| |
Chuyền
ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
|
|
Phần
III: Thanh Tẩy
CHƯƠNG
MƯỜI HAI: LÊN TRỜI
I.
Gương Thánh Nhân
Quyển
Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa Nơi Linh Hồn Tôi
Thánh nữ Helena Kowalska chào đời tại Lodz, Ba lan, ngày 25 tháng
8 năm 1905. Helena nổi bật về đời sống cầu nguyện sốt sắng, vâng
lời cha mẹ và yêu thương người nghèo. Lòng mến Chúa đã đưa chị
đến với hội dòng Đức Mẹ Nhân Lành. Vừa hai mươi mốt tuổi, Helena
được mặc áo dòng và đổi tên là nữ tu Faustina bí tích Thánh Thể.
Trong thời gian năm năm sau đó, nữ tu Faustina tham gia các công
tác tay chân trong dòng, và nài xin Chúa Giêsu ban cho chị cơ
hội để hiến thân cứu vớt các linh hồn tội lỗi.
Ngày 22 tháng 2 năm 1931, chị Faustina đã được thị kiến Chúa Giêsu,
và Chúa phán với chị:
Hãy vẽ một bức hình theo như mẫu con nhìn thấy, với hàng chữ:
“Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.” Cha ước mong bức hình
này được tôn kính, trước là trong nhà nguyện của các con và [sau
đó là] khắp thế giới.
Cha hứa rằng linh hồn nào tôn kính bức hình này sẽ không bị hư
mất. Cha cũng hứa cho họ vinh thắng những kẻ thù ngay trên thế
gian này, nhất là trong giờ lâm tử. Chính Cha sẽ bảo vệ họ như
vinh quang riêng của Cha.
Nữ tu Faustina hết sức hốt hoảng nên lập tức kể lại cho cha giải
tội kinh nghiệm ấy, nhưng ngài bảo chị: “Điều ấy chỉ về linh hồn
chị. Chắc chắn chị hãy vẽ hình ảnh Chúa vào linh hồn chị.”
Sau
khi ra khỏi tòa giải tội, chị Faustina đã được nghe Chúa phán
những lời sau đây:
Hình
ảnh của Cha đã có trong linh hồn con rồi. Cha ước ao có một lễ
kính thờ Lòng Thương Xót của Cha. Cha muốn bức hình này, bức hình
được con vẽ bằng một cây cọ, sẽ được làm phép trọng thể vào Chúa
Nhật đầu tiên sau lễ Phục Sinh; Chúa Nhật đó sẽ là ngày lễ kính
Lòng Thương Xót của Cha.
Nữ tu Faustina phải đương đầu với hai vấn đề. Thứ nhất, hồi đó
chị không thể nhấc điện thoại và trực tiếp báo cho Đức Giáo Hoàng
biết Chúa đã truyền một mệnh lệnh như thế. Thứ hai, chị lại không
biết vẽ! Thế là chị Faustina đến gặp mẹ bề trên và nhận được lời
này: “Để xem Chúa Giêsu có ban cho chị một dấu chỉ nào giúp đỡ
chúng tôi nhận ra Người rõ ràng hơn đã.” Bây giờ chúng ta dễ dàng
trách cứ các vị thẩm quyền sao lại chậm tin lời Chúa truyền. Tuy
nhiên, các vị phải cẩn trọng khi nghe cho một câu truyện lạ lùng
như thế.
Cảm thấy cùng đường, chị Faustina đã van xin cha giải tội miễn
chước cho chị khỏi những trách vụ như thế, nhưng ngài không đồng
ý. Hơn nữa, ngài còn khuyên chị nên tìm một cha linh hướng. Cuối
cùng, chị Faustina đã đến với linh mục Sopocko, và vị linh mục
này yêu cầu chị ghi lại tất cả những cuộc trao đổi nội tâm và
thị kiến của chị vào một quyển Nhật Ký. Ngài cũng giúp chị tìm
một họa sĩ vẽ bức hình Chúa Thương Xót. Cha Sopocko đã kể về chị
thánh Faustina trong những giờ phút trước khi chị qua đời như
sau: “Chị ấy giống như một hữu thể siêu phàm. Vào lúc ấy, tôi
không hoài nghi gì nữa, điều chị đã viết trong quyển Nhật Ký rằng
chị đã được một vị thiên thần cho hiệp lễ là điều hoàn toàn xác
thực.”
