|
|
| |
Chuyền
ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
|
|
Phần
II: Cuộc Thương Khó
CHƯƠNG
MƯỜI: ĐÓNG ĐINH
I.
Gương Thánh Nhân
Đồi
Golgotha
Bên ngoài thành Jerusalem có một ngọn đồi tên là Golgotha. Tại
ngọn đồi ấy, hai ngàn năm trước đây, Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh
trên thập giá. Tiếng Anh gọi ngọn đồi ấy là Calvary, phái sinh
từ Calvaria trong tiếng La tinh, dịch từ Golgotha của tiếng Aramaic,
nghĩa là núi Sọ. Người ta chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết
có bao nhiêu người đã bị xử chết tại nơi ấy. Nhưng chúng ta biết
có rất đông tín hữu đã vì thánh danh Chúa Kitô mà anh hùng chấp
nhận cái chết đau thương, chịu đóng đinh tại những miền đất xa
xăm. Trong số đó có ba vị thánh tử đạo Isaac Jogues, John Gabriel
Perboyre, và Charles Lwanga.
Thánh
Isaac Jogues sinh năm 1607 tại nước Pháp. Sau khi gia nhập dòng
Tên, ngài được sai đến Bắc Mỹ để truyền giáo cho các bộ tộc da
đỏ tại Nam Canada. Bộ tộc Hurons đã tiếp nhận cha Jogues và các
đồng sự của ngài.
Một hôm, khi cùng với một số thổ dân da đỏ Hurons đang xuôi thuyền
trên sông, thì cha Jogues và cả nhóm, trong đó có vị phụ tá của
ngài là René Goupil, đã bị rất đông các chiến binh bộ tộc Iroquois
tấn công. Họ đã tàn nhẫn sát hại và bắt sống nhiều người Hurons,
kể cả các tu sĩ dòng Tên cùng đi. Các tù nhân bị điệu về làng
và chịu nhiều cực hình khủng khiếp. Suốt mười sáu tháng trời,
cha Jogues phải chứng kiến nhiều đồng sự của ngài bị thiêu sống.
Những người khác đã bị hành hạ dã man, vì các chiến binh Iroquois
thường dùng chày để đánh đập các nạn nhân. Ngay lũ trẻ con Iroquois
cũng bạo tay hành hạ, chúng quăng những hòn than đang cháy vào
lưng các tù nhân. Cha Jogues không được miễn trừ, ngài phải chịu
nhiều hình khổ thể lý và tinh thần. Đầu của René Goupil bị bổ
đôi bằng rìu và phần mình bị kéo lê khắp làng cho mọi người cùng
thấy.
Bất chấp những nỗi kinh hoàng ấy, cha Jogues vẫn tiếp tục cầu
nguyện cho những người thù địch được ơn hoán cải và đã bí mật
rửa tội cho con cái của họ. Cha Jogues còn chăm sóc cho nhiều
chiến binh Iroquois yếu bệnh. Trong số đó, có nhiều người đã từng
tra tay hành hạ ngài và các đồng sự của ngài bằng những hình khổ
hãi hùng nhất.
Cuối cùng, cha Jogues đã trốn thoát được và lên tàu về đến Pháp
vào sáng ngày lễ Giáng Sinh năm 1643. Sau khi đến Pháp, cha Jogues
được yêu cầu ra điều trần trước giáo quyền và chính quyền nước
Pháp về những hình khổ ngài đã trải qua. Trong bức thư gửi cho
vị giám tỉnh dòng Tên tại Pháp, đề ngày 5 tháng 8 năm 1643, cha
Jogues đã mô tả cuộc khổ hình của ngài một cách sinh động như
sau:
Họ giáng xuống người tôi những cú đấm và những chiếc gậy có chấu,
để tôi nằm dưới đất nửa sống nửa chết; sau đó một lúc, họ nhổ
phăng các móng tay của tôi, rồi chặt hai ngón trỏ của tôi, khiến
tôi đau đớn không sao tả xiết. Họ cũng làm như thế với René Goupil…
Tuy nhiên, họ muốn để tôi sống dở mà đưa về làng. Thế là với cái
kiểu dung tha độc ác ấy, họ đã đưa tôi, với những vết thương bê
bết máu me, nhất là trên mặt, đến một ngọn đồi, nơi có một chiếc
bục đã dựng sẵn. Bấy giờ, họ xỉ vả tôi bằng hàng ngàn lời phỉ
nhổ, rồi giáng vào cổ và mình tôi những cú đấm không nương tay.
