Mẹ của con
“Này
là mẹ con” (Gio 19:27).
Rồi
ngày tháng dần trôi, con lớn lên và bắt đầu
cảm nhận được tình yêu Mẹ. Hình
ảnh Mẹ ghi khắc sâu đậm trong tâm
khảm con qua những kinh Kính Mừng đọc
trên gối mẹ con, những buổi kinh chiều
tại thánh đường giáo xứ, và qua những
tháng Năm đầy thơ mộng với các
buổi dâng hoa kính Mẹ.
Nhưng
Mẹ thực sự đi vào đời sống
của con, là khi con bắt đầu đọc
và hiểu được Thánh Kinh. Hình ảnh
đẹp nhất của tình thương và trái
tim rung cảm Mẹ, là hình ảnh bà Rêbêca đối
với Giacóp, người con yếu đuối
nhưng hiếu thảo của bà.
Thánh
Kinh kể khi Rêbêca mang thai, bà đã tiên đoán
có sự bất hòa giữa cặp song sinh mà bà
sẽ phải gánh chịu sau này lúc chúng chào đời.
Quả vậy, Esau ra đời trước với
nước da hoe đỏ và nhiều lông. Trong
khi đó, em là Giacóp thân hình trơn tru không lông lá:
“Vì thấy vợ hãy còn son sẻ, Isaac đã cầu cùng
Thiên Chúa thay cho vợ mình. Lời cầu của
ông đã được Thiên Chúa chấp nhận,
và cho Rêbêca có thai. Nhưng khi thai nhi còn trong bụng
bà, chúng đã đạp đá lẫn nhau khiến
bà rất mệt mã, và phải than lên: “Nếu
mang thai mà vất vả như vầy, tôi đâu
có ước mong chi”. Bà cầu xin với Thiên
Chúa, và được Ngài trả lời:
Có hai quốc gia trong bụng ngươi. Hai dân tộc
đang tranh đấu trong ngươi. Nhưng
một trong hai sẽ thắng, và kẻ lớn
hơn sẽ làm tôi cho kẻ nhỏ hơn.
Khi ngày giờ đã tới, bà sinh đôi. Đứa
con ra trước hoe đỏ và thân hình đầy
lông; do đó, được đặt tên là Esau.
Người em ra sau, nắm lấy gót chân của
anh, vì thế, được gọi là Giacóp” (St
25:21-26).
Sự
khác biệt về hình dạng, phản ảnh
tâm tính của hai con. Esau thường vui với
nghề săn bắn, sống hoang dã ngoài thiên
nhiên. Giacóp ngày ngày giúp lo công việc chăm nom
chiên cừu, sống thân mật với mẹ,
và gần gũi với nếp sống gia đình.
Không
thấy Thánh Kinh nói tới thái độ của
Esau đối với mẹ như thế nào.
Cũng không thấy đề cập tới thái
độ của bà Rêbêca đối với Esau.
Chỉ thấy rằng trong hai con, khi cần được
giúp đỡ, bà đã quan tâm và lo lắng nhiều
hơn cho Giacóp.
Cũng
trong Thánh Kinh kể tiếp, khi Isaac linh cảm
mình sắp chết, liền gọi Esau, trưởng
nam của ông lại cho biết ông muốn Esau
ra đồng săn thú, và dọn cho ông một
bữa thịt rừng ông thích, để sau khi
ăn xong, ông sẽ theo truyền thống và tập
tục của cha ông, chúc lành cho Esau trước
khi ông từ giã cõi đời.
“Khi Issac đã về già và hai mắt ông bị mù. Ông gọi
trưởng nam mình là Esau và hỏi: “Con đâu?”.
Con ông thưa: “Thưa con đây”. Isaac liền
bảo: “Như con biết, cha đã già và có thể
chết bất cứ lúc nào. Vậy con hãy chuẩn
bị đồ nghề, cung, tên và ra đồng
săn thú, và dọn cho cha một bữa ăn
vừa miệng cha, rồi mang lên cho cha. Sau khi
ăn xong, cha sẽ chúc lành cho con trước
khi cha qua đời” (St 27:1-4).
Nghe
được câu chuyện này, bà Rêbêca cũng
vội vã gọi Giacóp lại. Bà bảo con ra ngoài
đàn chiên cừu bắt về cho bà hai con chiên
non, để bà chuẩn bị một bữa
ăn mà bà biết chồng ưa thích. Mục
đích là giúp Giacóp đạt được những
lời cầu chúc của Isaac.
