SUY NIỆM TIN MỪNG tháng 1-2008
Chúa Nhật 4 Mùa Chay – Năm A; 2-3-2008
Ai mù? Ai sáng? Jn 9:1-41
Anh Tư là một người sống bê bối, tứ đổ tường không thiếu món nào. Một đêm anh nằm ngủ và mơ thấy mình đến một chỗ thật lạ. Ở đó có nhiều bức tường dài vô tận. Trên trường có treo thật nhiều đồng hồ. Mỗi chiếc đồng hồ đều có tên một người. Có cái đồng hồ quay đều đều, chầm chậm. Có cái nằm yêu thỉnh thoảng mới quay. Anh Tư nhìn thấy một thiên thần đi lại kiểm soát những chiếc đồng hồ và cầm cuốn sổ trên tay để ghi chép. Anh Tư hỏi thiên thần: “Thưa ngài, mấy cái đồng hồ này để làm gì vậy?” Thiên thần trả lời: “Mỗi chiếc đồng hồ này có tên của một người đang sống ở trần gian. Mỗi lần người ấy phạm tội, chiếc đồng hồ sẽ quay một vòng”. Anh Tư để ý đi tìm đồng hồ của cha xứ ở đâu, và thấy đồng hồ của ngài thỉnh thoảng quay một vòng. Anh tìm đồng hồ của đức giám mục và thấy nó quay ít hơn. Anh ta luẩn quẩn đi vòng vòng như tìm đồng hồ của một người nào đó nhưng không thấy. Anh đến hỏi thiên thần: “Thưa ngài, tôi cố tìm đồng hồ của tôi nhưng không thấy. Ngài có biết nó ở đâu không?” Thiên thần nhìn anh Tư rồi cười và nói: “Đồng hồ của anh quay lẹ như cánh quạt máy bay trực thăng nên tôi để trong phòng ngủ làm máy quạt gió”.
Tội lỗi là một thực tại thiêng liêng, vô hình nên chúng ta phải dùng đức tin để nhìn nhận ra. Người ta có thể chối bỏ dễ dàng thực tại đó khi ở trần gian, nhưng khi ra trước toà phán xét chí công của Thiên Chúa không ai có thể chối cãi được. Bài Phúc Âm hôm nay kể lại câu chuyện người mù từ khi mới sinh được Chúa Giêsu chữa lành và những người lãnh đạo Do Thái gây chuyện với Chúa và người mù.
Bài Phúc Âm chiếu tỏ nhiều khái niệm về tội lỗi khác nhau của những người Do Thái sống thời Chúa Giêsu. Các tông đồ hỏi Chúa Giêsu về người mù: “Anh ta bị mù do tội của anh ta, hay do tội cha mẹ?” Câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn nếu suy nghĩ cho kỹ. Anh ta bị mù từ khi mới sinh. Mới sinh ra chưa kịp phạm tội đã bị mù, làm sao do tội của anh ta được? Người Do Thái có câu: “Cha mẹ ăn nho chua, con cháu bị ê răng.” Có ý nói rằng: cha mẹ phạm tội ác, con cháu bị phạt. Tư tưởng này có vẻ như để ngăm đe những người làm cha mẹ phải sống tử tế kẻo con cháu bị phạt. Tuy nhiên nó mang vẻ bất công trong đó: nếu con cháu không phạm tội, tại sao bị phạt? Còn cha mẹ phạm tội, tại sao không bị phạt?
Câu hỏi của các tông đồ cũng dựa trên một giả thuyết sai lầm: bệnh tật như mù loà là hình phạt của tội. Nhiều người Do Thái thời xưa tin vào điều này. Chúng ta đọc thấy tư tưởng đó trong sách Job. Những người bạn của ông Job đến thăm ông sau khi bị mất hết con cái, của cải, và bị ung nhọt ghẻ lở khắp thân thể. Chúa cho phép Satan đem những sự dữ ấy đến cho ông như cơn thử thách. Họ cho rằng ông Job đã phạm tội nên mới bị phạt khổ sở như vậy. Sau cùng Chúa đã hiện ra và chứng nhận sự trong sạch và lòng trung tín của ông.
