|
|
| |
Chuyền
ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
|
|
Phần
II: Cuộc Thương Khó
CHƯƠNG
CHÍN: THÁNH GIÁ
I.
Gương Thánh Nhân
“Trên
Đá này”
Tên ngài là Simon. Ngài là một ngư phủ. Ngài thất học. Ngài nghèo
khó. Một ngày kia, trong lúc đang chài lưới với anh là Anrê, ngài
đã nhận được một lời mời gọi khác thường từ một con người xa lạ:
“Hãy theo Ta, và Ta sẽ làm cho ngươi trở thành kẻ chài lưới người
ta.” Khi nghe những lời ấy, Simon, về sau được đổi tên là Phêrô
– nghĩa là ‘đá,’ liền đi theo Chúa Giêsu cho đến ngày Người chịu
tử nạn. Hành trình của Phêrô là một hành trình đòi phải có những
đức tính can đảm, xác tín và khiêm nhượng. Tuy nhiên, vì còn quá
nhiều trần tục, nên Phêrô đã gặp không ít vấp ngã. Nhưng ngài
vẫn là “đá,” và trên đá ấy, Chúa Kitô sẽ xây dựng Giáo Hội của
Người.
Bạn hãy nghĩ xem bạn sẽ làm gì nếu như có một người rất hấp dẫn,
có những lời đầy sức thuyết phục đối với quần chúng, trẻ cũng
như già, xuất hiện trước mặt bạn. Giờ đây, bạn hãy tiếp tục suy
nghĩ, nhân vật ấy còn có khả năng chữa lành bệnh tật, làm cho
người mù xem thấy, người chết sống lại, cho năm ngàn người ăn
no nê từ năm chiếc bánh và hai con cá. Con người ấy thẳng thắn
quở trách bọn hống hách kiêu căng, nhưng lại thương yêu những
người không ai dám yêu thương. Bạn có nghĩ rằng cuối cùng bạn
cũng sẽ đi theo con người ấy đến bất cứ nơi nào ngài đến hay không?
Bạn có nghĩ rằng bạn sẽ sống theo tấm gương của con người ấy hay
không? Bạn có nghĩ rằng nếu như con người ấy đặt bạn đứng đầu
tổ chức của ngài, liệu bạn có chấp nhận hay không? Thế mà Phêrô
đã chấp nhận. Trong thời gian ba năm sống bên cạnh Con Thiên Chúa,
Phêrô lẽ ra đã bị sa thải ít là ba lần. Thế nhưng, cuối cùng,
Phêrô đã được ban tặng vinh quang thập giá.
Phêrô đã chứng kiến hàng trăm phép lạ. Trong những phép lạ đầu
tiên của Chúa, có phép lạ bà nhạc yếu bệnh của ngài đã được chữa
lành. Khi Chúa đặt tay trên trán bà, cơn sốt đã biến mất. Vào
một dịp khác, Phêrô cùng với Chúa Giêsu và các tông đồ khác đang
ở trên thuyền thì bão tố đột nhiên nổi lên. Các tông đồ đinh ninh
lần này các ông sẽ bị chết. Họ kêu cứu với Chúa Giêsu: “Lạy Thầy,
chúng tôi sắp sửa chết mất mà Thầy chẳng quan tâm gì sao?” Chúa
Giêsu chỗi dậy, truyền cho sóng im gió lặng, và phán: “Tại sao
các con hoảng sợ? Các con không có đức tin hay sao?” Rồi một lần
nữa, đức tin lại trở thành vấn đề, khi Phêrô cùng với các tông
đồ khác đang đi trên thuyền. Lần này, Chúa Giêsu không ở với các
ông. Thoáng nhìn trên mặt biển, các tông đồ đột nhiên nhìn thấy
Chúa Giêsu đang đi về phía họ và tưởng là ma quái. Chúa Giêsu
gọi lớn: “Hãy vững tâm, Thầy đây; đừng sợ!” Phêrô nhanh nhảu lên
tiếng: “Lạy Thầy, nếu quả thật là Thầy, xin truyền cho tôi đi
trên mặt biển mà đến cùng Thầy.” Chúa Giêsu ra hiệu và người ngư
phủ liền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa. Thế nhưng, chợt
nghĩ lại mình đang bước bỗng trên mặt nước, Phêrô rùng mình và
lập tức bị chìm xuống. Ông hoảng hốt kêu lên: “Lạy Thầy, xin cứu
con!” Chúa Giêsu giơ tay ra, cứu Phêrô khỏi chìm xuống, nhưng
quở trách: “Hỡi con người hèn tin, tại sao con nghi ngờ?” Biến
cố ấy vẫn chưa phải là lần cuối cùng Phêrô gặp rắc rối về vấn
đề đức tin.
