Thứ Sáu, 3-2-2006

 
 


Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Tòa Rota Rôma dịp hằng năm khai mạc năm pháp lý

Sáng ngày Thứ Bảy 28/1/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã tiếp phái đoàn phục vụ tòa Rota ở Rôma nhân dịp hằng năm khai mạc năm pháp lý.

Trong bài huấn từ của mình, ngài đã nhắc lại di sản giáo huấn phong phú của Đức Gioan Phaolô II về vấn đề giáo luật được chất chứa trong Bản Hướng Dẫn “Dignitas connubii” liên quan tới các phương thức cần phải được tuân theo trong những việc điều tra cần để tiêu hôn. Ngài nói:

“Việc đóng góp lớn nhất của Bản Hướng Dẫn này, một bản hướng dẫn tôi hoàn toàn tin rằng được các tòa án của Giáo Hội áp dụng, bao gồm việc đề cập tới tầm mức và cách thức có những qui chuẩn đặc biệt ở những khoản giáo luật hiện hành cần phải áp dụng cho việc tiêu hôn, mà vẫn theo các qui chuẩn đặc biệt liên quan tới tình trạng của con người, hay liên quan tới thiện ích chung nữa”.

Ngài đã nhắc lại rằng, trong Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới hồi Tháng 10/2005 về Thánh Thể, các Nghị Phụ đã “kêu gọi các tòa án của Giáo Hội hãy hết sức nỗ lực để bảo đảm rằng các phần tử tín hữu không kết hôn theo giáo luật, sớm bao nhiêu có thể, được bình thường hóa tình trạng tại gia của họ”, nhờ đó được rước lễ lại. Tuy nhiên, ngài tiếp tục:

“Pháp lý giáo luật và Bản Hướng dẫn mới đây dường như đặt giới hạn cho vấn đề về mục vụ, như thể mối quan tâm về nguyên tắc là để làm trọn các thứ thủ tục về pháp lý, nhưng lại không lưu ý gì tới các mục đích mục vụ nơi tiến trình pháp lý. Ẩn nấp đằng sau đường lối này là một thứ xung khắc được cho là xẩy ra giữa luật lệ và việc chăm sóc mục vụ nói chung.

“Trong cuộc gặp gỡ của tôi với quí vị lần đầu tiên đây, tôi muốn chú ý tới một khía cạnh tiêu biểu cho vấn đề gặp gỡ chính yếu giữa luật lệ và việc chăm sóc mục vụ, đó là việc yêu chuộng chân lý”.

Theo chiều hướng này, ngài đã nhấn mạnh tới vấn đề “mục đích của một cuộc điều trần của tòa án là tuyên bố sự thật từ thành phần vô tư thứ ba” ra sao, sau khi cả đôi bên được dịp trình bày trường hợp của mình “trong mộït giới hạn bàn luận thích hợp…. Bởi thế, tất cả mọi hệ thống pháp luật cần phải có khuynh hướng bảo đảm tính cách khách quan, thời hạn và hiệu năng đối với các quyết định của chư vị thẩm phán”.

Sau đó ngài đã nói tới vấn đề các tòa án làm sao để có thể nhận thấy là họ đang giải quyết những vấn đề “vượt ngoài cả phạm vi của thành phần liên quan, vì những vấn đề ấy liên quan tới các thứ quyền lợi của toàn thể cộng đồng Giáo Hội”. Chính vì phương diện này mà “những lý do để công bố hủy hôn không thành. Thật vậy, hôn nhân theo chiều kích song hành của nó – tự nhiên và bí tích – không phải là những gì đôi phối ngẫu có thể tùy ý quyết định, hay, căn cứ vào tính chất xã hội và công khai của nó, không thể nghĩ ra một hình thức tự quyết nào đó”.

Sau khi nhấn mạnh rằng “không một cuộc điều trần nào ở tòa án tự bản chất ‘chống lại’ với bên kia, như thể mục đích của nó là để giáng xuống một hình thức trừng phạt nào đó. Mục đích của cuộc điều trần, ngược lại, là để công bố sự thật liên quan tới tính chất hiệu thành hay bất hiệu thành của một cuộc hôn nhân chuyên biệt; nói cách khác, là để công về về thực tại cốt lõi của cơ cấu gia đình, và là những gì quan tâm nhất đối với Giáo Hội cũng như với xã hội dân sự”.