Chị thánh Faustina đã ghi lại những lần chị được tiếp xúc với
Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, và thiên thần bản mệnh trong khoảng
thời gian bảy năm trời. Chị còn mô tả những đau khổ chị phải chịu
vì các linh hồn, điều này đã được mẹ bề trên và cha giải tội của
chị chứng thực. Và quan trọng nhất là chị thánh đã cung cấp cho
các độc giả tương lai cách thức đọc chuỗi kinh Lòng Thương Xót
Chúa như Chúa đã truyền cho chị.
Mối liên hệ giữa nữ tu Faustina với lòng thương xót Chúa còn đem
đến cho chị hàng trăm cuộc giao tiếp thần bí khác. Một hôm, một
linh hồn luyện ngục đã hiện đến và xin chị nữ tu thánh thiện cầu
nguyện. Sau khi chị Faustina kêu cầu lòng thương xót Chúa, linh
hồn ấy đã hiện đến và cảm ơn sự cầu bầu của chị.
Chúa Giêsu cho chị Faustina biết rằng trước khi Người trở lại
với tư cách thẩm phán trong ngày chung thẩm, Người sẽ đến như
một đức vua nhân lành. Và Chúa tiên báo về ngày cuối cùng:
Thánh
Giá sẽ xuất hiện trên bầu trời, và từ những vết thương mở ra trên
tay và chân Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh sẽ phát ra những tia sáng
chiếu giãi cho thế giới trong một thời gian. Điều ấy sẽ xảy ra
không bao lâu trước ngày sau hết.
Các
thị kiến
Thánh nữ Faustina đã ghi lại nhiều thị kiến, trong đó có những
thị kiến đáng chúng ta phải lưu tâm. Chị đã nhìn thấy Chúa Kitô
chịu đóng đinh trên thập giá, đầu đội mão gai, mình bê bết máu
và giàn giụa trong nước mắt. Chị thánh cũng nhìn thấy quỉ dữ căm
hận nguyền rủa vì chị đã tận hiến cho Thiên Chúa. Chị còn thấy
một thiên thần sắp sửa đánh phạt thế giới vì nhân loại đã xúc
phạm và chống lại Thiên Chúa, nhưng thiên thần ấy đã bị lòng thương
xót của Chúa cản lại. Thánh nữ đã mạnh dạn nài xin Chúa Giêsu
khoan dung cho vô vàn tội lỗi và đừng trừng phạt những người có
trách nhiệm. Chúa đã trả lời như sau:
Cha
có cả đời đời để trừng phạt, và vì thế, Cha đang kéo dài thời
gian của lòng thương xót đối với các tội nhân.
Nhưng Chúa cũng cảnh báo:
Khốn
cho kẻ nào không nhận ra thời giờ Cha thăm viếng.
Thánh nữ Faustina còn phải trải qua hỏa ngục. Chị thánh đã chịu
một hỏa ngục ngay ở đời này, vì một số chị em trong dòng tỏ ra
ganh ghét và tố cáo chị là thứ “thị nhân điên khùng.” Một nữ tu
nọ đã mắng thẳng vào mặt thánh nữ: “Này chị kia, vứt ngay ra khỏi
đầu óc của chị, Chúa Giêsu lại đi kết thân với phường khốn nạn
bất toàn như chị à!”
Nhưng,
hỏa ngục đích thực mới là thực sự kinh hãi. Trong một thị kiến
rùng rợn, thánh nữ Faustina đã được một thiên thần dẫn xuống tận
đáy hỏa ngục, nơi các tội nhân đang chịu cực hình khủng khiếp
vì biết rằng họ sẽ không bao giờ được nhìn thấy Thiên Chúa. Đó
là nơi tăm tối triền miên, hôi thối ngột ngạt, đầy nước mắt thất
vọng; những cực hình giác quan và những khổ đau hãi hùng đến nỗi
chị thánh Faustina phải viết ra rằng: “Nếu như quyền toàn năng
Thiên Chúa không nâng đỡ tôi, có lẽ tôi đã chết ngay khi vừa nhìn
thấy cực hình ấy.”