Ít lâu sau, trong một cuộc đàm đạo riêng với các tông đồ, Chúa
Giêsu tiên báo Người sẽ chịu đóng đinh vào thập giá. Phêrô lập
tức tỏ ra bất bình và cho rằng một điều như thế không thể xảy
ra. Lúc ấy, Chúa Giêsu đã nặng lời với vị tông đồ do chính Người
ưu tuyển: “Hỡi Satan, hãy lui ra đằng sau! Con là vật cản đối
với Thầy. Con không nghĩ như Thiên Chúa mà như loài người.” Khi
phản đối cấp trên, bạn cầm chắc sẽ bị sa thải! Nhưng trong trường
hợp của Phêrô, Chúa đã cảm thông sự yếu đuối nơi con người của
vị tông đồ.
Phêrô một lần nữa đã biểu lộ thái độ bất đồng với Chúa Giêsu khi
Chúa theo tập tục người Do thái, tiến hành rửa chân cho các tông
đồ trong bữa Tiệc Ly. Phêrô mạnh miệng tuyên bố: “Thầy không bao
giờ sẽ rửa chân cho con.” Chúa Giêsu đáp rằng: “Nếu Thầy không
rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy.” Thế là
Phêrô đành ngoan ngoãn chấp nhận vâng phục. Vẫn chưa hết, Chúa
Giêsu lại cảnh báo khi nghe Phêrô ngạo nghễ tuyên bố: “Con sẽ
liều mình vì Thầy.” Chúa đã làm cho Phêrô và tất cả các tông đồ
khác phải giật mình bằng những lời này: “Con sẽ liều mình vì Thầy
ư? Quả thật, quả thật, Thầy cho con biết, trước khi gà gáy, con
sẽ chối Thầy ba lần.”
Trước lúc chối Thầy, Phêrô đã ra sức bảo vệ cho Thầy yêu dấu khi
các trưởng tế và biệt phái tìm đến bắt Người tại vườn Cây Dầu.
Sau khi chém đứt tai một tên đầy tớ trong nhóm đến bắt Chúa, Phêrô
đã được lệnh phải xỏ gươm vào vỏ để lời tiên tri được ứng nghiệm.
Chỉ vài giờ sau đó, như lời Chúa Giêsu đã tiên báo, Phêrô đã thẳng
thừng chối bỏ Thầy. Lần đầu tiên, một thiếu nữ trong sân đình
tố cáo Phêrô: “Ông này đã từng ở với Giêsu, người Galilê.” Sau
đó, một đứa tớ gái thấy Phêrô ngoài cổng và la lên: “Người này
cùng nhóm với Giêsu người Nazareth.” Cuối cùng, một tên nô lệ
gặp thấy Phêrô đang ngồi sưởi đã nói thẳng: “Chẳng lẽ tôi không
nhìn thấy ông đã cùng ở trong Vườn với ông ấy hay sao?” Chịu không
nổi, Phêrô lên tiếng thề thốt: “Tôi có biết ông ấy là ai đâu.”
Ngay lúc ấy, Phêrô nghe tiếng gà gáy và nhớ lại lời Chúa Giêsu
đã nói: “Trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần.” Phêrô đã
bỏ đi và khóc lóc nức nở.
Phêrô đã từng nhìn thấy Chúa Giêsu chữa lành những người phong
cùi. Ngài đã có mặt khi Chúa Giêsu xua trừ ma quỉ khỏi những nạn
nhân bị ám. Ngài đã hiện diện khi Chúa Giêsu chữa cánh tay khô
bại của người tàn tật. Ngài đã chứng kiến ánh mắt ngỡ ngàng của
các tội nhân khi họ nhận ra tình trạng linh hồn họ đã bị phơi
bày, và ngài đã nhìn thấy bộ dạng chưng hửng của những kẻ trí
thức dám tìm cách gài bẫy Con Thiên Chúa. Mặc dù đã nghiệm thấy
những điều các tiên tri đã nói trước, nhưng “đá tảng” Phêrô vẫn
trốn chạy.