Họ đốt một ngón tay của tôi, lấy răng mà cắn nát một ngón khác,
rồi bẻ xoắn ngón bầm dập ấy và cắt gân ngón tay còn lại; cho nên
bây giờ, mặc dù vết thương phần nào đã lành, nhưng các ngón tay
của tôi đã bị tật và biến dạng.
Bất chấp mọi khốn khổ đã qua, cha Jogues vẫn xin trở lại Montreal,
hy vọng sẽ tạo lập được sự hòa bình giữa người Iroquois và các
bộ tộc khác ở miền Canada thuộc Pháp. Được tù trưởng Iroquois
hứa sẽ đón tiếp các tu sĩ dòng Tên, cha Jogues đã mạo hiểm trở
lại với bộ lạc đã từng chém tay ngài và giết hại các đồng sự của
ngài. Ngày 18 tháng 10 năm 1644, linh mục Isaac Jogues đã đón
nhận cuộc thương khó cuối cùng khi bị chém bằng rìu và rồi bị
chặt đầu. Không biết có bao nhiêu con trẻ Iroquois đã ra đón tiếp
cha Isaac Jogues, vị ân nhân đã từng rửa tội và dạy dỗ cho chúng,
tiến vào thiên đàng.
***
Năm 1835, một linh mục người Pháp là cha John Gabriel Perboyre
chuẩn bị lên đường sang Trung Quốc, mặc dù ngài đã quá biết những
nguy hiểm đang rình rập các thừa sai ở đó. Sau bốn năm hoạt động
giữa dân chúng, cuối cùng cha Perboyre đã bị bắt. Ngài phải chịu
hơn bốn mươi cuộc tra hỏi. Dù bị đánh roi tre vào mặt, phải quì
trên mảnh sành và phải uống máu chó đun sôi, nhưng cha Perboyre
cương quyết không quá khóa. Mang cáo trạng che giấu “lũ tội đồ
theo đạo,” cha John Gabriel Perboyre đã bị kết án tử hình. Vị
linh mục hiền từ đã không biểu lộ một thái độ oán hờn nào đối
với các lý hình và sẵn lòng chịu chết vì đức tin.
Ngày 11 tháng 9 năm 1840, sau khi cột ghì hai cánh tay cha Perboyre
vào một thập tự và quấn dây quanh cổ, các lý hình đã từ từ xiết
dây để ngài phải chết ngạt một cách đau đớn. Theo lời kể của nhiều
giáo hữu cũng như lương dân, khi vị linh mục thừa sai sắp sửa
tắt thở, thì một hình thánh giá đã xuất hiện trên bầu trời. Khi
tử nạn, cha Perboyre mới ba mươi tám tuổi đời.
***
Như hai thánh John Gabriel Perboyre và Isaac Jogues, thánh Charles
Lwanga cũng được phúc tử đạo vì đức tin. Tuy nhiên, không như
các vị linh mục người Pháp đã chết tại miền đất xa xăm, dưới bàn
tay của những người xa lạ, Charles đã bị chính đồng bào của ngài
sát hại vào tháng 5 năm 1886, tại nước Uganda, Trung Phi.
Charles Lwanga là một trong những nhân vật có uy tín nhất triều
đình và chịu nhiều ảnh hưởng của quan Joseph Mukasa, vị tổng quản
đứng đầu đội thị vệ của đức vua. Lòng kính trọng của Charles dành
cho quan Joseph càng gia tăng khi ngài được chứng kiến quan Joseph
dám trách cứ đức vua vì đã giết hại một nhà truyền giáo Tin Lành.
Lòng can đảm ấy đã khiến quan Joseph phải trả giá bằng mạng sống;
và ngày 15 tháng 10 năm 1885, quan Joseph đã bị trảm quyết, rồi
bị thiêu cháy. Sau sự kiện ấy, Charles Lwanga được chỉ định đứng
đầu đội thị vệ trong hoàng cung. Tương tự như quan Joseph, Charles
cũng có một ảnh hưởng sâu xa trên các thanh niên Uganda. Nhiều
người trong số họ đã theo gương Charles để chịu phép rửa bằng
cái chết của mình.
