|
|
| |
Dịch
giả: Phạm Ðình Khiêm |
|
Ðức
Bà Maria Là Mẹ Tôi
Toàn thể giáo hữu thi nhau
xưng hô: Ðức Bà Maria là Mẹ Tôi! Trong nghi lễ và kinh nguyện,
Hội Thánh khuyên dụ ta cầu khẩn Ðức Mẹ bằng tước hiệu ấy, và lòng
ta, không cần nguyên cớ nào khác, cũng tự nhiên hướng về Ðức Mẹ,
coi Ðức Mẹ như một bà mẹ hiền từ chí ái.
Tuy nhiên, ta cầu thấu hiểu
chân lý đó, một chân lý thiết thực và có sức yên ủi lòng ta hơn
ta thoạt tưởng rất nhiều. Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria đã
sinh ra Chúa Giêsu. Người là Mẹ thật Chúa Giêsu, đấng Thiên Chúa
mặc tính loài người. Ðó là một tín điều trong Ðạo.
Chúa Giêsu là
ai? Chúa là đấng Cứu Thế, là
Ðầu một thân thể mà các
giáo hữu là chân tay, là Anh cả
một đoàn em đông đúc. Bản
tính Chúa là thế. Chúa không phải
là một tư nhân được ủy
thác cho một sứ mạng, sứ mạng
cứu thế gian, sứ mạng làm Cha một
đại gia đình tín hữu. Không,
thiên chức ấy thuộc nội thể,
thuộc yếu tính của Chúa.
Chính Ðức
Chúa Trời khi nghị quyết cho Ngôi
Hai ra đời làm người để
cứu chuộc thế gian, đã không
quan niệm khác, chỉ quan niệm rằng:
Ngôi Hai là đấng Môi giới, là
Con Ðầu Lòng của thế hệ mới,
là Ðầu thân thể mầu nhiệm.
Chúa Giêsu đã được tiền
định như thế và Chúa đã
sinh ra như vậy.
Một thày tư
tế nhận chức linh mục, là nhận
lấy một phẩm tước mới, phẩm
tước ấy dĩ nhiên sẽ còn
lại mãi, nhưng không thuộc nội
tính của thày ấy: Thầy ấy không
bẩm sinh làm linh mục, thầy ấy không
phải là linh mục tự bản tính
mình.
Trái lại, Chúa
Giêsu là Linh mục, bẩm sinh làm đấng
Môi giới. Chúa là con Chiên hiến
tế từ thuở tạo thành vũ trụ;
là đấng Cứu Thế. Ấy, Ðức
Bà Maria là Mẹ một Chúa Giêsu
như thế đấy. Người không
sinh ra một Chúa Giêsu trừu tượng
đâu. Người là Mẹ một Chúa
Giêsu thực thể, và Chúa Giêsu
ấy là Ðấng Cứu Thế tự
bản tính, là đấng kết hiệp
mật thiết với ta như đầu liền
cổ, như cành liền cây.
Thế nên, Ðức
Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu thì cũng
là Mẹ hết thảy những người
kết hiệp với Chúa Ðức Mẹ
sinh Ðầu thì cũng sinh tất cả
chân tay: Ðức Mẹ sinh đấng Cứu
Thế thì cũng sinh tất
cả những người được
cứu chuộc.
Ta hãy gắng hiểu
thêm sự Chúa an bài như thế và
lẽ bí nhiệm Ðức Bà Maria là
Mẹ Ðức Chúa Trời. Ðức Nữ
Ðồng Trinh đã tạo cho Chúa Giêsu
một bản tính loài người. Song
Hội Thánh không nói rằng: Người
là Mẹ nhân tính Chúa Giêsu mà
lại công bố: người là Mẹ
Ðức Chúa Trời. Quả thế, nhân
tính Chúa Giêsu không biệt hữu,
nhân tính ấy kết hiệp với Thiên
tính trong Ngôi Hai
Thiên
Chúa.
Vậy nên Ðức Nữ Ðồng Trinh
đã không sinh ra nhân tính Chúa
Giêsu mà sinh ra chính Chúa Giêsu Kitô
vừa là Người vừa là Chúa.