Tuy nhiên, Phêrô đã trải qua cuộc phục sinh của ngài. Ngài hướng
dẫn các tông đồ khác trong công cuộc truyền giảng Tin Mừng, chữa
lành các bệnh nhân, cho kẻ chết sống lại, và đặt nền tảng cho
tất cả các vị giáo hoàng tương lai. Theo lời truyền tụng, khi
biết mình sắp sửa tử đạo, Phêrô đã yêu cầu được đóng đinh ngược,
vì như lời ngài nói với lý hình, ngài không đáng được chết trong
cùng một tư thế như Con Thiên Chúa.
Can đảm. Tin tưởng. Khiêm nhượng. Đó là những điều đã đem lại
cho thánh Phêrô quyền được vác thập giá. Hai ngàn năm sau, Giáo
Hội vẫn đứng vững, các cửa hỏa ngục vẫn không thể thắng nổi Giáo
Hội của Chúa Kitô.
II.
Suy Niệm
Đường thập giá của bạn
Sẽ
có những lúc bạn phải vác thập giá. Sẽ có những lúc bạn được mời
gọi hãy nhìn nhận những thập giá mà tha nhân đang vác. Và sẽ có
những lúc người ta sẽ yêu cầu bạn vác đỡ thập giá giúp họ. Trong
tất cả những trường hợp ấy, mỗi lần thưa Xin Vâng để bước vào
con đường thập giá là mỗil ần bạn thưa Xin Vâng với Đấng Cứu Thế,
Đấng đã vì bạn mà vác thập giá.
Chúng ta hãy xét trường hợp thứ nhất. Khi cha mẹ yêu cầu bạn hy
sinh chút ít thời giờ để phụ giúp các ngài một vài công việc nào
đó, các bạn có hai lựa chọn. Bạn có thể than phiền, hoặc bạn có
thể dâng hy sinh của mình lên Thiên Chúa. Khi được yêu cầu đóng
góp hoặc giúp đỡ một người nào đó mà bạn thực sự chưa từng quen
biết, bạn cũng có hai lựa chọn tương tự như thế. Bạn hãy chấp
nhận những sự phiền hà do anh chị em của bạn gây ra, hãy bắt tay
vào một công việc buồn chán nào đó trong gia đình, hoặc hãy chịu
khó dự cho hết một buổi học buồn ngủ. Tại sao bạn lại không mặc
những thứ y phục cha mẹ muốn bạn mặc, hoặc ăn những món ăn được
dọn ra trước mặt bạn, bất kể mùi vị thế nào? Bạn hãy chịu khó
đến thăm những người bà con mà bạn thực sự chẳng ưa thích. Trong
mọi trường hợp, bạn luôn được mời gọi hãy thực hiện một hy sinh
bé nhỏ nào đó. Như thế đã là một cái giá quá đắt đối với bạn hay
chưa?
Quả thật sẽ có những thập giá thật khó khăn mà bạn phải vác. Nếu
cha mẹ yếu bệnh, mất công ăn việc làm, hoặc qua đời, bạn sẽ thấm
thía hơn thế nào là đau khổ. Không sớm thì muộn, thế nào bạn cũng
sẽ trải qua một thất bại trong lãnh vực học vấn, thể thao hoặc
xã hội. Khi bạn bước vào thế giới công việc, một loạt những thách
đố sẽ xuất hiện. Tiền lương chênh lệch, những công việc nặng nhọc,
những con người khó tính khó nết, những thời biểu cứng nhắc sẽ
thử thách sức mạnh của bạn. Rồi đến chuyện hôn nhân. Bỗng nhiên
bạn sẽ nhớ lại cụm từ “tốt xấu cũng đành nhắm mắt đưa chân.” Và
không bao lâu sau, Thiên Chúa ban cho bạn và người bạn đời của
bạn những đứa con. Và nếu thế, thì bạn sẽ phải xử sự làm sao với
đứa bé lải nhải, với hai đứa nhóc khó ưa, rồi với những thằng
lỏi nghịch phá, và vì chúng nó mà bạn đành mất một người bạn thân,
chịu dở dang đại học, hoặc phải chuyển công việc. Có thể bạn sẽ
ngã bệnh trầm trọng, không còn khả năng đi đây đó, hoặc thấy mình
chẳng còn bao nhiêu thời gian trên cõi đời này. Đối với một số
người, một tương lai đầy ảm đạm và bấp bênh chính “thập giá” của
họ.
