| |
Chuyền
ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
|
|
Phần
I: Lời Hứa
CHƯƠNG
MỘT: TRUYỀN TIN
I.
Gương Thánh Nhân
“Mẹ
không hứa cho con hạnh phúc đời này”
Vào ngày 11 tháng 2 năm 1858, một thôn nữ mười bốn tuổi đã trải
qua một kinh nghiệm, và kinh nghiệm ấy đã mãi mãi làm thay đổi
cuộc đời của chị. Hôm ấy, Bernadette Soubirous, người thiếu nữ
của làng Lộ đức tại miền Nam nước Pháp, đã được nhìn thấy Đức
Trinh Nữ Maria hiện ra lần đầu tiên trong một chuỗi nhiều cuộc
thăm viếng. Và như Mẹ Maria ngày xưa, Bernadette cũng có một sự
lựa chọn. May mắn thay, vị thánh nữ tương lai cũng đã thưa Xin
Vâng với Thiên Chúa.
Được sai đi mót củi, Bernadette cùng đi vào rừng với đứa em gái
và một cô bạn. Nhưng vì bị suyễn nên Bernadette không thể theo
kịp hai thiếu nữ kia. Bernadette dừng chân nghỉ tại một hang đá
gần khu đầm lầy của thị trấn, và giật mình khi nhìn thấy một bà
xinh đẹp đứng trên một bụi cây. Hết sức hoảng hốt, cô thiếu nữ
vội vàng đọc kinh Mân Côi. Bà Đẹp lặng lẽ hợp ý với lời kinh,
và sau đó biến đi. Bernadette choàng dậy, chạy đi tìm hai thiếu
nữ kia để trút bớt nỗi hốt hoảng của mình. Và kể từ đó cho đến
ngày 25 tháng 3, Mẹ Thiên Chúa đã nhiều lần hiện ra với cô thôn
nữ người Pháp ấy.
Bernadette không ngờ việc chị nhận lời trở lại gặp Đức Mẹ đã khiến
chị bị bè bạn và hàng xóm chế nhạo, bị nhà cầm quyền hăm dọa,
và gia đình phải lâm cảnh khó xử. Bernadette cũng không ngờ việc
chị quyết định trở lại hang đá rốt cuộc đã tạo nên một khúc quặt
làm thay đổi hoàn toàn nếp sống bình thường của chị, một cô học
trò nghèo nàn và kém cỏi. Cha mẹ thường xuyên chất vấn và quở
mắng Bernadette về tội loan tin đồn nhảm. Công tố viên của thị
trấn đe dọa sẽ nặng tay nếu như Bernadette cứ tiếp tục khích động
dân chúng. Các linh mục địa phương ban đầu cũng lên án “cái-gọi-là-thị-kiến”
ấy. Tuy nhiên, trong một lần Đức Mẹ hiện ra, trước sự hiện diện
của hằng trăm người, mặc dù họ không nhìn thấy hoặc nghe được
gì, một phép lạ đã xảy ra. Chỗ đất nơi Đức Trinh Nữ Maria truyền
cho Bernadette đào xới bỗng vọt lên một mạch nước. Vài giờ sau
đó, một người thợ đá bị chột mắt vì tai nạn lao động đã đến rửa
mặt tại dòng suối và mắt ông đột nhiên sáng trở lại. Ông là người
đầu tiên trong rất nhiều người được nhận lãnh phép lạ.
Tin tức lan nhanh như cháy rừng. Ngày hôm sau, một bà mẹ đau đớn
bồng đứa con đang thoi thóp đến dòng suối chảy từ hang đá và nhúng
xuống đó, và bà đã được ban thưởng một món quà, đó là tiếng khóc
của đứa con đã khỏe mạnh. Chỉ vài giờ trước đó, đứa trẻ này đã
được lãnh các phép sau hết.
