|
|
| |
Chuyền
ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
|
|
Phần
I: Lời Hứa
CHƯƠNG
HAI:
THĂM VIẾNG
I.
Gương Thánh Nhân
“Quả
thật, Ta nói với các ngươi, nếu các ngươi làm điều ấy cho một
trong những anh em hèn mọn nhất của Ta đây…”
Vào tháng 9 năm 1181, tại một thành phố nhỏ thuộc miền Bắc nước
Ý, một phụ nữ tên là Pica, vợ một thương gia giàu có, đã sinh
được một mụn con trai bụ bẫm. Vài ngày sau khi đứa trẻ chào đời,
một người khách lạ đến gõ cửa nhà bà Pica và xin bố thí. Theo
phong tục thời ấy, khi gia đình có trẻ sơ sinh, người ta không
bao giờ từ chối các hành khất; vì thế, gia nhân đã mời người kẻ
khó vào nhà dùng bữa. Chủ ý của người khách lạ mặt không phải
chỉ là một bữa no bụng, có lẽ ông ta muốn được bồng ẵm một vị
thánh tương lai! Đứa bé trai ấy tên là Francis; và về sau, Francis
đã được Giáo Hội phong thánh, đó là thánh Francis Assisi.
Khi đến tuổi thiếu niên, cậu ấm Francis gặp toàn những điều may
mắn. Cậu rất điển trai. Cậu hát thật hay. Cậu rủng rỉnh tiền bạc.
Với những diễm phúc trần đời ấy, chẳng mấy chốc, Francis đã biến
thành một quí tử ăn chơi, suốt ngày phè phỡn. Nhưng anh chàng
nhà giàu ấy còn một “món quà,” một món quà thường làm kinh ngạc
đám bạn bè trang lứa. Francis, một tay ngang tàng ăn chơi, lại
hay bố thí tất cả tiền bạc và trang phục đắt giá của mình cho
những người nghèo khó.
Khi Francis vừa chớm tuổi hai mươi, một cuộc chiến đã bùng nổ
giữa thành Assisi với một thành lân cận, và chàng trai ăn chơi
đình đám ấy chẳng may bị bắt cầm tù. Kinh nghiệm này rốt cuộc
đã khiến Francis tin rằng mệnh số của cậu là phải trở thành một
chiến tướng, một lãnh tụ của thiên hạ. Vì muốn tô bóng hình ảnh
bản thân, Francis tậu ngay một bộ giáp mã oai vệ và đắt tiền nhất.
Nhưng với cái tính hào phóng, Francis đã quyết định tặng luôn
bộ giáp mã cáu cạnh của mình cho một chiến binh khác, vì người
bạn ấy không đủ khả năng sắm nổi một cái mã ngon lành. Trong một
bộ quân phục làng nhàng, Francis lên đường ra tiền tuyến. Thế
nhưng Francis chưa kịp trải qua những ngày nằm gai nếm mật giữa
trận tiền thì một cơn bạo bệnh đã ập đến với cậu.
Trong những ngày nằm bệnh, Francis có những giấc chiêm bao lạ
thường, làm thay đổi hẳn dòng đời của cậu. Trong một giấc mơ,
Francis đã nhìn thấy những khí giới mang hình thập tự bằng vàng.
Càng lạ lùng hơn nữa, Francis còn thấy một thiếu nữ xinh đẹp hiện
đến nói rằng, “Những khí giới này được dành cho ngài và các thân
hữu của ngài.” Trong một giấc mơ khác, Francis lại nghe hỏi, “Phục
vụ Chủ và phục vụ tôi tớ, đàng nào tốt hơn?” Những lời mời gọi
chất vấn ấy đã thôi thúc Francis phải quay về Assisi; và tại đây,
cuối cùng, chàng lãng tử đã giũ bỏ tất cả vinh hoa trần thế.
Để hiểu rõ “ơn gọi” của mình hơn, Francis đã đổi những trang phục
xa hoa để lấy mớ giẻ rách nát của một người nghèo khó cùng cực.
Vào một dịp khác, Francis đã vượt thắng cảm giác tởm gớm đối với
những bệnh nhân cùi hủi bằng cách ra tay chăm sóc những con người
khốn khổ ấy. Francis đã phụng sự Thiên Chúa bằng cách phục vụ
anh chị em của Người. Công việc ấy đã làm ứng nghiệm lời tiên
báo của thiếu nữ xinh đẹp trước kia. Sau đó, Francis còn có những
người bạn tìm đến chia sẻ lý tưởng và cuộc sống của ngài.
