|
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Tòa Rota Rôma dịp hằng năm khai
mạc năm pháp lý
Sáng
ngày Thứ Bảy 28/1/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã tiếp phái
đoàn phục vụ tòa Rota ở Rôma nhân dịp hằng năm khai mạc năm pháp
lý.
Trong
bài huấn từ của mình, ngài đã nhắc lại di sản giáo huấn phong
phú của Đức Gioan Phaolô II về vấn đề giáo luật được chất chứa
trong Bản Hướng Dẫn “Dignitas connubii” liên quan tới các phương
thức cần phải được tuân theo trong những việc điều tra cần để
tiêu hôn. Ngài nói:
“Việc
đóng góp lớn nhất của Bản Hướng Dẫn này, một bản hướng dẫn tôi
hoàn toàn tin rằng được các tòa án của Giáo Hội áp dụng, bao gồm
việc đề cập tới tầm mức và cách thức có những qui chuẩn đặc biệt
ở những khoản giáo luật hiện hành cần phải áp dụng cho việc tiêu
hôn, mà vẫn theo các qui chuẩn đặc biệt liên quan tới tình trạng
của con người, hay liên quan tới thiện ích chung nữa”.
Ngài
đã nhắc lại rằng, trong Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới hồi Tháng
10/2005 về Thánh Thể, các Nghị Phụ đã “kêu gọi các tòa án của
Giáo Hội hãy hết sức nỗ lực để bảo đảm rằng các phần tử tín hữu
không kết hôn theo giáo luật, sớm bao nhiêu có thể, được bình
thường hóa tình trạng tại gia của họ”, nhờ đó được rước lễ lại.
Tuy nhiên, ngài tiếp tục:
“Pháp
lý giáo luật và Bản Hướng dẫn mới đây dường như đặt giới hạn cho
vấn đề về mục vụ, như thể mối quan tâm về nguyên tắc là để làm
trọn các thứ thủ tục về pháp lý, nhưng lại không lưu ý gì tới
các mục đích mục vụ nơi tiến trình pháp lý. Ẩn nấp đằng sau đường
lối này là một thứ xung khắc được cho là xẩy ra giữa luật lệ và
việc chăm sóc mục vụ nói chung.
“Trong
cuộc gặp gỡ của tôi với quí vị lần đầu tiên đây, tôi muốn chú
ý tới một khía cạnh tiêu biểu cho vấn đề gặp gỡ chính yếu giữa
luật lệ và việc chăm sóc mục vụ, đó là việc yêu chuộng chân lý”.
Theo
chiều hướng này, ngài đã nhấn mạnh tới vấn đề “mục đích của một
cuộc điều trần của tòa án là tuyên bố sự thật từ thành phần vô
tư thứ ba” ra sao, sau khi cả đôi bên được dịp trình bày trường
hợp của mình “trong mộït giới hạn bàn luận thích hợp…. Bởi thế,
tất cả mọi hệ thống pháp luật cần phải có khuynh hướng bảo đảm
tính cách khách quan, thời hạn và hiệu năng đối với các quyết
định của chư vị thẩm phán”.
Sau
đó ngài đã nói tới vấn đề các tòa án làm sao để có thể nhận thấy
là họ đang giải quyết những vấn đề “vượt ngoài cả phạm vi của
thành phần liên quan, vì những vấn đề ấy liên quan tới các thứ
quyền lợi của toàn thể cộng đồng Giáo Hội”. Chính vì phương diện
này mà “những lý do để công bố hủy hôn không thành. Thật vậy,
hôn nhân theo chiều kích song hành của nó – tự nhiên và bí tích
– không phải là những gì đôi phối ngẫu có thể tùy ý quyết định,
hay, căn cứ vào tính chất xã hội và công khai của nó, không thể
nghĩ ra một hình thức tự quyết nào đó”.
Sau
khi nhấn mạnh rằng “không một cuộc điều trần nào ở tòa án tự bản
chất ‘chống lại’ với bên kia, như thể mục đích của nó là để giáng
xuống một hình thức trừng phạt nào đó. Mục đích của cuộc điều
trần, ngược lại, là để công bố sự thật liên quan tới tính chất
hiệu thành hay bất hiệu thành của một cuộc hôn nhân chuyên biệt;
nói cách khác, là để công về về thực tại cốt lõi của cơ cấu gia
đình, và là những gì quan tâm nhất đối với Giáo Hội cũng như với
xã hội dân sự”.
