| |
CẢM
NHẬN THÁNH MẪU của Giáo Hoàng Biển Đức XVI khi còn là Hồng Y Ratzinger:
Việc cần phải trở về với Mẹ Maria và Vai Trò Của Maria Trong Việc
Lấy Lại Tình Trạng Quân Bình Đức Tin Công Giáo
Việc
cần phải trở về với Mẹ Maria
Ngay
từ khi còn là thần học gia Joseph Ratzinger, như ngài tự thú trong
cuốn “Ratzinger’s Report”, (Ignatius Press, 1985, trang 105),
tự bản chất ngài vốn không thiên về hay hào hứng về Thánh Mẫu
cho lắm, thậm chí cả trong thời gian tham dự Công Đồng Chung Vaticanô
II. Tuy nhiên, cũng chính vì nhờ tham dự Công Đồng này, trước
khuynh hướng tôn tụng của Công Đồng đối với Mẹ Maria, trong một
thời đại đầy những biến động về đức tin, ngài đã có được một nhận
thức Thánh Mẫu rất đặc biệt đối với vai trò hết sức quan trọng
và cấp thiết của Mẹ trong Giáo Hội và thế giới ngày nay. Sau đây
là nguyên văn lời của ngài:
“Là
một thần học gia trẻ ở vào thời điểm trước (cũng như trong) Công
Đồng, tôi đã đặt vấn đề về một số những công thức cổ xưa, chẳng
hạn như câu nổi tiếng De Maria nunquam satis, ‘nói về Mẹ Maria
không bao giờ cùng’. Câu này có vẻ quá đáng đối với tôi. Bởi thế
sau này tôi khó lòng mà hiểu được ý nghĩa thực sự của lời diễn
tả danh tiếng khác (đang lưu hành trong Giáo Hội từ các thế kỷ
đầu tiên, thời mà sau cuộc tranh cãi đáng ghi nhớ, Công Đồng Êphêsô
năm 431 đã công bố Maria là Theotokos, Mẹ Thiên Chúa). Việc công
bố này tức là việc nhìn nhận Đức Trinh Nữ là ‘Vị Chiến Thắng tất
cả mọi lạc thuyết’. Bởi vậy, trong giai đoạn lẫn lộn này, khi
mà hết mọi thứ sai lạc thực sự dường như đang áp đảo ngưỡng cửa
đức tin chân thực, thì tôi mới hiểu được rằng nó không phải là
vấn đề quá trớn của lòng đạo đức, mà là vấn đề của những chân
lý ngày nay có hiệu lực hơn bao giờ hết”.
“Phải,
cần phải trở về với Mẹ Maria nếu chúng ta muốn trở lại với ‘sự
thật về Chúa Giêsu Kitô’, ‘sự thật về Giáo Hội’, và ‘sự thật về
con người’ là những gì được Đức Gioan Phaolô II đề ra như một
chương trình thực hiện cho toàn thể Kitô Giáo vào năm 1979, thời
điểm ngài khai mạc hội đồng giám mục Mỹ Châu Latinh ở Puebla.
Các vị giám mục đã đáp lại dự án này của vị Giáo Hoàng ấy bằng
việc bao gồm trong các bản văn kiện đầu tiên (những văn kiện đã
được một số người đọc một cách thiếu sót) ước muốn và mối quan
tâm nhất trí của các vị, đó là: ‘Hơn bao giờ hết Mẹ Maria cần
phải trở thành một khoa sư phạm để loan báo Phúc Âm cho con người
ngày nay’. Thật vậy, chính ở châu lục này là nơi lòng tôn sùng
Thánh Mẫu theo truyền thống nơi dân chúng đã bị sa sút, một tình
trạng trống rỗng xẩy ra được thay thế bằng những ý hệ chính trị.
Nó là một hiện tượng có thể nhận thấy hầu như ở khắp nơi với một
mức độ nào đó, cho thấy tầm quan trọng của một thứ lòng tôn sùng
không chỉ thuần túy tôn sùng mà thôi”. (những chỗ in ngả đậm là
do người dịch tự ý nhấn mạnh).