Có thể ngay lúc này đây, bạn đang phải vác một thập giá, đó là
cuộc sống chẳng được ai biết đến, một ngoại hình không hấp dẫn,
một thân hình phục phịch; bạn phải chới với trong học tập, hoặc
chỉ là một vận động viên hạng quèn. Có thể thập giá của bạn có
liên quan đến gia đình hoặc người thân. Cha bạn nghiện rượu. Mẹ
bạn mập ú đến phát sợ. Chị gái của bạn mắc mứu với một người đàn
ông đã có gia đình. Anh trai bạn đang “xé lịch” trong tù.
Cũng có thể thập giá của bạn liên quan đến phương diện bề ngoài.
Bắt đầu là địa chỉ trên hộp thơ của bạn. Gia đình bạn nghèo túng
cùng quẫn. Chiếc xe bạn đang sử dụng đã ọp ẹp và không khởi động
nổi. Áo quần bạn đang mặc “bắt mắt” thiên hạ, nhưng không phải
vì hợp thời trang, nhưng vì cái “mốt” cũ rích thuộc cái thời ông
bà của bạn còn mài đũng quần trên ghế nhà trường. Bạn trăn trở
về vấn đề vui chơi, vấn đề y phục cho ra hồn dáng với thiên hạ.
Bạn không dám mơ tưởng đến chuyện bước vào nhà hàng để ăn thử
một bữa vì lấy tiền ở đâu ra!
Nhưng dù thế nào đi nữa, bạn vẫn có nhiều cơ hội để hiến dâng
“thập giá” của bạn lên cho Chúa Kitô. Nếu như bạn sống như vậy,
tha nhân sẽ học tấm gương sáng của bạn. Bạn hãy giúp cho họ trở
nên mạnh mẽ. Hãy dạy họ cầu nguyện để xin ơn biết chấp nhận thập
giá trong cuộc sống. Hãy dạy họ biết lúc nào cũng có những con
người đang cần đến sự trợ giúp của họ. Hãy dạy cho họ biết cảm
tạ Thiên Chúa về những gì họ đang có, và hãy cầu xin Người tỏ
cho họ biết họ có thể làm được những gì cho Người. Nếu bạn chấp
nhận lời mời gọi ấy, chẳng mấy chốc bạn sẽ nhìn thấy tha nhân
cũng bước theo “con đường thập giá” như bạn.
Đặt
mình vào hoàn cảnh của tha nhân
Bạn có bao giờ thắc mắc tại sao người ta lại hành động như thế
này hoặc như thế khác hay không? Bạn biết “tỏng” loại người ấy.
Họ sống xa cách, thiếu thân thiện, thậm chí còn hung tợn nữa là
khác. Có nhiều người cho rằng không thể tin nổi hạng người ấy.
Bạn cũng đã từng nghe nói gia đình người ấy rất lập dị. Dường
như họ chẳng bao giờ nhếch miệng để cười, chẳng bao giờ muốn liên
đới với người khác. Ngay cả cung cách ăn mặc của họ cũng thật
ngứa mắt. Trên bất kỳ phương diện nào, họ cũng chẳng giống ai.
“Trên bất kỳ phương diện nào...” Cụm từ bao quát này minh chứng
bạn cần phải xét lại thực tế, bởi vì nó cho thấy rằng bạn thực
sự chưa biết gì về con người ấy. Bạn chưa bao giờ gặp gia đình
họ. Và chuyện họ dường như không bao giờ cười chẳng có liên quan
gì đến sự thể là họ chẳng có gì để cười. Bạn có bao giờ nghĩ đến
điều ấy chưa?
Giả thử cha mẹ bạn mới xô xát với nhau tối hôm qua, bạn có nghĩ
rằng bạn sẽ sống ngày hôm nay trong tâm trạng phấn khởi không?
