Bài ca ngàn trùng
“Nói
về Mẹ không bao giờ cùng” (Thánh Bênađô).
“Kìa
bà nào đang tiến lên như rạng đông.
Đẹp
như mặt trăng.
Rực
rỡ như mặt trời.
Oai
hùng như đạo binh sắp hàng vào trận?”
(Dtc
6:10).
Khi
nghe những lời thì thầm của các thần
trời hỏi nhau về Nữ Vương của
mình, con lại càng cảm thấy sung sướng
và hãnh diện biết bao vì được làm
con Mẹ.
Mẹ
là tạo vật siêu vượt trên mọi tạo
vật đã được Thiên Chúa bảo vệ,
trau chuốt, và nâng niu bằng đặc ân vô
nhiễm nguyên tội.
Mẹ
là vẻ đẹp thiên đàng, là vinh quang của
Giêrusalem thiên quốc.
Con
cái loài người cũng hân hoan ca tụng Mẹ,
qua hình ảnh của nữ anh hùng Judith khi chiến
thắng Holofernes trở về:
“Bà là vinh quang của Giêrusalem,
Là nguồn vui khôn tả của Israel.
Là niềm kiêu hãnh của dân tộc chúng tôi.
Chính tay bà đã làm nên những việc đó.
Bà đã mang lại phúc lộc cho Israel,
và Thiên Chúa vui lòng với thành quả công việc của
bà.
Nguyện Chúa Toàn Năng chúc phúc cho bà đến muôn ngàn
đời”
(Jud 15:9-10).
Còn
hơn cả bà Judith khi chặt đầu tướng
Holofernes trở về, Mẹ đã chiến thắng
Satan, kẻ thù của Thiên Chúa và kẻ thù nhân
loại. Để trả mối thù này, hắn
đã hậm hực và rình cắn gót chân Mẹ
nhưng không được. Trái lại, còn bị
gót chân trinh nguyên đó đạp dập đầu
hắn. Trong vườn Diệu Quang, con rắn
cám dỗ Evà chính là hiện thân của Satan. Và
hình ảnh người nữ sẽ đạp
dập đầu hắn là hình ảnh của
Mẹ:
“Thiên Chúa phán với con rắn: Vì ngươi đã làm
chuyện đó, ngươi sẽ trở thành
vô phúc giữa các loài tạo vật và muông thú rừng
hoang. Ngươi sẽ phải bò đi bằng
bụng của ngươi, và ăn bùn đất
suốt mọi ngày trong đời ngươi.
Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và
người nữ, giữa dòng dõi ngươi
và dòng dõi người nữ. Người nữ
sẽ đạp dập đầu ngươi,
trong khi ngươi rình cắn gót chân người”
(St 3:14-15).
Nhưng
vẻ đẹp rực rỡ của Mẹ,
và những lời ca ngợi kia không làm cho con cái
loài người cảm thấy cách biệt, hoặc
xa rời Mẹ . Ngược lại, chỉ
là mãnh lực thu hút mọi người gần
lại với Mẹ hơn. Nó cũng đã thu
hút và hấp dẫn con. Và sức hút dịu dàng
này làm con không thể nào xa rời Mẹ được.
Do
tình thương, Mẹ đã đón nhận con
ngay từ khi con mới bước vào đời.
Rồi trong suốt quãng thời gian qua, đời
con trải dài bao sóng gió, thì từng ấy lần
Mẹ ở bên để nâng đỡ, khích lệ,
và an ủi. Nhưng con cảm nhận một
cách mạnh mẽ tình thương ấy, trong
một biến cố ở tuổi thanh xuân, khi
con được dịp nói về Mẹ.
Nói
về Mẹ là điều con rất thích. Nhưng
nói gì? Và nói như thế nào? Con suy nghĩ, cầu
nguyện, và băn khoăn tìm kiếm đề
tài. Sau cùng, con đã quyết định nói về
Mẹ trong đời sống của con.
Ngày
hội thảo, con run run đứng trên bục
cao và nhìn xuống thành phần thính giả. Miệng
thì thầm: “Ave Maria - Kính chào Mẹ Maria - Con dâng
Mẹ buổi nói chuyện này để mong đính
vào triều thiên Mẹ một hạt cát nhỏ
nhoi, nhưng rất thành kính. Vì con không có tiền
mua kim cương.”
Con
bắt đầu bài nói chuyện bằng câu nói
thời danh của Thánh Bênađô - tông đồ
mật ngọt - của Mẹ. Tương truyền
rằng, mỗi khi vị Thánh này nói về Mẹ,
thì như có một vị ngọt tiết ra từ
trong miệng. Người nghe cũng cảm thấy
sự ngọt ngào đó quyến luyến, và làm
cho say mê. Câu nói đó như sau: “Nói về Mẹ
thì không bao giờ cùng”.