Có hai điểm đáng chúng ta lưu ý ở đây. Thánh nữ Faustina cho biết
hầu hết các linh hồn hư mất là những người khi còn tại thế đã
nhạo cười khi nhắc đến hỏa ngục. Chị còn nói nhiều linh hồn trong
hỏa ngục là những người khi còn sống trên trần gian đã được tưởng
thưởng và tán dương.
Trong Phúc Âm thánh Luca, Chúa Giêsu kể dụ ngôn về một người giàu
có xin được trở về trần gian để cảnh cáo các anh em về thực tại
hỏa ngục là nơi ông chịu giam cầm (x. Lc 16:19-31). Trong dụ ngôn
ấy, tổ phụ Abraham đã trả lời người nhà giàu: “Chúng đã có Moses
và các tiên tri; chúng hãy nghe lời họ.” Nhưng người nhà giàu
vẫn nài nẵn: “Không đâu, thưa cha Abraham, nếu có ai từ cõi chết
trở về, chắc họ sẽ sám hối.” Abraham nói rằng: “Nếu như chúng
không nghe theo Moses và các tiên tri, thì người sống lại từ cõi
chết trở về chúng cũng chẳng nghe đâu.” “Người sống lại từ cõi
chết” mà tổ phụ Abraham nói đến chính là Chúa Giêsu, Đấng phục
sinh từ trong cõi chết, Đấng trong quá khứ và hiện nay vẫn thường
bị thế gian khước từ.
Trong tất cả các thị kiến của thánh nữ Faustina, quan trọng nhất
là chị đã được nhìn thấy Chúa Giêsu với những luồng sáng phát
xuất từ Thánh Tâm. Một họa sĩ đã vẽ bức hình theo lời mô tả của
chị thánh. Nhưng khi bức hình được hoàn thành, chị thánh đã khóc
thảm thiết vì nhận ra bàn tay nhân loại không diễn tả được vẻ
đẹp của Chúa Kitô nhân lành. Trong lúc chị Faustina đang khóc
lóc thì được nghe Chúa phán những lời này:
Sự cao quí của bức hình không hệ ở vẻ đẹp của màu sắc hoặc bút
vẽ, nhưng ở ân sủng của Cha.
Sau đó, khi được hỏi về ý nghĩa của hai luồng sáng trong bức hình,
chị Faustina đã thưa lại với Chúa Giêsu và được Người giải đáp:
Hai
luồng sáng chỉ Máu và Nước. Luồng sáng màu xanh nhạt tượng trưng
cho Nước, làm cho các linh hồn nên công chính. Luồng sáng màu
đỏ tượng trưng cho Máu, sự sống của các linh hồn.
Chúa
Giêsu còn phán:
Hai
luồng sáng này phát xuất từ chính thẳm sâu lòng thương xót hiền
từ của Cha khi Trái Tim đau thương của Cha chịu lưỡi đòng mở ra
trên thập giá.
Ngày
nay, bức hình Chúa Thương Xót với hàng chữ “Lạy Chúa Giêsu, con
tín thác nơi Chúa” được tôn kính khắp nơi và các tín hữu thường
xuyên đọc chuỗi kinh Chúa Thương Xót, chuỗi kinh đặc biệt Chúa
đã truyền dạy cho thánh nữ Faustina.
Nữ tu Faustina qua đời vào ngày 5 tháng 10 năm 1938, khi mới ba
mươi ba tuổi. Ngày 18 tháng 4 năm 1993, đức Gioan Phaolô II đã
tôn phong chị lên hàng chân phúc. Bảy năm sau, ngày 30 tháng 4
năm 2000, nữ tu Faustina trở thành người được đức Gioan Phaolô
II tôn phong lên hàng hiển thánh trước nhất trong thiên niên kỷ
III. Hôm ấy trùng vào Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa, như
lời chị thánh đã viết trong Nhật Ký ngày 5 tháng 11 năm 1934:
Chúa Giêsu muốn thiết lập lễ kính Lòng Thương Xót Chúa hằng năm
vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh. Thực vậy, đối với những linh hồn
có lòng sùng kính Lòng Thương Xót Chúa, cuộc về trời của họ sẽ
chẳng còn bao xa nữa.
II.