Đọc
cuốn The Ratzinger’s Report, người viết có cảm tưởng nội dung
của tác phẩm này hơi giống cuốn “Hồi Niêm và Căn Tính” của Đức
Gioan Phaolô II, ở chỗ, cả hai tác phẩm đều có tính cách “ôn cố
nhi tri tân”: một cuốn “ôn cố nhi tri tân” với thế giới và về
thế giới, đó là cuốn của Đức Gioan Phaolô II, và một cuốn “ôn
cố nhi tri tân” với Giáo Hội và về Giáo Hội. Cả hai cuốn đều là
thành quả của cuộc phỏng vấn với những thức giả thời đại.
Thật
vậy, có thể chia cuốn The Ratzinger’s Report với 13 chương (trừ
chương đầu liên quan tới cá nhân Hồng Y Ratzinger, còn 12) ra
làm hai phần, phần đầu gồm 6 chương có tính cách “ôn cố”, (bao
gồm các chương như chương 2: Một Công Đồng Cần Phải Tái Nhận Thức,
chương 3: Căn Gốc Của Cuộc Khủng Hoảng Đó Là Ý Nghĩ Về Giáo Hội,
chương 4: Nơi Các Vị Linh Mục Và Giám Mục, chương 5: Những Dấu
Hiệu Nguy Hiểm, chương 6: Màn Thảm Kịch Luân Lý, chương 7: Thành
Phần Nữ Giới, Một Nữ Nhân), và phần sau gồm 6 chương thiên về
tính cách “tri tân”, (đặc biệt là chương 8: Một Linh Đạo Cho Ngày
Nay; chương 9: Phụng Vụ Giữa Cũ Và Mới, chương 12: Một Cuộc ‘Giải
Phóng’; chương 13: Loan Báo Chúa Kitô Một Lần Nữa).
Tuy
nhiên, giữa hai phần “ôn cố” và “tri tân” này, có một khoảng đặc
biệt về Mẹ Maria, một khoảng như để chuyển tiếp, như để thực hiện
việc “tống cựu nghinh tân”. Khoảng đặc biệt về Mẹ Maria này ở
ngay trong chương cuối cùng của phần “ôn cố”, là chương thứ 7,
chương về “Thành Phần Nữ Giới, Một Nữ Nhân – Women, A Woman”.
Thành Phần Nữ Giới đây là thành phần cũng đang gặp khủng hoảng,
(đó là lý do Hồng Y Ratzinger đã nói đến các vấn đề về họ qua
những tiểu mục đặc biệt như ‘phong trào nữ giới trong tu viện’
và ‘một tương lai thiếu vắng nữ tu’), và Một Nữ Nhân đây, Một
Nữ Nhân trong Thành Phần Nữ Giới đây chính là nhân vật cứu vãn
tình thế, một nhân vật đã được The Ratzinger’s Report bàn đến
dưới tiểu mục: ‘Một Phương Dược: Đức Maria – A Remedy: Mary’.
Vị hồng y trở thành Giáo Hoàng Biển Đức XVI 20 năm sau này đã
chia sẽ cảm nhận của mình về phương dược Maria là:
“Một
phương dược chữa trị nổi tiếng này ngày nay dường như bị lu mờ
đi bởi một số người Công Giáo, song lại là một phương dược thích
đáng hơn bao giờ hết” (trang 104).
Theo
Hồng Y Ratzinger thì chính Công Đồng Chung Vaticanô II đã đề cao
Phương Dược Maria này:
“Bằng
việc đưa mầu nhiệm về Mẹ Maria vào mầu nhiệm Giáo Hội, Công Đồng
Chung Vaticanô II đã thực hiện một quyết định quan trọng là quyết
định cần phải cống hiến một tác lực mới cho việc nghiên cứu về
thần học. Trái lại, trong giai đoạn mới sau công đồng đã xẩy ra
tình trạng đột ngột sa sút về chiều hướng này, hầu như là sụp
đổ, mặc dù hiện nay (biệt chú: ngài nói câu này vào năm 1985,
sau Công Đồng 20 năm) có một số dấu hiệu sinh động mới… (trang
104).
