|
|
| |
Chuyền
ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
|
|
Phần
I: Lời Hứa
CHƯƠNG
BỐN: THÁNH HIẾN
I.
Gương Thánh Nhân
“Dường
như người tốt hay chết trẻ”
Một bài hát khá nổi tiếng nhan đề là “Abraham, Martin và John”
đã ra đời vào cuối thập niên 1960. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Dion Di
Mucci đã sáng tác bài hát này để nhắc nhở giới trẻ rằng có rất
nhiều anh hùng đã can đảm chấp nhận hy sinh khi đấu tranh cho
niềm tin. Tổng thống Abraham Lincohn của thế kỷ XIX được nhớ đến
vì lập trường chống lại tình trạng bất bình đẳng. Một trăm năm
sau, những chiến sĩ trẻ tuổi lại thương khóc một anh hùng khác,
đó là mục sư Martin Luther King, Jr., người đã hy sinh để bênh
vực những nạn nhân chịu bách hại vì màu da của họ. Mục sư Luther
King sẽ mãi mãi được tưởng nhớ với những cuộc tuần hành tranh
đấu cho tự do và bài diễn văn lừng danh “Tôi Có Một Giấc Mơ.”
Mục sư đã đấu tranh cho niềm tin: mọi người, dù thuộc chủng tộc
hoặc tín ngưỡng nào, đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa. Nhân
vật thứ ba được nhạc sĩ Di Mucci ca ngợi là tổng thống John F.
Kennedy. Như một vị tiền nhiệm của mình, tổng thống Kennedy cũng
đấu tranh cho phẩm giá con người. Trong đoạn cuối của bài hát,
một câu hỏi được nêu lên như muốn biết có ai đã chứng kiến Bobby
Kennedy, em trai của tổng thống John F. Kennedy, gục ngã vì viên
đạn của kẻ sát nhân. Bobby Kennedy đã được nhắc đến qua những
lời: “Tôi nghĩ mình đã nhìn thấy ông bước lên ngọn đồi ấy, cùng
với Abraham, Martin, và John.”
Có ba người trẻ khác cũng được nhớ đến, tương tự như những vị
anh hùng trong bài hát ấy. Cả ba đều qua đời khi còn rất trẻ;
đều đi ngược lại trào lưu trần tục đương thời; và được nhớ đến
vì ảnh hưởng của họ đối với người khác. Tên tuổi của ba vị ấy
là thánh nữ Kateri Tekakwitha, thánh Aloysius Gonzaga, và thánh
nữ Agnes. Câu truyện về ba vị thánh là bài học cho người trẻ khắp
nơi.
“Con
đã suy nghĩ kỹ rồi”
Kateri
Kekakwitha chào đời vào năm 1656, tại làng Mohawk, phía bắc New
York. Kateri mồ côi từ nhỏ. Mẹ của Kateri có đạo, còn cha là tộc
trưởng Mohawk. Khi Kateri mới lên bốn tuổi, dịch đậu mùa bột phát
tại làng Mohawk, khiến cha mẹ và người anh trai của Kateri bị
chết. Kateri sống sót và được một già làng nhận về nuôi. Tuy vậy,
cơn bệnh đã làm hỏng làn da của Kateri, và thị giác của cô trở
nên rất dị ứng với ánh sáng, băng tuyết, hoặc ánh sáng mặt trời
phản chiếu trên nước. Những tổn hại ấy khiến cô gái thổ dân Mỹ
Châu phải sống trong bóng tối.
Khi Kateri lên mười một tuổi, các cha thừa sai dòng Tên đã đặt
chân đến làng này. Các ngài đã lưu lại nơi Kateri những ấn tượng
tốt, và cô bé gái nhỏ tuổi ấy đã xin theo đạo. Kateri được rửa
tội vào Chúa Nhật Phục Sinh, ngày 5 tháng 4 năm 1676. Tuy nhiên,
niềm vui của Kateri chưa kéo dài được bao lâu thì mấy người dì
và cha nuôi đã quyết định tổ chức hôn lễ cho cô, theo tập tục
dành cho các thiếu nữ trong làng. Kateri cương quyết không tuân
theo tập tục ấy. Bị những trẻ khác nhạo báng chê cười, bị các
thành viên trong gia đình hành hạ, và thường bị những kẻ táo tợn
trong làng dụ dỗ, Kateri cảm thấy mình hoàn toàn đơn độc với nguyện
ước muốn theo Chúa Kitô.
