| |
Chuyền
ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
|
|
Phần
III: Thanh Tẩy
CHƯƠNG
MƯỜI MỘT: PHỤC SINH
I.
Gương Thánh Nhân
Kairos
Cuộc sống thật bình dị. Tại làng quê Nazareth có một người thợ
mộc tên là Giuse làm việc để nuôi sống gia đình. Theo phong tục
Do thái, ông đã đính hôn với một thiếu nữ tên là Maria. Thế nhưng,
Giuse chợt nhận ra toàn bộ những dự tính của mình đã bị đảo lộn.
Một hôm, trước ngày hôn lễ không lâu, khi đến thăm Maria, Giuse
chợt nhận ra một điều: Maria đã có thai! Maria đang mang thai,
đứa con của một ai đó! Bạn thử tưởng tượng Giuse trong thời khắc
ấy sẽ như thế nào. Người ta biết Giuse là một người thợ mộc lành
nghề, lại sống rất công chính. Ông tan nát cõi lòng. Ông bàng
hoàng về người vị hôn thê của mình, vì biết hình phạt dành cho
hành vi ngoại tình là cái chết.
Không đành tâm tố cáo “hành vi tội lỗi” của Maria, Giuse muốn
lặng lẽ ra đi, hy vọng người yêu của ông sẽ không bị tổn hại.
Và chính lúc ấy, một biến cố đã xảy ra. Trong một giấc chiêm bao,
Giuse đã nhìn thấy thiên thần Chúa hiện ra và nói: “Hỡi Giuse,
con vua David, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình. Vì con
trẻ bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ hạ sinh
một con trai và ông sẽ đặt tên cho Người là Giêsu, bởi vì Người
sẽ cứu dân Người cho khỏi tội.” Khi thức dậy, thánh Giuse phải
quyết định một lựa chọn: hoặc tin vào lời thiên thần trong giấc
mơ đã nói về trường hợp của Maria, hoặc cho rằng kinh nghiệm thần
bí ấy là thứ vô nghĩa. Thánh Giuse đã tín thác nơi Thiên Chúa.
Ngài bằng lòng kết hôn với Đức Maria, nhìn nhận bào thai được
cưu mang chính là Đấng Cứu Thế.
Thánh Giuse vẫn còn nhiều điều để lo lắng. Sau này, ngài đã được
tin báo hãy đưa hôn thê về nguyên quán Bêlem để khai sổ bộ theo
lệnh nhà cầm quyền. Đồng hành với một thiếu nữ đang cưu mang Con
Thiên Chúa vượt qua một lộ trình nguy hiểm thì không giống như
chuyện đi du ngoạn với một nhóm bạn bè! Thế nhưng thánh Giuse
có đức tin. Ngài cần đức tin.
Khi đến Bêlem, nhiệm vụ trước tiên của thánh Giuse là tìm một
nhà trọ cho Đức Maria và ngài. Hoàn cảnh khẩn trương hơn nữa vì
ngài biết Đức Maria có thể sinh con bất cứ lúc nào. Thế nhưng
cuộc tìm kiếm đã thất bại, hết nhà này đến chủ nọ đều thẳng thừng
từ chối. Các nhà trọ không còn lấy một phòng trống. Chọn lựa duy
nhất cho Thánh Gia là đành phải qua đêm trong một hang đá, chỗ
dành cho súc vật. Chúng ta thử nghĩ xem tâm trạng của thánh Giuse
lúc ấy như thế nào. Ngài chịu trách nhiệm lo liệu cho Đức Maria
và Con Thiên Chúa sắp giáng sinh, thế mà ngài không sao tìm được
một mái nhà ra hồn cho hai mẹ con. Còn gì cho thánh nhân lựa chọn
nữa đâu?
Khi vào hang đá, Đức Maria đã hạ sinh Chúa Giêsu. Đối với thánh
Giuse, phép lạ giây phút ấy đã khiến ngài quên hết những nhọc
nhằn Thánh Gia đang phải chịu: nơi ở nghèo khó, heo hút và vắng
lạnh. Tuy nhiên, tình trạng cô quạnh không kéo dài lâu. Bỗng đâu
các mục đồng xuất hiện bên ngoài hang đá và yêu cầu: “Xin cho
chúng tôi được vào bái kiến Hài Nhi?” Thánh Giuse phải quyết định.