Xuất thân từ một thế giới trần tục, nhưng thánh Francis Assisi
đã được mọi người nhớ đến trên nhiều phương diện tinh thần. Cùng
với thánh nữ Clare, ngài đã thành lập dòng kín Clare dành cho
chị em hiến thân sống đời nghèo khó và cầu nguyện, tương tự như
các tu sĩ dòng Anh Em Hèn Mọn. Thánh nhân đã sáng tác “Bài Ca
Mặt Trời,” một thi phẩm tuyệt đẹp, ca ngợi Thiên Chúa qua vẻ mỹ
diệu của tự nhiên. Vì muốn hội dòng mới thành lập của mình được
chính thức công nhận, thánh Francis đã cố gắng xin yết kiến Đức
Giáo Hoàng ba lần. Nhờ lòng kiên trì của thánh phụ Francis, hội
dòng Anh Em Hèn Mọn, với khoảng năm ngàn tu sĩ, tất cả đều dấn
thân vì đức nghèo, cuối cùng đã được Giáo Hội chính thức công
nhận.
Thánh
Francis thường đích thân chăm sóc những bệnh nhân phong cùi, những
người mang dáng vẻ tởm gớm đến nỗi nhiều anh em của ngài phải
ngoảnh đi, không dám đến gần. Thánh Francis còn được nhớ đến như
người đã từng giảng cho các thú hoang trong rừng. Thật lạ lùng
khi nhìn thấy chim chóc và thú vật tiếp xúc thân tình với vị thánh
của Thiên Chúa. Chưa hết, thánh Francis còn thường xuyên được
thị kiến Chúa Kitô và Đức Mẹ Maria. Thậm chí nhiều thành viên
trong hoàng tộc vua Hồi Giáo, kẻ muốn đánh bại lực lượng Kitô
Giáo trong thời kỳ Thập Tự Chinh, đã gọi thánh nhân là “anh Francis.”
Nhưng dấu chứng hùng hồn nhất về tình yêu đặc biệt Thiên Chúa
đã dành cho thánh Francis có lẽ là năm “dấu thánh” để thánh nhân
có thể cảm nghiệm các thương tích khổ nạn của Chúa Kitô nơi chân,
tay, và cạnh sườn của ngài.
Ngày 4 tháng 10 năm 1226, con người đơn sơ ấy, con người đã từng
ước mơ trở thành một chiến tướng, đã được đoàn hiệp sĩ đưa về
Assisi để cho toàn thể dân thành, các anh em dòng Hèn Mọn và các
nữ tu dòng kín Clare được gặp mặt vị thánh phụ yêu dấu của họ
lần cuối. Trên giường bệnh, thánh Francis đã khiêm nhượng trối
lại những lời sau hết, “Cha đã hoàn tất phần của cha, ước gì Chúa
Kitô dạy cho các con biết làm trọn phần của các con.” Và rồi,
thánh nhân đã ra đi.
Cuộc hành trình nên thánh của thánh Francis Assisi khởi sự từ
cuộc viếng thăm của một người khách lạ. Và trong suốt cuộc đời,
thánh nhân thường thăm viếng những người không có gì liên hệ với
ngài. Đến cuối cuộc đời của thánh Francis, những người từng quen
biết thánh nhân đều thừa nhận ngài thực sự là một vị thánh đã
từng sống giữa họ.
II.
Suy Niệm
Bạn sẽ làm gì?
Đã có bao giờ bạn thắc mắc vì sao lại có những người trẻ bỗng
dưng đi vào cuộc đời của bạn hay chưa? Dường như bạn luôn phải
có mặt ở đó để chờ họ đến tìm sự nâng đỡ? Và bạn cũng tự hỏi tại
sao họ lại không đến quấy rầy những bè bạn đồng trang đồng lứa
của họ? Rồi cha mẹ, thầy cô, cố vấn của họ ở đâu? Chẳng lẽ những
người thân của họ lại không có thời giờ để lắng nghe họ hay sao?