Con đường đến với phúc tử đạo của Charles bắt đầu bằng việc một
đứa trẻ được triệu đến hoàng cung cho đức vua thỏa mãn tật ấu
dâm của ông. Khi không thấy đứa trẻ đến, đức vua phát hiện ra
một thị vệ trong triều đình đã dạy giáo lý Công Giáo cho đứa trẻ
ấy. Hết sức cuồng nộ, bạo vương truyền xử trảm người dạy giáo
lý, và ra lệnh mọi Kitô hữu phải bị điệu ra xét xử tại tòa án
hoàng gia. Vua tuyên bố tại đó: “Những ai không cầu nguyện, hãy
đứng sang bên ta, còn những ai cầu nguyện, thì lại đàng kia mà
đứng.”
Charles Lwanga tụ hợp tất cả các Kitô hữu lại và cùng cầu nguyện
để xin cho mọi người được thêm sức mạnh trong đức tin. Khi bạo
vương hỏi Charles và những người khác có dám chịu chết vì đức
tin hay không, mọi người đều hiên ngang tiến ra tuyên xưng tình
yêu đối với Chúa Giêsu Kitô. Thậm chí, một thị vệ của vua cũng
xin nhập hàng ngũ với các tù nhân Kitô hữu.
Tất cả hai mươi hai Kitô hữu ấy được biết đã bị hành hạ dã man.
Sau khi phải đi ba mươi bảy dặm đến pháp trường, một số tín hữu
đã bị đánh đập đến chết. Những người khác bị chặt tay chân hoặc
bị chém đầu. Một số khác bị thiêu sống. Charles đã bước ra giúp
các lý hình chất củi lên giàn để thiêu sống ngài, khiến họ rất
bỡ ngỡ. Khi Charles Lwanga sắp sửa tắt thở, người ta nghe ngài
kêu lên: “Katonda! (Lạy Thiên Chúa của con!)”
Cái chết của thánh Charles Lwanga và hai mươi mốt bạn tử đạo của
ngài chính là hạt giống cần thiết để truyền bá Tin Mừng Kitô Giáo
tại Uganda. Ngày nay, tại đất nước này đã có hai triệu tín hữu
Kitô Giáo.
II.
Suy Niệm
“Eloi, eloi, lama sabachthani?”
“Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, nhân sao Chúa lại bỏ tôi?” Bạn đã
bao giờ nghe những tiếng rên rỉ như thế chưa? Bản thân bạn đã
bao giờ thở than những lời như vậy chưa? Không ai trong chúng
ta đã từng than vãn những lời ấy sao? Đó là những lời Chúa Giêsu
đã thốt lên trước khi trút hơi thở cuối cùng của Người trên thập
giá. Thoạt đầu chúng ta thấy dường như có điều mâu thuẫn, vì lẽ
các thánh, những người hiến dâng mạng sống vì đức tin, đã tỏ ra
nao nức khi đến gặp Đấng Cứu Thế của các ngài trên thiên đàng,
trong khi chính Chúa Kitô, Đấng được các thánh kêu tên trước khi
từ giã cõi trần, lại cho thấy Người bị bỏ rơi cùng cực trong giờ
phút tử nạn. Thực vậy, Chúa Giêsu đã làm trọn lời thánh vương
David tiên báo từ nhiều thế kỷ trước. Thông điệp vua David được
ghi lại trong Thánh vịnh 22 được coi là “lời cầu nguyện của con
người vô tội.” Khi tử nạn trên thập giá, Chúa Giêsu đã kêu van
cùng Chúa Cha, vì Chúa Cha là Đấng độc nhất sẽ đáp lại lời cầu
nguyện của Người.
Bạn hãy nhớ lại như vậy mỗi khi bạn cảm thấy cuộc thương khó ập
xuống trên bạn. Bạn sẽ biết cuộc thương khó ấy như thế nào. Bạn
không thể tập trung. Bạn đau khổ trong nín lặng. Chứng nhức đầu
như búa bổ. Cơn đau bao tử minh chứng cho bạn biết chứng trầm
uất đang gặm nhắm cõi lòng bạn. Bạn không thể chợp mắt. Bạn ăn
không thấy ngon. Bạn cố sức ổn định cuộc sống nhưng mọi thứ dường
như càng hỗn độn, ngổn ngang. Bạn tự hỏi: tại sao điều này điều
nọ lại xảy ra? Tại sao tôi lại trở thành nạn nhân? Tôi sẽ phải
trả giá nào đây, liệu có đáng không? Và khi ấy, bạn hãy nhớ lại
cuộc khổ nạn của Chúa Kitô.