Liệu có nên để cho những người lạ mặt kia tiếp xúc với gia đình
ngài lúc này không? Tại sao họ lại biết hài nhi Giêsu vừa mới
giáng sinh? Phải chăng thiên thần đã báo tin cho những người khách
lạ này cũng chính là vị đã hiện ra với ngài trong giấc mơ? Không
biết có vấn đề gì không đây?
Mầu nhiệm Giáng Sinh vẫn chưa đến hồi kết thúc, ba vua từ phương
xa đã tìm đến, và như các mục đồng đến trước, các vị cũng yêu
cầu được bái kiến Hài Nhi. Thánh Giuse lại phải quyết định một
điều nữa mà không mấy người đã từng trải qua. Thánh nhân ắt hẳn
đã tin rằng những biến cố này là một phần trong một chương trình
vô cùng vĩ đại.
Sau khi hài nhi Giêsu giáng sinh được bốn mươi ngày, thánh Giuse
và Đức Maria đã đưa Người lên Jerusalem để hiến dâng cho Thiên
Chúa theo luật Do thái. Một mầu nhiệm khác lại tiếp nối. Cụ Simêon
bồng Hài Nhi trên tay và tôn nhận đây là “Đấng đã được hứa ban”
cho dân Chúa. Chưa hết, cụ Simêon còn nói thẳng với Đức Maria:
“Này đây Con Trẻ này được đặt lên cho nhiều người trong Israel
ngã xuống hoặc đứng dậy, và là một dấu cho người ta chống đối;
phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua tâm hồn bà.” Những lời
mạnh mẽ ấy thật khó chấp nhận đối với bất kỳ người gia trưởng
nào. Nhưng đối với thánh Giuse, lòng tin nơi Thiên Chúa đã giúp
ngài đứng vững.
Thế rồi một diễn biến khác xảy đến. Một đêm kia, không bao lâu
sau cuộc kính viếng của ba vua, thánh Giuse lại có một giấc mơ.
Lần này, thiên thần hiện đến với thánh nhân và truyền rằng: “Hãy
chỗi dậy đưa Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai cập và lưu lại đó
cho đến khi ta báo lại. Hêrôđê đang tìm cách giết hại Con Trẻ.”
Một lần nữa thánh Giuse đã chứng tỏ niềm tín thác nơi Thiên Chúa.
Ngài biết như thế là gia đình ngài sẽ phải lưu ngụ tại một miền
đất xa xăm. Quyết định của thánh Giuse là một quyết định mang
tính tiền định bởi vì bạo vương Hêrôđê đã giết hại hàng trăm con
trẻ vô tội.
Thánh Giuse là một con người đơn sơ được Thiên Chúa mời gọi để
bảo vệ và nuôi dưỡng Con Một của Người. Để hoàn thành sứ mạng
ấy, thánh nhân đã trải qua kinh nghiệm kairos. Kairos trong tiếng
Hy lạp có nghĩa là “theo thời giờ của Thiên Chúa.” Đối với người
thợ mộc thành Nazareth, thời giờ của Thiên Chúa đòi ngài phải
trải nghiệm một cuộc “phục sinh đức tin” cần thiết để hoàn thành
lời tiên tri: “Hỡi Bêlem Ephrata, ngươi bé nhỏ trong hàng các
bộ tộc Giuđa, nhưng từ nơi ngươi sẽ xuất hiện cho Ta một Đấng
có mệnh thống lĩnh Israel!” (Mk 5:2).
II.
Suy Niệm
“Nếu Đức Kitô không phục sinh”
Giả như có người yêu cầu bạn kể ra năm thực tại quan trọng nhất
trong đời sống của bạn (dĩ nhiên không kể đến những thực tại căn
bản cần thiết cho sự sống, chẳng hạn như không khí, nước, của
ăn, mặt trời), thì bạn sẽ trả lời thế nào? Và nếu như người ấy
lại đòi bạn sắp xếp năm thực tại ấy theo trình tự quan trọng,
thì thực tại nào sẽ là thứ nhất? Vì lẽ không cần kể ra những nhu
cầu thiết yếu cho sự sống, nên bạn sẽ liệt kê những thực tại đem
lại hạnh phúc cho bạn. Và nếu như chọn “hạnh phúc” làm mục tiêu,
thì các thực tại được bạn lựa chọn sẽ nằm trong danh mục dưới
đây:
*
Tiền bạc: Bạn có thể hạnh phúc nếu thiếu tiền bạc không?