Câu trả lời của Chúa Giê su cho các tông đồ thấy rằng anh mù mang tật không phải vì tội lỗi của ai nhưng để bày tỏ việc làm của Thiên Chúa qua Đức Kitô. Chúa muốn mạc khải cho con người hình ảnh Chúa Kitô là ánh sáng thế gian: “Khi ta còn ở trần gian, ta là ánh sáng thế gian.” Tội lỗi là bóng tối bao phủ trần gian. Khi Đức Kitô đến trần gian để cứu chuộc nhân loại khỏi bóng tối tội lỗi, Ngài thật là ánh sáng phá tan bóng đêm tội lỗi. Những ai tin vào ngài sẽ được thấy ánh sáng như người mù được chữa lành. Những người không tin vào Chúa vẫn bị mù loà trong tinh thần vì bị cai trị dưới ách nô lệ của bóng tối tội lỗi. Những người thủ lãnh Do Thái không tin vào Chúa nên họ đã mù loà coi Chúa là kẻ tội lỗi.
Sự lật lọng hoá đen thành trắng xảy ra rất nhiều trong thế giới ngày nay. Người ta đòi hỏi quyền lợi cho những lối sống tội lỗi như phá thai, đồng tính luyến ái… Xã hội ngày nay đòi quyền dân chủ trong mọi lãnh vực. Lối sống nào có đông người chấp nhận là đúng. Ý kiến nào có nhiều người tán thành là đúng. Cái gì người ta cũng dựa trên sự chấp thuận của đa số. Nhiều người cho rằng vợ chồng ly dị nhiều quá nên khỏi làm đám cưới, bồ bịch cứ dọn đồ đạc, giường chiếu về ở với nhau. Khi nào không thích thì bỏ phăng, đi tìm người khác. Nhiều người lấy lý do hoàn cảnh bắt buộc, về Việt Nam làm đám cưới giả với họ hàng, người quen, hoặc không quen để kiếm vài chục ngàn bỏ túi xài chơi. Đây là bóng tối tội lỗi làm mù mắt biết bao người.
Là những Kitô hữu chúng ta không thể để cho ánh sáng của Chúa Kitô bị dập tắt nơi đời sống của bản thân và những người chung quanh. (Lm. Nguyễn Hùng)
Chúa Nhật 5 Mùa Chay – Năm A; 9-3-2008
Lạy Thầy con tin! Ga 11:1-45
Thánh Gio-an đã diễn tả chuyện “La-da-rô sống lại” một cách sống động, tỉ mỉ và thật cảm động. Một câu chuyện nói về bệnh và chết, chôn lâu ngày, xác đã có mùi và được sống lại. Đó cũng là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Câu chuyện này đã giúp chúng ta hiểu Chúa Giê-su hơn. Khi nghe tin La-da-rô chết, Thánh Gio-an ghi lại: “Đức Giê-su liền khóc” (Ga 11:35). Đây là một câu ngắn nhất; nhưng cũng hàm chứa một khung cảnh cảm động nhất trong sách Phúc âm và cũng giúp chúng ta thấy chiều kích sâu xa về bản tính loài người của Chúa Kitô.
Ai cũng quên Chúa Kitô có một quả tim dễ rung cảm và một tình yêu nồng nàn như chúng ta. Ai cũng quên Chúa Kitô cũng xúc động và khóc than như chúng ta. Ai cũng quên Chúa Kitô cũng có thân xác và đau khổ như mỗi người chúng ta. Và có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi: Những sự kiện này có gì là quan trọng đối với chúng ta?
Tại sao nhớ đến Chúa Kitô có quả tim, có tình yêu là quan trọng? Tại vì nhờ đó mà chúng ta dễ dàng gần gũi, mật thiết với Chúa hơn. Tại sao nhớ đến Chúa Kitô xúc động và khóc than là quan trọng? Tại vì nhờ đó mà Ngài hiểu và cảm thông bản tính người phàm của chúng ta hơn. Tại sao nhớ đến Chúa Kitô đau khổ là việc quan trọng? Tại vì nhờ đó mà chúng ta có được nguồn sinh lực để chống chọi mọi phong ba bão tố của cuộc đời.