Trước
hành động táo bạo của mẹ, Giacóp
đã phản ứng một cách sợ sệt:
“Nếu cha con biết con lường gạt người,
và thay vì chúc lành, người lại chúc dữ
cho con thì sao?” (St 27:12). Nhưng bà đã khích
lệ con, sẵn sàng chịu mọi lời chúc
dữ của chồng thay cho con: “Hãy để
những lời chúc dữ đó cho mẹ gánh
chịu. Hãy đi và làm như mẹ nói” (St 27:13).
Chính
tay bà đã dọn bữa, trang điểm, và
dậy Giacóp phải ứng đối thế
nào khi đến trước mặt cha mình. Vì
Isaac về già mắt ông bị mù và không còn nhìn
được nữa. Để phân biệt
Esau và Giacóp, ông căn cứ qua giọng nói, hơi
người, và lông tóc của các con ông. Để
đánh tan sự nghi ngờ của Isaac, bà đã
lấy áo quần của Esau cho Giacóp mặc. Hơi
áo quần của Esau làm cho Isaac tin chắc Giacóp
là Esau.
Khi
Giacóp mang món ăn do mẹ làm lên và mời cha dùng,
ông cũng đã nhận ra sự nghi ngờ của
Isaac. Cha ông đã gạn hỏi ông làm sao mà lại
săn bắn nhanh như vậy. Và vì tin tưởng
nơi mẹ, để đạt được
những lời chúc phúc của cha, Giacóp đã
nói dối: “Nhờ Chúa là Thiên Chúa của cha,
đã giúp con được may mắn” (St 27:20).
Isaac
đã không che dấu sự nghi ngờ của
mình. Ông muốn kiểm chứng bằng cách sờ
vào tay, vào cổ của Giacóp xem có phải là đúng
trưởng nam Esau không. Nhưng tay và cổ của
Giacóp lúc đó đã được mẹ là Rêbêca
quấn lên mớ lông chiên non, mà bà vừa giết
lúc trước. Ông đã dùng món ăn mình ưa
thích, rồi sau đó chúc phúc cho Giacóp.
Khi
Esau từ ngoài đồng về, thì mọi chuyện
đã được thu xếp xong xuôi. Bao nhiêu
phúc lành Isaac đã chúc hết cho Giacóp. Tới nỗi
Esau phải đắng đót, van xin cha lục
lọi trong trí nhớ mình còn có gì hơn để
vớt vát: “Không lẽ cha không dành cho con một
phúc lành nào sao? Không lẽ cha chỉ có bấy nhiêu
phúc lành thôi sao?” (St 27:36,38). Nhưng Isaac đã
im lặng. Vì tất cả phúc lành đã thuộc
về Giacóp. Và trước tiếng khóc thảm
thiết của Esau, ông chỉ còn biết nói:
“Ngoài kia, bên kia phần đất mầu mỡ của
trái đất, nơi không có những hạt sương
trời là chỗ cư ngụ của con. Con sẽ
sống với lưỡi gươm của
con, và con sẽ làm nô lệ cho em con. Nhưng khi
con cảm thấy không muốn tiếp tục
lối sống đó nữa, con hãy tự quẳng
cái ách trên cổ của con đi” (St 27:39-40).
Câu
chuyện bà Rêbêca lo cho Giacóp đã phản ảnh
trung thực tình thương, và sự chở
che của Mẹ trong đời con.
Esau
đây có phải là hình ảnh Chúa Cứu Thế,
vì tội lỗi nhân loại, vì để cứu
chuộc nhân loại, đã bị Chúa Cha trút đổ
mọi hình phạt, và cơn thịnh nộ của
Ngài trên mình không? Vì: “Người đã mang lấy
sự đau yếu của chúng ta, người
đã gánh lấy sự đau khổ của chúng
ta, mà chúng ta lại coi người như kẻ
phong cùi bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho
nhuốc khổ. Nhưng người đã bị
thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị
tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy
hình phạt cho chúng ta được bằng an,
và bởi thương tích của người
mà chúng ta được chữa lành” (Is 53:4-6).
Nếu
thế, con không dám nhận mình là Giacóp, hoặc
tự ví mình như Giacóp. Con cũng không muốn
dành phần trưởng nam của anh mình, và mong
chiếm hữu mọi lời chúc lành của
cha mình như Giacóp.