Mùa Thu 1677, Kateri âm thầm rời bỏ làng và đến xin ngụ tại các
tu viện thuộc khu truyền giáo gần Montreal, Canada. Vị linh mục
dòng Tên, người đã giúp đỡ Kateri trốn đi, đã viết thư giới thiệu
với linh mục bề trên khu truyền giáo như sau: “Tôi xin gửi cho
cha một kho tàng; xin cha giữ gìn cho cẩn trọng!” Vị bề trên cũng
thừa nhận điều ấy nên đã cho Kateri được rước lễ mà không phải
chờ đợi thêm. Ngày lễ Giáng Sinh năm 1677, Kateri Tekakwitha,
hai mươi mốt tuổi, đã được đón nhận Mình và Máu Thánh của Đấng
Cứu Độ.
Trong
cuộc sống, Kateri chuyên cần cầu nguyện và hy sinh đến mức làm
mọi người phải ngạc nhiên. Mặc dù nổi tiếng về lòng đạo đức và
chăm chỉ, nhưng Kateri vẫn phải chịu đựng nhiều thử thách khác.
Một ngày kia, một phụ nữ đã tố cáo Kateri bí mật đi lại với chồng
bà. Thế là những xì xèo và những lời vu khống lan truyền. Nhưng
cuối cùng, Kateri đã được minh oan.
Việc dứt khoát cung hiến cho Chúa Kitô và Đức Mẹ Rất Thánh đã
minh chứng ước nguyện của Kateri. Khi Kateri đến xin phép tuyên
lời khấn khiết tịnh trọn đời, vị linh hướng đã bắt cô phải suy
nghĩ đủ ba ngày trước khi quyết định. Chỉ sau mươi phút, Kateri
trở lại và nói: “Con đã suy nghĩ kỹ rồi. Con đã quyết định về
điều con sắp sửa thực hiện. Con không thể trì hoãn thêm được.
Con xin hiến trót mình cho Chúa Giêsu, Con của Đức Mẹ Maria. Con
nhận Người làm tình quân của con và chỉ có Người là mới tình quân
của con mà thôi.” Lễ Truyền Tin, ngày 25 tháng 3 năm 1679, Kateri
Tekakwitha đã được hiệp lễ, và sau đó, chị tuyên bố vĩnh viễn
khước từ hôn nhân.
Kateri tiếp tục sống cuộc đời cầu nguyện, chay tịnh và chuyên
chăm làm việc được hơn một năm. Nhưng trong năm ấy, bệnh cũ của
Kateri đã tái phát. Vào ngày 17 tháng 4 năm 1680, “Bông Huệ làng
Mohawk” đã từ trần khi chưa đầy hai mươi bốn tuổi. Kateri qua
đời chưa được bao lâu thì một phép lạ kỳ diệu đã xảy ra. Gương
mặt đầy những vết sẹo do bệnh đậu mùa để lại của Kateri bỗng nhiên
trở nên hồng hào tươi tắn! Các linh mục địa phương và nhiều người
đến viếng được chứng kiến phép lạ và đã thuyết phục mọi người
nhìn nhận Kateri Tekakwitha là một vị thánh của Thiên Chúa.
“Phúc
cho ai có tâm hồn thanh sạch”
Aloysius Gonzaga chào đời năm 1568 trong một gia đình quí tộc
Tây ban nha. Truyện kể rằng những tiếng bập bẹ đầu tiên của con
trẻ là danh thánh “Giêsu, Maria.” Vì cha mẹ thân giao với đức
vua, nên Aloysius đã được lớn lên giữa môi trường vương giả. Trang
phục xa hoa, cao lương mỹ vị, thầy hay chữ tốt, và tất cả những
tính mê nết xấu người khác có thể mắc phải thì Aloysius lẽ ra
cũng đã vướng vào. Aloysius rất thông minh, rất phương phi, và
nhờ thân thế gia đình nên được hưởng nhiều đặc quyền. Được thân
phụ quí chuộng một cách đặc biệt, nên tuy còn nhỏ, Aloysius đã
được dành cho một địa vị trong quân đội hoàng gia.