Cũng một trật
khi Ðức Mẹ sinh ra Chúa Giêsu là
Ðấng Chịu Xức Dầu thì Ðức
Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu là Ðấng
Cứu Thế. Người không thể sinh
ra một Chúa Giêsu mà đấng ấy
không đồng thời, không tất nhiên
là Anh ta, là Ðầu của thân thể
mà ta là chân tay. Vậy nên trong Chúa
Kitô mà Ðức Mẹ sinh ra đã
có gồm cả ta: Ta đã là một
phần của đấng Kitô ấy. Sự
sống Người đã lưu thông trong
ta. Như thế Ðức Mẹ là Mẹ
Chúa Giêsu thì tất nhiên cũng là
Mẹ ta. Người không thể bỏ qua
ta, hay loại trừ ta khỏi lòng Người.
Ta ở trong Người cùng với Chúa
Giêsu ta là một phần của Con Ðức
Mẹ.
Hỡi tín hữu
Công Giáo, bạn hãy chú ý điều
này: Sự kết hiệp chặt chẽ của
bạn với Chúa Giêsu làm cho bạn
dĩ nhiên nên con Ðức Mẹ không
phải là sự ngẫu nhiên như tình
cờ mà lọt vào chương trình
Thiên Chúa.
Không, đó là
điều từ trước vô cùng Thánh
ý Ðức Chúa Trời đã ngẫm
nghĩ và quyết định, cùng với
việc cho Ngôi Hai ra đời. Tình mẫu
tử giữa Ðức Mẹ với bạn,
là phần then chốt trong chương trình
Thiên Chúa. Cắt đứt tình mẫu
tử của bạn với Ðức Mẹ,
là cắt đứt chính Chúa Giêsu
với Ðức Mẹ, là phá huỷ
công cuộc Cứu Thế.
Ôi! Lạy Mẹ
dấu yêu, tư tưởng này làm
cho lòng con khoan khoái dường nào!
Con sung sướng biết bao được
ở trong Mẹ, được nương náu
trong linh hồn Mẹ như đứa con thơ
được người mẹ ấp ủ
trong lòng! Con cảm thấy rõ tấm lòng
hiền mẫu của Mẹ săn sóc đến
con và ban cho con từng giọt thánh sủng
con cần phải có để lớn lên
trong Chúa Giêsu! Con muốn luôn luôn
kết hiệp cùng Mẹ và cầu xin
Mẹ yêu thương con.
Ðức Bà Maria
là Mẹ ta. Cả thế giới Công giáo
đồng thanh ca ngợi Người như
vậy, nhưng trừ mấy nhà thông
thái, không ai nghĩ đến việc tìm
cớ chứng minh điều đó. Thực
ra, đối với linh hồn đơn sơ,
việc ấy chỉ tốn công vô ích:
Niềm tin tưởng này đã được
chính Thiên Chúa khắc vạch vào
tâm hồn người giáo hữu khi họ
nên em Chúa Giêsu.
Tại sao, hỡi bạn
đọc thân yêu, tại sao trong buổi
thiếu thời, bạn cảm thấy như
có sức gì quyết dũ bạn tìm
đến đền thờ Ðức Mẹ,
và bạn đi viếng, đi kiệu Ðức
Mẹ với một lòng bồi hồi cảm
động như thế? Tại sao bạn vui
sướng khi đọc kinh Mân Côi và
bạn ham thích lần hạt trên những
quãng đường vắng, miệng đọc
đi đọc lại một lời kinh không
bao giờ chán: "Kính Mừng Maria"?
Và không phải chỉ mình bạn cảm
thấy sức quyến dũ ấy: Những
người cùng tuổi bạn cũng đã
hồi hộp cảm động như bạn,
và cũng như bạn, đã kín đáo
quỳ gối trước những tượng
ảnh Ðức Nữ Ðồng Trinh, tỏ
bày cùng Người tấm lòng kính
yêu, và cầu nguyện Người trong
cơn thiếu thốn, mỗi người lại
tưởng rằng mình kính mến Mẹ
trên trời của mình cách riêng,
và Ðức Mẹ đã đáp lại
mối tình của mỗi người như
chỉ yêu riêng một mình người
ấy.
Thời gian cũng
chẳng làm cho lòng mộ mến kia nhạt
vẻ xuân tươi. Người đứng
tuổi, đã từng dầy dạn với
phong sương, có đi ngang qua một pho
tượng Ðức Nữ Ðồng Trinh
và cúi đầu chào, vẫn cảm
thấy một tình âu yếm trông cậy,
như đã cảm thấy trong những năm
thơ trẻ.