Nếu như tại ngôi trường bạn mới đến nhập học chẳng có ai đếm xỉa
đến bạn, hỏi thử phản ứng của bạn sẽ như thế nào? Giả sử mẹ bạn
vừa được chẩn đoán đã mắc ung thư, liệu bạn có quan tâm đến những
gì thiên hạ đang nghĩ về nỗi buồn của bạn hay không? Đặt trường
hợp bạn đánh mất học bạ, bạn làm hỏng xe hơi của cha bạn, bạn
bị điểm kém, bạn chia tay với người bạn thân, bạn gặp trục trặc
trong nhóm, hoặc bạn bị sa thải, hỏi thử bạn có thèm lưu tâm đến
những gì thiên hạ bàn tán về thái độ bất cần của bạn đối với những
tiêu chuẩn xã giao hay không? Tôi cho rằng bạn chẳng đếm xỉa gì
cả.
Chúng ta thường không biết gì về lý do vì sao người ta hành xử
như thế này hoặc như thế kia. Chúng ta chỉ biết đến các cảm xúc
của mình mà thôi. Chúng ta chẳng hề quan tâm khi một người xa
lạ gặp phải các vấn đề cá nhân của họ. Nỗi khốn khổ của họ chẳng
có gì liên hệ, chẳng có gì quan trọng đối với chúng ta cả. Thực
vậy, nhiều lúc chúng ta quá mải miết trong cái thế giới riêng
mình, chúng ta không nhận ra sự ích kỷ của chúng ta chính là nguyên
nhân số một gây ra tình trạng khốn khổ của chúng ta. “Chúng ta
gieo gì thì gặt nấy.”
Vậy từ nay nếu có ai không đáp lại những kỳ vọng của chúng ta,
thay vì kết án, chúng ta hãy sẵn sàng lắng nghe, giúp đỡ, tha
thứ và cầu nguyện cho họ. Bởi vì như chúng ta đã biết, Thiên Chúa
đã đặt con người ấy vào cuộc đời của chúng ta để giúp chúng ta
hiểu rằng có những lúc nhiệm vụ của chúng ta chỉ là nhận ra tha
nhân cũng đang vác thập giá của họ. Nếu sống được như thế, bạn
sẽ bước đi trên con đường của Chúa Kitô: “Đây là giới răn của
Thầy, là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các
con” (Ga 15:12).
“Không
nặng vì họ là anh em của tôi”
Thánh Luca đã viết trong Phúc Âm của ngài: “Vậy khi điệu Người
đi, chúng bắt được ông Simon, người Cyrene, tự ngoài đồng về,
và đặt thập giá cho ông vác đằng sau Chúa Giêsu” (Lc 23:26). Hai
ngàn năm sau, chúng ta gọi con người xa lạ ấy là “Simon diễm phước.”
Hoàn cảnh cho chúng ta thấy hành vi giúp đỡ của Simon không phải
do tự nguyện. Ông bị lính Roma bắt phải giúp đỡ nạn nhân. Nhưng
dù bị ép buộc, Simon vẫn được nhớ đến như một người đã thực hiện
một hành vi nhân ái.
Trong cuộc đời của bạn, bao nhiêu lần bạn đã được yêu cầu giúp
đỡ người khác? Giúp đỡ cho một người bạn tốt thì chẳng có gì khó
khăn. Nhất định họ sẽ đáp trả tương tự cho bạn. Giúp đỡ cho cha
mẹ cũng giống như thế, vì các ngài là cha mẹ của bạn. Và nếu thầy
cô giáo hoặc những người phụ trách yêu quí của bạn nhờ vả một
điều gì, có lẽ bạn sẽ không chối từ. Nhưng lòng nhân ái sẽ bị
thử thách trong trường hợp người lạ giúp đỡ người lạ, kẻ thù giúp
đỡ kẻ thù, hoặc nhân vật nổi tiếng giúp đỡ người vô danh.
Giúp đỡ tha nhân vác thập giá là một hành vi phục vụ. Tìm đến
với những người cùng quẫn là noi gương Chúa Kitô. Hy sinh thời
giờ, tiền bạc, tài năng, hoặc lòng tự ái của mình là “yêu thương
đồng loại.” Trong bức thư thứ nhất của mình, thánh Phêrô đã nói
rõ về giáo huấn ấy: “Tiên vàn mọi sự, anh em hãy có lòng yêu mến
nhau tha thiết, vì đức ái phủ lấp muôn vàn tội lỗi” (1 Pr 4:8).