Suy Niệm
“Lạy Chúa, xin xót thương con là kẻ có tội”
Lời kêu cầu này có nguồn gốc từ Phúc Âm (Lc 18:13), trong dụ ngôn
Chúa Giêsu kể về người biệt phái và người thu thuế cùng vào Đền
Thờ cầu nguyện. Người biệt phái đứng vào chỗ danh dự rồi lớn tiếng
cầu nguyện: “Lạy Chúa, tôi xin cảm tạ Chúa vì tôi không giống
như những người khác, những kẻ gian tham, bất lương, ngoại tình,
hay là như tên thu thuế kia.” Người thu thuế thì đứng xa xa, không
dám ngước mặt lên, nhưng đấm ngực và cầu xin Thiên Chúa thương
xót. Trước khi dứt lời, Chúa Giêsu đã kết luận: “Ai nâng mình
lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.”
Để
biết chắc mình thuộc vào hạng người nào, bạn nên kiểm xét lương
tâm, thành thực xét lại những gì bạn đã làm và những gì bạn đã
không làm, rồi so sánh cuộc sống của bạn với những qui luật của
trời cao, vẫn thường được gọi là Mười Điều Răn.
Điều
thứ nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên
hết mọi sự.
Bạn có dành cho Thiên Chúa thời gian như Người đòi buộc không?
Bạn có cầu nguyện không? Bạn có dâng ngày cho Chúa không? Bạn
có đọc lịch sử thánh của Người không? Bạn có biết các vị thánh
của Người không? Bạn có tìm hiểu các giáo huấn của Giáo Hội không?
Bạn có vướng mắc vào thói thờ lạy các tà thần, chẳng hạn như tiền
bạc, hư danh, tình dục, hoặc của cải không? Bạn có tin ma thờ
quấy, mê tín dị đoan không?
Điều
thứ hai: Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.
Bạn có lấy danh Chúa mà thề thốt bừa bãi đang lúc nóng giận không?
Bạn có lỗi lời khấn với Thiên Chúa không? Bạn có khi nào trách
móc Thiên Chúa, kêu ca phẫn uất về hoàn cảnh của bạn không?
Điều
thứ ba: Giữ luật Chúa Nhật.
Bạn có tham dự thánh lễ Chúa Nhật không? Bạn có chú ý đến các
bài đọc, bài giảng và các nghi thức trong thánh lễ không? Vào
Chúa Nhật, bạn có dành thời giờ cho Thiên Chúa không?
Điều
thứ bốn: Thảo kính cha mẹ.
Bạn có vâng lời cha mẹ không? Bạn có biết ơn về tất cả những gì
các ngài đã vất vả vì bạn và vì gia đình không? Bạn có sẵn lòng
giúp đỡ khi các ngài yêu cầu không? Bạn có chu toàn phận vụ của
bạn trong gia đình không? Bạn có góp phần tạo lập mối hợp nhất
gia đình không?
Điều
thứ năm: Chớ giết người.
Bạn nghĩ rằng giới răn này không có gì khó khăn, nhưng bạn có
bao giờ làm hại phần xác của ai không? Bạn có bao giờ trốn tránh
việc tranh đấu vì “sự thánh thiêng” của sự sống, tệ hơn nữa, lại
còn ủng hộ việc phá thai hoặc cái chết êm dịu không? Bạn có khi
nào chè chén say sưa hoặc sử dụng ma túy là hai tác nhân gây hại
cho thân xác và linh hồn không? Bạn có nuôi lòng căm hận, giận
ghét, báo thù hoặc ước ao điều độc dữ cho ai không? Bạn có trốn
tránh việc trở nên “một người xây dựng hòa bình” cho Thiên Chúa
không?
Điều
thứ sáu: Chớ làm sự tà dâm.
Bạn có thực hiện hành vi tính dục sai trái không? Bạn có tìm thỏa
mãn tính dục qua phim ảnh, sách báo, tạp chí khiêu dâm không?
Bạn có nói năng một cách thích thú về những chuyện bù khú tục
tĩu không? Bạn có thực hiện hành vi đồng tính luyến ái không?
Bạn có lạm dục tính dục người khác hoặc xúi giục họ thực hiện
lối sống vô luân hay không?
Điều
thứ bảy: Chớ lấy của người.