Và không biết tự bao giờ, trên vai bạn bỗng đâu lại gánh thêm
một trách nhiệm là phải lắng nghe con người ấy? Hơn nữa, con người
ấy lại không như bạn, không ở trong nhóm thân hữu giao du với
bạn. Và nếu như bạn đem kể chuyện ấy với bạn bè, không biết chúng
bạn sẽ nói gì khi thấy bạn đi lại với một con người như thế? Phải
nói rằng dường như trên cổ bạn đang tròng một tấm bảng có hàng
chữ: “Sẵn sàng lắng nghe sự khó.”
Có thể bạn cho rằng mình đang bị quấy rầy. Có thể đây là một trò
đùa, biết đâu được. Thực vậy, ai cũng biết những người trẻ ấy
không liên hệ gì đến bạn. Bạn chẳng có gì liên quan với họ cả.
Và bạn rất muốn được yên thân. Những vấn đề của họ thực sự không
phải là việc của bạn. Chắc chắn có những người đủ tiêu chuẩn hơn
bạn để lắng nghe, giúp đỡ, chăm sóc và yêu thương họ. Dù sao,
bạn cũng quá bận rộn. Hơn nữa, bạn chưa bao giờ nghĩ đến việc
đi cậy nhờ người khác theo kiểu như họ đang nhờ vả bạn lúc này.
Kỳ lạ thật. Giả như lúc này bạn dứt bỏ tất cả những việc bạn đang
làm cho họ, không biết điều gì sẽ giữ họ khỏi tìm đến với bạn
lần thứ hai, thứ ba, hay nhiều hơn nữa? Bạn biết thế nào họ cũng
sẽ nói cho một ai đó biết rằng bạn là chỗ tâm giao của họ!
Lắng nghe một chốc mà thôi đã là khó khăn lắm rồi! Nhưng có thể
họ chỉ cần được nghe câu trả lời nhã nhặn. Một nụ cười. Bạn đã
từng gặp qua những trường hợp như thế bao giờ chưa? Bạn cảm thấy
thế nào khi biết có người không muốn lắng nghe vấn đề của bạn?
Có thể đó là nguyên nhân khiến cuộc gặp gỡ trở thành nặng nề.
Có thể do lương tâm? Bạn có nhớ cha mẹ đã từng dặn bạn hãy cư
xử tử tế với mọi người hay không? Giáo viên môn đạo đức phải chăng
có lần đã nói: Hãy làm cho tha nhân những gì ta muốn họ làm cho
ta. Bạn có cảm thấy như thế khi bị ai đó xa lánh vì không muốn
tốn thời giờ vì bạn hay không? Đau đớn. Uất ức. Ngượng ngùng.
Nhưng lý do thực sự khiến bạn không muốn dính dáng đến chuyện
đó có lẽ vì bạn cũng đang nặng lòng với những ưu tư, những sợ
hãi và những lo lắng riêng của bạn. Thật vậy, nếu như ở đại học,
người ta nhận ra bạn không phải là nhân vật quan trọng như mọi
người vẫn nghĩ thì sao? Hơn nữa, nếu như bạn cũng gặp những điều
rắc rối, hơi đâu bạn lại đến với họ? Vậy điều gì đã cho họ cái
quyền trông đợi nơi bạn quá nhiều đến thế? Vấn đề là ở chỗ đó.
Đó không phải là điều họ trông đợi ở bạn, nhưng là điều Thiên
Chúa muốn bạn thực hiện. Đó là vấn đề “hãy yêu thương người đồng
loại.” Và điều ấy bao gồm cả những người không đáp ứng các tiêu
chuẩn của bạn. Tất cả chúng ta đều biết, thời gian chúng ta dành
để đến với những người cùng quẫn có thể quyết định cách thức Thiên
Chúa đến với chúng ta. Có thể những người lúc này đang làm mất
thời gian của chúng ta sẽ trở thành những người bạn tốt nhất của
chúng ta trong tương lai. Và biết đâu nhiều năm sau, khi nhìn
lại sự kiện này, bạn sẽ thấy đó là quyết định tốt nhất mà bạn
đã từng thực hiện.
