Tiếng
nói muôn hoa
Hằng
năm cứ mỗi mùa Xuân đến, thì cây cỏ
đâm chồi nẩy lộc để trổ
lá đớm bông. Muôn mầu sắc của hoa
cùng với màu xanh tươi của lá, dệt
nên cho cảnh vật tháng Năm một bộ
mặt vui tươi đẹp mắt. Cha Trinh
Cát, khi nhắc về tháng Hoa Mẹ đã viết
trong cuốn "Hoa Hồng Thiêng" một tư
tưởng mà mỗi khi đọc lên, tâm hồn
người đọc đã dâng lên một niềm
cảm mến sâu xa tình Mẹ: "Tôi đi hái
hoa dâng Mẹ, và lòng tôi nở một mùa yêu đương
và hiểu biết".
Tháng
Hoa gợi cho ta những tình yêu nên thơ như
vậy, dạt dào như vật, nhưng đã
có từ đời nào trong Giáo Hội? Đó là
một thắc mắc của những người
con yêu mến Đức Mẹ. Họ đã nhiều
lần đắm đuối trong Tình Mẫu
Tử mỗi khi tháng Hoa về. Và với lòng nồng
nàn yêu mến, họ muốn vượt thời
gian, trở về những tháng Năm xa xưa
ấy, để tìm hiểu và tỏ lòng yêu mến
Mẹ.
Không
có tham vọng viết đầy đủ một
thiên khảo cứu tường tận về
nguồn gốc Tháng Hoa, chúng tôi chỉ muốn
cống hiến các bạn thân yêu ít giòng toán lược
đơn sơ về nguồn gốc và ý nghĩa
tháng Hoa Đức Mẹ.
Tháng
Hoa
Tập
quán phổ thông trong thế giới Công giáo dâng
tháng Năm cho Mẹ Đồng Trinh bắt nguồn
từ một tục lệ xa xưa của người
ngoại giáo. Tục lệ đó được
sửa đổi và Công giáo hóa do lòng nhiệt
thành của giáo dân. Từ xưa, người
Roma có lệ tổ chức những buổi hội
rước linh đình gọi là Floraia khi tháng
Năm bắt đầu, để kính nữ
thần Flore, mà họ xưng là "Nữ hoàng
Mùa Xuân". Để chống lại sự lạm
dụng những ngày huy hoàng, muôn hoa đua nở,
mà dân Roma dâng kính nữ thần đó, nhiều
nhân vật đạo đức Công giáo tìm cách
mặc cho nó một mầu sắc Công giáo. Ở
Evreux, người ta tổ chức những cuộc
rước long trọng gọi là cuộc rước
xanh: dâng chúng từng đoàn lũ nô nức đi
chặt cành cây xanh đầy hoa để trần
thiết đền thờ, nhất là những
đền dâng kính Mẹ Chúa Cứu Thế. Dần
dần, những cuộc lễ Floralia mất
hết vẻ sùng thượng để nhường
chỗ cho những cuộc rước xanh tưng
bừng biểu lộ lòng yêu mến Mẹ Đồng
Trinh Maria. Vua Alphongsô X đệ Castille, băng
hà năm 1284, dâng kính Mẹ một "Khúc hát
tháng Năm". Á thánh Henri Suso trang hoàng tượng
Đức Mẹ bằng muôn hoa khi tháng Năm
về. Đáng chú ý nhất là Thánh Philippê đệ
Nêri. Ngài đã rất sung sướng hội các
trẻ em lại chung quanh bàn thờ Mẹ để
dâng tâm hồn trong sạch cùng với những
đóa hoa Xuân mơn mởn cho Mẹ. Theo một
vài ý kiến, thì chính Đức Mẹ đã hiện
ra truyền cho Thánh nhân lập ra tháng Hoa dâng kính
Mẹ.
