY GẪM KHI ĐỌC KINH MÂN CÔI
Đây cũng là một yếu tố căn bản nữa của kinh Mân côi. Yếu tố này
cũng đã biến chuyển qua thời gian. Trước hết lịch sử dòng kể rằng
thánh Đaminh truyền cho các thầy dòng phải treo tượng chịu nạn
và ảnh Đức Mẹ trong phòng để suy gẫm. Còn Ngài thì lúc quỳ, lúc
đứng lúc vừa bái vừa đọc từng trăm kinh Kính mừng trước tượng
chịu nạn. Nhiều thầy dòng cũng bắt chước gương sáng đó và hằng
ngày đọc từng trăm kinh Kính mừng trước ảnh Đức Mẹ và tượng Chịu
nạn. Rồi cuốn hiến pháp dòng Ba tại Gante, năm 1234 cổ truyền
cho các hội viên phải đọc và suy gẫm một chút về đời sống Chúa
Giêsu và Đức Mẹ trước khi đọc các kinh Lạy cha và Kính mừng. Và
điều thường được nhắc đến trong giờ đọc kinh Mân côi là suy gẫm
mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập thể. Đây chính là việc thày Romeô de Llivia
thường làm hằng ngày khi đọc kinh Kính mừng. Cha Hugo de S. Caro
trước thời thánh Thomas, có kể lại việc suy gẫm 3 giai đoạn về
Chúa Cứu Thế: vui, thương, mừng trong mỗi năm chục hạt Mân côi.
Để tả lại việc thánh Đaminh thường suy gẫm các mầu nhiệm về đời
Chúa Cứu Thế khi đọc kinh Kính mừng như thế nào, thì Fr. Angelico,
một họa sĩ trứ danh của Dòng, đã theo đúng các lưu truyền kể lại
về thánh Đaminh, luôn vẽ thánh Đaminh đứng trước các hoàn cảnh
khác nhau của đời sống Chúa Cứu thế, từ lúc Chúa giáng trần cho
tới khi về trời.
Tuy các tài liệu trên chưa nói hẳn được rằng cách vừa đọc kinh
Kính mừng vừa suy gẫm các mầu nhiệm về Chúa Cứu Thế đã thành hình
đúng như ngày nay trong kinh Mân côi, nhưng cũng đủ để nói lên
rằng, kể từ thánh Đaminh việc vừa đọc kinh Kính mừng vừa suy ngắm
các mầu nhiệm là việc thánh Đaminh thường làm và truyền cho con
cái phải làm, như các nhân chứng đồng thời kể lại. Và như thế
chính thánh Đaminh đã phổ biến hai yếu tố chính của kinh Mân côi
là : đọc kinh Kính mừng và suy gẫm các mầu nhiệm về Chúa Cứu Thế.
Việc
vừa đọc kinh ngoài miệng vừa suy gẫm trong lòng như thể đã thấy
phổ biến trong thế kỷ 14. Bằng chứng là có một cuốn sách viết
tay vào thế kỷ này đã kể rõ việc đọc kinh Kính mừng và suy gẫm
các mầu nhiệm: Truyền tin, Sinh nhật, Ba vua, sống lại, Lên trời,và
việc Đức Mẹ Thăng Thiên, lĩnh triều thiên Nữ vương thiên quốc.
Tại dòng các thầy Tôi tá Đức Mẹ, thế kỷ 13 cũng có thói quen đọc
kinh Lạy cha và 7 kinh Kính mừng khi suy gẫm mỗi bảy sự đau đớn
Đức Mẹ. Cũng nên biết là dòngThánh Phirô de Verona O.P đã giúp
dòng này rất nhiều trong đời sống tu đức. Thánh Vincentê hân hạnh
vì đã đưa việc suy gẫm mầu nhiệm vào kinh Mân côi. Những cách
tổ chức của ngài không được thực hành, vì sau mỗi kinh Kính mừng
phải suy gẫm một mầu nhiệm, thành ra có tới 50 mầu nhiệm. Đến
thế kỷ 15 thì các mầu nhiệm đó rút lại còn có 15.