*
Tình cảm: Chẳng phải mọi người ai cũng muốn yêu thương hay sao?
* Sức khỏe: Không có sức khỏe, bạn có thể đạt được những điều
khác không?
*
Sự nghiệp: Bạn có thể làm được gì nếu thiếu một lý tưởng để theo
đuổi?
* Tài năng: Bạn không cần những khả năng để thành đạt hay sao?
* Gia đình: Bạn cậy dựa vào ai một khi mọi người đã lìa bỏ bạn?
* Đức tin: Nếu thiếu Thiên Chúa trong cuộc sống, bạn có thể tìm
thấy hạnh phúc đích thực hay không?
* Ngoại hình: Chẳng phải những người có ngoại hình đẹp luôn luôn
được hưởng nhiều cơ hội hay sao?
* Tình thân: Những người bạn quen thân lại không đáng kể hay sao?
* Trí khôn: Chỉ cần nhắc đến những chỉ số liên quan đến sự thông
minh là quá đủ.
* Danh tiếng: Bạn có biết ai không cần được yêu quí hay không?
Bây
giờ, bạn hãy áp dụng câu hỏi ấy vào bản thân bạn. Giả sử bạn đã
có năm tùy chọn của bạn, và nếu như bị buộc phải từ bỏ một điều,
thì bạn sẽ sẵn lòng bỏ đi điều nào? Giả sử năm tùy chọn của bạn
được sắp theo trình tự: đức tin, gia đình, sức khỏe, tình cảm,
sự nghiệp, thì bạn có thể lập luận rằng mặc dù năm điều ấy rất
quan trọng trong việc mưu cầu hạnh phúc, nhưng khi mất đi một
hoặc một vài thực tại, thì bạn vẫn có thể sống còn.
Chẳng
hạn sự nghiệp của bạn thuộc lãnh vực ca hát và bạn có thể kiếm
được nhiều tiền bạc. Bạn nổi tiếng. Bạn làm rung động nhiều tâm
hồn. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như thanh quản của bạn bị hỏng
hoặc bạn bị mất giọng? Chắc chắn bạn sẽ rất khổ tâm. Giả như người
thân yêu quyết định chia tay với bạn vì bạn không còn làm cho
họ được hạnh phúc nữa, thì bạn sẽ ra sao? Nỗi buồn phiền nhất
định sẽ phủ xuống bạn. Chúng ta biết các bác sĩ đã khám phá ra
sự tổn thương ấy không những có thể làm đổ vỡ sự nghiệp, mà còn
kết thúc cả cuộc sống của bạn nữa. Đường công danh của bạn tan
nát, bệnh ung thư ập đến, người thân qua đời, những điều ấy đủ
khiến bạn lâm cảnh trầm uất. Tuy nhiên, bạn vẫn hy vọng những
người thân trong gia đình sẽ ở bên bạn khi bạn đương đầu với thử
thách trong cuộc sống. Nhưng giả sử không có sự nâng đỡ của gia
đình thì sao? Giả như họ cảm thông với hoàn cảnh của bạn, nhưng
họ không có thời giờ để chăm sóc cho các nhu cầu tình cảm và thể
lý của bạn thì sao? Những yêu sách trong công việc, các vấn đề
gia đình và những quan tâm cá nhân của họ dường như đã trở thành
nguyên nhân khiến bạn phải chịu cảnh cô đơn lẻ loi. Giờ đây, bạn
đã mất bốn trong năm yếu tố quan trọng nhất trong đời sống của
bạn. Yếu tố duy nhất còn lại là đức tin. Đức tin xuất phát từ
Thiên Chúa. Nếu thiếu Chúa, bạn chẳng thể làm gì được; có Thiên
Chúa, không có gì là không thể.
Danh tiếng, ngoại hình, tiền bạc, uy tín, tình cảm, trí khôn,
tình yêu, tài năng, sức khỏe và gia đình là những yếu tố người
ta có thể lấy đi khỏi bạn. Đức tin là phúc lành duy nhất mà tự
bạn muốn vứt bỏ thì bạn mới mất được. Đó là lời hứa của Chúa Giêsu
Phục Sinh. Những lời thánh Phaolô tông đồ trong thư thứ nhất gửi
cho giáo đoàn Corintho thật đáng chúng ta suy nghĩ: “Nếu như Chúa
Kitô đã không sống lại, thì đức tin của anh em thật vô dụng” (1
Cr 15:17).