Như bạn biết, không ai biết được khi nào, cách nào và vì sao người
khác lại đi vào cuộc sống của chúng ta. Lòng nhân ái hôm nay là
phúc lành của ngày mai. Và đôi khi lòng cảm thông của hôm nay
lại hóa nên nỗi đau buồn cho ngày mai. Bạn có biết do đâu mà cha
mẹ bạn đã gặp nhau hay chưa? Bạn hãy thử hỏi xem các ngài đã định
kết hôn với ai, nhưng rồi sao lại không. Bạn hãy hỏi thử xem các
ngài đã dự định lập nghiệp ở đâu, nhưng rồi sao lại không. Bạn
hãy hỏi thử xem cha mẹ bạn có nhớ ai là người được nhà trường
phê trong niên giám là học sinh “có nhiều cơ hội thành công nhất.”
Và hãy xin họ đính chính lại điều ấy. Bạn sẽ thấy rằng rất ít
người trẻ làm trọn được những kỳ vọng mà người ta dành cho họ.
Những hoa khôi vẫn thường lâm vào cảnh thất tình, trong khi nhiều
ngôi sao thể thao đã chìm vào quên lãng.
Vậy trước khi quay lưng với một bạn học, một đồng sự, một láng
giềng, một đồng đội, bạn hãy tự vấn một vài câu hỏi. “Nếu như
những con người này đến gặp và kêu xin Chúa Giêsu giúp đỡ, Người
sẽ làm gì?” “Giả như tôi cần giúp đỡ, Chúa Giêsu sẽ xử với tôi
thế nào?” Sau cùng, “Làm sao tôi biết chắc được Chúa Giêsu đã
không gửi những người này đến để thử xem tôi cư xử với họ thế
nào?” Bạn hãy suy tư về những điều ấy.
“Nhưng
lạy Chúa, có khi nào con thấy Chúa đâu?”
Đã có bao giờ bạn tiếp xúc với “một thiên thần” hay chưa? Làm
sao bạn biết? Điều gì cho bạn biết chắc rằng con người xa lạ đang
xin giúp đỡ kia không phải do Thiên Chúa gửi đến cho bạn? Đối
với bạn, anh ta không khác gì một người hành khất. Có thể cái
đầu anh ta còn bất bình thường nữa chứ! Nhưng cho dù câu chuyện
về anh ta có thế nào đi nữa, người ta cũng dễ dàng luận ra rằng
anh ta gieo gì thì gặt nấy, đáng đời. Hay ít ra, đó cũng là cái
cớ để nhiều người biện minh cho thái độ quay lưng khước từ của
họ. Thật vậy, phải chăng nhiều lần bạn đã từng gặp những con người
đeo một tấm bảng có hàng chữ cao ngạo: Có ăn có làm, chẳng được
một ai ưa chuộng? Hầu như mọi người đều tin rằng cái mánh ấy chẳng
qua chỉ là một trò bất lương để kiếm ít tiền mua rượu hoặc ma
túy cho đỡ cơn ghiền. Lại còn có những nguy cơ tiềm tàng trong
đó nữa chứ. Bạn đã từng nghe biết về những người tốt bụng đã bị
lừa đảo, có khi còn bị bạo hành.
Phải chăng bạn cho rằng bạn khôn lanh đến độ không bao giờ bị
lừa đảo? Hơn nữa, cho dù lời kêu cầu của họ có hợp lý đi nữa,
thì những giọt nước mắt của họ biết đâu không phải là thứ nước
mắt ăn năn về các tội đã hằn sâu trong tâm hồn họ? Họ thất bại
trong công việc, hôn nhân hoặc đời sống thì có dính dáng gì đến
bạn đâu? Nhưng cho dù thế nào đi nữa, phải chăng bạn vẫn tự hỏi,
“gieo gì gặt nấy?” Nếu như tình thế thay đổi, liệu con người lạ
mặt kia có tìm đến với bạn để xin giúp đỡ hay không? Nhất định
là không.
Nhưng giả dụ lời yêu cầu xin giúp đỡ kia là hợp lý, thì chuyện
tuổi tác khác biệt có thành vấn đề hay không? Còn về vấn đề chủng
tộc thì sao? Nếu như họ đến từ “một miền chẳng ra gì,” thì vấn
đề có khác đi không? Dành một khoảng thời gian quí báu để lắng
nghe, mỉm cười, hoặc yêu thương họ phải chăng là một điều khó
khăn đối với bạn?