Bạn có gian lận trong thi cử không? Bạn có ăn cắp của gia đình,
bạn bè hoặc người lạ không? Bạn có chu toàn phận sự tại nơi làm
việc, tại trường học, tại sân vận động không? Bạn có tôn trọng
những gì thuộc sở hữu của người khác không? Bạn có trung thành
với những trách vụ của mình không? Bạn có bố thí cho những người
nghèo không?
Điều
thứ tám: Chớ làm chứng dối.
Bạn có dối trá không? Bạn có nói hành hoặc vu vạ cáo gian người
khác không? Bạn có làm mất thanh danh của những người bạn không
ưa không? Bạn có xúc phạm đến chủng tộc, màu da hoặc tôn giáo
của người khác không? Bạn có vì sợ hãi hoặc sợ bị trù dập mà che
đậy sự thật không? Bạn có hấp tấp kết án mà không cho đương sự
cơ hội bào chữa không? Bạn có biện minh cho lối sống vô luân hay
không?
Điều
thứ chín: Chớ muốn vợ chồng người.
Bạn có bao giờ chiều theo ước muốn bè bạn mà thất trung với gia
đình không? Bạn có cổ võ lối sống thất trung trong bậc gia đình
không? Bạn có lợi dụng những bất đồng trong gia đình để mưu lợi
cá nhân không? Bạn có dùng ngôn ngữ hoặc trang phục bất xứng để
hậu thuẫn hoặc dung túng những sai phạm về luân lý trong đời sống
gia đình mà bạn đã thấy trên truyền hình không?
Điều
thứ mười: Chớ tham của người.
Bạn có hợm mình với bè bạn hoặc người chung quanh trong lãnh vực
tiền của, cách ăn mặc, hoặc nơi cư ngụ không? Bạn có ganh ghét
người này người nọ vì họ xinh đẹp hấp dẫn không? Bạn có chia sẻ
với những người kém may mắn hơn mình không? Mỗi Chúa Nhật bạn
có nhớ dâng cúng vào nhà thờ không? Bạn có bận tâm đến việc tạo
ảnh hưởng hoặc mưu lợi quá đáng không? Bạn có mong cho người này
người kia mất công việc, chức vụ hoặc tiền của không?
Chúa Giêsu đã từng phán: “Của cải ngươi ở đâu thì lòng ngươi ở
đó” (Mt 6:21). Bạn hãy tìm kiếm kho tàng đích thực nơi Lòng Thương
Xót Chúa. Chỉ có Chúa Giêsu, qua Chúa Thánh Thần, mới có thể ban
ân sủng cần thiết giúp bạn vượt thắng những cơn cám dỗ tội lỗi.
“Phúc
cho ai có lòng xót thương, vì Nước Trời là của họ.”
Đây là một trong tám mối phúc thật Chúa Kitô đã dạy. Một phương
cách để đáp lại ơn Chúa là hãy vâng giữ lời Người truyền mà cầu
nguyện cho các linh hồn đang cần đến những ân sủng đặc biệt. Trong
tuần cửu nhật kính Lòng Thương Xót Chúa, Chúa Giêsu đã dạy thánh
nữ Faustina cầu nguyện cho nhiều loại linh hồn: ngày thứ nhất,
cầu cho toàn thể các linh hồn; ngày thứ hai, cầu cho các linh
mục và tu sĩ, những người có trách nhiệm rao giảng Phúc Âm; ngày
thứ ba, cầu cho những người chê chối giáo huấn Chúa Kitô và Giáo
Hội; ngày thứ tư, cầu cho những người chưa nhận biết Chúa Kitô
và Giáo Hội của Người; ngày thứ năm, cầu cho những linh hồn không
vâng giữ giáo huấn Chúa Kitô và Giáo Hội; ngày thứ sáu, cầu cho
những linh hồn hiền lành và khiêm nhượng, nhất là các trẻ em;
ngày thứ bảy, cầu cho các linh hồn biết sùng kính Lòng Thương
Xót Chúa; ngày thứ tám, cầu cho các linh hồn luyện ngục đang khao
khát được về trời; và cuối cùng, ngày thứ chín, cầu cho các linh
hồn nguội lạnh trong đời sống đức tin và đức ái.