Nhưng, Aloysius đã có một ơn gọi khác. Từ khi Aloysius còn rất
nhỏ, cả người mẹ lẫn người em trai đã nhận ra nơi Aloysius một
lòng đạo đức sâu xa, nhất là mỗi khi Aloysius tham dự thánh lễ
và hiệp lễ. Chưa đến tuổi thiếu niên, Aloysius đã tuyên lời khấn
trinh khiết với Thiên Chúa.
Tuyên khấn như thế không phải là chuyện dễ dàng bởi vì Aloysius
rất nổi tiếng, và vẻ tuấn mỹ của ngài đã trở nên đề tài nơi triều
đình Tây ban nha. Hơn nữa, xã hội thời ấy lại thượng tôn những
cuộc gặp gỡ truy hoan của giới trẻ thượng lưu. Tuy nhiên, Aloysius
rất can đảm. Ngài không chấp nhận thói đồi trụy, say sưa hoặc
kêu tên Chúa vô cớ.
Aloysius còn có nhiều tính cách khác biệt với những người trẻ
cùng độ tuổi. Ngài ăn mặc bình dân, tránh mọi hình thức phân biệt
tầng lớp, kiêng các thức cao lương, một phần vì mắc bệnh thận,
nhưng nhất là vì muốn thực hành khổ chế, chay tịnh. Còn một điều
lạ lùng nữa về Aloysius: người thanh niên được hưởng mọi vinh
hoa phú quí của thế gian ấy rất muốn trở thành một linh mục dòng
Tên!
Thân phụ của Aloysius đã gào lên, “Tao cấm mày không được làm
linh mục.” Trong tâm trí của ông, người con trưởng nam được cả
xã hội trọng vọng như thế mà lại từ bỏ tất cả để sống cuộc đời
hy sinh thì thật là điều quái dị. Hơn nữa, Aloysius đã từng được
đào tạo để đảm trách một vai trò trong triều đình. Tuy nhiên,
lời cầu nguyện, những hy sinh và lòng yêu thương của bà mẹ và
người em trai đã nâng đỡ vị thánh tương lai bảo toàn được khát
vọng phụng sự Thiên Chúa của ngài.
Cuối cùng, thân phụ của Aloysius cũng đành nhượng bộ ước nguyện
của con. Aloysius được gửi đến trụ sở tập viện của dòng Tên tại
Rome. Từ bỏ những trang phục đắt giá để khoát lên người một bộ
tu phục giản dị, Aloysius Gonzaga đã bước vào cuộc đời phụng sự
Thiên Chúa.
Trong những ngày đầu, thầy Aloysius mau mắn tình nguyện làm những
công việc nhớp nhúa nhất. Thầy thường xuyên giữ chay đến mức bề
trên phải quan tâm đến sức khỏe của thầy. Và sự quan tâm ấy chẳng
bao lâu sau đã trở nên một điều tiên tri.
Vào năm 1591, nạn dịch tả “Hắc Tử” tại Âu Châu đã cướp đi sinh
mạng của hàng vạn con người. Tuy biết nguy cơ nhiễm bệnh rất cao,
nhưng thầy Aloyius vẫn tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân và những
người hấp hối tại bệnh viện địa phương. Mới hai mươi ba tuổi đời,
Aloysius Gonzaga đã được về với Thiên Chúa. Trước khi tắt thở,
những tiếng cuối cùng trên đôi môi của vị thánh trẻ cũng là thánh
danh Chúa Giêsu.
Thánh
Aloysius Gonzaga đã nêu cao tấm gương can đảm chống lại cám dỗ
của thế gian cho bao thế hệ người trẻ. Bạn biết bao nhiêu người
trẻ đã sẵn lòng từ bỏ cuộc sống tại những khu vực giàu sang, những
trang phục xa hoa, những bằng cấp sáng giá, và vô vàn vô số những
tiệc tùng vui vẻ hay không? Bạn biết bao nhiêu người trẻ đã sẵn
lòng giã từ cuộc sống thoải mái để hiến thân phụng sự những người
cùng quẫn chẳng có gì để sống qua ngày không? Và sau cùng, bạn
biết có bao nhiêu người trẻ trong thế hệ của bạn đã yêu mến Thiên
Chúa thiết tha đến mức sẵn sàng giữ trọn cuộc sống thanh khiết
suốt đời hay không? Thánh Aloysius Gonzaga ngày nay được khắp
thế giới tôn nhận là vị thánh quan thầy của giới trẻ vì ngài đã
sống một cuộc đời khiêm nhượng và hy sinh.