Molly đau khổ vì người anh trai bỏ học, gây nên một bầu khí ngột
ngạt không thể chịu nổi trong gia đình. Brandon biết tin thân
phụ anh bị ung thư và chỉ sống được vài tháng nữa. Một huấn luyện
viên nổi tiếng vừa hay tin mẹ ông đã chết vì đau tim. Donny, cầu
thủ sắc bén nhất trong đội bóng chày của ông, đã đi bụi đời vì
hay tin cha mẹ đang tiến hành thủ tục ly dị. Áp lực quá đè nén.
Terri Lynn, người nữ sinh mới trong trường, phải ở nhà chăm sóc
người mẹ yếu bệnh nhưng da diết nhớ bầu khí lớp học. Justine,
người học sinh xuất sắc, vừa bị tóm vì tội bán ma túy. Anh ta
phải chịu khốn khổ còn nhiều. Một bạn nữ trong lớp bị hãm hiếp,
trong khi một bạn khác phải cực nhục với người cha say xỉn. Một
bạn nam vốn thích đùa giỡn được bác sĩ cho biết đã mắc hội chứng
Tourette. Giờ đây, bạn đã hiểu vì sao thái độ của anh ta thật
kỳ quặc như thế…
Bảng liệt kê cứ thế kéo dài mãi mãi, vượt ra ngoài cái thế giới
học sinh, bạn bè, đồng đội. Ông hàng xóm làm việc cho một công
ty hơn hai mươi lăm năm vừa bị sa thải. Các phóng viên truyền
hình loan tin một thảm kịch liên quan đến một đứa trẻ tại địa
phương. Người đưa thư giao một bức thư yêu cầu giúp đỡ. Bức thư
cho biết, nếu như lời yêu cầu bị bỏ qua, một người vô gia cư nữa
sẽ phải đói khát. Cha mẹ bạn trao đổi với nhau về tình trạng những
đứa con của một người bạn, dường như chúng còn gặp nhiều khốn
khổ hơn bạn.
Bạn không bơ vơ. Có những người cũng đang gặp tình cảnh như bạn.
Có những người mà sự khó của họ có sức biến đau khổ của bạn trở
thành vô nghĩa, không khác gì một cái móng tay bị xước. Bạn không
bơ vơ. Có những phụ huynh, những thầy cô, những người phụ trách,
những cố vấn và những người khác nữa sẽ đến với bạn nếu như bạn
dành cho họ một cơ hội. Có những người thực sự quan tâm đến những
gì xảy ra với bạn. Bạn không bơ vơ. Khi cảm thấy gánh nặng toàn
thế giới dường như đè trĩu trên vai bạn, bạn hãy nhớ đến Đấng
đã chịu chết vì tội lỗi của thế giới này. Chúa Cha đã ban Con
Một Người cho bạn. Chúa Giêsu sẽ giúp bạn đủ sức vượt qua những
gian truân bằng ân sủng của Người. Chúa đã hứa bạn sẽ không bị
thử thách quá sức. Thực vậy, Người đã để thử thách xảy đến để
bạn biết rõ thực lực của mình.
Để vượt qua thử thách, bạn hãy xét những điều sau đây: thứ nhất,
cần phải cầu nguyện. Bạn hãy nài xin Chúa Giêsu và Mẹ Maria giúp
đỡ khi phải đương đầu với khó khăn cuộc sống. Thứ hai, cần phải
củng cố năng lực thiêng liêng. Bạn hãy đọc Thánh Kinh, tham dự
thánh lễ, lãnh thụ các nhiệm tích và hãy đọc kinh Mân Côi. Thứ
ba, cần phải hiến dâng đau khổ bạn phải chịu vì tha nhân, hợp
với Chúa Kitô, noi gương những anh hùng đã chịu chết vì đức tin.