Nếu muốn tìm được Lòng Thương Xót Chúa, bạn hãy thụ lãnh các bí
tích, hãy nhớ đến tha nhân trong lời cầu nguyện của bạn, và bạn
sẽ trở nên vững vàng hơn trong con đường đến cùng Thiên Chúa.
III.
Chứng Nhân Thời Đại
Thánh Giá
Joseph
Krupp là đứa út của một gia đình sáu mặt con. Có một thời Krupp
còn là “em cưng” của những “nghĩa huynh” thi thoảng đến trọ tại
gia đình. Một trong những nghĩa huynh ấy tên là Abdul, một tín
đồ Hồi Giáo. Một ngày kia, khi sắp sửa từ giã gia đình Krupp để
đi nghỉ hè, Abdul đã nhìn thấy Krupp đang khóc. Abdul ẵm Krupp
lên và dỗ dành: “Cưng ơi, anh chỉ đi một thời gian ngắn. Rồi em
sẽ thấy, anh trở lại ngay thôi.” Krupp nhìn lên và mếu máo: “Trái
tim của em không hiểu như cái đầu của em.” Quả thật, đến hai mươi
lăm năm sau, tình thân thiết giữa hai người vẫn bền bỉ.
Cha mẹ của Krupp là những kiến trúc sư đã kiến tạo nếp sống cầu
nguyện cho gia đình đầm ấm của mình. Krupp còn nhớ tối nào gia
đình cũng quây quần bên nhau để đọc kinh chung. Mỗi thành viên
gia đình được phân công đọc Sách Thánh và chuyển quyển sách ấy
cho người kế tiếp. Khi mới năm tuổi, Krupp đã được chia phiên
đọc Thánh Kinh. Tuy đọc chưa rõ ràng, nhưng Krupp chẳng bị một
ai trách cứ. Thiên Chúa cũng không buồn vì Krupp chưa thể mở được
quyển Thánh Kinh lớn và chỉ chia sẻ được chừng nửa phút đồng hồ.
Cha mẹ của Krupp thuộc nhóm năm mươi phụ huynh trong giáo xứ cam
kết giữ đời sống cầu nguyện. Tại nhà thờ, con cái của những gia
đình này làm nên thành phần chủ yếu trong hội giúp lễ và ca đoàn.
Những ông bố lo đảm trách các phần việc nhà thờ. Các bà mẹ lo
giữ trật tự tại các lớp giáo lý. Những gia đình này nêu gương
sáng về tinh thần liên đới của cộng đồng.
Khi vừa lớn lên, Krupp đã biết nhiều người trong thị trấn đàm
tiếu rằng nhóm gia đình cầu nguyện là mê tín dị đoan. Ở trường,
Krupp và các trẻ thuộc nhóm gia đình cầu nguyện cảm thấy rất khổ
sở vì “dị biệt” với chúng bạn. Thật khó chịu khi nghe các thầy
cô mỉa mai về những gia đình “mê tín” và những đứa trẻ “bị tẩy
não.” Krupp không hiểu nổi vì sao các thầy cô lại làm ngơ cho
những đứa trẻ dùng bút màu nhà trường để vẽ bậy bạ lên người của
chúng, trong khi họ lại nghi kị nó và những người bạn sống đức
tin nghiêm chỉnh của nó.
Cha sở cũ được lệnh thuyên chuyển, và một linh mục khác được ủy
thác nhiệm vụ coi sóc cộng đồng giáo xứ. Cuộc chiến đấu để sống
đức tin giờ đây đã vượt khỏi phạm vi lớp học và lan đến tận nhà
thờ. Cha sở mới tuyên bố toàn thể cộng đồng giáo xứ phải tùng
phục quyền lãnh đạo của ngài, và trách mắng tất cả những ai sống
đạo theo chiều hướng đoàn sủng. Gia đình Krupp và tất cả các gia
đình trong nhóm cầu nguyện bị cấm tham gia vào các chức vụ giáo
xứ. Gia đình Krupp giờ đây đang sống mối phúc thật thứ tám: “Phúc
cho các con khi người ta ganh ghét, bách hại và đặt điều nói xấu
đủ thứ về các con vì Thầy. Các con hãy vui mừng và hân hoan, vì
phần thưởng của các con ở trên trời sẽ trọng hậu” (Mt 5:11-12).