Từ
thế kỷ XVI trở đi, các Cha Dòng Tên đã
nhiệt liệt cổ võ mừng tháng này trong
các học đường các ngài chỉ huy. Ở
Paris, giáo hữu theo gương đó đã có
thói quen mừng một lễ trọng kính Mẹ
ngày mồng Một tháng Năm. Lòng sùng kính Mẹ
trong tháng Hoa bắt đầu phổ thông và có
nền tảng từ đó. Năm 1654, xuất
hiện một cuốn sách nhỏ của Cha Nadasi,
Dòng Tên, hô hào dâng cả tháng năm cho Mẹ. Rồi
từ đó, các Cha Dòng Tên thi nhau sáng tác các tác phẩm
về tháng Đức Mẹ. Trong số đó,
Cha Lalomia xuất bản một cuốn nhan đề
là: "Tháng Đức Mẹ dâng tiến những
vinh quang Mẹ cao sang Thiên Chúa." Cha Calvi đã
dạy các học sinh nhỏ của ngài cách dâng
tháng Năm mừng Mẹ và phát cho mỗi em một
cuốn sách nhỏ về vấn đề này.
Năm 1724, Cha Jacolet xuấn bản ở Dilligen,
nước Đức, một cuốn tháng Đức
Mẹ bằng tiếng La tinh. Cùng năm đó
ở Sicile, Cha Dionisi xuất bản một cuốn
khác bằng tiếng Ý. Nhưng người có
công lớn nhất là Cha Lalomia, vì ngài đã đem
những bài suy ngắm có tính cách thực hành và
đạo đức hằng ngày vào sách của
Ngài. Giáo dân hoan nghênh sáng kiến đó. Thế
nên, từ Ý, tác phẩm của Ngài đã lan sang
Pháp, Đức, rồi Bỉ. Đến đâu
cuốn sách cũng được hoan hô nhiệt
liệt, và lòng sùng kính Đức Mẹ trong tháng
Năm đã dâng lên ào ạt.
Dòng
Thánh Phanxicô cũng rất sốt sắng mừng
tháng Hoa này. Năm 1682, một tu sĩ Dòng đã
thu thập được ba mươi bài thơ
dâng kính Mẹ. Ở Naples, tháng Hoa được
tổ chức công khai trong nhà thờ Dòng Thánh Phanxicô.
Sáng hát lễ trọng thể và chiều có hát
những ca vãn rất sốt sắng dâng Mẹ
kèm thoe với Phép Lành Thánh Thể.
Năm
1815, Tòa Thánh ra sắc ban nhiều ân xá cho những
giáo hữu sốt sắng làm việc kính Đức
Mẹ trong tháng Hoa. Đời Đức Thánh
Cha Pio IX (1846-1878), tháng Hoa đã được
Ngài khuyến khích và ban phép mừng long trọng
ở Nhà Thờ Thánh Phêrô tại La mã.
Ngày
nay, tháng Hoa đã phổ cập khắp nơi
trong Giáo Hội và là một hình thức tôn sùng
được giáo dân yêu mến rất nhiều
vì tính cách đầy tứ thơ của nó.
Thật
vậy, nói tới hoa, là nói tới một kỳ
công của Thiên Chúa. Mầu sắc ủa hoa tươi
xinh, hương thơm lại càng ngào ngạt.
Ai đã có dịp tới những miền ôn đới,
như miền Oregon, Hoa kỳ, miền Normandie
nước Pháp, hay miền cao nguyên xứ lạnh
Đà lạt, Việt Nam, chắc đã được
thưởng thức hương sắc của
hoa.
Vì
thế, hoa chẳng những tô thắm vũ trụ
nên xinh tươi, còn vấn thu hút ong bướm,
nhoẻn cười với loài người. Bằng
một tiếng nói dịu huyền thiên nhiên, hoa
hòa lòng người với lòng người để
nói lên một tiếng lòng của loài người
trong việc cảm tạ Thiên Chúa.
Có
khi hoa mơn mòng những ai đau khổ. Có lúc
hoa khích lệ những ai thất bại, hoặc
chúc mừng những chiến thắng. Nói chung,
hoa ca lên kỳ công kiệt tác của Thiên Chúa,
và cảm kích lòng người vui hưởng tình
yêu thương của Chúa đối với mình.