“Xin
cha mẹ hãy can đảm”
Trước thời của Kateri Tekakwitha và Aloysius Gonzaga chừng mười
ba thế kỷ có một thiếu nữ xinh đẹp cũng đã phải đối diện với một
quyết định rất khó khăn.
Agnes
chào đời năm 291, trong thời kỳ Kitô Giáo đang bị bách hại tại
Rome. Mặc dù là Kitô hữu, nhưng song thân của Agnes không dám
công khai giữ đạo vì sợ án phạt của hoàng đế. Hai ông bà rất ưu
tư về tình yêu Chúa Giêsu của ái nữ của họ một ngày kia sẽ đưa
cô đến chỗ chết.
Thế rồi ngày ấy cũng đến, khi con trai một quan chức cao cấp tại
Rome đến cầu hôn với thiếu nữ Agnes xinh đẹp. Agnes đã lịch thiệp
cho người thanh niên ái mộ kia biết mình đã đính hôn với một người
khác. Người thanh niên kia thất vọng trở về, nhưng một gia nhân
trong nhà đã cho thân phụ chàng thanh niên ấy biết nguyên nhân
vì sao Agnes khước từ lời cầu hôn: Agnes là một tín hữu Công Giáo,
và cô đã say mê Giêsu Kitô.
Thân phụ chàng thanh niên hết sức phẫn nộ và đe dọa cha mẹ Agnes
rằng nếu như con gái họ không chấp nhận lời cầu hôn của con trai
ông, ông sẽ giải nộp Agnes cho nhà cầm quyền, và cô sẽ bị kết
án vì là tín hữu Công Giáo. Cha mẹ Agnes rất đau khổ trước thái
độ can trường của con gái: “Thưa cha mẹ, con cương quyết không
chối bỏ đức tin mà cha mẹ đã trao lại cho con, cho dù phải đau
khổ hay phải chết.”
Vì giữ vững đức tin, Agnes đã bị điệu đến pháp trường và bị ép
phải thờ lạy bụt thần, nhưng Agnes làm dấu Thánh Giá! Trước thái
độ kiên quyết ấy, phán quan Rome truyền đem Agnes giam vào một
nhà chứa để cô bị lột hết trang phục và bị một đám cuồng đồ đe
dọa. Vừa khi bọn suồng sã xông đến, một luồng sáng rực rỡ đã che
phủ toàn thân của Agnes và đẩy lùi lũ sàm sỡ, trong đó có một
tên bị phạt mù mắt. Theo lời truyền tụng, sau khi được Agnes cầu
nguyện, thị giác của người thanh niên ấy đã được phục hồi. Và
sau cùng, anh đã xin tòng giáo. Agnes bị lôi ra pháp trường và
bị kết án trên giàn hỏa thiêu. Khi đống củi chất chung quanh Agnes
được phóng hỏa, chúng đã rẽ ra và Agnes được bình an vô sự. Đám
đông dân chúng gào thét: “Diệt trừ ngay con phù thủy ấy đi.”
Vừa
quẫn trí vừa sợ hãi, tổng trấn Rome ra lệnh cho các lý hình giết
chết Agnes. Theo một tài liệu, khi lý hình vung gươm, người ta
nghe Agnes thầm thĩ: “Lạy Chúa, xin hãy đón nhận con, chết đi
là được sống cuộc sống đích thực, cuộc sống ngọt ngào trường cửu.
Lạy Chúa, xin hãy đón nhận con.”
Thánh nữ Agnes được phúc tử đạo khi mới mười ba tuổi. Cái chết
của thánh nữ đã tác động mạnh mẽ đến các cộng đồng Kitô hữu tiên
khởi đến độ tên của ngài đã được nhắc đến trong kinh nguyện Thánh
Thể liền với các vị đại thánh của Giáo Hội. Thán phục trước vẻ
đẹp của người thiếu nữ tử đạo, thánh Ambrose, tiến sĩ Hội Thánh,
đã ca ngợi: “Trẻ này thánh thiện vượt tuổi đời và can đảm vượt
tính người.”
Ba vị thánh Agnes, Aloysius Gonzaga và Kateri đã nêu những tấm
gương sáng ngời cho các thế hệ tương lai tiếp bước trên hành trình
nên thánh. Trên con đường ấy, sự quyết tâm, lòng can đảm và hy
sinh là điều kiện buộc phải có đối với những tâm hồn muốn hiến
thân vì Thập Giá Chúa Kitô.