Tin tức về cô thôn nữ Bernadette Soubirous và dòng suối phép lạ
tại Lộ đức đã được loan ra khắp nước Pháp. Hàng ngàn tín hữu hành
hương lũ lượt tuốn đến, nhiều bệnh nhân và cả những người hấp
hối cũng được đưa đến ngôi làng hẻo lánh ấy với hy vọng sẽ được
Thiên Chúa chúc lành.
Nhưng đối với Bernadette Soubirous, người đã trở nên nổi tiếng
với các tín hữu và cả với những kẻ muốn triệt hạ đức tin, một
quyết định nữa đang chờ đợi chị. Được sự khích lệ của chính vị
linh mục trước kia đã từng quở mắng chị về tội “đùa giỡn với ma
quỉ,” Bernadette đã xin gia nhập dòng Đức Bà Nevers, một hội dòng
dấn thân sống khó nghèo, hy sinh và cầu nguyện. Nhưng ngay trong
môi trường tu viện, một số phần tử vẫn còn tính ganh ghét đố kỵ.
Một số người đã muốn làm cho cuộc sống của Bernadette phải gian
truân hơn nữa. Họ thường thách thức và vặn hỏi Bernadette để xem
chị có cảm thấy tự mãn vì cái gọi là danh giá thế gian của chị
hay không. Chị Bernadette đáp rằng: “Em chỉ là cây chổi của Đức
Mẹ Đồng Trinh. Khi nào không sử dụng em nữa thì Đức Mẹ lại đặt
em vào chỗ của em, ở phía sau cánh cửa. Đó là chỗ của em và em
sẽ ở lại đó.”
Tệ hơn nữa, sức khỏe Bernadette còn suy giảm nhanh chóng vì chứng
lao phổi đã bào mòn thân xác của chị. Thật oái ăm, con người,
nhờ ân sủng Chúa, đã đưa nhiều người đến với dòng suối Lộ đức
đầy phép lạ lại không được hưởng một phép lạ nào. Bernadette chỉ
nhắc cho những người quan tâm đến cơn bệnh của chị về lời Đức
Mẹ Rất Thánh đã nói: “Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này,
nhưng ở đời sau.” Và khi giờ sau hết đã đến, Bernadette Soubirous
một lần nữa lại được thị kiến Đức Mẹ. Lúc đó, chị nữ tu trẻ tuổi
đã mỉm cười, khép mắt lại và ra đi. Khi ấy, chị mới ba mươi lăm
tuổi đời.
Những quan tâm của Bernadette Soubirous rất thực tế. Vào thời
gian trước chuyến đi tiền định đến hang đá Lộ đức, những ước mơ
của Bernadette chỉ là chuyện cố gắng học tập, tìm cho được một
chỗ làm thuê, rồi lấy chồng sinh con. Thế nhưng Bernadette Soubirous
đã trở thành một công cụ siêu nhiên, góp phần kiến lập một đền
thánh nổi tiếng để thu hút mọi người từ khắp thế giới, trong số
đó sẽ có những người được lãnh nhận ơn chữa lành. Và nhờ thái
độ vâng phục của Bernadette Soubirous đối với Mẹ Thiên Chúa, mọi
phần tử Giáo Hội mới biết tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”
vừa được định tín bốn năm trước đó thực sự đã được trời cao chuẩn
nhận. Và như một chứng cứ sau cùng về ân sủng Thiên Chúa, thi
thể người thôn nữ trẻ tuổi ấy hiện nay vẫn nguyên tuyền, mặc dù
đã qua đời hơn 120 năm trước đây.
Vào ngày 11 tháng 2 năm 1858, một thôn nữ trẻ tuổi đã được mời
gọi lắng nghe cuộc truyền tin. Những gì Bernadette Soubirous lúc
ấy chưa biết, thì nay chị đã hiểu rõ: Chị là vị khách danh dự.
II.
Suy Niệm
Lời mời gọi thì thầm từ trong bụng mẹ
Trước khi bạn mở mắt chào đời, Thiên Chúa đã biết bạn. Người đã
biết hôm nay bạn sẽ đọc câu truyện về cuộc truyền tin cho bạn.