Cả những người
già nua, cô lập trên cõi thế,
chán nản với tình đời, mà
lòng vẫn hồi hộp khi nghĩ đến
Mẹ Maria, đến ngày sắp gặp Mẹ
trên trời và được Mẹ ban
cho thỏa mãn mọi điều ước
vọng.
Bạn đừng
tưởng rằng chỉ có dân này
hay nước nọ mới có lòng thảo
kính mến yêu Ðức Mẹ. Không
ai bảo ai, dân tộc nào cũng kính
tôn cầu khẩn Người, cũng nghĩ
ra những phương thế cảm động
để tỏ lòng yêu mến Người,
cũng xây những đền thờ nguy nga
dâng kính Người, cũng dựng bên
đường qua lại những nhà nguyện
nhỏ có ảnh tượng Người,
cũng tổ chức những cuộc đi viếng
đền Người linh đình, náo
nức. Rồi mỗi dân tộc lại tưởng
mình kính mến Ðức Nữ Ðồng
Trinh hơn hết mọi dân tộc trên
hoàn cầu.
Những người
lạc đạo và người vô thần
khi đã được Ơn Trên soi sáng
và trở lại Công giáo, liền đổi
lòng lãnh đạm hiềm khích xưa
thành lòng tin cậy mến yêu đối
với Mẹ Maria. Trước kia họ công
kích giáo hữu tôn sùng Ðức
Mẹ quá đáng, bây giờ họ
không tìm được đủ lời
để ca tụng Nữ Vương của
lòng họ.
Cả đến những
người dã man mọi rợ cũng không
thoát khỏi quyền lực của tình
yêu mến Ðức Mẹ. Vừa được
nghe nói đến những đặc ân,
những vinh quang của Ðức Mẹ Chúa
Trời, và được nhận vào hàng
con cái Hội Thánh, họ liền say mê
tôn sùng và kính mến Ðức
Mẹ, họ cầu nguyện Ðức Mẹ
với một lòng thảo kính và tin
cậy không khác gì những tín hữu
sinh ra giữa nước Công giáo.
Lòng ngưỡng
mộ chung của toàn thể giáo hữu
đối với
Ðức Nữ Ðồng Trinh, phát
sinh từ buổi sơ khai đạo Chúa,
đến nay vẫn y nguyên không thay đổi,
mặc dầu những kẻ vô tín ngưỡng
không ngừng công kích tính thờ
ơ và óc hoài nghi của người
đời đã lay chuyển bao tín ngưỡng,
làm nhụt bao nhuệ khí, mà cũng
phải hàng phục lòng ngưỡng mộ
ấy.
Mối tình xưa
kia đã kết hiệp những tín hữu
đầu tiên với Mẹ Thiên Chúa
đằm thắm thế nào thì bây
giờ cũng kết hiệp những tín
hữu thời nay với Ðức Mẹ như
vậy.
Sự hoan hỉ nồng
nhiệt của dân thành Êphêsô
hồi thế kỷ thứ IV khi nghe Công Ðồng
tuyên bố Ðức Bà Maria
là Mẹ Ðức Chúa Trời, cũng
không hơn sự hoan hỉ của dân
thành Rôma và toàn thể giáo hữu
hoàn cầu trong thế kỷ XIX, khi Ðức
Giáo Hoàng Piô IX công bố tín điều:
Ðức Bà Maria là Ðấng Vô Nhiễm
Nguyên Tội.
Mối
tình đại đồng ấy,
Giáo Hội chỉ dùng quyền giảng
dạy để khuyến khích và quy định,
chứ không phải Giáo Hội đã
tạo nên. Chính con cái Giáo Hội
thúc giục Giáo Hội hơn là Giáo
Hội thúc giục con cái. Thấy lòng
tín hữu nô nức kính mến Ðức
Mẹ như thế, Hội Thánh đã
đặt thêm nhiều lễ kính Ðức
Mẹ, khuyếch trương việc tôn sùng
Người, công bố những đặc
ân của Người và ban muôn vàn
ân xá cho những ai làm việc tôn
kính Người. Rồi trong những giờ
phút nghiêm trọng của lịch sử,
các Ðức Giáo Hoàng đã lên
tiếng hiệu triệu tín hữu quy hướng
lòng trí về Mẹ trên trời và
hợp nhau cầu khẩn Người.
Tự đâu có
mối tình phổ biến như vậy, mối
tình vượt cả thời gian, mối
tình làm say sưa toàn dân Công Giáo,
mối tình không bao giờ phai lạt, mặc
dầu những dị đồng về tuổi
tác không gian và thời gian?