“Nếu
vị thế của Mẹ Maria từng là những gì thiết yếu cho tình trạng
quân bình về Đức Tin, thì ngày nay, cũng như ở một số giai đoạn
khác của lịch sử Giáo Hội, rất cần phải tái nhận thức vị thế này”
(trang 105).
Có
đọc được những cảm nhận Thánh Mẫu của Hồng Y Ratzinger trên đây,
chúng ta mới cảm thấy hết sức ý vị khi đọc được những cảm nhận
Thánh Mẫu của ngài với tư cách là Giáo Hoàng sau đây.
Vai
Trò Của Maria Trong Việc Lấy Lại Tình Trạng Quân Bình Đức Tin
Công Giáo
Trong
cuốn The Ratzinger’s Report, ở chương 7, về “Thành Phần Nữ Giới,
Một Người Nữ”, ở trang 106-109, Vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI của
chúng ta, khi còn là Hồng Y Ratzinger 20 năm trước đã nêu lên
6 lý do cho thấy tại sao vai trò quan trọng của Mẹ Maria trong
việc làm quân bình Đức Tin Công Giáo hay để cứu vãn cuộc khủng
hoảng đức tin như sau (những chỗ in ngả đậm là do người dịch cố
ý nhấn mạnh):
1.
“Khi người ta nhìn nhận vị thế được tín điều và truyền thống qui
định cho Mẹ Maria là họ đâm rễ một cách vững chắc vào khoa Kitô
học đích thực. (Theo Công Đồng Chung Vaticanô II thì ‘mộ mến suy
niệm về Mẹ và chiêm ngưỡng Mẹ theo chiều hướng Lời nhập thể là
Giáo Hội cung kính đi sâu hơn nữa vào mầu nhiệm Nhập Thể trọng
đại và càng trở nên giống như vị hôn phu của mình hơn nữa’ [Hiến
Chế Ánh Sáng Muôn Dân, khoản 65). Ngoài ra, chính vì việc trực
tiếp phục vụ niềm tin tưởng vào Chúa Kitô, chứ không phải hoàn
toàn chỉ vì lòng tôn sùng Người Mẹ này, mà Giáo Hội đã tuyên bố
các tín điều Thánh Mẫu: trước hết là tín điều Mẹ trọn đời đồng
trinh và vai trò Thiên Mẫu, rồi sau đó, qua một thời gian dài
chín mùi và suy tư, đến những tín điều Mẹ Hoài Thai Vô Nhiễm và
Mông Triệu hiển vinh thiên đình. Những tín điều này là những gì
bảo vệ niềm tin nguyên tuyền nơi Đứca Kitô, Đấng là Thiên Chúa
thật và là người thật, Đấng có hai bản tính trong một Ngôi Vị
duy nhất. Những tín điều Thánh Mẫu ấy cũng bảo đảm chiều kích
cánh chung bất khả thiếu, khi cho thấy việc Mông Triệu của Mẹ
Maria như là một định mệnh bất tử đang đợi chờ tất cả chúng ta.
Những tín điều này cũng bảo vệ niềm tin – bị đe dọa ngày nay –
nơi Thiên Chúa Hóa Công, Đấng có thể tự do nhúng tay can thiệp
vào cả vấn đề thể chất (và đây là một trong những vấn đề liên
quan tới ý nghĩa về sự thật trọn đời đồng trinh của Mẹ Maria,
một vấn đề mà hơn bao giờ hết ngày nay không hiểu được). Sau hết,
Mẹ Maria, như Công Đồng nhắc nhở: ‘đã tiến sâu vào lịch sử cứu
độ,… ở chỗ các mầu nhiệm Đức Tin quan trọng nhất được liên kết
và âm vang nơi bản thân Mẹ’ (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, đoạn
65)”.
2.
“Khoa thánh mẫu học của Giáo Hội bao gồm mối liên hệ chân thực,
việc hội nhập cần thiết giữa Thánh Kinh và truyền thống. Bốn tín
điều Thánh Mẫu có nền tảng rõ ràng trong Thánh Kinh. Thế nhưng
nền tảng này trong Thánh Kinh giống như một mầm mống mọc lên và
sinh hoa kết trái trong đời sống của truyền thống, cũng như được
bày tỏ thể hiện nơi phụng vụ, nơi nhận thức của thành phần tín
hữu và nơi suy tư thần học theo chiều hướng của Huấn Quyền”.