Bài Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta thấy một khía cạnh sâu xa khác và quan trọng hơn. Đó là bản tính Thiên Chúa nơi con người hiền hoà của Đức Giê-su. Thật vậy, đứng trước mộ La-da-rô, lòng bồi hồi thổn thức, nước mắt tuôn tràn. Ngài khóc vì người bạn thân đang nằm trong huyệt đá. Ngài cũng khóc thương cho sự thơ ngây của con người, chỉ biết thương tiếc thân xác nhưng quên đi yếu tố quan trọng nhất của con người là phần rỗi linh hồn! Ngài bảo những người đang hiện diện: dời phiến đá đậy nắp huyệt. Mác-ta can ngăn vì xác người trong mộ đã có mùi. Chúa Giê-su hỏi Mác-ta cũng như hỏi mỗi người chúng ta: ‘Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống, ... Con có tin thế không?’ (Gn 11:25). Mác-ta thưa: ‘Lạy Thầy, con tin!’ (Ga 11:27) Rồi Ngài kêu lớn tiếng: ‘La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!’ Người chết đã sống lại và ra khỏi mồ! Khóc thương La-da-rô, Chúa Kitô đã cho La-da-rô sống lại. Ngài là con người như chúng ta, nhưng Ngài cũng là Thiên Chúa của chúng ta nữa. Ngài là nguồn sự sống, vì đối với Ngài, chết không phải là kết thúc, nhưng chỉ là một bước để đến một cuộc sống mới, một cuộc sống trường cửu, kỳ diệu hơn.
Vì thương yêu loài người, Ngài đã đi xuống sự chết để cùng với người chết đi lên sự sống. Ngài đã dẫn đưa con người từ bóng tối ra ánh sáng. Ngài đã đến thế gian để giúp chúng ta, Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng cộng tác với Ngài trong chương trình cứu độ. Thật thế, để giải phóng con người thoát khỏi những ràng buộc của tội lỗi, của u ám tối tăm, Ngài phán bảo: ‘Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi’ (Ga 11:43). Chúa Kitô cần mỗi người chúng ta tiếp tay, để giúp Ngài hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại của Ngài.
Lạy Chúa Giê-su Kitô, xin cho con biết yêu mến Chúa hơn và cho con được lòng xác tín mạnh mẽ như Mác-ta để thân thưa với Chúa: “Lạy Thầy, Con tin!” Pt. Nguyễn Văn Đức
Chúa Nhật Lễ Lá – Năm A; 16-3-2008
Chúa Giêsu chịu đau khổ vì chúng ta Mt 27,11-54
Ngày xưa, khi còn nhỏ, cứ mỗi năm vào ngày Lễ Lá như hôm nay, cả một ngày hôm trước lễ, tôi và một đám trẻ trong xóm rủ nhau ra “ấp chiến lược”, chặt thật nhiều cành lá dừa, đem về kết đủ các loại hình: hình thánh giá, hình con thú v.v… Hồi đó, chúng tôi thực sự chưa hiểu được ý nghĩa của ngày Lễ Lá, nên rất vui thích khi được cầm những cành lá chính tay mình chặt về và kết thành hình thánh giá để đi rước kiệu chung quanh nhà thờ. Theo thời gian lớn dần, mỗi năm thêm tuổi, không còn cái thời đi chặt lá kết hình nữa, nhưng đã biết suy niệm và chiêm ngắm cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, để mỗi lần đi rước Lá tôi càng thấm thía và hiểu thêm ý nghĩa của ngày lễ này.
Bài Tin mừng hôm nay kể lại đầy đủ diễn tiến cuộc xét xử và kết án Chúa Giêsu. Đọc bài Tin Mừng chúng ta thấy có rất nhiều nhân vật được nêu tên. Ví dụ như: Giuđa, Phêrô, Caipha, Philatô, Hêrôđê… Suy niệm cuộc Thương khó của Chúa, chúng ta còn thấy điều gì nữa không? Theo tôi, chúng ta thấy mình không phải là những kẻ đứng ngoài cuộc, mà thấy mình có những nét giống nhân vật này hay nhân vật khác, hơn nữa, những nhân vật đặc biệt có mặt trong vụ án xét xử Chúa Giêsu.
Chúng ta thấy mình có nét giống Giuđa: một người đã được Chúa chọn, được sống thật sát bên Thầy để nghe Thầy yêu thương dạy bảo. Đã bao lần thán phục và khiếp sợ khi chứng kiến phép lạ Thầy làm. Nhưng tất cả đã tan vỡ khi Giuđa bán Thầy bằng nụ hôn giả dối. Tại sao Giuđa phản bội, có phải vì tham lam ba mươi đồng bạc chăng? Hoặc Giuđa có điều gì bất mãn với Thầy hoặc các anh em đồng nghiệp đến nỗi phải bán đứng Thầy sao? Chúng ta không thể hiểu chính xác. Nhưng chúng ta có thể giống Giuđa khi chúng ta bán rẻ lương tâm mình vì một lợi nhuận, hay tham lam tiền của mà làm điều bất chính và giả dối nào đó.