Nhiều khi chỉ một cánh hoa đủ khích
động lòng mến của chị Thánh Têrêsa
nhỏ. Nhiều lần một dàn hoa cũng gợi
lòng Thánh Phanxicô nghèo ngây ngất tình Chúa.
Chính
vì qua tiếng nói huyền diệu của hoa mà
Thánh Bênađô còn biết được tâm trạng
của hoa. Theo Ngài: Hoa Hồng giầu lòng yêu mến.
Hoa Huệ phản ảnh đức Khiết
trinh và Hoa Tím là duyên đức đoan trang khiêm
tốn. Các nhà thực vật học hiểu biết
sâu rộng hơn về tâm trạng của hầu
hết các thứ hoa. Theo họ, Hoa Hồng rất
tình tứ nhưng phải là mối tình đầu
như Hoa Ngọc Trâm thì mới quí. Mối tình
có khi kín đáo như Hoa Tím, hoặc lạnh lùng
như Hoa Bài Hương, có lúc bộc phát cởi
mở nhu Hoa Uất Kim Hương. Mối tình
như Hoa Mồng Gà thì bền bỉ, Hoa Huyền
Sâm thì trung tín nhưng Hoa Cúc lại phũ phàng.
Hoa Anh Tú khi chưa được yêu thì nhớ
nhung, nếu nhớ nhung mãi đâm ra nóng lòng sốt
ruột như Hoa Mào Gà, và khi được toại
nguyện thì vui mừng hả dạ như Hoa
Dạ Hương Lan.
Trong
mối yêu thương phải có lòng tín nhiệm
lẫn nhau như Hoa Cúc Đại Đóa và biết
ơn nhau như Hoa Thược Dược. Mối
tình càn cao khiết càng phải khen ngợi nhau
như Hoa Cẩm Trướng hoặc vững
một lòng nhứ Hoa Quỳ chứ đừng
nhơ nhớp như Hoa Quỳnh, Hoa Nhài.
Nếu
Cúc Vạn Thọ đem lại sự phân ly, thì
Hoa Lay Ơn hẹn ngày tái ngộ. Nhưng nếu
Hoa Bồ Hòn đêm ai tín đau đớn thì Hoa
Trường Sinh chỉ còn có ngồi mà thương
nhớ vĩnh biệt.
Hoa
Lan, Hoa Mai, Hoa Đào reo mừng ngày xuân đầm
ấm; Hoa Phượng, Hoa Sen cười đùa
cùng mùa Hạ nực nóng. Hoa Cúc lại ung dung với
mùa Thu ôn hòa. Trăm hoa là trăm tiếng nói. Nếu
hoa nào khó nói lên lời thì văn sĩ Louis Veuillot
cố dạy cho nói: thí dụ Hoa Ave, Hoa Máu Thánh,
Hoa Nụ Cười của Đức Mẹ,
Hoa Đượm Tuyết v.v... Chính Chúa cũng
thẩm nghe và cổ võ tiếng nói của muôn
hoa. Một hôm trong tháng Hoa 1907 nhìn xem vườn
Hoa Lưu Ly tượng trưng kỷ niệm
vững bền và Hoa Tử La Lan, lòng mến nhớ
thiết tha, cạnh nhà thờ Lộ đức,
dì phước Gertruđê được nghe thấy
Chúa Giêsu phán với chị: "Hỡi con, con
hãy nhớ tất cả mọi ơn Cha ban cho
con."
Để
đề cao và ca ngợi nhân đức Đức
Mẹ, Thánh Bênađô bắt chước Thánh kinh
truyền cho các hoa phải nói lên các nhân đức
của Mẹ. Hoa Hồng đức mến, Hoa
Huệ đức Khiết trinh, Hoa Tím đức
Khiêm nhường. Mạnh mẽ sốt sắng
cụ thể hơn, Ngài bắt các hoa phải
dâng nhượng mọi hương sắc cho
Đức Mẹ. Ngài nói, "Mẹ là Bông Huệ
vì Mẹ khiết trinh, Mẹ là Đóa Hồng
vì Mẹ say mến."