Để
kết thúc giai đoạn nhất gồm 250 năm biến chuyển của kinh Mân côi
chúng ta có thể nói rằng: Kinh Kính mừng được đọc riêng trong
thế kỷ 12 đã trở thành một kinh đọc chung trong giờ Phụng vụ,
và có thể thay thế kinh Nhật tụng. Rồi từ trung tuần thế kỷ 15
đã thực hiện đúng như cách thế thánh Đaminh và các thầy dòng của
Ngài đã thực hành, nghĩa là đọc 50 kinh Kính mừng, đồng thời suy
gẫm các mầu nhiệm của Chúa Cứu Thế. Và dần dần chuỗi dùng để đếm
kinh Lạy cha đã trở thành chuỗi đếm kinh Kính mừng.
6.
GIAI ĐOẠN II CỦA KINH MÂN CÔI
Giai đoạn này gồm ba biến cố :
1/ Hình thức nhất định của kinh Mân côi,
2/ Cách truyền bá có tổ chức
3/ Việc xác nhận Kinh Mân côi như có hiện nay là do công trạng
của thánh Đaminh.
Trước hết về hình thức nhất định nghĩa là đọc 50 kinh Kính mừng.
Ta phải nói ngay rằng đây chỉ là một sự chọn lựa trong nhiều cách
đọc kinh Mân côi đã có sẵn. Từ 1450 cho tới 1500, có rất nhiều
cách đọc kinh Mân côi, và cũng trong thời này có rất nhiều hội
Mân côi, và nhiều tông đồ hăng hái truyền bá kinh Mân côi. Nhưng
Giáo Hội chỉ chấp nhận và ban ơn Xá cho những ai đọc kinh Kính
mừng trong kinh Mân côi. Vì thế mà số kinh đã dồn lại theo số
50 như hình thức kinh Mân côi hiện hành thời đó.
Còn người truyền bá và phổ biến cách đọc 50 kinh Kính mừng vừa
suy ngắm các mầu nhiệm đời Chúa và Đức Mẹ chính là thánh Alano
de la Rupe, dòng Đaminh, ngài qua đời năm 1475 ngài không gọi
chuỗi hạt là chuỗi Mân côi, mà gọi là chuỗi Thánh vịnh về Chúa
và Đức Mẹ. Cùng với Ngài, có nhiều người cộng tác hăng say trong
việc này. Chính ngài đã lập hội Mân côi tại Flandtia và có từng
50.000 người vào hội. Việc sùng kính kinh Mân côi này bành trướng
khắp nơi, như văn kiện Ea quae ex fidelium của Đức Giáo Hoàng
Sixto IV, tháng 5 năm 1479 quả quyết. Thánh Alano chỉ định hình
thức đọc kinh Mân côi như có hiện nay, nghĩa là vừa đọc vừa suy
ngắm các sự mầu nhiệm: vui, thương, mừng. Nhưng trong các mầu
nhiệm mùa Vui, thì ngài thêm mầu nhiệm việc Chúa chịu cắt bì,
trốn sang Aicập và trở về Nazareth. ĐGH Sixto IV trong văn kiện
kể trên chấp nhận cách đọc như thế, và truyền rằng phải đọc 150
kinh Kính mừng như 150 thánh vịnh, và trước mỗi chục hạt phải
đọc kinh lạy Cha. Ai đọc như vậy thì được ân xá.
Vì việc nhận định thánh Đaminh chính là đấng sáng lập kinh Mân
côi như ta thấy hiện nay, có tài liệu chính thức đầu tiên đó vì
Sứ Thần Toà thánh tại Đức năm 1476 khi lập hội Mân côi tại đó
ghi rằng: Kinh Mân côi phải gồm 50 kinh Kính mừng và 5 kinh Lạy
cha, theo như cách thánh Đaminh đã lập, vì lưu truyền nói thế.
Để kết thúc giai đoạn II và là giai đoạn sau cùng của kinh Mân
côi, ta có thể nói như cha Gêtinô rằng: Giáo hội đã chấp nhận
kinh Mân côi, trước hết do các vị Sứ thần Tòa thánh, rồi đến các
ĐGH. Các đấng này đã thống nhất cách đọc, và ban nhiều ơn xá cho
kẻ đọc. Văn kiện Giáo Hoàng về kinh Mân côi rất nhiều và tất cả
đều nhấn mạnh rằng việc đọc kinh Mân côi không được thi hành theo
cách mọi người lựa chọn mà phải đọc theo mẫu chính thức trong
toàn thể Giáo Hội.