Việc tìm đến với những người cùng quẫn có thể đòi một hành vi
anh hùng, chẳng hạn hiến một quả thận để cứu sinh mạng một con
người, hoặc đơn giản như giúp đỡ người bạn cùng lớp nắm vững một
công thức toán học. Trong cả hai trường hợp, bạn đều giúp đỡ tha
nhân vác thập giá của họ. Và nếu như bạn chọn giúp đỡ người lạ,
người đối nghịch, hoặc một người neo đơn không thân bằng quyến
thuộc, thì hành vi bác ái ấy sẽ đem lại cho bạn một công phúc
lớn lao trước tòa Chúa phán xét. Chúng ta hãy nhớ lại lời Chúa
Giêsu đã phán: “Vì nếu các ngươi yêu thương những kẻ thương yêu
các ngươi thì đáng công gì?… Và nếu các ngươi chỉ chào hỏi những
người chào hỏi các ngươi, thì các ngươi có làm gì hơn thiên hạ
đâu?” (Mt 5:46-47).
Chúa Giêsu truyền cho chúng ta phải chứng tỏ đức ái với mọi người,
bất kể họ có tương giao liên hệ với chúng ta hay không. Hãy tìm
đến với những người bị quên lãng. Hãy cho những người đói khát
một bữa ăn. Hãy dành thời giờ cho những người cô đơn. Hãy lắng
nghe những người muốn thổ lộ. Hãy mời những người bơ vơ tham gia
các cuộc họp mặt. Hãy chia sẻ các quà tặng cho những người không
có quà tặng. Hãy tha thứ cho những người đi vào cuộc sống chúng
ta vì muốn tìm một tình bạn. Hãy nhẫn nại với những người cần
được cảm thông. Hãy bỏ qua cho những người cần được tha thứ. Hãy
khoan dung, tôn trọng những dị biệt về chủng tộc, tôn giáo, văn
hóa và phong tục. Hãy đứng lên vì những người yếu đuối. Hãy đòi
hỏi quyền bình đẳng cho mọi người trên phương diện giáo dục, kinh
tế và nghề nghiệp.
Tóm lại, bạn hãy trở nên một “Simon diễm phúc” cho những ai cần
đến sự trợ giúp của bạn, bằng cách vác đỡ thập giá của họ. Chúa
Giêsu đã phán: “Những gì các ngươi đã làm cho những anh em bé
mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Và vì bạn
đã yêu thương anh chị em chung quanh của bạn, nên Thiên Chúa cũng
ở bên cạnh để giúp bạn vác thập giá của chính bạn.
III.
Chứng Nhân Thời Đại
“Đừng sợ”
Ngày 16 tháng 10 năm 1978, hồng y Karol Wojtyla đã khởi đầu triều
đại giáo hoàng của ngài bằng lời mời gọi: “Đừng sợ!” Nhờ lời kêu
mời ấy, thế giới đã hiểu biết đức Gioan Phaolô II, vị giám mục
thứ 264 của thành Roma. Câu truyện về con người kỳ diệu ấy là
câu truyện của “thập giá.”
Chào đời ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Ba lan, Karol Wojtyla là
cậu trai út trong gia đình có ba người con. Người chị qua đời
khi còn rất nhỏ; bà mẹ cũng từ trần khi Karol Wojtyla mới lên
tám tuổi; và người anh độc nhất đã từ giã cõi trần ba năm sau
đó. Người cha dấu yêu, người thân duy nhất còn lại trong gia đình
Karol Wojtyla, qua đời vào năm 1941. Sau này, đức Gioan Phaolô
II đã hồi tưởng: “Năm tôi hai mươi tuổi, tôi đã mất hết mọi người
thân yêu, kể cả những người đúng ra rất yêu quí đối với tôi, chẳng
hạn người chị, mà theo lời kể lại, đã qua đời sáu năm trước khi
tôi chào đời.”