Chúng ta thấy mình có điểm nào giống Phêrô: Ông luôn tự hào về lòng mến của ông dành cho Chúa hơn các anh em, khi ba lần ông tuyên xưng ông yêu mến Thầy. Thế mà chỉ một lời của người đầy tớ gái đã làm ông khiếp sợ đến phải chối Thầy bai bải… Nhưng thật đáng mừng, tiếng gà gáy đã khiến ông giật mình bừng tỉnh, và nhất là ánh mắt của Chúa đã chạm đến ông khiến ông đã khóc lóc thảm thiết ăn năn thống hối vì sự chối Thầy. Quả thực, tiếng gà vang trong đêm đã khiến ông bừng tỉnh, và ánh mắt thứ tha của Thầy đã khiến Phêrô khóc lóc ăn năn. Trong cuộc đời, với bíêt bao lần lỗi phạm vì yếu đuối, cách này cách khác, chúng ta vẫn có những tiếng gà và ánh mắt trìu mến của Chúa nhìn với tấm lòng bao dung tha thứ, chúng ta có bừng tỉnh, khóc lóc, thống hối, ăn năn trở về với Chúa không?
Lại nữa, chúng ta có thấy mình giống Caipha và Anna: là những người lãnh đạo tôn giáo, những người có uy tín với dân chúng nhưng lại có ác ý với Chúa Giêsu. Họ là những người có trách nhiệm lớn trong vụ án này, vì chính họ đã kết án tử hình Chúa Giêsu, chỉ vì Ngài đã khẳng định Ngài là Con Thiên Chúa. Chúng ta có xét đoán, lên án ai khi không biết lý do hay chưa có bằng chứng chính xác không?
Có thể chúng ta đang là Philatô: Chúng ta bị trói chặt bởi sự khiếp nhược, sợ hãi, mà không dám đứng về phía sự thật, bênh vực cho công lý. Nhưng vì sợ mất quyền lợi, danh vọng, chức quyền mà im lặng không dám lên tiếng mà còn về hùa với đám đông để xét đoán hoặc lên án người vô tội.
Chúa Giêsu chẳng những đã chia sẻ phận làm người mà Ngài còn chia sẻ thân phận của những người cô đơn yếm thế. Khi suy nghĩ về cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu, chúng ta không thấy đó là chuyện của thời xa xưa, nhưng là chuyện rất thực tế của ngày hôm nay. Trên thế giới, mỗi ngày có biết bao Giêsu vô tội bị kết án bất công, bị làm nhục, bị khinh khi, hành hạ và đối xử tàn tệ cho đến chết. Và như thế, Chúa Giêsu còn bị đóng đinh mỗi ngày cho đến tận thế, bao lâu những anh chị em đồng loại còn bị ngược đãi, khốn khổ.
Suy nghĩ về thập giá của Chúa, giúp chúng ta nhạy cảm hơn với thập giá của tha nhân, và nhận ra mình có trách nhiệm trước những bất công, đau khổ đang diễn ra hành ngày trên khắp hoàn cầu. GM. Lệ Tâm
Chúa Nhật Phục Sinh – Năm A; 23-3-2008
Người không có ở đây, vì Người đã sống lại Mt 28:1-10
Hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng kỷ niệm một biến cố rất quan trọng đối với chúng ta là những người tin theo Chúa Kitô. Vì giả như không có biến cố Chúa Giêsu Phục Sinh thì Kitô Giáo hoàn toàn vô nghĩa như Thánh Phaolô quả quyết: Nếu Chúa Kitô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi ra vô ích và đức tin của anh em cũng ra vô ích (1Cor 15:14). Chúa Kitô sống lại để đáp ứng khát vọng chính đáng và thẳm sâu của con người là muốn sống và sống hạnh phúc.
Quả vậy, ai cũng muốn sống, nhưng không ai muốn sống khổ. Những tin tức hằng ngày cho chúng ta thấy rằng có những người không chịu nổi cuộc sống vô ý nghĩa đã thất vọng và kết thúc nó bằng cách quyên sinh. Đầu tháng 12 năm 2007 vừa qua, một thanh niên 19 tuổi tên là Robert E. Hawkins đã mang súng vào trong một siêu thị lớn ở Omaha thuộc bang Nebraska và bắn chết 8 người vô tội. Sau đó cậu đã tự sát tại chỗ. Trong quá khứ, Robert E. Hawkins đã trải qua một cuộc sống đầy chán chường và vô vọng: cậu bị bố mẹ đuổi ra khỏi nhà, bỏ học khi chưa xong lớp 12, làm ở McDonal thì bị đuổi, bạn bè hay chế diễu và coi thường cậu, ngay cả bạn gái cũng bỏ cậu.