Bạn hãy nhớ, sự kiện ấy có thể là một cuộc thử nghiệm. Bạn không
muốn tin rằng bạn đã được chọn. Nhưng bạn hãy xét điều này: Bạn
không biết vì sao người ta lại tìm đến với bạn, bạn cũng không
biết sự kiện hiện tại này ảnh hưởng đến tương lai của bạn như
thế nào. Vấn đề giúp đỡ hoặc không giúp đỡ người lạ mặt ấy có
thể là một chất xúc tác đối với những việc người ấy sẽ làm hoặc
không làm trong tương lai. Trực tiếp hơn, sự lựa chọn của bạn
có thể còn quyết định con đường bạn sẽ đi trong tương lai. Nói
cho đơn giản, phải chăng Thiên Chúa, Đấng đã tác tạo bạn và người
xa lạ kia, đang đợi xem bạn có sẵn sàng giúp đỡ thụ tạo của Người
hay không?
Nếu
bạn giúp đỡ, bạn trông mong sẽ được đền đáp những gì? Một lương
tâm thanh thản đã đủ chưa? Hay bạn còn muốn gì hơn nữa? Bạn biết
rằng khi giúp đỡ người lân cận là bạn đã làm được một điều nên
làm, như thế chưa phải là một phần thưởng hay sao? Phải chăng
lúc nào bạn cũng mong chờ một phần thưởng sờ sờ trước mắt để minh
chứng rằng bạn đã thực hiện được một điều tốt lành? Phải chăng
bạn cần một sự xác nhận của công chúng rằng bạn là con người tốt
lành, được chứng minh qua sự quảng tâm giúp đỡ của bạn? Thái độ
ấy phải chăng chỉ là chuyện “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại?”
Và việc đòi được chú ý phải chăng chỉ tạo nên thái độ ngượng ngùng
nơi người được lãnh nhận cái gọi là “lòng quảng đại” của bạn?
Cho dù làm gì đi nữa, nhưng xin bạn đừng bao giờ quên rằng có
một người đang trông xem, đang chờ đợi, đang quan tâm, đang tha
thứ, đang yêu thương. Bạn có biết Người Ấy là ai không. Bạn có
thể không cần trả lời câu hỏi ấy không? Phải chăng bạn đang liều
gặp một kinh nghiệm tương tự, rồi một ngày kia, bạn sẽ kêu gào,
nhưng chẳng ai đoái hoài? Người đàn bà ngoại tình suýt bị ném
đá trong Phúc Âm sẽ nghĩ thế nào nếu như bà không được hưởng nhờ
lòng thương xót của Đấng Cứu Thế? Còn về lòng thương xót, giả
như Chúa Giêsu đã bỏ mặc mười người phong cùi, người mù trong
Đền Thờ, người đầy tớ của viên bách quân trưởng, và người trộm
đã ngỏ lời xin tha thứ chỉ vài phút trước khi tắt thở, hỏi thử
những linh hồn ấy sẽ về đâu nếu như Con Thiên Chúa đã nghoảnh
mặt trước những lời kêu xin cứu giúp của họ?
Bạn hãy nhớ lại trường hợp của Lazarus? Lazarus là người nghèo
khó ngồi ăn xin trước cửa nhà một phú hộ. Thật không may, tuy
sung túc thừa mứa, nhưng người phú hộ lại không muốn chia sẻ cho
đồng loại của mình. Khi từ giã cõi đời, ông đã phải chịu cực hình
muôn kiếp, và chỉ mong người hành khất giờ đây đang sống trong
hạnh phúc thiên đàng bố thí cho một giọt nước. “Gieo gì gặt nấy.”
Phòng
Tĩnh Lặng xin chúc mừng!
Vào thế kỷ XII, Maimonides, một thần học gia kiêm bác sĩ người
Do thái, đã phân chia việc giúp đỡ tha nhân thành tám cấp độ để
chúng ta có thể tùy chọn. Cấp độ càng cao càng đòi phải khiêm
nhượng hơn. Vậy mỗi khi có dịp giúp đỡ người khác, bạn hãy xét
xem bạn muốn Thiên Chúa xếp bạn vào cấp độ nào.
Cấp
độ 1: Giúp đỡ một cách miễn cưỡng hoặc hối tiếc. Đây là mức độ
thấp nhất, giúp đỡ bằng tay chứ không phải bằng tâm hồn.