Người đã biết có thể bạn chưa hiểu. Vì thế, mời bạn hãy ngồi xuống,
thư giãn, và để cho Chúa Thánh Thần làm việc.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng một định nghĩa quan trọng. Truyền tin
thực sự là gì? Nói cho đơn giản, truyền tin là một lời loan báo,
hoặc nếu bạn muốn, thì đó là lời công bố về một sự kiện, chẳng
hạn như khi sứ thần Gabriel cho Đức Maria biết Mẹ đã được Thiên
Chúa đặc biệt sủng ái. Nhưng vì ở đây chúng ta đang bàn về cuộc
truyền tin cho bạn, nên câu hỏi được nêu lên sẽ là: Điều công
bố ấy có giá trị gì không?
Từ ban đầu, vì hết tình yêu thương bạn, Thiên Chúa đã mời gọi
bạn hãy phục vụ tha nhân. Và mặc dù đã biết năng lực của bạn,
nhưng Thiên Chúa vẫn không cưỡng ép bạn phải dấn thân. Bởi vì
nếu Thiên Chúa muốn cưỡng ép, thì Người chỉ cần rút lại một tài
năng trong số các tài năng Người đã ban cho bạn: đó là ý chí tự
do. Bạn cũng nên biết Thiên Chúa còn chờ đợi những cảm xúc của
bạn, từ sợ hãi đến vui mừng, từ bối rối đến sáng suốt, từ ngạc
nhiên đến trông đợi. Thiên Chúa đã biết tất cả điều ấy trước cả
khi bạn biết hít thở. Và lúc này, Thiên Chúa biết có thể bạn đang
có một vài câu hỏi.
Nhưng trước khi bắt đầu cuộc đối thoại, xin bạn hãy nhớ rằng sự
hợp lý, các cảm xúc, hoặc những yêu sách lương tâm không có thẩm
quyền gì đối với sự lựa chọn của bạn. Bạn có thể nói “không.”
Bạn có thể biện luận rằng thời gian chưa chín muồi hoặc hoàn cảnh
vẫn chưa thích thuận. Thậm chí bạn có thể cự nự rằng Thiên Chúa
đã chọn không đúng người đúng việc. Đó chỉ là một tiếng gọi. Một
lời mời. Bạn có thể khước từ. Sự chọn lựa là của bạn.
“Lạy
Chúa, sao Chúa lại chọn con?”
Tại sao lại không? Chẳng lẽ bạn không có một tài năng nào được
Thiên Chúa ban tặng hay sao? Chẳng lẽ đã biết bạn có thể hiến
dâng những gì, vào lúc nào, và trong những trường hợp nào, mà
Đấng Tạo Hóa lại không nghĩ gì về bạn hay sao? Bạn thử nghĩ xem
nếu như Thiên Chúa biết bạn sẽ khước từ, liệu Người còn mời bạn
dấn thân hay không? Thiên Chúa có lý do của Người khi mời gọi
bạn. Và chương trình ấy hiện thời mặc dù chưa tỏ hiện, nhưng chắc
chắn đó là điều đã được Thiên Chúa khơi lên.
Bạn hãy nhớ lại các thánh tông đồ mà xem? Trong số những ngư phủ
quê mùa hôi hám ấy, có được bao nhiêu người thực sự hiểu được
những điều Chúa Giêsu đòi hỏi ở họ? Quả thật, các ngài đã bị thu
hút vì sức hấp dẫn, những phép lạ và tài kể chuyện của Chúa. Vài
người trong số các ngài cũng bắt đầu tự hỏi không biết “con người”
kia có thực sự là Đấng Cứu Thế mà họ đợi trông hay không. Nhưng
dù vậy đi nữa, các ngài cũng chẳng biết những hy sinh nào đang
đòi hỏi ở mình. Các tông đồ chỉ biết mình đang được “gọi.” Và
các ngài đã đáp lại.