II. Suy Niệm
“Nhất định là bạn đang đùa”
Tôi biết. Khả năng bạn hoặc bất cứ người bạn nào của bạn dám liều
lĩnh từ bỏ những quan hệ thân hữu, những cuộc vui, hoặc những
cơ hội làm ăn phát đạt, là rất mong manh. Nhưng phải chăng đó
chính là điều Thiên Chúa đang đòi hỏi ở bạn? Phải chăng Thiên
Chúa đã cho chúng ta biết rằng nếu như chúng ta có đức tin, thì
ân sủng cần thiết để giúp chúng ta bước theo con đường Người đã
vạch sẵn cho chúng ta sẽ luôn dồi dào? Nói khác đi là Thiên Chúa
có thử thách chúng ta vượt quá khả năng của chúng ta như Người
đã biết hay không?
Vậy bằng cách nào chúng ta có thể biết chúng ta làm được những
gì? Chúng ta hãy bắt đầu từ những phương cách căn bản. Bằng việc
trung thành với Chúa Thánh Thần, chúng ta mời Tác Giả mọi ân sủng
hướng dẫn chúng ta thực hiện hoặc diễn đạt mọi điều suy tưởng.
Bằng việc trung thành với Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, chúng ta
phụng sự Đấng đã hiến mạng sống vì chúng ta. Bằng việc trung thành
với Chúa Cha, chúng ta dâng lên Người những điều mà tất cả chúng
ta, những người con cái nam nữ, được mời gọi hãy thực hiện. Thiên
Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
Chúng ta hãy nhớ lại trường hợp thánh Phaolô. Là một nhân vật
kiêu hãnh chuyên “săn lùng” các Kitô hữu, nhưng rồi thánh nhân
lại trở nên người bị “săn lùng.” Sau khi tích cực tham gia việc
sát hại thánh Stephen, Phaolô đã lên đường sang Damascus, nhưng
trên đường thì bị một luồng sáng chói chang làm ngã ngựa. Còn
đang hốt hoảng, Phaolô đã nghe những lời chất vấn từ trời, “Hãy
Phaolô, vì cớ gì ngươi lại bắt bớ Ta?” Khi ấy, Phaolô cất tiếng
hỏi, “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Tiếng nói kia đáp lại, “Ta là Giêsu,
Người đang bị ngươi bắt bớ.” Kể từ giây phút ấy, Saolô thành Tarsus,
về sau được gọi là Phaolô, đã trở thành một nhà truyền giáo vĩ
đại của Giáo Hội Công Giáo. Thánh Phaolô được mời gọi công khai
chiến đấu cho niềm tin. Ngài đã bị chế giễu, bị kết án, và cuối
cùng đã chịu tử đạo.
Nhiều khi những cú “bất ngờ” đã đem lại một tác dụng đặc biệt.
Một doanh nhân rất trẻ đang lái chiếc Jaguar trên đường phố, thì
bỗng đâu một cục gạch bay thẳng vào cánh cửa xe. “Bụp!” Giật thót
cả mình, chủ nhân chiếc Jaguar lập tức dừng lại để xem kẻ nào
đã cả gan ném cục đá vào chiếc xe đắt giá của mình. Anh lao ra
khỏi xe và sửng sốt khi phát hiện một thằng nhỏ đứng cạnh một
gốc cây đang gào khóc. Doanh nhân hỏi: “Mày vừa ném cục đá phải
không?” Thằng bé đáp lí nhí trong miệng: “Dạ.” “Thế mày làm trò
quái quỉ gì thế? Mày có biết trò đùa ngu xuẩn của mày tai hại
như thế nào không?” Thằng bé lắc đầu ngầy ngậy, rồi khóc thút
thít: “Chú làm ơn, con xin lỗi; con không biết phải làm gì mới
được. Con phải ném đá vì không có ai chịu dừng lại.”
Những giọt nước mắt lã chã rơi trên khuôn mặt còn non choẹt. Thằng
bé chỉ vòng qua gốc cây rồi nói: “Anh con đó. Anh ấy bị trượt
khỏi lề đường và ngã khỏi xe lăn, con không đỡ nổi anh ấy lên.”