Nhưng
trong đời sống thường ngày và trong
cõi siêu hình, cuộc chiến nội tâm của
con vẫn diễn ra như một hình thức
tranh ngôi thứ và phúc lành giữa Esau và Giacóp. Cuộc
chiến giữa Satan và những con cái của
Thiên Chúa và của Mẹ.
Con
phải chiến đấu với cuộc đời
trước mặt.
Con
phải chiến đấu với niềm tin
của mình.
Trong
trường hợp này, Mẹ chính là bà Rêbêca.
Hơn ai hết, Mẹ hiểu Thiên Chúa và yêu mến
Thiên Chúa biết bao. Mẹ biết Ngài muốn
gì nơi mỗi người, và nơi riêng con
như Rêbêca hiểu chồng bà là Isaac.
Con
không thể đến gần Ngài được
vì tự con, con thiếu những yếu tố
cần thiết. Như Giacóp không thể tự
nhận mình là Esau, nếu không có bàn tay khéo léo của
mẹ trang điểm, can thiệp và hoạch
định kế hoạch.
Một
điều cho tới nay con vẫn không hiểu,
tại sao bà Rêbêca lại phải làm như vậy?
Và tại sao cũng là con, mà Giacóp được
bà tận tình lo lắng và nâng đỡ. Ngược
lại, xem như bà lơ là, hoặc không mấy
quan tâm cho Esau.
Thật
ra, không phải bà không thương con bằng
nhau. Cũng không phải bà thiếu công bằng
đối với con cái. Nhưng có lẽ cá tính
mỗi người con, và lối sống của
mỗi người con đã khiến cho tình mẫu
tử của bà phải hành động khác biệt
như vậy.
Có
thể trong thâm tâm bà, bà nghĩ rằng với
thân hình lực lưỡng, với sức khoẻ
mạnh mẽ, và đời sống phóng khoáng
ngoài hoang dã, những lời chúc phúc của Isaac
chẳng là một bất lợi cho Esau. Biết
đâu sẽ càng làm tăng thêm cuộc sống
thiếu thận trọng, thiếu khôn ngoan, và
thiếu hiền hòa đối với Thiên Chúa,
đối với chính mình, và đối với
em mình là Giacóp.
Cũng
có thể vì Giacóp hiếu thảo với mẹ
nhiều. Luôn luôn sống thân mật, quấn quít
bên mẹ, nên mẹ muốn dành cho Giacóp một
phần thưởng của đứa con hiếu
thảo. Và vì biết Giacóp yếu đuối,
thành thật, và đơn sơ, do đó, bà phải
mưu mách để giúp Giacóp chiếm lấy
những phần phúc đó.
Sự
can thiệp và giúp đỡ của bà Rêbêca dành
cho Giacóp, đã đem lại cho con một xác tín
sống động và mạnh mẽ, Mẹ không
những là Mẹ dịu hiền đầy tình
thương yêu, săn sóc, và giúp đỡ, mà
còn là người Mẹ hết sức quyền
phép luôn cầu bầu, bênh vực cho con cái mình
trước mặt Thiên Chúa. Trong lời nguyện
ngày lễ kính Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Giáo Hội
đã hân hoan chúc tụng Thiên Chúa vì đã ban cho
Mẹ được quyền tham dự vào hạnh
phúc cứu độ của con cái Người:
“Lậy Thiên Chúa toàn năng, ngày Đức Trinh Nữ
Maria sinh hạ Đấng Cứu Thế, Chúa
đã tặng ban cho nhân loại kho tàng ơn cứu
độ muôn đời. Xin cho chúng con được
nhờ Đức Mẹ nguyện giúp cầu
thay, vì chính nhờ Đức Mẹ chúng con mới
đáng nhận lãnh nguồn sức sống vĩnh
cửu là Đức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con.
Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển
trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh
Thần đến muôn thuở muôn đời”.
Mẹ
thương con khi con bước vào đời.
Mẹ tiếp tục thương con cho tới
ngày hôm nay. Tình thương Mẹ vẫn âm thầm
theo con trên mọi nẻo đường đời.
Khi con được may mắn, an ủi, cũng
như những lúc con gặp gian nan, thử thách.
Trước mọi khó nguy của cuộc đời
nhiều lần làm con nản chí, sờn lòng, toan
bỏ cuộc. Những lúc đó con có cảm
tưởng như những đắng cay cuộc
đời đã quá đủ cho con, và cuộc
sống của con trở thành quá cô đơn,
vô vọng và không có ý nghĩa.