Ngài
tiếp tục cho biết làm thế nào “tiêu chuẩn của việc tìm kiếm sự
thật” dẫn chúng ta tới việc xét tới một khía cạnh khác của vấn
đề pháp lý: “Giá trị mục vụ của vấn đề pháp lý, một giá trị không
thể được tách khỏi lòng mến yêu chân lý. Thật thế, có thể xẩy
ra trường hợp là đức ái về khía cạnh mục vụ đôi khi bị ô nhiễm
bởi những thái độ ve vuốt chiều chuộng nhau. Những thái độ này
có vẻ như là mục vụ song thực tế chúng không đáp ứng với sự thiện
của cá nhân, hay với sự thiện của cộng đồng Giáo Hội.
“Sự
thật để hủy hôn không phải là… một sự thật trừu tượng, một sự
thật hoàn toàn tách khỏi sự thiện của cá nhân. Nó là một sự thật
hoàn toàn thuộc về cuộc hành trình nhân bản và Kitô giáo của mỗi
một người tín hữu. Bởi vậy, thật là quan trọng đối với vấn đề
tuyên bố về sự thật này cần phải xẩy ra trong khoảng thời gian
hữu lý”.
Ngài
cũng nhấn mạnh trách nhiệm quan hệ trong việc “mang hoạt động
về cơ cấu này của Giáo Hội ở các pháp đình gần lại với tín hữu
hơn”, nhu cầu cần phải “tìm cách tránh hủy hôn”, và tầm quan trọng
của “các nỗ lực giúp đỡ những đôi phối ngẫu giải quyết những khó
khăn của họ và tìm cách hòa giải”.
“Tôi
hy vọng rằng những suy tư chia sẻ này là những gì giúp quí vị
hiểu hơn về cách thức làm thế nào lòng yêu chuộc sự thật có thể
nối kết giữa cơ cấu của việc cứu xét về giáo luật vấn đề hủy hôn,
với cảm quan mục vụ chân thực là những gì làm cho những việc cứu
xét ấy linh động. Nhìn theo chiều hướng ấy thì Bản Hướng Dẫn ‘Dignitas
connubii’ và những quan tâm xuất phát từ Cuộc Thượng Nghị Giám
Mục mới đây, hoàn toàn hòa hợp với nhau vậy”.
Trong
buổi triều kiến Đức Giáo Hoàng này, vị chánh án tòa Rota là Đức
Ông Antoni Stankiewicz đã nói tới tinh thần của Bản Hướng Dẫn
về vấn đề hôn nhân “Dignitas Connulii”, được Hội Đồng Tòa Thánh
Về Dẫn Giải Các Bản Văn Pháp Luật phổ biến ngày 25/1/2005, như
sau:
“Nó
không phải tìm cách làm cho các thủ tục về vấn đề hôn nhân trở
nên phức tạp hơn, hay việc tuyên bố hủy hôn tự nó trở thành bất
khả gánh vác, mà trở thành một thứ hiệu nghiệm ‘trợ giúp cho các
vị thẩm phán và những ai hoạt động ở các Tòa Án Giáo Hội. Các
thủ tục về pháp lý để hủy hôn chẳng những thực thi việc phục vụ
chân lý mà còn cả đức ái nữa”.
Kể
từ ngày 31/12/2005 có 1.054 vụ cần được tòa Rota cứu xét. Năm
ngoái có 264 vụ được trình lên tòa Rota (163 ở Âu Châu, 73 ở Mỹ
Châu và 10 ở Á Châu).
Các
vị thẩm phán đã ban hành 289 án quyết, trong đó 141 án quyết có
tính chất dứt khoát, và 1 trong 141 án quyết ấy có tính chất tội
ác, không liên quan tới vấn để hủy hôn. Trong 140 án quyết này,
có 69 án quyết công nhận là hôn nhân không thành, và 71 án quyết
công nhận hôn nhân thật sự là hiệu thành.
Một
¼ các trường hợp được hưởng “việc bảo trợ miễn phí” là việc ấn
định rằng các viên chức trong tiến trình cứu xét không được trả
thù lao.
Hội
Đồng Tòa Án Rota gồm có 20 da916ng bậc (giám mục hay tổng giám
mục) kiểm viên: 9 Ý, 2 Balan, 2 Mỹ, 2 Labanon, 1 Tây Ban Nha,
1 Đức, 1 Pháp, 1 Ba Tây và 1 Tô Cách Lan.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS (phần về bài nói
của ĐTC) và Zenit (phần còn lại), 30/1/2006 - Thoidiemmaria.net
|