Còn về trường hợp của Bernadette Soubirous thì sao? Bạn có cho
rằng cô thôn nữ ấy, vào ngày 11 tháng 2 năm 1858, đã thấu hiểu
trọn vẹn những kỳ vọng của Đức Mẹ hay không? Tương tự, bạn có
nghĩ rằng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, cũng biết tỏ tường những hệ
quả do lời Xin Vâng mà Mẹ đã đáp lại với sứ thần Gabriel hay không?
Cả Đức Maria và chị Bernadette Soubirous đều nhắm mắt trong đức
tin mà chấp nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, và đó cũng chính
là thứ đức tin Thiên Chúa đang đòi hỏi ở bạn. Nó tựa như luồng
gió thoảng. Bạn biết nó hiện hữu. Bạn có thể cảm nghiệm. Tuy vậy,
bạn không thể nhìn thấy.
Vậy chúng ta hãy quay về với câu hỏi: “Tại sao Thiên Chúa lại
chọn bạn?” Chắc chắn bạn biết có những người “ngon lành” hơn bạn
rất nhiều. Đúng vậy, bạn đâu phải là Joan d'Arc. Hơn nữa, các
bạn bè của bạn sẽ bàn ra tán vào những gì? Phản ứng của gia đình
bạn sẽ ra sao? Còn về thầy cô, người phụ trách, hoặc hàng xóm
láng giềng nữa chứ? Bạn đâu phải là một anh hùng cần có một diễn
đàn để đón nhận uy thế xứng đáng của mình. Nhưng những danh dự
như thế có được dành cho những người đi theo bước chân của Mẹ
Têrêsa đâu?
Thật
buồn cười, chúng ta trưng ra quá nhiều lý lẽ để khỏi phải dấn
thân, nhưng chúng ta lại thán phục những người dấn thân; chúng
ta lo lắng về những lời tha nhân nói về chúng ta, trong khi tha
nhân chỉ nghĩ đến bản thân họ; chúng ta nại vào những yếu đuối
để biện minh cho việc chúng ta quên đi những tặng ân Thiên Chúa
đã ban cho chúng ta. Ước gì chúng ta biết tin tưởng nơi Đấng đang
mời gọi chúng ta phụng sự. Hãy tin rằng Thiên Chúa biết điều nào
tốt nhất cho bạn cũng như Người đã biết điều nào tốt nhất cho
các vị thánh.
Việc đó không dễ dàng chút nào, nhưng bạn đã từng nghe những lời
ấy rồi. Chẳng hạn khi huấn luyện viên cho bạn biết khổ luyện là
cái giá phải trả để được vinh quang. Hoặc khi thầy cô cho bạn
biết thành quả học tập sẽ tùy thuộc vào những gì bạn đầu tư. “Gieo
gì thì gặt nấy!” Thiên Chúa đang kêu mời bạn hãy gieo vinh quang
của Người.
“Nếu
tôi khước từ thì sao?”
Giả như bạn khước từ thì sao? Biết đâu lời mời gọi ấy chỉ là một
cuộc trắc nghiệm? Biết đâu Thiên Chúa chỉ muốn ướm thử để xem
bạn có chấp nhận thử thách của Người hay không? Trước kia, Thiên
Chúa đã từng thử thách như thế. Người đã truyền cho tổ phụ Abraham
hãy sát tế quí tử của ông. Giả như Thiên Chúa chỉ muốn đo lường
khả năng chịu đựng của bạn trong nghịch cảnh thì sao? Giả như
Thiên Chúa chỉ muốn coi thử bạn có hiểu rằng trong bảy linh ân
Thánh Thần có một ơn được gọi là ơn sức mạnh thì sao? Một quyết
định như thế đòi phải có can đảm, xác tín, ơn thánh và cầu nguyện.