“Tôi
tin”
Hai từ này nói lên nền tảng đức tin của bạn. Sau khi Chúa Giêsu
lên trời, đức tin của mười hai thánh tông đồ có thể được tóm gọn
như sau:
Tôi
tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.
Tôi
tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là Con Một Đức Chúa Cha, cùng là
Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai,
sinh bởi bà Maria Đồng Trinh; chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết, và táng xác, xuống ngục
tổ tông; ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại; lên trời,
ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại
xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần; tôi tin có Hội Thánh hằng có
ở khắp thế này, các thánh thông công; tôi tin phép tha tội; tôi
tin xác loài người ngày sau sống lại; tôi tin hằng sống vậy. Amen.”
Khi
bạn đọc kinh Tin Kính các thánh tông đồ hoặc đọc kinh Tin Kính
công đồng Nicene trong thánh lễ là bạn đang tinh thần hành vi
tuyên thệ. Bạn đừng đọc những câu kinh ấy chỉ vì người nào cũng
đọc. Nếu bạn không tin những điều bạn đọc, thì bạn đọc để làm
gì? Bạn đừng đến trước Thánh Giá mà lảm nhảm những lời kinh chẳng
mang một ý nghĩa gì đối với tâm hồn của bạn; bởi vì những lời
ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì đối với Thiên Chúa. Vậy từ nay, mỗi
lần đọc kinh Tin Kính các thánh tông đồ hoặc kinh Tin Kính công
đồng Nicene, bạn hãy giục lòng tin:
(1) Một Thiên Chúa là Đấng đã tác thành vạn vật trong thế giới
hiện tại và thế giới mai sau;
(2) Thánh Tử của Người là Chúa Giêsu Kitô đã được sai đến trần
gian để cứu độ muôn dân;
(3) Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu Kitô đã được Đức
Trinh Nữ Maria cưu mang và sinh hạ;
(4) Chúa Giêsu Kitô đã bị kết án và chịu tử nạn;
(5) Người đã xuống ngục tổ tông đem hy vọng cho các linh hồn,
và ba ngày sau, Người đã phục sinh từ trong cõi chết;
(6) Trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu hứa sẽ tôn vinh những
ai yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại;
(7) Trong thời gian chúng ta chờ đợi Chúa Kitô tái lâm, Chúa Thánh
Thần sẽ tô điểm chúng ta bằng các ơn khôn ngoan, hiểu biết, biết
lo liệu, sức mạnh, thông minh, đạo đức, và kính sợ Chúa;
(8) Nhờ các môn đệ hiệp thông với Chúa Kitô, Giáo Hội Công Giáo,
đại diện duy nhất của Thiên Chúa, lan rộng đến tất cả các dân
tộc;
(9) Giáo Hội bao gồm những người lữ hành trên dương thế; những
người đã qua đời đang được thanh tẩy trong luyện ngục; và các
thánh trên thiên đàng, những vị đang cầu nguyện cho chúng ta;
(10) Nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần, tội lỗi chúng ta sẽ được tha
thứ;
(11) Người lành sẽ được sống lại cả hồn lẫn xác trong ngày tận
thế;
(12) Họ sẽ được cùng với Chúa Kitô hiển trị muôn đời.
Những ai hiểu biết, thực hiện và yêu mến kinh Tin Kính sẽ được
đảm bảo một điều: khi đến giờ của Chúa, họ sẽ được Người ban ơn
phục sinh.
III.
Chứng Nhân Thời Đại
Đức tin: 1, bóng bầu dục: 0
Gerry có tất cả mọi sự, một người vợ xinh đẹp, những đứa con dễ
thương, và bốn danh hiệu vô địch bóng bầu dục cấp trung học toàn
tiểu bang trong khoảng thời gian năm năm. Huấn luyện viên Gerry
Faust là một trong những kho tàng quí giá nhất của thành phố Cincinnati,
bang Ohio. Thành tích chiến thắng vang dội ấy có thể đưa anh lên
cấp độ cao hơn, có lẽ anh sẽ trở thành huấn luyện viên phó cho
một đội bóng đại học hạng III. Tuy nhiên, Gerry chỉ ấp ủ một ước
mơ: trở thành huấn luyện viên trưởng cho đội bóng bầu dục của
đại học Notre Dame. Gerry xác tín điều ấy. Thực vậy, anh đã cho
cha Krusling tại trung học Moeller biết rằng anh sẽ không gia
hạn hợp đồng trừ khi bản hợp đồng bao gồm điều khoản cho phép
anh tự do chấp nhận công việc huấn luyện tại Notre Dame, nếu như
anh được đề nghị.