Xét theo các tài liệu sử kể trên thì kết luận sau cùng phải là
câu này: Kinh Mân côi chưa có hình thức nhất định trong thời thánh
Đaminh, trái lại đã biến chuyển rất nhiều,và sau cùng Giáo Hội
chấp nhận vào thế kỷ 15. Nhưng thánh Đaminh quả là đấng sáng lập
kinh Mân côi, vì ngài đã phổ biến cách đọc nhiều lần kinh Kính
mừng, đồng thời suy ngắm các mầu nhiệm đời Chúa Cứu Thế. Trước
thời ngài, cũng có ít kẻ đọc kinh Kính mừng, nhưng chỉ là trường
hợp cá nhân và không có ảnh hưởng sâu rộng, không có tổ chức.
Từ thời ngài trở đi mới có phong trào đọc và đọc nhiều lần, đọc
kinh Kính mừng nơi công cộng, đồng thời suy ngắm các mầu nhiệm
đời Chúa Cứu Thế, theo ơn mạc khải riêng thánh Đaminh đã nhận
được, hay nói kiểu ta quen nói: Như Đức Mẹ dạy ngài phải thực
hành. Chính vì lý do đó mà các ĐGH gọi thánh Đaminh là đấng Sáng
lập kinh Mân côi.
II GIÁ TRỊ KINH MÂN CÔI
Sau khi bàn đến nguồn gốc lịch sử kinh Mân côi ta cũng cần bàn
đến giá trị giáo lý và tâm lý của kinh lạ lùng này. Vì không biết
thì không thích, nhất là hiện nay lại có những người muốn đã đảo
cách đọc kinh Mân côi, vì họ cho là lỗi thời. Theo quan niệm của
những người này thì chỉ cần đọc Thánh Kinh vì là Lời Chúa, còn
ra là lời nhân loại. Lời nhân loại dầu sao không thể bằng lời
Chúa. Họ cũng đã kích việc sùng kính Đức Mẹ vì cho rằng như thế
là làm tổn thương đến việc tôn thờ một Chúa. Nhưng họ lại quên
rằng kinh Mân côi chứa hầu hết lời Thánh Kinh, đặc biệt là việc
suy niệm Mân côi lại hoàn toàn Thánh kinh hơn nữa. Còn khi đọc
kinh Mân côi để tôn kính Đức Mẹ, thì chúng ta có ý tôn kính người
Mẹ thực sự của Đức Kitô, đồng thời là Mẹ Giáo Hội và là Mẹ các
tín hữu. Người con hiếu thảo nào lại không muốn Mẹ mình được tôn
kính? Người con hiếu thảo nào lại không phải yêu mến mẹ mình?
Phải chăng việc đả kích lòng sùng kính Đức mẹ là mưu mô sâu độc
hỏa ngục bày ra, mà không ngờ nhiều người thiện chí đã bị mắc
bẫy. Để minh chứng giá trị Thánh kinh trong kinh Mân côi chúng
ta xin nói ngay:
1/ Việc đọc kinh ngoài miệng có nguồn gốc từ Thánh Kinh: Trước
hết chính Chúa Giêsu dạy các Tông đồ đọc kinh Lạy Cha (Lc 11,
1). Đấy chính là kinh Chúa để lại cho loài người dùng mà cầu nguyện,
để trở nên phần tử đúng đắn của nước trời.
Kinh Kính mừng (phần I). Chính là lời Thiên thần kính chào Đức
Mẹ khi truyền tin việc Ngôi Lời Nhập Thể. Phần II của kinh Kính
mừng: “ Bà có phúc hơn mọi người nữ và (Giêsu) con lòng bà gồm
phúc lạ” là lời thánh Elisabeth cất lên để ca tụng Mẹ Thiên Chúa
khi Ngài đến thăm. Lời này ghi lại trong Phúc âm thánh Luca 1,
42. Còn việc thêm thánh danh Maria trong câu: Kính mừng Maria
chúng ta thấy đã thực hành trong Giáo Hội từ xa xưa, như thấy
trong sách Antiphonarium Gregorianum, Chúa nhật IV mùa vọng, và
trong lễ kính về Đức Mẹ, do tu sĩ Alcuino sáng tác từ thể kỷ thứ
8 (20). Việc thêm thánh danh “Giêsu” trong câu: “Và Giêsu con
lòng bà gồm phúc lạ” thì mãi sau mới có (21). Vì trong cuốn giải
nghĩa kinh Kính mừng của thánh Thoma (thế kỷ 13) không thấy cắt
nghĩa về tên Giêsu. Theo lưu truyền thì Đức Giáo Hoàng Urbano
IV (1262) đã truyền thêm tên Giêsu vào kinh Kính mừng.