Cấp độ 2: Giúp đỡ một cách vui vẻ, nhưng không tương xứng với
nỗi khổ đau của nạn nhân.
Cấp độ 3: Giúp đỡ một cách vui vẻ và tương xứng, nhưng đợi đến
khi người ta ngỏ lời mới chịu giúp.
Cấp độ 4: Giúp đỡ một cách vui vẻ, tương xứng, thậm chí còn vô
vị lợi, nhưng trao thẳng vào tay người được giúp khiến họ phải
ngượng ngập.
Cấp độ 5: Giúp đỡ để thụ nhân đau khổ biết có người đã làm ơn
cho họ, mặc dù ta không để họ biết ta là ân nhân.
Cấp độ 6: Ta biết những người đã thụ ân lòng quảng đại của ta,
nhưng không để họ biết ta.
Cấp độ 7: Có một nơi được gọi là “gian phòng tĩnh lặng,” ở đó,
tặng vật được đặt vào một cách kín đáo để giúp đỡ các đối tượng
vô danh.
Maimonides còn thêm cấp độ thứ tám. Ở đây, ông kêu gọi mọi người
hãy hợp lực không để cho nạn nghèo khó xảy ra khiến người ta buộc
lòng phải chìa tay xin xỏ. Nói khác đi, nếu có ai đó chìa tay
xin bạn giúp đỡ, bạn hãy nhớ lại lời của thánh Francis Assisi:
“Hãy rao giảng Phúc Âm. Hãy sử dụng những lời khi cần thiết.”
III.
Chứng Nhân Thời Đại
“Dấu chỉ”
Khi nhận được tin báo, John như mở cờ trong bụng. Chủ tịch công
ty đã chọn John, người trợ lý trẻ trung năng động, để khai trương
một thị trường mới mẻ: bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho hệ
thống các trường học trên toàn quốc. Không những John được miễn
tất cả những trách vụ khác, mà còn được cung cấp các khoản chi
phí đi lại và thời gian cần thiết để phát triển công việc mới
mẻ này.
John bắt đầu công việc bằng cách tiếp xúc với những cấp bậc cao
nhất qua điện thoại. Việc phổ biến thương hiệu cho phép John thiết
lập một khu triển lãm hàng hóa để thu hút lượng khách hàng tương
lai cho công ty. Trong những bữa chiêu đãi, John thường được mời
phát biểu trước cử tọa về các dịch vụ mới mẻ anh sắp sửa khai
trương. Các bạn bè tiếp xúc với John rất nhiều và làm cho anh
tin tưởng rằng nhất định sẽ thành công.
Tuy
nhiên, doanh thu đã không đến. Những cuộc giao tiếp chiêu đãi
trở nên vô ích, những khoản tiền bỏ ra không thấy trở lại. Những
lời yêu cầu đặt hàng không bao giờ đến. Hết ngày sang tuần, hết
tuần sang tháng. Nỗi ám ảnh thất bại bắt đầu ló dạng. Trước thực
tế ấy, John quyết định sẽ gặp chủ tịch công ty vào thứ Hai tuần
tới để báo cáo thất bại và đề nghị hủy bỏ dự án. John hy vọng
với những thành công của mình trong quá khứ, chủ tịch công ty
sẽ cho anh trở về với cương vị như trước.
Sau đó trong ngày, John nhận được một cú điện thoại. Một người
bạn mời anh đi dự tiệc. Người bạn nài nỉ: “Cậu không thể ngờ nổi
nhân vật cậu sắp được gặp là ai đâu.” Người trợ lý kinh doanh
miễn cưỡng đồng ý đi tham dự bữa tiệc vào chiều tối thứ Bảy.
Thời tiết tối hôm ấy thật tồi tệ. Dự báo thời tiết cho biết tuyết
rơi dầy đến hai tấc, kèm theo gió mạnh. Bước ra khỏi xe hơi, John
chỉ có nước lắc đầu thất vọng, chẳng biết có khách hàng nào lại
liều lĩnh ra ngoài giữa thời tiết chết tiệt như thế này không.
Khi John băng qua đường để sang tòa nhà dự tiệc, anh nhìn thấy
một người lạ mặt bỗng nhiên từ đâu xuất hiện. Hơi giật mình, John
càu nhàu, “Anh muốn gì?” Người khách không trả lời, nhưng trao
cho John một tấm thiếp, còn tay kia thì giơ ra xin quà hiến tặng.