Thực sự trên đời cũng có rất nhiều người rơi vào cảnh sống đau buồn như cậu Robert trên, nhưng những người tìm cách tự giải thoát mình theo lối của cậu thì họa hiếm. Điều đó chứng tỏ rằng con người dù ở hoàn cảnh nào cũng vẫn muốn sống và nuôi hy vọng vào một cuộc sống tương lai khá hơn. Một khi người ta mất hy vọng, thì họ cũng không muốn sống.
Chúa Kitô đã sống lại để cho chúng ta hy vọng và có lý do để hy vọng. Đặc biệt chúng ta là những người có đức tin và đức tin của chúng ta là “bản chất” (substance) của những điều chúng ta hy vọng như Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI diễn giải Thư Do Thái trong thông điệp Spe Salvi mà Ngài mới ban hành cuối tháng 11 năm 2007. Do đó chúng ta đừng thất vọng hay phàn nàn như những người không có đức tin và hy vọng (x. 1Thes 4:13). Quả vậy, trong thông điệp này, Đức Thánh Cha đã nhắc đến gương chứng nhân hy vọng của Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, người tuy sống trong hoàn cảnh hầu như tuyệt vọng giữa những năm dài tù ngục nhưng vẫn hy vọng trong đức tin. Ngài đã từng là một tù nhân, nhưng ngài “khác” với những tù nhân khác vì ngài sống trong đức tin hy vọng.
Để sống đời chứng tá đức tin hy vọng vào đời sau giữa cuộc sống hằng ngày, Chúa cũng muốn chúng ta sống “khác” với những người chỉ biết đặt hy vọng vào cuộc sống đời này. Hình ảnh đời sống chứng tá yêu thương, hòa thuận, không tranh giành của những cộng đoàn giáo hội sơ khai ngay sau thời gian Chúa Giêsu lên trời đã khiến cho những người dân ngoại thương mến và thán phục (x. Cv 2:42-47). Nhân ngày Lễ Chúa Phục Sinh năm nay, chúng ta hãy khiêm tốn tự xét mình xem: chúng ta đã sống như những người có đức tin hy vọng chưa? Nếu như những người chưa tin vào Chúa Giêsu khi nhìn vào đời sống của chúng ta hay của cộng đoàn chúng ta đang sống họ có tìm thấy điều gì “khác” hấp dẫn không? Nếu trong cộng đoàn hay trong giáo xứ tôi cũng có những bất hoà tranh dành, hay nơi cá nhân tôi còn có những gian manh tìm kiếm lợi lộc trần gian này hơn là phúc lộc đời sau thì rất có thể họ thấy chúng ta cũng “không khác” gì những người không có niềm tin hy vọng.
Trong bài Phúc Âm hôm nay sở dĩ thiên thần Chúa nói với Maria Madalena, “Người không có ở đây, Người đã sống lại” (Mt 28:6), vì bà tới đó để tìm xác chết của Chúa Giêsu. Tương tự như thế, rất có thể Chúa Giêsu vẫn còn chết trong nấm mồ của một cuộc sống đạo khô khan nguội lạnh hời hợt, hay trong một cuộc sống bận rộn với lo toan vật chất, hoặc một lối sống đạo hình thức bề ngoài... Chúa đã sống lại, nhưng biết đâu rất có thể đối với chính tôi Chúa vẫn chết. Có lẽ chính tôi là người cho Chúa Giêsu cơ hội phục sinh trong cuộc sống của mình.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin Chúa sống lại trong con một cuộc sống “khác” với cuộc sống tầm thường, một cuộc sống chứng nhân niềm tin và hy vọng. Amen. Lm. Huy Châu, CMC
Chúa Nhật 2 Phục Sinh – Năm A; 30-3-2008
Ơn Bình An Ga 20,19-31
Bình An luôn là một nhu cầu tinh thần trong đời sống con người, nhất là trong lãnh vực tôn giáo. Nhu cầu này càng lớn lao và thúc bách hơn khi chúng ta rơi vào tình trạng lo sợ, hoang mang, nghi ngờ, thất vọng… Ai trong chúng ta cũng đã trải qua kinh nghiệm này. Các Tông Đồ cũng vậy.