Trong một thế giới toàn hảo, việc bạn đòi hỏi một bảo đảm nào
đó cho sự dấn thân là điều chính đáng. Bạn cần có những bảo đảm,
cần có một hệ thống an toàn. Thật không may, thế giới này không
phải là một thế giới toàn hảo. Ngược lại, thế giới này đầy những
bất trắc. Nhưng vấn đề là ở chỗ đó. Có lẽ tất cả những gì Thiên
Chúa đòi hỏi ở bạn là hãy đứng lên tranh đấu cho những gì là chính
nghĩa, những gì là tốt đẹp, và những gì là tình yêu. Chẳng phải
chính bạn cũng đang đòi hỏi gia đình, bè bạn, và cả những người
xa lạ quá nhiều đó hay sao?
Nhưng giả như bạn thực sự lo lắng bạn có thể làm cho tha nhân
phải thất vọng, thì bạn hãy tự hỏi những câu này: Tôi có thực
sự muốn nói “không” với Đấng Cứu Độ, Đấng đã vì tôi mà hiến mạng
sống hay không? Tôi có thể quay lưng lại với Người Mẹ đã thưa
lời Xin vâng mà không đắn đo tính toán hay không? Con Thiên Chúa
vẫn tha thứ cho bạn nếu bạn muốn ngoảnh mặt quay lưng lại với
Người. Người vẫn đợi chờ và hy vọng bạn sẽ nghe theo lời mời gọi
của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn của bạn; hy vọng tình yêu Thiên
Chúa dành cho bạn sẽ thúc bách bạn biết chia sẻ tình yêu cho tha
nhân; và hy vọng bạn không bao giờ sẽ phải hối tiếc về sự đáp
ứng của bạn.
“Nhưng
tôi sẽ được gì?”
Bạn sẽ nhận được phần thưởng gì? Bạn có được người đời nhớ đến
hay không? Câu trả lời có thể chỉ là “một lòng tự hào chính đáng.”
Nếu như kiêu ngạo là một trong bảy mối tội đầu, thì lòng tự hào
chính đáng là thái độ đối nghịch với tật xấu ấy. Nói khác đi,
đó là “việc làm tăng triển nơi cuộc sống của tha nhân những tài
năng Chúa ban cho ta.”
Nếu Thiên Chúa là tác giả đã dựng nên bạn và tạo ra những tặng
ân bạn đang được hưởng, thế thì bạn phải có quyền lợi và trách
nhiệm phải đem chia sẻ những tặng ân ấy với tha nhân. Bạn chưa
từng trông đợi những người được bạn yêu mến và những người mến
yêu bạn một điều như thế hay sao? Đâu phải lúc nào chúng ta cũng
nhận được ngay những gì chúng ta trông đợi. Con Thiên Chúa đã
hứa rằng nếu như bạn yêu thương đồng loại, thì bạn sẽ được sống
muôn đời, lời ấy chưa đủ hay sao?
Nếu lời hứa ấy vẫn chưa đủ đối với đời này, thì có lẽ bạn phải
vui lòng phục vụ tha nhân, và đồng thời phải canh tân nội tâm.
Và nếu như điều này vẫn chưa đủ khởi hứng cho bạn, thì có thể
những người thân của bạn sẽ được khởi hứng, khi bạn nhận ra họ
nhờ những việc làm của bạn mà được thúc đẩy. Biết đâu họ sẽ góp
phần vác đỡ cây thập giá mà bạn đã quá chán ngại.
Vậy bạn hãy nghĩ về những điều có thể xảy đến khi bạn phục vụ.
Quyết định của bạn có thể đưa đến những cuộc trao đổi thư điện
tử, những cuộc thảo luận trong gia đình, và những cuộc đối thoại
nơi lớp học – vì lẽ bạn đã chấp nhận lời mời gọi hãy thực hiện
một điều cần được thực hiện.
“Hãy
gõ và sẽ mở cho…”
Dù bạn cố gắng đến mấy, lời “mời gọi” ấy cũng vẫn xoáy vào lương
tâm của bạn. Ước muốn mạo hiểm, liều lĩnh, muốn làm một lãnh tụ,
một tiên tri, sẽ đi ngược lại với hiện trạng. Bạn có thể biện
minh rằng bạn không có thời giờ. Nhưng bạn quá biết mình đang
phung phí thời gian. Bạn có thể bào chữa vẫn còn nhiều dịp khác.