Đứa bé khóc òa lên rồi nài nỉ người doanh nhân trẻ: “Xin chú làm
ơn đỡ anh ấy vào xe lăn dùm con. Anh ấy đau lắm, nhưng lại nặng
quá, con không đỡ nổi.”
Xúc động trước những lời của đứa trẻ, doanh nhân trẻ cố nén cơn
giận. Anh đỡ thiếu niên tàn tật lên xe lăn, lấy khăn lau lọt những
vết trầy xướt, rồi xem có gì khác thường hay không. Đứa trẻ biết
ơn nhìn doanh nhân và nói: “Cám ơn chú, xin Chúa trả công cho
chú.”
Chàng doanh nhân trẻ tuổi đưa mắt nhìn đứa bé lắt choắt đẩy chiếc
xe lăn chở anh nó đi từ từ về nhà. Khi hai anh em đứa trẻ đã khuất
dạng, doanh nhân mới chậm rãi trở lại chiếc Jaguar. Anh không
bao giờ sửa lại chỗ móp trên cánh cửa xe. Anh muốn giữ lại dấu
vết ấy để từ nay anh không còn sống quá vội vã đến độ để người
khác phải ném một cục đá mới có được sự chú ý của anh.
***
Giờ đây, bạn hãy tự hỏi: Khi nào Thiên Chúa mới được bạn chú ý
đến? Thiên Chúa phải làm thế nào mới có được sự chú ý của bạn?
Điều gì sẽ xảy ra nếu như bạn cứ hờ hững với Người? Chỉ có Chúa
mới biết câu trả lời cho những khi nào, thế nào, và điều gì ấy.
Có thể Thiên Chúa muốn bạn phải táo bạo. Có thể bạn phải tuyên
xưng đức tin một cách công khai. Điều ấy có thể đòi bạn phải chia
tay với một vài người bạn. Bạn có thể bị loại khỏi băng nhóm.
Bạn có thể bị điểm thấp nếu như buộc phải bất đồng với thầy cô
về một vấn đề lương tâm nào đó. Và có thể một vài người thân trong
gia đình sẽ chất vấn về những động lực của bạn.
Nhưng con đường bạn tìm đến cùng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh
Thần sẽ đem lại cho bạn những người bạn mới, những tặng ân mới
và những hình thức mới phong phú. Bạn sẽ phát hiện được những
tiềm năng sẵn có trong bạn. Niềm tin của bạn sẽ vươn lên khi Chúa
Thánh Thần sống mãnh liệt trong bạn. Bạn sẽ thấy mình dấn thân
không phải vì danh dự, phần thưởng, địa vị, đặc quyền hay quà
tặng. Không. Bạn dấn thân cho Đấng đã dành cho bạn một cơ hội
để yêu mến Người và yêu mến đồng loại.
Vấn đề thực sự chỉ đơn giản như thế. Bạn đã nghe được lời mời
gọi của Thiên Chúa vì bạn đã mỉm cười. Bạn đã nghe được lời mời
gọi của Thiên Chúa vì bạn đã giang tay cho một ai đó khi họ cần
được giúp đỡ. Bạn đã nghe được lời mời gọi của Thiên Chúa nhờ
đức tin, đức cậy, và đức ái. Ba nhân đức ấy chẳng phải là những
gì Thiên Chúa đòi hỏi nơi bạn hay sao? Chúa đã đòi chúng ta phải
có đức tin bằng hạt cải, phải có lòng cậy trông vì Người đã vác
Thánh Giá thay cho chúng ta, và phải có đức ái để trao tặng cho
những người chung quanh. Khi nào bạn yêu mến Thiên Chúa và yêu
thương anh chị em, bạn sẽ hiểu được tha nhân cần đến bạn như thế
nào. Bạn sẽ nhận được rất nhiều cơ hội để yêu thương và những
gì đang chờ đợi ở nơi bạn để chu toàn giới luật ấy. Khi ấy và
chỉ có khi ấy bạn mới hiểu được đó là lúc bạn được thánh hiến!
III.
Chứng Nhân Thời Đại
“Mẹ hứa đừng bao giờ bỏ con nhé!”
Tại thành phố Miami, ngày 3 tháng 1 năm 1970, cô Edwarda, một
thiếu nữ mới mười sáu tuổi, đã lâm vào cơn hôn mê, hậu quả bệnh
tháo đường. Trước lúc sự việc xảy ra, cô đã quay sang người mẹ
của mình và nài nỉ: “Mẹ hứa đừng bao giờ bỏ con nhé!”