Trong
tháng Hoa, giáo dân Việt Nam thường vịnh
ngâm bài ca mười hai hoa mừng kính mười
hai nhân đức của Mẹ:
Nhiệm
thay Hoa Đỏ hồng hồng
Nhuộm
riêng Máu Thánh thơm chung lòng người
Vì
thương con gánh tội đời
Chịu
như dao sắc thâu nơi lòng mình
Xinh
thay đức đồng trinh Đức Bà
Nguyên
tuyền hơn ngọc hơn ngà
Sáng
trong hơn tuyết cùng là hơn gương
Quí
thay này sắc Hoa Vàng
Sánh
nhân đức Mến Bà càng trọng hơn
Một
niềm tin kính nhơ nhơn
Vững
vàn cậy mến trong cơn vui sầu
Dịu
thay Hoa Tím cang màu
Ý
trên Bà những cúi đầu vâng theo
Bằng
lòng chịu khó trăm chiều
Khiêm
nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình
Lạ
thay là sắc Hoa Xanh
Mừng
Bà nhân đức trọn lành cực cao
Dờn
dờn sau trước một màu
Quản chi sương nắng dãi dầu ngày đêm
Hoa
năm sắc đã giãi niềm
Lại
trưng cổ điển dâng thêm kim đề:
Đức
Bà thờ Chúa một bề
Hoa
Quỳ chăm chú hướng về Thái Dương
tội
nguyên không nhiễm khắc thường
Hoa
Sen trên nuớc chẳng vương bùn lầm
Lòng
đây thánh sủng giáng lâm
Hoa
Lê tuyết đượm màu thơm khác vời
Tuổi
cao phúc đức càng đầy
Lạ
lùng Hoa Cúc nở ngày vãn thâu
Tòa
cao thần thánh kính chầu
Hoa
Mai đỉnh núi nở đầu trăm hoa
Muôn
loài cám mến âu ca
Hoa
Đơn phú quí gần xa vui vầy
Các
ơn Chúa phó trong tay
Hoa
Lan vương giả hương bay ngạt ngào
Muôn
hoa đua nhau khoe sắc, phô hương, và chen
lời hùng hồn nhất là tháng Năm. Có hoa
còn lân la mãi tới tháng Mười. Trong ca dao Việt
Nam hai hoa được gọi là đánh dấu
hai Mùa Hoa dâng kính Đức Mẹ:
Một
năm hai tháng Đức Bà
Một là Hoa Phượng hai là Mân Côi.
Như
thế, Giáo hội là Mẹ rất khôn ngoan đã
lợi dụng hoàn cảnh để hợp thức
hóa hương sắc và lời huyền diệu
của muôn hoa.
Mỗi
lần tháng Năm về, mỗi lần thưởng
thức hương hoa, ta hãy hướng theo nhân
Đức Mẹ, xin Người tỏa hương
thiên đàng của người, ấp ủ ta
biến thành những đóa hoa tươi thắm
của Mẹ. Mỗi khi hái hoa dâng tiến Đức
Mẹ, ta hãy mượn hương sắc và
lời huyền diệu của hoa để ca
tụng hoặc cầu xin Người. Dâng Hoa
Hồng, xin Mẹ cho ta được yêu mến
Người hơn. Dâng Hoa Huệ, ta ca ngợi
đức khiết trinh của Mẹ. Xin Mẹ
lấy hương huệ trinh nguyên của hồn
Mẹ ướp hồn ta và các bạn trong tuổi
hoa niên được một tâm hồn trong trắng.
Những
ngày tháng năm này, nếu thiếu những bông
hoa hữu hình, ta hãy hái hoa hồng thiêng là kinh Mân
Côi để dâng lên Mẹ. Nhưng thế nào
đi nữa, nguyện ước trái tim chúng
ta hãy biến thành một dàn hoa kết đủ
những thứ hoa thơm tho tươi đẹp,
ngõ hầu lòng ta mở một hội hoa đăng:
Ngày Hoa Dâng Mẹ.
L.m.
Ngô Châu Minh, CMC
|