Kinh sáng danh là một kinh hoàn toàn trong Thánh Kinh vì Tân ước
đã mặc khải rõ ràng về Chúa Ba Ngôi và thánh Phaolô nhiều lần
tán tụng Chúa Ba Ngôi trong các thư ngài viết.
2/ Việc suy niệm các mầu nhiệm Mân côi cũng có nguồn gốc trong
Thánh Kinh: năm mầu nhiệm mùa Vui chính là những chương đầu của
Phúc âm thánh Luca. Năm mùa Thương thì thấy kể rõ ràng trong cả
4 Phúc âm. Về mầu nhiệm Sống lại và Lên trời thì các Phúc âm kể
rõ ràng. Việc Chúa Thánh Thần hiện xuống được tả một cách rất
sống động trong Tông đồ công vụ 1, 1-11, như là phụ trương về
Lời Chúa Giêsu hứa trong bữa Tiệc ly.
Chỉ có hai mầu nhiệm sau cùng: Việc Đức Mẹ lên trời và vinh thăng
Nữ vương Thiên quốc, thì tuy không thấy kể rõ trong Thánh Kinh,
theo các nhà Kinh thánh Học và Giáo lý, thì cả hai mầu nhiệm này
được tiềm ẩn trong đạo lý Thánh kinh, theo nghĩa đầy đủ về các
lời Chúa phán trong Cựu và Tân ước. Đối với người Công giáo thì
việc Đức Mẹ lên trời đã thành tín điều do Giáo quyền tuyên bố.
3/ Tương quan giữa Chúa Giêsu và Đức Mẹ: Một yếu tố Thánh kinh
nữa của kinh Mân côi là việc liên đới giữa Đấng Cứu Thế và Đức
Mẹ đồng công. Bất cứ cách nào ta không thể phân ly Đức Mẹ ra khỏi
Chúa Cứu Thế được. Đức Mẹ luôn là Đấng đồng công với Chúa Cứu
Thế. ĐGH Leo XIII quả quyết: Nhiệm vụ đồng công này được diễn
tả đặc biệt trong kinh Mân côi (T. Đ. Jucunda semper).
Nếu mọi ơn siêu nhiên đến với ta là do công ơn Chúa Cứu Thế, thì
ta cũng phải nhận định rằng Đức Mẹ đã đồng công với Chúa Cứu Thế
kể từ lúc Ngài giáng trần cho tới chân đồi Calvario. Kinh Mân
côi muốn nhắc lại sự kiện này và muốn ta đến với Thiên Chúa qua
đường Giêsu Maria, vì đây là đường Thiên Chúa đã xếp đặt. Vì thế
tuy không buộc ta phải luôn luôn và rõ ràng chạy lại với Đức Mẹ,
như với Chúa Giêsu, nhưng ai lười biếng hay cố tình bỏ quên Đức
Mẹ thì người đó chắc chắn đi trệch đường về Thiên quốc.
Nếu khi đọc kinh ngoài miệng, hay suy ngắm trong lòng ta không
được chủ tâm quên Đức Mẹ, thì trong kinh Mân côi, là kinh vừa
đọc vừa suy ngắm, lại càng cần có sự hiện diện của Đức Mẹ hơn
nữa. Trong kinh Mân côi các lời đọc ra ngoài miệng, cũng như các
mầu nhiệm suy ngắm trong lòng, luôn nhắc đến Chúa Giêsu và Mẹ
Maria. Vì thế kẻ đọc kinh Mân côi luôn phải tưởng niệm tới cả
hai Đấng, để vừa yêu mến, biết ơn và bắt chước gương sáng đời
sống các Đấng để lại, vừa để cầu xin cho được nước trời, là nước
mà Chúa Giêsu và Đức Mẹ đem lại cho thế gian.
Việc nối kết chặt chẽ Đức Mẹ và Chúa Giêsu như thế trong kinh
Mân côi quả là có lý do Thánh kinh. Và kinh Mân côi quả là một
việc đọc cuốn Phúc âm rút gọn. Vì lý do này việc đọc kinh Mân
côi có giá trị hơn bất cứ một thứ kinh riêng nào khác. Vì các
kinh khác, dù có hay đến đâu cũng gồm những yếu tố nhân loại.