Và thứ tư, cần phải nhận thức rằng thử thách sẽ xảy đến trong
suốt cuộc đời của bạn. Dù học trung học hoặc đại học, dù có nghề
nghiệp hoặc gia đình, dù có con đàn cháu đống gì gì đi nữa, bạn
hãy mời Thiên Chúa liên lỉ đi vào cuộc sống của bạn - chứ đừng
chờ đến lúc gặp gian nan.
Ngay cả trong những giờ phút tăm tối nhất của bạn, Thiên Chúa
vẫn không từ bỏ bạn. Bạn hãy cương quyết đừng bao giờ từ bỏ Người.
III.
Chứng Nhân Thời Đại
Người tha thứ cho Thiên Chúa
Larry Vuillemin có tất cả. Anh là một vận động viên tài năng.
Anh sống trong một gia đình êm ấm. Anh có một cá tính tuyệt vời,
một ngoại hình hấp dẫn. Anh luôn được điểm cao trong học tập.
Đó là tất cả những yếu tố thuận lợi giúp anh vươn đến thành công
trong cuộc sống một cách dễ dàng. Cha mẹ của Larry là những người
rất quí trọng đức tin Công Giáo. Vì thế, trên những quãng đường
phải đi lâu hơn mười lăm phút, thông thường cả gia đình, cha mẹ
và con cái, đều lần hạt Mân Côi chung với nhau. Người mẹ có lòng
yêu mến Đức Mẹ Maria rất đặc biệt; người cha lo công việc sắp
chỗ nhà thờ trong thánh lễ Chúa Nhật. Hai ông bà là tấm gương
sáng cho các con noi theo trong việc sống đức tin.
Một ngày nọ, cái thế giới tuyệt vời của Larry Vuillemin đã vỡ
vụn tan tành. Người cha bốn mươi tám tuổi, cổ động viên nhiệt
tình nhất của Larry, đã qua đời vì một cơn đau tim. Gia đình tan
nát. Tại sao Thiên Chúa lại nỡ đối xử với một người đã trung thành
tham dự thánh lễ hằng ngày, nuôi dạy con cái theo tinh thần Công
Giáo, và là người chồng thân thương của một người vợ biết kính
sợ Người như thế? Larry bồi hồi nhớ lại: “Chúng tôi đã chôn người
cha thân yêu hai lần, một lần xuống lòng đất, và một lần vào tận
cõi lòng của chúng tôi.” Larry cho rằng một thanh niên phải can
đảm và không bao giờ được tỏ ra mềm yếu, càng không nên phàn nàn
với Thiên Chúa, vì như thế là yếu nhược.
Ngôi sao vận hạnh của Larry tiếp tục vươn cao khi anh gia nhập
vào đội bóng bang Ohio, tiếp bước người anh giờ đây đang chơi
cho đội bóng đại học Notre Dame. Và như thần tượng của mình, Larry
đã vào học tại đại học Notre Dame với một xuất học bổng toàn phần.
Ngay năm đầu tiên, Larry đã gặp được người bạn đời tương lai của
mình, và một năm sau, hai người đã kết hôn với nhau. Trong những
năm tháng ấy, Thiên Chúa vẫn là một phần trong cuộc đời của Larry.
Năm 1970, Larry tốt nghiệp đại học Notre Dame. Nhưng niềm vui
của Larry chẳng tày gang khi anh và gia đình nghe biết người anh
trai vừa ký hợp đồng với đội bóng Washington Redskins giờ đây
đang phải điều trị tại bệnh viện New York vì mắc chứng tâm thần
phân liệt. Người anh trai của Larry không thể nào chơi banh được
nữa. Trong đầu óc của Larry, anh cho rằng Thiên Chúa lại đánh
gục thêm một người anh hùng nữa của anh.
Larry tiếp tục con đường học vấn, và như thân phụ, Larry đã trở
thành một luật sư công tố. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc, người
thanh niên tài năng Larry đã sẵn sàng tiến vào cái thế giới thành
tích của anh. Vậy mà một thập giá khác lại phủ bóng. Năm 1976,
cuộc hôn nhân của Larry, với hai đứa con kháu khỉnh, đã tan vỡ.
Tuy vẫn còn uy tín, thế lực và niềm tự hào, nhưng Larry lại thiếu
cái cần thiết nhất đối với anh. Tình cảnh đã bắt đầu đổi thay.