Cuộc bách hại bao gồm đủ điều: mỗi khi đi ngang qua nhà Krupp,
nhiều người đã mắng nhiếc, ném lon bia vào sân, và chế nhạo bà
Martha, mẹ của Krupp. Người ta còn xầm xì với nhau rằng bà là
một phù thủy. Lúc ấy, Krupp và gia đình đành phải rời bỏ giáo
xứ mà họ đã góp phần xây đắp. Krupp cắn răng chịu đựng tất cả,
tuy nhiên, cậu tâm niệm một điều: cậu yêu mến Thiên Chúa và Thiên
Chúa yêu thương cậu.
Ơn
gọi
Ngày 10 tháng 4 năm 1977, Krupp đến phiên đọc Thánh Kinh trong
gia đình. Cậu bé bảy tuổi mở sách ra và lần ngón tay đến trình
thuật Phúc Âm thánh Gioan 6:10: “Ở đây có một đứa trẻ có năm chiếc
bánh lúa mạch và hai con cá; nhưng bằng đó thì thấm vào đâu với
ngần ấy người?” Khi Krupp đọc đoạn Phúc Âm viết về đứa trẻ kia,
thì hạt mầm ơn gọi đã được gieo vào tâm hồn của cậu. Bà mẹ của
Krupp đã nhận ra con trai của bà có ơn thiên triệu linh mục.
Vì từng bị phân biệt đối xử chỉ vì sống cầu nguyện, Krupp cảm
thấy thật khó khăn trong việc tích cực theo đuổi ơn gọi, nhưng
lập trường của cậu thật dứt khoát: “Tôi yêu mến Chúa Giêsu và
muốn trở nên một linh mục của Người.”
Trong kỳ đại hội toàn quốc của phong trào Canh Tân Đoàn Sủng được
tổ chức tại Indiannapolis, Indiana, ơn gọi linh mục càng trở nên
rõ rệt hơn nữa đối với Krupp. Đức giám mục địa phận mời tất cả
các bạn trẻ hiện diện trong đại hội đang nuôi lý tưởng linh mục
hãy bước lên bàn thờ. Krupp vẫn ngồi bất động, bỗng một thanh
niên nhìn cậu, vỗ vai và nói: “Lên nào.” Krupp đã bước lên và
không bao giờ nhìn lại phía sau. Đức giám mục đã gặp Krupp và
nói: “Hỡi con, từ lâu con đã tránh né việc này. Con hãy quyết
định đi. Con hãy thưa Xin Vâng hoặc từ chối Thiên Chúa. Thiên
Chúa chỉ có thể hoạt động với một lựa chọn duy nhất của con mà
thôi. Cả hai thì không được.” Lúc đó, Thiên Chúa đã lên tiếng
và Krupp đã đáp lại lời mời gọi của Người.
Đức
Mẹ
“Một
mình Chúa Giêsu đã đủ cho tôi rồi!” Câu nói ấy đã nói lên thực
trạng vì sao Mẹ Maria vẫn chưa có một vai trò quan trọng nào trong
đời sống của người chủng sinh trẻ tuổi. Đối với thầy Krupp, việc
đến với Thiên Chúa quá dễ dàng, tại sao lại mất thời giờ để đi
qua một trung gian nữa. Thế nhưng một kinh nghiệm tại Denver đã
thay đổi cách nhận thức và cả tình yêu của thầy đối với Mẹ Thiên
Chúa.
Hôm ấy, thầy Krupp và các bạn trẻ đang tản bộ tại công viên Cherry
Creek. Trời rất lạnh. Thầy Krupp phải cố gắng để khỏi run cầm
cập. Khi mọi người đang đi lại, thì người nhóm trưởng bắt chuyện
với thầy Krupp về đề tài Đức Mẹ. Sau một hồi trò chuyện, người
nhóm trưởng hỏi: “Thầy không nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta cầu
nguyện với Đức Mẹ hay sao?” Thầy Krupp vẫn chưa đồng ý. Ngay lúc
ấy, một thiếu nữ đi đến và nói với thầy Krupp: “Xin thầy cầu nguyện
cho em. Em nghĩ rằng Đức Mẹ đang có điều gì đó muốn nói với em.”