Phải. Nhưng đối với bạn, cơ hội tận dụng những dịp ấy vẫn chưa
có gì chắc chắn. Làm sao bạn biết được bạn có chịu cố gắng hay
không? Bạn không thể biết được.
Tất cả điều ấy đều qui về niềm tin vào Tác Giả của sự sống. Lời
mời gọi của Thiên Chúa đem lại lợi ích tốt nhất cho bạn và cho
những đối tượng Người đang mời gọi bạn phục vụ. Bạn hãy tin rằng
Thiên Chúa đang dọn sẵn cho bạn một bàn tiệc. Hãy tin vào vinh
quang của Thiên Chúa, lòng thương xót của Người, thánh ý của Người,
và tin rằng Người sẽ hiện diện để giúp bạn đương đầu với nghịch
cảnh. Hãy tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho bạn ơn thánh cần thiết
vào thời điểm cần thiết, và thiên thần bản mệnh của bạn sẽ có
mặt để chăm sóc bạn. Hãy tin rằng Chúa Thánh Thần sẽ ban cho bạn
ơn khôn ngoan để nhận biết đâu là đúng là sai, là tốt là xấu.
Nhưng dù tất cả có được hứa ban đi nữa, thì bạn vẫn phải thực
hiện một quyết định. Ngay từ khởi đầu, đó là sự lựa chọn của bạn.
Vấn đề duy nhất là bạn có sẵn lòng chấp nhận cuộc truyền tin cho
bạn hay không.
III.
Chứng Nhân Thời Đại
“Vì ngươi đã không nhận biết thời giờ được thăm viếng…”
Chuyện đó xảy ra vào kỳ thi cuối khóa. Và một khi đã qua kỳ thi,
David sẽ được thoải mái vui hưởng một mùa lễ Giáng Sinh. David
biết anh sẽ được nghỉ các lớp học đêm trong ba tuần lễ. Theo thói
quen hằng ngày, David vào viếng nhà thờ Nữ Vương Hòa Bình chừng
mười lăm phút. Anh thường viếng nhà thờ trước khi đến lớp học
đêm, vì muốn được suy tư một mình trong cô tịch.
Chiều tối hôm ấy, cuộc đối thoại giữa David với Thiên Chúa bỗng
rẽ sang một ngã khác. Khi đang cầu nguyện, David bỗng cảm thấy
một “sự hiện diện” nào đó lảng vảng quanh mình. Quay lại, David
thấy một thanh niên độ hai mươi lăm tuổi, tóc quăn màu hung, đang
chằm chằm nhìn anh. Biết khu vực này có nhiều nguy hiểm, David
kéo vội chiếc cặp sát vào bên hông phải, biết đâu anh chàng lạ
mặt kia sẽ thộp lấy và phóng ra khỏi nhà thờ thì sao.
David dọ hỏi:
- Tôi có thể giúp anh được gì?
Người khách bất đắc dĩ mỉm cười:
- Có chứ, chắc chắn anh có thể. A này, chúng tôi không tìm được
chỗ trọ, bà xã và đứa con trai mới chào đời của tôi đang ở ngoài
xe. Chắc anh giúp đỡ chúng tôi được chứ?
Nhận ra tình huống này có thể là khởi đầu của một chuyện dài phiền
toái hoặc một rắc rối tệ hại, David nhã nhặn từ chối:
- Anh biết đó, tôi không ở gần đây. Hay là anh thử vào nhà cha
sở xem sao. Tôi đoán ngài sẽ vui lòng giúp đỡ cho anh, vợ anh
và đứa con nhỏ của anh.
Người khách cười trừ và hờ hững gật đầu cảm ơn.