Nỗi đau buồn của Karol Wojtyla còn da diết hơn nữa khi nhiều bè
bạn của ngài bị giết hại tại trại tập trung Auschwitz của Đức
quốc xã. Nền văn hóa Ba lan hầu như đã bị tận diệt khi các giáo
sư bị tử hình, những người gốc Do thái bị giết hại, các gia đình
bị tan vỡ, và tôn giáo bị đàn áp dã man. Nhưng nhờ được hấp thụ
sự dưỡng dục gia giáo từ một người cha đầy tinh thần đức tin,
Karol Wojtyla đã hết lòng tín thác vào Thánh Tâm Chúa Giêsu và
Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ Maria. Năm 1943, Karol Wojtyla gia nhập
hội Mân Côi dành cho giới trẻ. Những hội viên này chuyên cần cầu
nguyện và hỗ trợ các bạn đồng trang lứa, nhưng tất cả hoạt động
của họ đều không thoát khỏi cặp mắt theo dõi của Gestapo, cơ quan
mật vụ Đức quốc xã.
Niềm tín thác vào Thiên Chúa đã đưa Karol Wojtyla đến chỗ dấn
thân phụng sự. Sau khi đã bí mật theo học chương trình chủng viện,
Karol Wojtyla được thụ phong linh mục vào tháng 10 năm 1946. Trong
suốt những năm tháng tăm tối, sáu triệu đồng bào Ba lan của ngài
đã phải chết. Thế nhưng sau khi Thế Chiến II kết liễu, đất nước
Ba lan một lần nữa lại bị chiếm đóng, lần này là do một đạo quân
thù nghịch với Thiên Chúa. Các linh mục bị mất tích, những người
gốc Do thái bị giết hại, toàn thể dân chúng bị đọa đày.
Tuy nhiên, sự dữ đã không cản trở được con đường phục vụ Giáo
Hội của linh mục Karol Wojtyla. Năm ba mươi tám tuổi, ngài trở
thành vị giám mục trẻ tuổi nhất của Ba lan. Sáu năm sau, ngài
được đặt làm tổng giám mục; và chỉ ba năm sau đó, đức Phaolô VI
đã tấn phong vị tổng giám mục bốn mươi bảy tuổi ấy làm hồng y
trong Giáo Hội.
Danh
tiếng hồng y Karol Wojtyla đã vượt khỏi biên giới nước Ba lan.
Với cung cách hoạt động liên đới, biệt tài sử dụng nhiều ngoại
ngữ, và khả năng có thể thuyết phục mọi thành phần đã khiến hồng
y Karol Wojtyla nhận được sự nể trọng của mọi người, trong cũng
như ngoài Giáo Hội Công Giáo. Ngày 16 tháng 10 năm 1978, sau cái
chết đột ngột của đức Gioan Phaolô I, hồng y Karol Wojtyla, năm
mươi tám tuổi, đã được bầu làm giáo hoàng và triều đại của đức
Gioan Phaolô II được bắt đầu.
Dù giao tiếp với các hồng y hoặc các linh mục, với các lãnh tụ
hoặc giới nông dân, với các bậc phụ huynh hoặc các trẻ em, sứ
điệp của đức Gioan Phaolô II luôn luôn vẫn là: “Đừng sợ!” Đức
Gioan Phaolô II đã thực hiện điều ngài rao giảng. Tuy là một trong
những nhân vật uy tín lẫy lừng nhất thế giới, nhưng đức Gioan
Phaolô II vẫn dành thời gian tản bộ trên những đường phố của nước
Ý để trò chuyện với những con người bình dân, chúc lành của con
cái họ, chứng hôn cho con gái họ, phong chức linh mục cho con
trai họ. Khi về thăm quê hương Ba lan yêu dấu và thách thức nhà
cầm quyền vô đạo, đức Gioan Phaolô II đã được hơn một phần ba
toàn thể đồng bào họp nhau chào đón. Khi bị ám sát, nhờ niềm tin
vào Đức Mẹ Maria, đức Gioan Phaolô II đã được cứu thoát. Khi giới
truyền thông và nhiều người dân Hoa kỳ cho rằng giới trẻ trên
đất nước họ thời nay chỉ lưu tâm đến tính dục, ma túy và hưởng
thụ, thì đức Gioan Phaolô II phớt lờ luận điệu ấy và đã thu hút
được những biển người trẻ chưa từng có tại thành phố Denver, tiểu
bang Colorado. Ngài đã làm tương tự như thế tại Ma rốc trước tám
ngàn bạn trẻ Hồi giáo. Bỏ ngoài tai những lời đe dọa đến tính
mạng, đức Gioan Phaolô II đã nói chuyện với hơn năm triệu người
tại đất nước Philippines trong kỳ đại hội giới trẻ thế giới được
tổ chức tại Manila. Tuy biết mình sẽ bị chế giễu vì lập trường
chống phá thai, phản đối cái chết êm dịu, chống án tử hình, không
cho linh mục lập gia đình, không để phụ nữ làm linh mục, chống
hạn chế dân số và văn hóa sự chết, đức Gioan Phaolô II vẫn kiên
định bảo vệ sự thánh thiêng của sự sống và những giáo huấn của
Giáo Hội. Mặc dù đã bị ngã, bị gẫy xương hông, bị trượt té và
trật xương vai, chịu giải phẫu khối u, đức Gioan Phaolô II vẫn
không hề sợ hãi.