Cha Krusling cười ồ khi trao bút cho Gerry Faust ký hợp đồng.
Ngài nghĩ rằng các huấn luyện viên trung học, dù thành tích thế
nào đi nữa, cũng chẳng bao giờ có thể nhảy lên làm huấn luyện
viên cấp đại học nếu chưa có một kinh nghiệm tương xứng. Đối với
cha Krusling, câu chuyện ông bạn Gerry năng nổ sẽ trở thành huấn
luyện viên trưởng của đội bóng đại học Notre Dame thật là nực
cười.
Gerry
có những người bạn ở cấp cao. Một ngày kia, anh lái xe chở vợ
đến South Bend, Indiana, để xem một vài cựu vận động viên của
trung học Moeller chơi bóng trong một giải đấu uy tín của quốc
gia. Sau khi vào khuôn viên đại học, Gerry dừng lại để thực hiện
một việc quan trọng. Quì trước hang đá Đức Mẹ, Gerry thắp lên
hai ngọn nến để cầu nguyện cho gia đình và cha mẹ. Sau đó, Gerry
thắp cây nến thứ ba và hứa rằng nếu được làm huấn luyện viên của
đại học này, hằng ngày anh sẽ đến kính viếng hang đá Đức Mẹ, bất
kể công việc có bề bộn thế nào đi nữa. Ba tuần sau, cú điện thoại
của cha Edmund Joyce, viện phó đại học Notre Dame, dường như đã
khởi đầu điều mà nhiều người trong thế gian này gọi là phép lạ.
Ngày 25 tháng 11 năm 1980, sau khi tham dự thánh lễ do linh mục
viện trưởng chủ sự, Gerry Faust đã được giới thiệu trong tư cách
là huấn luyện viên trưởng thứ hai mươi bốn của đại học Notre Dame.
Lời cầu nguyện của Gerry đã được chấp nhận. Những gì trước kia
Gerry chưa biết, thì bây giờ anh đã biết: nghề huấn luyện viên
bóng bầu dục, cũng như các nghề khác, là một phương thế Thiên
Chúa dùng để đưa các tôi trung của Người vào trái tim, khối óc
và tâm hồn của tha nhân. Gerry Faust sẽ phải kinh nghiệm cuộc
thương khó và phục sinh của chính mình.
Nghề nghiệp của Gerry là phải chiến thắng và chỉ có chiến thắng.
Thực vậy, cha viện trưởng đại học đã tuyên bố mạnh mẽ: “Này Gerry,
anh không được lơ mơ ở Notre Dame đâu nhé! Thắng phải nhiều hơn
thua. Có thế tôi mới để anh giữ công việc này mãi mãi.”
Gerry đến kính viếng hang đá Đức Mẹ hằng ngày như lời đã hứa.
Có người nhận thấy và thậm chí còn chế giễu Gerry mỗi khi Đức
Mẹ “quên” giúp huấn luyện viên của Mẹ chiến thắng. (Lòng sùng
kính Đức Mẹ của Gerry không phải mới mẻ gì. Anh đã cầu nguyện
với Đức Mẹ từ tám năm trời nay. Anh xin Chúa ban cho anh người
vợ lý tưởng, và Chúa đã nhậm lời: tên cô ấy là Marlene). Vào một
dịp khác, tại hang đá, Gerry nhìn thấy một nữ sinh viên dễ thương
đang khóc thảm thiết vì nhớ nhà. Sau khi biết cô này cùng quê
với một cầu thủ của mình, Gerry giới thiệu hai người với nhau.