Lời thỉnh cầu của thiếu nữ ấy khiến thầy Krupp giật mình, thầy
chắp tay và cầu nguyện với những người hiện diện: “Lạy Mẹ Maria,
trước đây, con chưa bao giờ thưa chuyện với Mẹ. Con xin lỗi Mẹ
thật nhiều. Xin Mẹ hãy thực hiện nơi con điều Mẹ muốn.”
Lời cầu của thầy Krupp tất cả chỉ có thế, nhưng điều Đức Mẹ sắp
sửa thực hiện đã mãi mãi làm thay đổi tâm hồn thầy. Trong lúc
cả nhóm đang cầu nguyện, một bạn trẻ đã xướng lên: “Lạy Mẹ Maria,
xin Mẹ hãy lấy áo choàng của Mẹ mà bao phủ chúng con.” Thầy Krupp
bỗng nhiên cảm thấy một sự ấm áp lạ thường. Dường như có ai đó
đang ấp ủ thầy bằng sức ấm bừng cháy của một lò lửa tình yêu.
Thầy Krupp đã nấc lên như một đứa trẻ đã khóc vì cảm thấy được
mẹ yêu thương. Người chủng sinh trẻ đang khóc. Mọi người đã hiểu
ra.
Một sự kiện khác cũng đã đưa thầy Krupp đến gần Mẹ Maria, chuyện
này có liên quan đến bà nội của thầy. Thầy Krupp nhớ bà nội của
thầy thường lần chuỗi Mân Côi. Một ngày nọ, khi làm việc tại bệnh
viện, thầy Krupp lên khu chăm sóc đặc biệt để thăm một bệnh nhân
được mọi người thân mật gọi là cô Elizabeth. Người phụ nữ hiền
hậu này lúc nào cũng mân mê cỗ chuỗi Mân Côi. Mặc dù chưa bao
giờ đề cập về bà nội mình với cô Elizabeth, nhưng thầy Krupp không
thể không nhận thấy người phụ nữ này cũng có một cỗ chuỗi giống
hệt cỗ chuỗi của bà nội. Một ngày kia, thầy Krupp đã nói ra điều
ấy với cô Elizabeth, và cô đột nhiên nói: “À này, bà nội của thầy
đang bệnh nặng đấy, hôm nay bà ấy sẽ về với Chúa. Thầy về nhà
nhanh đi.”
Nỗi lo lắng của thầy Krupp càng có cơ sở hơn nữa vì văn phòng
tuyên úy cho biết bà nội xin thầy về lập tức. Bà đang hấp hối.
Xe cộ đông đúc. Thời tiết tệ hại. Thầy Krupp biết chắc mình đã
trễ, và rốt cuộc, bà nội đã ra đi mười phút trước khi thầy về
đến nhà. Khi thầy Krupp quì lặng trước linh cữu bà nội để từ biệt,
mọi người trong gia đình đã kể lại những phút giây trước lúc bà
ra đi. Bà cụ đang hôn mê, nhưng khi nghe tiếng đàn bài “Ave Maria”
của người cháu gái, bà bỗng nhiên ngồi dậy và cùng với gia đình
đọc một kinh Kính Mừng. Vừa đến câu “cầu cho chúng con là kẻ có
tội khi nay và trong giờ lâm tử,” bà cụ nhắm mắt và êm ái từ trần.
Tình yêu Chúa Giêsu nơi thầy Krupp có phần giảm sút vì nỗi chán
chường. Thầy Krupp lý luận tại sao Thiên Chúa lại không nán thêm
được mười phút, do đó, thầy cũng chẳng muốn dành nhiều thời giờ
cho Người nữa. Thế rồi một thời gian sau đó, một chủng sinh bạn
đã khuyên thầy Krupp hãy coi Mẹ Maria như người đại diện của Chúa
Giêsu khẩn nài Lòng Thương Xót Thiên Chúa. Giờ đây, thầy Krupp
đã hiểu. Chúa Giêsu đã gửi Đức Maria, Mẹ Người đến….
Cuộc hành trình thiêng liêng của cha Krupp đã khởi đầu bằng tình
yêu Chúa Giêsu. Trên hành trình ấy, cha đã học biết yêu mến Mẹ
Maria, Hiền Mẫu Đấng Cứu Thế. Chúa Giêsu và Mẹ Maria hằng hướng
dẫn vị linh mục của các ngài vươn tiến.
|