Một mối tình
như thế không thể có một nguyên
ủy ở loài người. Nó không
hề phụ thuộc những thăng trầm
của thế sự, hay những hoàn cảnh
riêng biệt. Nó bắt nguồn tự
Trời. Chính Chúa Thánh Thần đã
đổ đầy tình ấy trong linh hồn
tín hữu khi Người cải hóa tín
hữu nên con Ðức Chúa Trời, khi
Người thông ban cho tín hữu sự
sống của Chúa Giêsu và khi Người
phó thác tín hữu cho Mẹ Maria săn
sóc. Cùng với phẩm giá làm con
Ðức Mẹ trên trời, Chúa Giêsu
đã phú cho linh hồn tín hữu một
tình yêu mến tha thiết đối với
Ðức Mẹ, một lòng con thảo cậy
tin mà không sức gì có thể giập
tắt được, dù tuổi già sức
yếu, dù cuộc thế phù trầm, hay
truy?lạc sa ngã.
Nữ Trinh Maria là
Mẹ ta, một người Mẹ nhân từ
và hiền hậu tuyệt vời. Chúa
đã ghi chép chân lý ấy ở
ngay trang đầu cuốn sử Cứu thế.
Người cũng đã in khắc chân
lý ấy vào thâm tâm ta sau cùng
Người còn biểu lộ chân lý
ấy trong cảnh thiên nhiên hữu hình.
Ta thấy rõ ràng
trong vũ trụ này hễ có một mầm
sống xuất hiện là Chúa quan phòng
phải ủy một người mẹ để
che chở, lẽ nào Người có thể
quên không đặt một người
mẹ để giữ gìn nguyên vẹn
trong linh hồn ta cái mầm bí nhiệm
sự sống siêu nhiên, là được
tham gia vào chính sự sống của Chúa?
Bạn hãy quan sát
một cái búp non hay cái nụ nhỏ
vừa chớm mọc trên cành, bạn
thấy nó được đùm bọc
cẩn thận biết bao, để khỏi
tiết đông giá lạnh và côn
trùng đến cắn. Phải đợi
bao ngày tháng lâu dài, bao sửa soạn
tỉ mỉ, rồi thiên nhiên, bà mẹ
của cái mầm sống ấy, mới cho
phép lá kia nảy ra khỏi màng bọc
và hoa nọ mở đài xuất hiện.
Lúc ấy, khí
trời đã phải sạch trong sau một
mùa giá lạnh lâu dài, thời tiết
đã phải điều hòa, lại thêm
ánh xuân sưởi ấm, mưa xuân
đượm nhuần.
Vậy ấy là
gì? Chẳng qua chỉ là một búp
cây bé nhỏ, nhưng búp cây ấy
là một vật sống, hình ảnh Ðấng
Hằng Sống tối cao, và là một
phần tham dự vào sự sống của
Chúa, tuy còn vô cùng cách biệt
nhưng đã thiết thực rồi.
Loài thảo mộc
mà Chúa còn săn sóc tỉ mỉ
như vậy, huống chi Chúa dựng nên
một vật trọng hơn, chẳng hạn
một con sâu có cảm giác và hoạt
động, thì sẽ thế nào? Ôi!
Những điều dự phòng, săn sóc
còn tăng gấp bội. Con bướm kia
chỉ đẻ trứng nơi nào con nó
nở ra liền kiếm được của
ăn sẵn sàng, và đến lúc biến
hình, con sâu sẽ tự mình nhả
ra một chất làm thành cái vỏ
xinh xắn nằm yên nghỉ trong đó.
Tại sao phải cần
bao nhiêu diệu kỳ để bảo toàn
sự sống một con sâu hèn hạ,
một con bướm chóng qua?
Vì đó là những vật sống.
Chúng có một đấng Tạo Hóa
trên trời yêu chúng, vì chúng mô
phỏng và phát họa sự sống của
Người.
Mầm sống càng
quan hệ, càng hoàn toàn lại càng
được Chúa Quan Phòng lưu tâm
săn sóc. Bên cạnh mỗi con vật,
Chúa đặt một con mẹ có sẵn
những năng tính lạ lùng để
đoán biết những nhu cầu của
con vật sơ sinh, lại có đủ sức
lực hay khôn khéo để bênh vực
con khi bị hăm dọa. Những giống vật
mà ta gọi là ác thú cũng phải
dịu lòng và tỏ ra âu yếm đối
với đàn con.