Thật
vậy, trước con đã có hàng bao nhiêu ngàn
cuốn sách lớn nhỏ viết về Mẹ.
Hàng bao nhiêu ngàn bài thánh ca tràn trề nguồn cảm
hứng đã được dâng lên Mẹ. Hàng
bao nhiêu ngàn bài giảng thuyết đề cao
những nhân đức anh hùng, lòng thương
xót bao dung, và uy quyền Mẹ bên Chúa Giêsu, Đấng
vừa là con Mẹ và cũng vừa là Thiên Chúa.
Cũng như hàng bao nhiêu ngàn cuộc hội thảo
lớn nhỏ đã trình bày về Mẹ. Nhưng
thử hỏi nguồn phong phú, chất liệu
dư thừa đó, và cảm hứng dâng trào
đó đã cạn bao giờ. Người ta vẫn
còn say sưa ca tụng Mẹ. Và Mẹ vẫn
là một đề tài không bao giờ cùng tận.
Con
đã mạnh dạn nói về tình thương
Mẹ thực hiện trong đời con, bằng
một câu chuyện đơn sơ như sau:
Ngay
từ thiếu thời, tôi đã tập được
lòng sùng kính và yêu mến Đức Mẹ bằng
việc năng lần hạt Mân Côi. Tôi thích nhất
những buổi dâng hoa của tháng Năm - Tháng
Đức Mẹ. Tôi sung sướng nhìn ngắm
Mẹ uy nghi, nhưng hiền từ ngự trên
tòa cao với nến đèn lung linh, với hoa
muôn sắc thắm, rồi để lòng lâng lâng
theo điệu nhạc, lời ca. Những buổi
dâng hoa như vậy, đã làm tôi thấy mình gần
lại với Đức Mẹ, yêu mến và
cậy trông Mẹ hơn.
Một
điều mà mãi cho đến nay tôi vẫn không
hiểu, đó là Đức Mẹ luôn luôn im lặng.
Để ghi lại những phản ứng và
thái độ của Đức Mẹ trước
mọi biến cố xẩy ra chung quanh cuộc
đời Người, Thánh Kinh chỉ vỏn
vẹn ghi: “Còn Maria thì ghi nhớ những điều
đó, và suy niệm trong lòng” (Luc 2:19), hoặc:
“Mẹ Ngài ghi nhớ những điều đó
trong lòng” (Luc 9:51).
Có
lẽ vì vậy, nên trong tất cả những
lần tôi đến trình bày với Đức
Mẹ chuyện này, chuyện khác, hoặc xin Đức
Mẹ ơn nọ, ơn kia, tôi luôn luôn nhận
được câu trả lời bằng thái độ
im lặng của Đức Mẹ.
Lúc
nào cũng thấy tay Đức Mẹ chắp
lại nghiêm trang giữa ngực. Hoặc thỉnh
thoảng có những bức tượng tạc
Đức Mẹ với hai bàn tay mở rộng,
như ban tuôn trào ơn phúc xuống cho mọi
người chạy đến với Đức
Mẹ, thì Đức Mẹ cũng vẫn im lặng.
Dù
là tay chắp hay tay mở, Đức Mẹ vẫn
giữ thái độ im lặng.
Đấy
chính là điều khiến tôi luôn luôn suy nghĩ,
khiến tôi nhiều lúc như thấy khó chịu
với Đức Mẹ. Vì thái độ im lặng
của Đức Mẹ là một thách thức
lớn lao cho niềm cậy trông, tín thác và yêu
mến của tôi đối với Người,
nhất là những lúc tôi gặp thử thách và
đau khổ.
Chuyện
xẩy ra vào năm tôi đang chuẩn bị thi
Tú Tài I. Trong thời gian học thi, lại nhằm
lúc tôi được mời đi thăm Huế.
Huế một danh lam thắng cảnh, với
đền đài, lăng tẩm, chùa miếu
của các vua triều Nguyễn. Huế là chốn
cố đô với đầy vẻ thơ mộng,
lãng mạn, và tình tứ đã từng được
đề cập tới trong văn chương,
sử sách.
Tôi
thích đi Huế lắm. Nhưng ngặt một
nỗi là cũng trong tuần nghỉ đó, có
một cuộc tĩnh tâm và cung nghinh Đức
Mẹ trọng thể. Tôi bị đặt vào
một lựa chọn: Đi thăm Huế, vì
đây là cơ hội ngàn năm một thuở.
Hoặc ở nhà tham dự tuần tĩnh tâm
và cung nghinh Đức Mẹ. Sau một ngày suy
nghĩ, tôi quyết định ở nhà. Tôi nghĩ
rằng, trong dịp cung nghinh và tĩnh tâm đó,
ít ra tôi cũng có cơ hội bày tỏ lòng tôi
yêu mến Mẹ. Đồng thời, cầu
xin cho ngày thi sắp tới, vì tự tôi, tôi cảm
thấy mình không có nhiều cơ may đỗ
đạt.