Khi chấp nhận thỉnh nguyện của các hồng y để chính thức đăng quang
giáo hoàng, đức Gioan Phaolô II biết ngài sẽ tuyên đọc bí mật
thứ ba của Đức Mẹ Fatima. Khi hiện ra với ba trẻ vào năm 1917,
Đức Mẹ đã tuyên bố ba bí mật, trong đó có hai điều đã được công
bố cho toàn thể thế giới. Bí mật thứ nhất là Thế Chiến I sẽ sớm
kết thúc, nhưng nếu nhân loại không hoán cải, thì một đại chiến
khác khủng khiếp hơn sẽ xảy đến. Đức Mẹ cho ba trẻ biết một dấu
lạ sẽ xuất hiện trên bầu trời để tiên báo Thế Chiến II sắp bùng
nổ. Chiều tối ngày 25 tháng 1 năm 1938, biến cố bắc cực quang
lạ thường đã chiếu sáng khắp bầu trời Châu Âu. Chỉ ba mươi ngày
sau đó, nhà độc tài Hitler xua quân tiến vào nước Áo. Mười tám
tháng sau, Ba lan bị xâm lược và Thế Chiến II diễn ra vô cùng
khốc liệt.
Bí mật thứ hai nói rằng những điều độc dữ và những lầm lạc sẽ
lan tràn khắp thế giới nếu như đất nước và dân tộc Nga không được
tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ.
Bí mật thứ ba mãi đến gần đây mới được công bố cho thế giới. Đức
Gioan XXIII và các vị giáo hoàng kế nhiệm là những người duy nhất
đã đọc qua bí mật thứ ba. Trong thời gian hơn hai mươi năm, đức
Gioan Phaolô II đã sống với niềm tin rằng ngài là giáo hoàng được
tiền định để làm trọn bí mật ấy. Ngày 13 tháng 5 năm 1981, tức
64 năm sau ngày Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất tại Fatima, đang lúc
đi quanh quảng trường thánh Phêrô, vị giám mục Roma đã bị một
tay súng bắn bị thương trầm trọng, trong một âm mưu ám sát. Đức
Gioan Phaolô II có lý do để tin rằng ngài sẽ sống. Mùa Thu năm
2000, đức Gioan Phaolô II đã cho công bố bí mật thứ ba của sứ
điệp Fatima, rằng một vị giáo hoàng tương lai sẽ thoát khỏi mưu
sát.
Còn một lời tiên báo nữa về vị giáo hoàng này đã được ghi lại
trong Nhật Ký của thánh nữ Faustina, một nhà thần bí người Ba
lan. Năm 1938, tám năm trước khi Karol Wojtyla được thụ phong
linh mục, chị nữ tu dòng Đức Mẹ Nhân Lành đã viết rằng khi chị
đang cầu nguyện cho đất nước Ba lan thì nghe được tiếng Chúa Giêsu
phán rằng: “Cha dành cho đất nước Ba lan một tình yêu thương đặc
biệt, và nếu như đất nước ấy vâng phục thánh ý của Cha, Cha sẽ
nâng nó lên uy quyền và thánh thiện. Từ đó sẽ xuất hiện một tia
lửa chuẩn bị thế giới đón chờ lần đến sau cùng của Cha.”
Vị giáo hoàng đã vác “thập giá Chúa Kitô” đến với mọi lục địa
trên hành tinh cũng đã trao tặng hai nguyên nhân hy vọng cho từng
bạn trẻ: đó là Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria. Niềm lạc quan ấy được
gồm tóm trong hai từ ngắn gọn: “Đừng sợ!”
|
|