Với các ngài, việc Đức Kitô bị chết ô nhục đau thương trên thập giá rồi được mai tang trong mồ, không chỉ là một nỗi buồn lớn lao nhưng còn dập tắt niềm hy vọng nơi các ông và mang đến cho các ông sự đe dọa từ phiá người Do Thái (Ga 20,19). Thêm vào đó, những mẫu tin liên quan đến huyệt đá của Giuse Arimathia lại đang gieo vào lòng các ông mối nghi ngờ, bán tín bán nghi: nào là ngôi mộ trống, nào là sứ thần bảo Chúa Kitô đã phục sinh, nào là “chính tôi đã gặp Ngài”, nào là xác thầy mình bị đánh cắp v. v… Tất cả dồn lại như ngọn sóng lớn đầy sức mạnh ùa vào tâm hồn các môn đệ, khiến các ông hoàn toàn bị giao động, chao đảo. Đúng là một tình trạng “mất ăn mất ngủ”. Vậy, hình ảnh Thầy mình hấp hối trên thập gía, rồi cái chết tức tưởi và việc mai táng trong mồ là một sự thật hay chỉ là cơn ác mộng? Sự có mặt của Thầy và những lời nói quen thuộc thân thương ngay bây giờ trong căn phòng nhỏ này, là một ảo ảnh hay cũng là một sự thật? Quả là “trăm mối tơ vò”.
Trong trình trạng này, sự an bình và niềm tin vững chắc vô cùng cần thiết cho các môn đệ Chúa. Hiểu được nỗi khổ tâm đó, Chúa đã đích thân đến gặp các ông để đánh tan mọi nghi ngờ, xua đuổi mọi lo sợ và thiết lập lại bình an cho các ông. Thật vậy, ngay trong giây phút đầu tiên gặp gỡ, Chúa đã nói hai lần: “Bình anh cho anh em”. Và mau chóng, các ông đã thực sự được an bình, vui mừng, đến nỗi các ông có thể quả quyết với Tôma, một người anh em trong nhóm: “Chúng tôi đã trông thấy Thày rồi” (Ga 20,25). Như thế, vấn đề đã được giải quyết. Nhưng còn Tôma? Ông này cũng đang trong trình trạng “bất ổn” vì vắng mặt. Lời chứng của bạn bè chưa dủ thuyết phục Tôma, nên Chúa lại hiện ra một lần nữa, đích thân trao cho ông liều thuốc mà chính Chúa đã dùng để chữa lành vết thương cho các an em kia, cách đây đúng một tuần lễ. Gioan kể: Tám ngày sau, cuộc họp mặt của các ông có sự hiện diện của Tôma, Chúa nói: “Bình an cho anh em”, cùng với những minh chứng cụ thể. Lập tức Tôma lấy lại được sự an bình và niềm xác tín nơi Thầy mình.
Trong cuộc sống làm môn đệ Đức Kitô, nhiều lần chúng ta cũng rơi vào tình trạng mất bình an như các tông đồ. Những lo lắng, sợ hãi, nghi ngờ, thất vọng phát xuất từ nội tâm hay do các hoàn cảnh chung quanh có thể làm đức tin chúng ta lung lạc, chao đảo, xáo trộn. Khi đó, sự hiện diện và ơn bình an của Chúa thật cần thiết. Chúng ta chỉ có thể lấy lại thế quân bình cho chính mình khi biết cố gắng tìm gặp Chúa qua lời cầu nguyện, đặc biệt qua thánh lễ và bí tích hoà giải. Đúng thế, trong thánh lễ, lời cầu xin và chúc bình an được lặp lại nhiều lần: Chủ tế cầu xin ơn bình an cho Giáo Hội (lời nguyện trước rước lễ). Ngay sau đó, ngài cầu chúc bình an cho chúng ta: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”. Rồi ngài kêu gọi chúng ta cùng cầu chúc cho nhau ơn bình an. Chưa đủ, trong kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, chúng ta lại cùng nhau cầu khẩn: “Xin ban bình an cho chúng con”. Sau cùng, để kết thúc thánh lể, chủ tế còn chúc chúng ta được an bình trong cuộc sống hằng ngày: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an”. Nơi toà giải tội, sau khi thành tâm thú nhận tội lỗi, chúng ta được nghe linh mục thay lời Chúa nói với chúng ta: “Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh Chúa mà ban cho bạn ơn tha thứ và bình an”.
Nguyện xin Chúa Kitô, Vua bình an, ngự trị trong tâm hồn chúng ta, để trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn nhận được ơn bình an của Chúa, ơn mà Chúa đã trao cho các môn đệ sau khi Người sống lại. Lm. Bùi Mạnh Tín