Sau này, Gerry nhớ lại và nói: “Có người bảo tôi như thế là xen
vào đời tư của các cầu thủ. Nhưng tôi không nghĩ như thế: tôi
thấy một người cần được giúp đỡ, và tôi giúp đỡ, thế thôi.” (Thế
mà được việc, hai người ấy đã nên vợ thành chồng, và bốn đứa trẻ
kháu khỉnh đã ra đời). Rồi một lần khác, Gerry thắp một cây nến
đặc biệt để cầu nguyện cho một cầu thủ của trung học tại Cincinnati
đang bị hôn mê. Ba tuần lễ sau, Gerry được cha mẹ cầu thủ ấy báo
cho biết con họ đã tỉnh lại. Điều đáng mừng nhất là khi vừa tỉnh
lại, những lời đầu tiên cầu thủ ấy đã thốt lên là: “Ba má, con
yêu ba má.” Gerry nhận định: “Tôi nghĩ, cuộc sống và gia đình
cốt yếu là như thế. Gắn bó bên nhau, khi vui cũng như lúc buồn.
Lúc nào cũng có nhau.” Gerry vẫn đi lại thân thiết với cầu thủ
trẻ tuổi ấy và gia đình của anh ta suốt mười sáu năm nay.
Trong một mức độ nào đó, Gerry Faust cũng có đôi chỗ khác thường.
Đó không phải là chuyện kính viếng hang đá Đức Mẹ, cũng chẳng
phải là việc tận tâm giúp đỡ cả những người xa lạ, nhưng chính
là thái độ khiêm tốn lạ thường so với những người ở cùng một địa
vị như anh. Một ngày kia, Gerry bị ông giám đốc kỹ thuật nhẹ nhàng
trách cứ về chuyện đi dọn những chiếc khăn lau và ở lại sau cùng
để tắt các bóng điện. “Này Gerry, anh phải biết rằng anh là huấn
luyện viên đội bóng đại học Notre Dame chứ đâu phải là người giúp
việc. Anh phải bỏ cái việc đi dọn khăn lau và tắt bóng điện đi.”
Về sau, Gerry đã nhớ lại: “Chẳng có ai sợ Gerry Faust này cả,
và điều đó đã làm cho tôi - trong tư cách huấn luyện viên đại
học – cảm thấy khổ sở.”
Trong thời gian năm năm trời, Gerry đã trải qua những thăng trầm
trong cái nghiệp làm huấn luyện viên đại học. Anh thắng nhiều
hơn thua. Anh đã chiếm được lòng quí mến của nhiều cầu thủ, sinh
viên, nhân viên và các cựu sinh viên. Nhưng rốt cuộc, Gerry Faust
vẫn không thể đem lại chiếc cúp vô địch toàn quốc cho đại học
Notre Dame. Art Decio, một thành viên trong hội đồng quản trị
đại học, đã nói lên tâm tư của nhiều người: “Tại sao người ta
lại cho rằng Gerry Faust, với những giá trị của anh ấy, đã không
đem lại gì cho Notre Dame? Anh ấy đã đem lại rất nhiều.” Lời khen
tặng dành cho Gerry của Decio không phải là trường hợp cá biệt.
Huấn luyện viên trưởng đội bóng đá đại học Nebraska là Tom Osborn
cũng biểu lộ sự thán phục trước tư cách Kitô giáo trong thi đấu
nơi con người của Gerry. Nhà báo Ann Landers nổi tiếng đã viết
cho Gerry: “Anh đã sống như một con người cao thượng, tôn trọng
những tiêu chuẩn, không bao giờ than phiền, không bao giờ kêu
ca, không bao giờ trốn trách nhiệm, và thái độ của anh luôn đem
vinh dự về cho đại học Notre Dame. Trong quyển sách của tôi, anh
là con người của chiến thắng.” Diễn viên Martin Sheen cũng tán
thành những ý tưởng ấy: “Khi thất bại, Gerry đã thể hiện một tư
cách can trường và mạnh mẽ hơn bất cứ huấn luyện viên nào khác
đã từng chứng tỏ mỗi khi họ chiến thắng.”