Con người ăn mặc lếch thếch thế này rõ ràng là thứ người chẳng
làm nên trò trống gì trong xã hội. Dù vậy, John cũng trao cho
anh ta năm đôla rồi cầm lấy tấm thiếp và nhét vào túi áo. John
nghĩ trong đầu, “Thật kỳ lạ, mình có bao giờ thèm giúp đỡ những
thứ ma này đâu. Không hiểu hôm nay tại sao mình đứng lại giữa
trời đổ tuyết để cho tiền một người lạ mặt thế nhỉ?”
Dự bữa tiệc hôm ấy hóa ra chẳng khác nào phải xem lại một bộ phim
dở. Cũng những cái bắt tay hờ hững, những khuôn mặt không quen
biết, một vài lời hứa vớ vẩn. “Tuần tới hãy gọi cho tôi nhé.”
“Xin lỗi, chúng tôi không thể chấp nhận những đề nghị ấy.” “Chúng
tôi đã có một nhà cung cấp khác rồi.” John đã nghe tất cả những
câu đại loại như thế không biết bao nhiêu lần rồi.
Buổi tiệc tối rốt cuộc cũng chấm dứt. John đờ đẫn trở về căn hộ
của mình. Khi cởi xong chiếc cà vạt, John quì gối xuống đất và
thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa, hỏng cả rồi. Thứ Hai tới đây con đành
phải thừa nhận sự thất bại của mình. Nhưng nếu như con có thể
phụng sự Chúa qua công việc này, xin Chúa hãy ban cho con một
dấu chỉ. Một dấu chỉ thật rõ ràng!”
Sáng thứ Hai, John đã chọn ra một bộ đồ “đưa đám,” thích hợp cho
buổi gặp với ông giám đốc công ty. Khi với tay lấy cái ví và chiếc
đồng hồ, John bỗng chú ý đến tấm thiếp người khách lạ mặt hôm
nọ đã trao cho anh đang nằm dưới sàn nhà. Có lẽ nó rớt ra từ túi
chiếc áo anh đã mặc hôm thứ Bảy. John nhặt tấm thiếp lên và nhận
ra những ký hiệu ngôn ngữ dành cho người điếc. Đó là những ký
hiệu quen thuộc của “tình yêu,” “hòa bình,” và hy vọng.” John
buồn cười, nghĩ trong lòng, “Chẳng thấy hàng chữ ‘ông có đơn đặt
hàng’ đâu cả.”
Khi đến văn phòng, John lừ thừ đi đến bàn làm việc và giật thót
cả mình vì thấy cô thư ký lẫn anh phụ tá từ hai đầu nhà đang xồng
xộc chạy đến. Cả hai người đến hầu như cùng lúc, người nào cũng
huơ huơ một tờ báo trên tay. John hỏi: “Chuyện gì thế?” Anh chàng
phụ tá buột miệng nói ngay: “Anh đã đọc bài quảng cáo này trên
tờ San Francisco chưa?” Trước khi John kịp trả lời thì cô thư
ký Mary đã trao cho anh tờ Philadelphia Sunday. Hai tờ báo phát
hành cách nhau những ba ngàn dặm lại đăng hai bài quảng cáo giống
hệt như nhau: cần tiếp xúc với đối tác có thể cung cấp các mặt
hàng mà từ tám tháng nay John đã cố sức quảng bá.
Vừa thoáng nhìn qua hai tờ báo, John quay sang Mary và kêu lên:
“Hãy ngưng cuộc gặp giám đốc công ty. Chúng ta đã có công việc
rồi.” Cả hai thuộc quyền đều hỏi dồn: “Làm sao anh lại cả quyết
chắc nịch như thế?” Bấy giờ John mới móc tấm thiếp của người lạ
mặt. Kìa, cả hai ngôi trường đặt hàng đều là trường dành cho những
học sinh khiếm thính!
Ngày nay, John đang điều hành một phân ngành của công ty có doanh
số hằng năm trên sáu trăm triệu đô la. John đã cầu xin: “Lạy Chúa,
con cần một dấu chỉ.” Và Thiên Chúa đã gửi một người đến thăm
viếng anh.
|
|