Đến
nay, đã hơn ba mươi năm, bà Kaye O'Bara, người mẹ của Edwarda,
vẫn giữ trọn lời hứa của bà. Và để giữ trọn được lời hứa ấy, bà
đã phải chăm sóc mọi nhu cầu của đứa con gái dấu yêu của mình
đều đặn cứ hai giờ một lần, hai mươi bốn giờ một ngày, và ba trăm
sáu mươi lăm ngày một năm.
Edwarda sống như “thực vật” bởi vì cô không thể phản ứng, cử động
và cảm giác. Cứ vài giờ lại phải hút máu của cô để thử, đo độ
đường trong máu, tiêm insulin, hút nước dãi, thay đổi thế nằm,
vỗ về, tắm rửa, và cho cô dùng bữa. Hằng ngày, cứ vài giờ một
lần, thực phẩm tán nhuyễn sẽ được truyền vào dạ dày của Edwarda
qua một ống dẫn để cô có đủ lượng calori cần thiết.
Bên cạnh những nhu cầu thuốc men là sự ân cần chăm sóc mà bà Kaye
dành cho đứa con gái của bà. Bà gội đầu, chải tóc, bện tóc cho
con, vuốt ve khuôn mặt và hôn hít vầng trán, rồi thủ thỉ nói chuyện
với con. Người ta hỏi có khi nào bà cảm thấy chán không, người
mẹ ấy đã cười to và trả lời với đứa con của mình: “Ô, cục cưng
của mẹ, mẹ không cần caffeine, tình yêu kiểu lỗi thời như thế
cũng đủ cho mẹ vui sống lắm rồi.” “Có gì là nặng nhọc đâu, vinh
dự nữa là khác.” Bà còn nói: “Tôi đã xin Thiên Chúa cho tôi hai
đứa con gái, nhưng tôi không đặt giới hạn nào cả.” Những lời ấy
đã nói lên điều bà Kaye đã hứa với Thiên Chúa và với con gái của
bà. Có người cảm thấy thương hại, nhưng bà Kaye đáp rằng: “Thương
hại như thế là giết chết người ta đấy!”
Khoa học không thể giải thích được sức mạnh lòng yêu thương của
người mẹ. Edwarda đã hôn mê hơn ba mươi năm, lâu hơn những bệnh
nhân bị hôn mê bình thường. Vì vậy, một số người còn chỉ trích
bà Kaye đã không để “tự nhiên làm việc một cách bình thường.”
Nhưng nếu vậy, chẳng lẽ người mẹ đã hứa sẽ luôn ở mãi bên con
của bà sẽ phải bỏ mặc cho con mình chết đói hay sao? Không, bà
Kaye đã cố giữ trọn lời hứa của mình bằng một lòng yêu thương
hiếm thấy trên đời.
Vấn đề là ở chỗ đó. Bà Kaye kể cho chúng ta biết đức cố hồng y
Joseph Bernadin đã từng nói với bà: “Edwarda là một ‘linh hồn
của lễ.’” (Danh hiệu này chỉ về những linh hồn tự nguyện lãnh
nhận đau khổ thay cho những người đang cần ơn thánh trong cuộc
sống). Bà Kaye tin rằng những đau đớn của con gái bà có một sứ
mạng trong việc giúp chữa lành những đứa trẻ mắc bệnh viêm nang
bàng quang, một chứng bệnh hiện vẫn chưa có thuốc đặc hiệu. Bà
Kaye còn xác quyết: “Mỗi tuần Đức Mẹ đã đến thăm tôi ba hoặc bốn
lần.”
Ngoài vấn đề mặc khải tư, ở đây vẫn có nhiều chân lý mà chúng
ta không thể bỏ qua. Edwarda hôm nay vẫn còn sống, bất chấp những
lời tiên đoán trái ngược của y khoa. Câu truyện về lòng yêu thương
của một bà mẹ đã thu hút được sự chú ý của giới truyền thông toàn
quốc giữa một thời buổi mà người ta chủ trương nên loại trừ những
đứa trẻ không hội đủ điều kiện thể lý theo các tiêu chuẩn của
xã hội. Vào ngày bà Kaye O'Bara đưa ra lời hứa với con gái, một
hành vi dâng hiến đã được đính kết Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria và
bà.
|
|