Có lẽ những lời khen tặng tốt đẹp nhất dành cho Gerry xuất phát
từ những người thuộc quyền của anh. Rusty Lisch, cựu hậu vệ của
đội bóng chày Notre Dame đã viết: “Tình yêu của Gerry đối với
Thiên Chúa, lòng sùng kính của anh đối với Đức Mẹ Maria vẫn không
nhạt nhòa khi Người ban cho anh những thánh giá (dưới bất cứ hình
thức nào), chúng sẽ trở nên cơ hội để đưa anh đến gần Thiên Chúa
và đời sống đau khổ của Người hơn.” Wally Kleine, hậu vệ của đội
bóng, đã viết: “Dựa vào thành tích thắng bại để xác định tài năng
các huấn luyện viên là điều không chính xác, tuy chúng tôi không
thích bảng thành tích của Gerry, nhưng anh vẫn là con người của
chiến thắng 100%. Tôi vẫn luôn tự hào và sung sướng vì được sống
bốn năm với Gerry. Tôi cảm thấy may mắn không những vì Gerry là
huấn luyện viên của tôi, mà còn là người bạn của tôi mãi mãi.
Tôi quí yêu anh.”
Chỉ trong vòng một tuần sau khi từ chức, Gerry đã nhận được tám
đề nghị mời làm việc từ các đại học khắp nước, và điều ấy nói
lên thái độ yêu kính của mọi người dành cho một người chưa từng
đem lại chiếc cúp vô địch toàn quốc cho đội bóng đại học Notre
Dame. Nhưng cuối cùng, Gerry đã đồng ý làm việc cho đại học Akron,
bang Ohio. Tại đó, Gerry sẽ bắt tay vào công việc khó khăn là
nâng cao chương trình huấn luyện còn thấp của họ.
Dù đã rời viện đại học tôn kính Mẹ Thiên Chúa, nhưng Gerry vẫn
không rời Đức Mẹ. Anh đã hành hương đến hai trung tâm Thánh Mẫu
nổi tiếng là Lộ đức và Fatima để tiếp tục củng cố mối tương giao
mật thiết với Đức Mẹ. Trong cuộc hành hương của Gerry, những thực
tại quan trọng đích thực trong cuộc sống của anh đã lên đến đỉnh
cao. Tại Lộ đức, Gerry đã gặp một người sắp chết vì ung thư. Khi
Gerry ngỏ ý ước gì một phép lạ chữa lành xảy ra cho bệnh nhân
ấy, thì ông ta mỉm cười và chỉ vào đám trẻ ngồi trên xe lăn: “Giả
như phép lạ có xảy ra, ước gì hãy xảy ra với một trong số những
em nhỏ ấy. Cuộc đời của chúng còn dài.”
Bảng thành tích của huấn luyện viên Gerry Faust được bắt đầu từ
trước khi anh đưa đội bóng của trung học Moeller đến với nhiều
chiếc cúp vô địch toàn quốc, từ trước khi anh thực hiện cú đột
phá, làm huấn luyện viên cho đội bóng đại học nổi tiếng khắp nước,
và làm khách hành hương kính viếng các trung tâm Thánh Mẫu lừng
danh nhất thế giới. Di sản của Gerry bắt đầu được lưu giữ trong
đời sống cầu nguyện của anh, trong thánh lễ hằng ngày và trong
những tràng chuỗi Mân Côi. Lòng sùng kính không phôi pha của Gerry
đối với Đức Mẹ Maria đã đưa anh đến với Marlene, người bạn đời
của anh, đến với đại học Notre Dame, và đến với hàng trăm tâm
hồn mà anh đã cảm hóa được trong cuộc hành trình đức tin của mình.
Từ đau buồn đến niềm vui, từ thương khó đến phục sinh, Gerry Faust
sẽ kể cho bạn biết Thiên Chúa đã ở bên cạnh anh ấy trên từng bước
đường cuộc đời.
Một vài ngày sau khi kết thúc sự nghiệp bóng chày của mình tại
Akron, bang Ohio, Gerry Faust đã đến tham dự thánh lễ buổi sáng.
Khi kết lễ, cha Yahner, vị linh mục chủ tế, đã tự phát nói với
cộng đoàn: “Xin cảm ơn Gerry Faust. Anh có thể xa rời sân bóng,
nhưng không bao giờ xa rời bàn tiệc của Chúa.” Vào lúc ấy, tôi,
tác giả quyển sách này, cùng với mọi người hiện diện, đã đứng
lên và vỗ tay chúc mừng con người đã được Regis Philbin ca ngợi:
“Gerry Faust sẽ cho bạn biết rằng anh ấy có thể không phải là
huấn luyện viên thích hợp cho đại học Notre Dame, nhưng anh ấy
là một con người xứng đáng. Và quả đúng như thế.”
|