Ngài tiếp tục cho biết làm thế nào “tiêu chuẩn của việc tìm kiếm sự thật” dẫn chúng ta tới việc xét tới một khía cạnh khác của vấn đề pháp lý: “Giá trị mục vụ của vấn đề pháp lý, một giá trị không thể được tách khỏi lòng mến yêu chân lý. Thật thế, có thể xẩy ra trường hợp là đức ái về khía cạnh mục vụ đôi khi bị ô nhiễm bởi những thái độ ve vuốt chiều chuộng nhau. Những thái độ này có vẻ như là mục vụ song thực tế chúng không đáp ứng với sự thiện của cá nhân, hay với sự thiện của cộng đồng Giáo Hội.

“Sự thật để hủy hôn không phải là… một sự thật trừu tượng, một sự thật hoàn toàn tách khỏi sự thiện của cá nhân. Nó là một sự thật hoàn toàn thuộc về cuộc hành trình nhân bản và Kitô giáo của mỗi một người tín hữu. Bởi vậy, thật là quan trọng đối với vấn đề tuyên bố về sự thật này cần phải xẩy ra trong khoảng thời gian hữu lý”.

Ngài cũng nhấn mạnh trách nhiệm quan hệ trong việc “mang hoạt động về cơ cấu này của Giáo Hội ở các pháp đình gần lại với tín hữu hơn”, nhu cầu cần phải “tìm cách tránh hủy hôn”, và tầm quan trọng của “các nỗ lực giúp đỡ những đôi phối ngẫu giải quyết những khó khăn của họ và tìm cách hòa giải”.

“Tôi hy vọng rằng những suy tư chia sẻ này là những gì giúp quí vị hiểu hơn về cách thức làm thế nào lòng yêu chuộc sự thật có thể nối kết giữa cơ cấu của việc cứu xét về giáo luật vấn đề hủy hôn, với cảm quan mục vụ chân thực là những gì làm cho những việc cứu xét ấy linh động. Nhìn theo chiều hướng ấy thì Bản Hướng Dẫn ‘Dignitas connubii’ và những quan tâm xuất phát từ Cuộc Thượng Nghị Giám Mục mới đây, hoàn toàn hòa hợp với nhau vậy”.

Trong buổi triều kiến Đức Giáo Hoàng này, vị chánh án tòa Rota là Đức Ông Antoni Stankiewicz đã nói tới tinh thần của Bản Hướng Dẫn về vấn đề hôn nhân “Dignitas Connulii”, được Hội Đồng Tòa Thánh Về Dẫn Giải Các Bản Văn Pháp Luật phổ biến ngày 25/1/2005, như sau:

“Nó không phải tìm cách làm cho các thủ tục về vấn đề hôn nhân trở nên phức tạp hơn, hay việc tuyên bố hủy hôn tự nó trở thành bất khả gánh vác, mà trở thành một thứ hiệu nghiệm ‘trợ giúp cho các vị thẩm phán và những ai hoạt động ở các Tòa Án Giáo Hội. Các thủ tục về pháp lý để hủy hôn chẳng những thực thi việc phục vụ chân lý mà còn cả đức ái nữa”.

Kể từ ngày 31/12/2005 có 1.054 vụ cần được tòa Rota cứu xét. Năm ngoái có 264 vụ được trình lên tòa Rota (163 ở Âu Châu, 73 ở Mỹ Châu và 10 ở Á Châu).

Các vị thẩm phán đã ban hành 289 án quyết, trong đó 141 án quyết có tính chất dứt khoát, và 1 trong 141 án quyết ấy có tính chất tội ác, không liên quan tới vấn để hủy hôn. Trong 140 án quyết này, có 69 án quyết công nhận là hôn nhân không thành, và 71 án quyết công nhận hôn nhân thật sự là hiệu thành.

Một ¼ các trường hợp được hưởng “việc bảo trợ miễn phí” là việc ấn định rằng các viên chức trong tiến trình cứu xét không được trả thù lao.

Hội Đồng Tòa Án Rota gồm có 20 da916ng bậc (giám mục hay tổng giám mục) kiểm viên: 9 Ý, 2 Balan, 2 Mỹ, 2 Labanon, 1 Tây Ban Nha, 1 Đức, 1 Pháp, 1 Ba Tây và 1 Tô Cách Lan.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS (phần về bài nói của ĐTC) và Zenit (phần còn lại), 30/1/2006 - Thoidiemmaria.net

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)