Ngày 12 tháng 12 năm 1984, Larry cảm thấy nhức đầu kinh khủng.
Quằn quại trên giường bệnh, Larry biết anh phải sẵn sàng chờ đón
cuộc thử thách sắp tới. Hôm sau - bây giờ Larry vẫn còn nhớ -
là ngày lễ kính Đức Mẹ Guadalupe, anh phải có mặt tại tòa án để
tham dự một vụ án. Bỗng nhiên, người luật sư mới ba mươi tám tuổi
đời đã gục xuống. Người ta vội vàng đưa anh đến bệnh viện, và
biết anh đã bị tai biến. Larry đau đớn đến cùng cực.
Trong thời gian nằm viện, Larry luôn than thở: “Xin làm ơn giúp
tôi.” Lúc ấy, người luật sư trẻ tuổi có tài áp đảo đối phương,
người anh hùng của đội bóng đại học Notre Dame bỗng nhận ra cuộc
sống của mình đã thiếu vắng một điều. Điều ấy chính là Thiên Chúa.
Trước
đó chưa bao lâu, Thiên Chúa đã gửi đến cho Larry những đại sứ
của Người. Có một bệnh nhân nằm bên cạnh Larry đã nói về lòng
thương xót Chúa Kitô. Người y tá hiền từ đã cho Larry biết rằng
anh buồn khổ chỉ vì thiếu tinh thần đức tin. Nhiều người ghé thăm
và khuyến khích người luật sư trẻ hãy cầu xin Chúa Thánh Thần
chữa lành cõi lòng của anh. Linh mục tuyên úy bệnh viện cũng đến
thăm và khích lệ Larry hãy trở về với các bí tích. Lần đầu tiên
trong mười lăm năm, Larry đã lãnh nhận Thánh Thể. Vào tuần lễ
mừng Giáng Sinh năm ấy, nhiều tín hữu đã khai mở con đường cho
Larry trở về với Thiên Chúa.
Một thời gian ngắn sau đó, một linh mục khác là cha Norm Douglas
đã đi vào cuộc đời của Larry. Cha Norm đã giúp Larry nhận ra cái
chết của thân phụ anh, chứng bệnh của người anh trai, cuộc hôn
nhân tan vỡ và thất bại trong sự nghiệp không phải là những cú
đấm của Thiên Chúa quật ngã anh. Vấn đề là ở Larry. Anh phải nhận
thức rằng Thiên Chúa, Đấng bị anh đã gán là nguyên nhân mọi khốn
khó trong cuộc đời của anh, chính là Đấng đã sai Con Một Người
xuống để chịu đóng đinh trên Thánh Giá hầu cho mọi tội nhân được
hưởng nhờ lòng thương xót và tình yêu của Chúa Kitô.
Trở về làm việc trong ngành luật, Larry trở nên một con người
biến đổi hoàn toàn. Giờ đây, Larry và cha Norm Douglas cùng hoạt
động cho Chúa. Công việc đầu tiên của họ là tìm đến những ngành
nghề thường quên lãng Thiên Chúa. Mùa Thu năm 1986, Larry và cha
Norm đã khởi xướng hội “Giao Tâm,” một tổ chức chuyên cổ động
đời sống tinh thần tại các môi trường làm việc. Qua một loạt những
chương trình ấn tượng, tổ chức Giao Tâm đã đánh động được hằng
trăm tâm hồn khắp miền Trung Tây Hoa Kỳ. Các hội viên tiếp nhận
thông điệp của Giao Tâm, cổ động phát triển nhân cách, tình thân
ái, sự hòa giải, sự quan tâm đến người khác và một nếp sống đạo
đức, có lý tưởng.
Ngày nay, Larry rất thành công trong một công ty quan trọng về
lãnh vực luật pháp. Anh tiếp tục hoạt động cho tổ chức Giao Tâm,
cầu xin Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ nâng
đỡ trong công tác phục vụ tha nhân.
Larry vẫn thường tiếp xúc với những người đang gặp những cuộc
thương khó và phục sinh mà chính anh đã từng trải qua. Quả thật,
khi điều ấy xảy ra, Larry chỉ biết mỉm cười, anh hiểu Thiên Chúa,
Đấng được anh tha thứ, quả thật là Đấng đã tha thứ cho anh.
|
|