Rồi
các bạn tôi lên đường thăm cố
đô Huế, còn tôi ở lại nhà sốt sắng
tham dự tuần tĩnh tâm và cung nghinh Đức
Mẹ. Nhưng kết quả xẩy ra cho kỳ
thi sau đó một tháng, những anh bạn tôi
dong chơi cố đô Huế ai cũng đỗ
cả. Còn tôi, một mình ở nhà cố bám lấy
Đức Mẹ, lại trượt kỳ thi
đó.
Những
ngày tiếp sau khi xem kết quả cuộc thi,
tôi buồn lắm. Tôi bị cám dỗ nghi ngờ
lòng từ bi và tình thương của Đức
Mẹ. Tôi thấy hối tiếc vì đã bỏ
lỡ một dịp đi thăm Huế.
Vừa
buồn, vừa suy nghĩ miên man, tôi một mình
đến quì dưới tượng Mẹ trong
nguyện đường, có ý phiền trách và
than thở về kết quả cuộc thi. Nhưng
khi mắt tôi vừa bắt gặp đôi mắt
Đức Mẹ, nhìn đôi tay Đức Mẹ
vẫn chắp kín, và Đức Mẹ vẫn
im lặng. Một tia sáng như bắn vào tim tôi
qua ánh mắt của Người. Tôi đã nhận
thức rằng, chính sự im lặng của
Người đã là một ơn trọng đại
Đức Mẹ ban tặng tôi.
Cái
im lặng thần thánh này đã thu hút tôi. Từ
đó luôn luôn thôi thúc tôi tìm hiểu, tín thác, cậy
trông và yêu mến Đức Mẹ nhiều hơn.
Tôi
thấy tôi không sao chối bỏ được
ảnh hưởng của sự im lặng này.
Nhưng tôi cũng không sao phủ nhận rằng,
tôi cần phải yêu mến Đức Mẹ.
Một
ơn huệ quá lớn lao còn hơn thi đỗ.
Tôi đã thật sự cảm được
tình thương, bàn tay, và ánh nhìn của Đức
Mẹ trong mọi biến cố của cuộc
đời tôi từ đó.
Cũng
từ đó, tôi không bao giờ quên Đức
Mẹ. Ngược lại, dù trong hoàn cảnh
nào, tôi cũng cảm nhận được sự
hiện diện của Người bên tôi. Dù trong
bất cứ cảnh ngộ nào, giữa những
lúc nguy nan tuyệt vọng, tự nhiên tôi thấy
có một bàn tay vô hình đưa ra và nắm lấy
tay tôi. Tôi tin rằng, đó là bàn tay của Mẹ
Maria. Và trong niềm tín thác ấy, tôi thấy tâm
trí tôi bình an. Tôi thấy lòng tôi nhẹ nhàng. Tôi
thấy đời tôi thư sướng và hạnh
phúc.
Trong
chúng ta ai cũng có rất nhiều trường
hợp, và những biến cố mà trái tim từ
mẫu Đức Mẹ, cách tay quyền uy Đức
Mẹ đã vươn tới, hoặc đụng
chạm tới để kịp thời cứu
giúp. Những câu chuyện tương tự như
của đời tôi và mỗi người, nếu
đem đúc kết lại, chúng sẽ trở
thành một bản trường ca ngàn trùng viết
về Đức Mẹ. Và như Thánh Bênađô
đã nói, bản trường ca này sẽ dài vô
tận.
”...
mong đính vào triều thiên Mẹ một hạt
cát nhỏ nhoi, nhưng rất thành kính. Vì con không
có tiền mua kim cương.” Vâng, buổi nói chuyện
của con hôm đó chẳng là gì khi so sánh với
những buổi diễn giảng của những
học giả, những nhà giảng thuyết
lừng danh đã nói về Mẹ; hoặc những
cuộc hội thảo mang tầm vóc quốc
gia và quốc tế về Mẹ. Những lần
thuyết giảng, hội thảo như thế
được coi như những viên kim cương
lóng lánh, rực rỡ, và quí giá.
Cuộc
nói chuyện của con mang đúng ý nghĩa của
một hạt cát nhỏ, vì nó chỉ là một
tâm tình hết sức riêng tư và đơn sơ
của con đối với Mẹ. Đúng ra,
con cũng chẳng có khả năng làm được
chuyện ấy một cách vỹ đại hơn.
Nhưng nó đã để lại một dư
âm lớn lao trong đời con về Mẹ. Người
Mẹ mà không bao giờ con ca tụng, hoặc
nói cho cùng. Nói theo Thánh Anphongsô Tiến Sĩ Hội
Thánh, thì dù sau này trên Thiên Đàng, con có cả đời
đời để ca tụng Mẹ cũng
vẫn chưa đủ.
Trần
Mỹ Duyệt
|