Trút được “gánh nặng,” David cảm thấy nhẹ nhõm cả người, anh nhìn
lên tượng Đấng Chuộc Tội và tiếp tục cầu nguyện. Nhưng còn ngờ
ngợ về ý định thực sự của người khách lạ, David ngoái lại nhìn
để xem anh ta có thực sự ra khỏi nhà thờ để ra xe hơi, nơi người
vợ và đứa con trai của anh ta đang đợi, hay không.
Lại thêm một điều kỳ lạ: chẳng thấy bóng ma nào cả, không có một
ai đang đi cả! Giật thót cả mình, David choàng dậy để xem anh
chàng lạ mặt kia đang núp ở đâu. David nhìn xuyên qua những dãy
ghế; anh chạy sang cửa phụ nhà thờ, nhưng cửa đã đóng; anh bèn
lao xuống cuối nhà thờ và phóng nhanh ra ngoài. Chẳng thấy một
chiếc xe hơi nào, chẳng có một phụ nữ nào, chẳng có một đứa trẻ
nào cả. Chẳng có lấy một bóng người. Bực mình ra mặt, David quơ
vội chiếc cặp và đi rảo đến trường. Dọc đường, anh muốn quên hết
tất cả những chuyện vừa xảy ra.
Buổi học tối hôm ấy, David không sao tập trung được vì đầu óc
anh cứ miên man quay lại những gì đã xảy ra. Chẳng lẽ anh ảo tưởng?
Có một người lạ mặt thực sự ở đó hay không? Hay là anh ta đã đi
ra theo một cửa nào khác? Không! Lúc bấy giờ nhà thờ chỉ còn một
lối ra vào duy nhất. Có thể từ lúc David xoay người lại cho đến
lúc ngoái nhìn sau lưng là một khoảng thời gian lâu đến mấy giây
đồng hồ. Nhưng cho dù như vậy đi nữa thì anh chàng lạ mặt kia
làm sao có thể xuống đến tận cuối nhà thờ, nhảy vào xe hơi, và
lái đi khuất khỏi tầm mắt trong một thời gian ngắn ngủi như thế?
Không thể nào được! David không sao tìm được câu giải đáp.
Khi tan giờ học tối hôm ấy, David thầm thĩ kêu lên: “Lạy Chúa,
con hết sức hoang mang về điều con vừa gặp tối nay. Nhưng nếu
người lạ mặt kia là Chúa, thì xin Chúa hãy ban cho con một dấu
chỉ.”
Trong lúc lững thững đi đến xe của mình, David nhận ra một cụ
già ngồi bên vỉa hè, cố sức chống chọi với cái lạnh buốt. Tại
thị trấn này, một con người ngồi trên hè phố như thế chẳng có
gì là lạ. Và việc nhiều sinh viên phớt tỉnh đi qua những con người
như thế cũng chẳng có chi khác thường. Khi David sắp sửa hòa mình
vào dòng người đông đúc, ông cụ đứng dậy, quay lại và nói: “Chào
cậu, xin làm ơn bố thí 25 xu, giúp cho lão một tách cà phê nóng!
Cậu chẳng cần chạm vào tay lão, chỉ cần ném đồng tiền xuống rãnh
nước để lão moi lên cũng được.”
David đã tìm được lời giải đáp cho phần đầu câu hỏi của anh. Và
phần thứ hai, trong ngày xưng tội ít lâu sau đó, khi anh đem câu
truyện kể lại cho cha giải tội. Sau một hồi suy nghĩ, vị linh
mục cao niên chậm rãi hỏi lại:
- David, có phải con bảo câu chuyện xảy ra ngay trước ngày lễ
Giáng Sinh phải không?
David gật đầu.
- Có phải người lạ mặt nói rằng anh ta mới đến thị trấn này, cùng
đi với người vợ và đứa bé trai mới sinh phải không?
David
áy náy gật đầu một lần nữa.
Vị linh mục tiếp lời:
- Này con, đêm hôm ấy, con là chủ quán trọ, và tâm hồn của con
không còn một chỗ nào trống. Đêm hôm ấy, con đã đánh mất cuộc
truyền tin cho con!
|