Ta nói sao xiết
lòng ân cần săn sóc của đấng
Tạo Hóa, khi Người dựng nên một
linh hồn bất tử và phú linh hồn
ấy vào một thể xác loài người.
Chúa Quan Phòng đã phải dự bị
kỹ lưỡng bao nhiêu ngày tháng
trước để cho mầm sống dầu
bé nhỏ kia, nhưng đã có một
linh hồn giống hình ảnh Chúa, tìm
được nơi nương náu thuận
tiện và yên tĩnh để dần
dần lớn lên mà không một ngoại
lực nào cản trở, mưu hại.
Ðến khi đã
mạnh sức đủ để sống một
mình, cái thai ra đời, sẽ được
thấy bên nôi, một người mẹ
vô cùng âu yếm, vô cùng nhẫn
nại quên mọi vui sướng trừ một
nỗi vui sướng trông nom con và cho
con bú mớm.
Bạn đã cảm
thấy chưa, tại sao trên trời bạn
có một người Mẹ, và bạn
đã hiểu chưa, người Mẹ ấy
đối với bạn như thế nào?
Ðời sống
vật chất có là gì sánh với
đời sống thiêng liêng trong thánh
sủng Chúa? Cõi phù thế ngắn ngủi
có là gì sánh với cuộc trường
sinh vô tận? Sự sống nhân tính
có là gì sánh với sự sống
thiên tính do thánh sủng Chúa thông
cho? Chẳng qua chỉ là một nét phác
họa, một việc làm thử của đấng
Hóa Công mà thôi. Sự sống thật,
sự sống hoàn toàn, chính là sự
sóong siêu nhiên và đấy mới
là công cuộc tuyệt diệu của
Tạo Hóa.
Ôi! Lạy Mẹ
Ðồng Trinh, con hiểu rồi, con hiểu
tại sao Mẹ đã cúi nhìn con ngay
những năm con còn thơ dại, con hiểu
tại sao ngay khi còn bé, mỗi lúc gặp
sự buồn phiền, con đã hồn nhiên
kêu gọi Mẹ cứu giúp, con hiểu
tạo sao trong khi nguy biến con đã mau mắn
chạy đến ẩn náu dưới tà
áo Mẹ. Phải, Người là Mẹ
tôi, Người đã sinh ra tôi trong
sự sống ơn nghĩa Chúa, và lòng
từ mẫu Người đã luôn luôn
săn sóc tôi. Ðấy không phải
là một điều dự phỏng, cũng
không phải một điều hy vọng
suông hay một sự mơ ước thơ
ngây. Không, Người yêu tôi thật;
tôi, đứa con bé mọn của Người,
như người mẹ thế gian yêu con
mình, và còn hơn thế nhiều.
Người thích
gọi cho tôi vỗ về Người; Người
mỉm cười với tôi, áp tôi
vào lòng Người, nỉ non cùng tôi
và ẵm bồng tôi.
Ôi, ai nói được
niềm hoan lạc vui thỏa của bà mẹ
lúc nhìn con! Bà sung sướng biết
bao khi đứa con nhỏ nhoẻn miệng cười
tươi mà đáp lại vẻ âu
yếm của bà. Hai mẹ con chơi đùa
với nhau, quyến luyến nhau hàng giờ
không chán. Lòng bà yêu con đằm
thắm và trí bà chỉ nghĩ một
điều làm cho con sung sướng, đến
nỗ bà quên hết mọi sự chung
quanh, quên cả mọi nỗi ưu phiền.
Lạy Mẹ phúc
hậu mến yêu! đấy chẳng phải
là cách Mẹ đối xử cùng con
ư? Ôi, con thật muốn đáp lại
tấm tình yêu dấu của Mẹ, con
muốn yêu mến Mẹ, muốn nhờ Mẹ
mà yêu mến Chúa Giêsu, con muốn
để mặc cho Mẹ yêu mến con, để
mặc cho Mẹ bao bọc con bằng tình
yêu dấu của Mẹ và che phủ con
bằng các công ơn Mẹ.
Xin Mẹ hãy năng
nói cùng con rằng: Mẹ yêu con nhất
là những lúc con đãng trí hay phiền
lòng, Mẹ càng nên nhắc con điều
ấy, để không bao giờ con quên
rằng đời sống thiêng liêng con
đang hòa trong linh hồn đầy ơn
phúc Mẹ.
|
|