Còn kinh Mân côi thì hoàn toàn gồm những lời Thánh kinh.
4/ Giá trị Kinh thánh trong các thành phần của kinh Mân côi.
Kinh Lạy cha: theo ý kiến thánh Augustinô thì phần nhất của kinh
Lạy Cha là một câu “thuyết phục cảm tình”. Vì các kinh, nhất là
kinh để cầu xin, cần phải bắt đầu bằng những lời tán tụng để kẻ
cầu xin đáng được nghe hơn. Vì thế kinh lạy cha, bắt đầu bằng
danh từ “Cha”. Danh từ “Cha” phát xuất từ miệng Chúa Cứu Thế không
phải để chỉ một đấng vô hình trừu tượng theo triết học, mà chính
là để chỉ một sự kiện thể lý cần thiết, tức là người sinh ra con
cái. Theo quan niệm Tân ước thì Chúa chính là Cha các tín hữu,
cha theo nghĩa thâm thúy của nó. Vì thế Chúa Giêsu muốn cho ta
cầu nguyện với tất cả niềm tin ở một người Cha thương yêu con
cái vô cùng. Cầu nguyện như thế quả là một cuộc tâm sự lý thú.
Khi xin cho “ Nước cha trị đến” thì cũng có nghĩa như xin cho
“Danh Cha cả sáng” và “Vâng ý cha dưới đất bằng trên trời”. Vì
khi Chúa Giêsu dạy các môn đệ đọc kinh này thì Nước Chúa chưa
thống trị, chưa thấy danh Chúa được cả sáng như ý Chúa muốn.
Như tiên tri Ezechiel đã báo trước cho biết Danh Chúa sẽ tôn vinh
hiển, nhờ một Đấng sẽ đến, Đấng sẽ lập một nước mới, Đấng đó chính
là đấng Messia, Đức Giêsu Kitô. Vì thế cả ba lời xin này, theo
nghĩa lịch sử đều chú trọng đến việc xin cho “Nước Cha trị đến”
( Việc này đã thực hiện từ chân đồi Calvariô đặc biệt là từ ngày
lễ Hiện xuống. Ngày nay khi cầu nguyện cho “ nước Cha trị đến”
thì ta xin cho nước đã thành lập đó lan tràn ra khắp thế gian,
tới đến với từng linh hồn xét theo nghĩa này thì KINH MÂN CÔI
CÓ GIÁ TRỊ TRUYỀN GIÁO, ĐẠI KẾT,VÀ THẦN BÍ.
Còn việc xin lương thực hàng ngày thì không những ta xin những
của thiêng liêng, mà cũng là để xin những của vật chất cần thiết.
Dĩ nhiên Chúa quan phòng đã lo liệu đầy đủ. Nhưng cũng đòi hỏi
phải có sự ân cần của con người, tuy không thái quá, nhưng vừa
đủ, và đồng thời tín nhiệm vào Chúa.
Tiếp đó là “ xin Chúa tha tội” tội riêng, tội chung , nhưng đồng
thời người tín hữu cũng tự buộc mình phải giữ công bằng bác ái,
tha thứ cho anh em đồng loại. Tuy hai mối nợ khác nhau một trời
một vực, nhưng ta tự hứa như vậy để Chúa thương những lỗi tầy
đình của ta. Việc đọc và suy niệm như vậy trong kinh Mân côi làm
cho kinh này tràn đầy tính cách bác ái Phúc âm.
Lời xin sau cùng là xin “cho khỏi sự dữ”. Đây là tổng hợp những
gì ta muốn xin cho ta cũng như cho tha nhân. Nói kiểu tích cực:
Xin Cha ban cho chúng con mọi sự lành như ý Cha muốn, vì điều
Chúa muốn là những gì thượng hảo cho chúng con.
Kinh Kính mừng: Ba câu: “Kính mừng, Đấng đầy ơn phúc và Chúa ở
cùng Bà” là những lời do chính Thiên thần thay mặt Chúa kính chào
Đức Mẹ. Tiếng Việt nam dịch khá đúng tiếng Hy lạp: KHAIRE: hãy
vui mừng. Nhưng chữ “Mừng” của ta ám chỉ tâm trạng thiên thần,
còn chữ “Mừng” trong tiếng Hy lạp ám chỉ tâm trạng Đức Mẹ. Theo
các nhà Thánh kinh học thì nên dịch: Xin Đức Mẹ hãy vui mừng.