Nhưng
kìa! Con thấy Mẹ tự nhiên xuất hiện
dịu dàng và đầy tình thương xót. Và
trong tâm trí con, con nghe như Mẹ nói với con
những lời âu yếm làm an ủi lòng con:
“Con
yêu quí của Mẹ. Con làm gì mà âu sầu, ủ
dột vậy! Con tưởng chỉ có con mới
gặp những đau khổ và rủi ro trong
cuộc đời này sao? Con tưởng con là
người đau khổ nhất trần gian
hay sao? Và con tưởng Thiên Chúa và Mẹ không
nhìn thấy, hoặc không cảm nhận được
những đau khổ con đang gặp phải
sao?
Con
hãy nhìn vào hang Belem, vào xưởng thợ Nagiarét
và trả lời Mẹ, con thấy gì? Con thấy
Chúa Giêsu, Mẹ và Thánh Cả Giuse phải không?
Con
hãy nhìn vào vườn Cây Dầu, vào dinh thượng
tế Caipha, và vào dinh Philatô và trả lời Mẹ,
con thấy gì? Một Thiên Chúa giáng trần đang
hấp hối, bị người ta đánh đòn,
bị đội mão gai, bị khạc nhổ
vào mặt, bị vả vào mặt, bị giật
tóc và râu, và bị nhạo cười một cách
nhục nhã phải không?
Con
hãy nhìn vào con đường khổ giá nơi
Chúa Giêsu đã đi qua, từ dinh Philatô đến
núi Sọ, và trả lời Mẹ con thấy gì?
Con thấy Chúa Giêsu mình đầy máu, đầu
quấn gai nhọn, mệt mã và gục ngã trên
vai với cây thánh giá nặng nề phải không?
Sau cùng, trên cây gỗ oan nghiệt đó, người
ta đã đóng đanh Ngài, và Ngài đã tắt
thở trên đó phải không?
Và
con thấy gì nữa? Con thấy Mẹ cũng
đang theo sát Chúa Giêsu, để cùng chia sẻ
những tân toan khổ nhục với Ngài. Nhất
là, được cùng đứng dưới
chân thập giá chết với Ngài vì phần rỗi
các con phải không?
Rồi
bây giờ con hãy nói cho Mẹ nghe, những đau
khổ, những đắng đót, và những
bất hạnh của con như thế nào? Vả
lại con có một mình mang vác những thứ
đó hay còn có Mẹ ở bên con nữa?”.
Mẹ
hành động như vậy, vì Thiên Chúa đã
trao phó nhân loại cho Mẹ. Trong nhiệm mầu
cứu chuộc. Trong thánh ý Thiên Chúa, Mẹ chính
là Nữ Vương, là Trạng Sư, và là Mẹ
thật của nhân loại.
Trên
đồi Golgotha, trước khi tắt thở
trên thánh giá, Chúa Giêsu đã thổn thức nói với
Mẹ: “Hỡi bà, này là con bà” (Gio
19:26).
Qua lời trăn trối này, toàn thể nhân loại
và riêng từng người đã trở thành con
của Mẹ.
Chiến
đấu với ma quỉ, thế gian, và xác
thịt. Cố gắng chiếm thủ được
tình yêu Thiên Chúa. Hai điều này, con một mình
không thể làm nổi. Và dĩ nhiên, người
giúp con đó không ai khác ngoài Mẹ.
Trong
cuộc đời này, nếu có những lần
con yếu đuối sa ngã, người đã
nâng con dậy, và khích lệ con can đảm bước
tới là Mẹ.
Trong
những ưu tư, do dự về cuộc đời.
Trước những khó nguy đang trải dài
trước mặt, người dậy con tin
tưởng phó thác và không sợ hãi cũng là Mẹ.
Trong
tất cả những trường hợp ấy,
Mẹ cũng nói với con bằng lời của
Rêbêca đã nói với Giacóp: “Nếu cha con biết
con lường gạt người, và thay vì chúc
lành, người lại chúc dữ cho con. Hãy để
những lời chúc dữ đó cho mẹ gánh
chịu. Hãy đi và làm như mẹ nói” (St 27:
12-13).
Trước
thánh đức cao sang và quyền phép của Mẹ,
con đôi lúc thấy mình bất xứng không đáng
được làm con Mẹ. Nhưng khi nghĩ
tới tình thương bao la của Mẹ con
lại được an tâm, nhất là con nghe
như Chúa Giêsu khích lệ con, như xưa Ngài
đã nói với Gioan: “Mẹ con đó” (Gio 19:27).
Trần
Mỹ Duyệt
|