Nên chú ý là Thiên thần không nói tới danh Maria, nhưng thay vì
tên riêng, Thiên Chúa đặt cho Đức Mẹ một tên mới: Đấng đầy ơn
phúc. Vì thế nguyên văn lời chào sẽ là: hãy vui lên, hỡi Đấng
đầy ơn phúc. Thực là một lời khen ngợi bao gồm mọi điểm quan trọng
và riêng biệt của Đức Mẹ. Vì câu “Đấng đầy ơn phúc” ám chỉ việc
Đức Mẹ được tràn đầy mọi ơn hồn xác. Một vật đã đầy thì không
thể thêm gì hơn được. Mẹ phải là đấng đầy tràn mọi ơn phúc để
xứng đáng làm Mẹ chính Ngôi Hai Thiên Chúa. Hỏi còn lời nào xứng
đáng và đẹp đẽ hơn để kính chào Đức Mẹ? Hỏi rằng Đức Mẹ còn có
thể ước ao lời chào nào hơn nữa? Hỏi rằng ta có thể dùng lời nào
đẹp hơn để ca khen Đức Mẹ? Vì thế không lạ gì ta thấy Đức Mẹ muốn
ta đọc kinh Mân côi để tỏ lòng yêu mến Ngài. Khi đọc “Kính mừng
đấng đầy ơn phúc” ta nhắc đi nhắc lại một việc đặc biệt của tình
thương Thiên Chúa, việc Ngôi Hai giáng trần cứu thế, và do đó
một người nữ được trở nên Mẹ Thiên Chúa.
Câu nói “Chúa ở cùng Bà” là một câu trong Cựu ước thường dùng
khi chỉ một việc có liên quan tới dân Chúa, hay một người được
Chúa chọn để trao trách nhiệm khó khăn, nhưng đặc biệt, phải thực
hiện, và Chúa hứa sẽ trợ lực cách riêng để hoàn tất công việc
trao phó. Việc trọng đại Đức Mẹ phải làm đây chính là cộng tác
với Ngôi Hai trong việc cứu thế. Nhắc đến đây, chúng ta nhắc lại
cho Đức Mẹ bổn phận phải làm đối với chúng ta, và nhắc tới địa
vị cao trọng Ngài được trong chương trình cứu độ, như Mardokeo
nhắc cho hoàng hậu Esther. Thực là một lời tâm lý.
Còn câu “Bà có phúc hơn mọi người nữ và (Giêsu) con lòng Bà gồm
phúc lạ” chính là câu thánh Elisabeth chào mừng Đức Mẹ khi ngài
đến thăm Bà, theo ý Chúa muốn. Trong Cựu ước cũng có một lời khen
tương tự, tức là lời dân chúng chúc mừng bà Judith ( 13, 18-19)
khi bà chiến thắng quân thù. Một điều đáng lưu ý là trong sách
Judith đấng chúc phúc cho bà là chính Thiên Chúa. Trong Tân ước
không nói rõ “Chúa chúc phúc cho Đức Mẹ” nhưng mục đích thánh
Luca khi viết lại những câu này có ý minh chứng Đức Kitô, mà Đức
Mẹ mang trong lòng, chính là Thiên Chúa. Đức Mẹ có phúc vì lý
do đó. Thánh Elisabeth cũng muốn nói lên điều này khi cất tiếng
ngợi khen Đức Mẹ và nhắc lại đến việc “Con lòng Bà gồm phúc lạ”.
Kinh Sáng Danh: Cũng chính là ý nghĩa Kinh thánh. Vì theo Phúc
âm thánh Gioan, Chúa Con chính là sự mặc khải đặc biệt của Thiên
Chúa và Ngài phải được vinh hiển tán tụng muôn đời. Vinh hiển
của Chúa Con cũng là vinh hiển của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
Vì thế thánh Phaolô kết thúc thư gởi cho giáo đoàn Roma ( 16,
25-27) bằng câu tán tụng, ngợi khen và cầu vinh danh Chúa Cha,
Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngày nay đọc kinh này Giáo Hội muốn
theo cùng một ý Thánh kinh đó mà chúc tụng, cầu mong vinh danh
Thiên Chúa Ba Ngôi.
|