3.
“Mẹ Maria liên kết với nhau, nơi chính bản thân của mình là một
thiếu nữ Do Thái được trở nên Mẹ của Đấng Thiên Sai, một cách
sống động và bất khả phân ly, thành phần Dân Chúa cả cựu lẫn tân,
Dân Do Thái và Dân Kitô Giáo, hội đường và thánh đường. Mẹ thực
sự là cái móc nối liên kết mà nếu thiếu vắng thì Đức Tin (như
đang xẩy ra ngày nay) có nguy cơ bị mất quân bình, hoặc bằng việc
bỏ Tân Ước đi lấy Cựu Ước hay bằng việc không cần đến Cựu Ước
nữa. Trái lại, nơi Mẹ, chúng ta có thể sống mối hiệp nhất hoàn
toàn này của Thánh Kinh”.
4.
“Việc tôn sùng Thánh Mẫu đúng đắn bảo đảm cho đức tin về việc
đồng hiện hữu giữa ‘lý trí’ bất khả thiếu với ‘những lý lẽ của
con tim’ cũng bất khả châm chước, như Pascal nói. Đối với Giáo
Hội, con người không thuần lý trí cũng chẳng thuần cảm tình, họ
là khối hiệp nhất của cả hai chiều kích này. Cái đầu cần phải
tỏ ra sáng suốt, nhưng con tim cần phải cảm thấy nồng nàn: như
thế, việc tôn sùng Mẹ Maria mới bảo đảm được chiều kích hoàn toàn
nhân bản của đức tin (như Công Đồng Chung Vaticanô II thúc giục
‘một mặt tránh đi hết mọi thứ thái quá sai lầm, mặt khác tránh
đi tính cách quá thiển can trong việc chiêm ngắm phẩm vị trổi
vượt của Mẹ Thiên Chúa’)”.
5.
“Nếu sử dụng chính các mẫu thức của Công Đồng Chung Vaticanô II
thì Mẹ Maria là ‘hình dạng’, ‘hình ảnh’ và ‘mẫu thức’ của Giáo
Hội. Nhìn ngắm Mẹ, Giáo Hội được bảo vệ cho khỏi kiểu mẫu nam
tính hóa là kiểu mẫu coi Mẹ như là một dụng cụ cho một chương
trình hoạt động chính trị xã hội. Nơi Mẹ Maria, như hình dạng
và nguyên mẫu của mình, Giáo Hội thấy lại được bộ mặt của mình
là một Người Mẹ, và không thể thoái hóa thành tính cách phức tạp
của một đảng phái, của một tổ chức hay của một nhóm áp đặt phục
vụ các lợi ích của nhân loại cho dù là những lợi ích cao quí nhất.
Nếu Mẹ Maria không còn chỗ đứng nơi nhiều thứ thần học và giáo
hội học nữa thì lý do cũng hiển nhiên thôi, đó là vì những thứ
khoa học này biến đức tin trở thành một cái gì đó trừu tượng.
Và đã trừu tượng thì không cần gì đến một Người Mẹ nữa”.
6.
“Với thân phận của mình, một lúc vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, Mẹ
Maria tiếp tục chiếu tỏa trên những gì được Đấng Hóa Công ấn định
cho nữ giới ở mọi thời đại, kể cả thời đại của chúng ta đây, hay
nói đúng hơn, có lẽ cho chính thời đại của chúng ta, một thời
đại mà, như chúng ta biết, chính bản chất của nữ tính đang bị
đe dọa. Nơi tính cách trinh nguyên và vai trò làm mẹ của Người,
mầu nhiệm của nữ giới có được một định mệnh rất cao cả khiến họ
không thể bị phân mảnh. Mẹ Maria hiên ngang xướng lên bài ca vịnh
Magnificat – Ngợi Khen, thế nhưng Mẹ cũng là một con người làm
cho việc thinh lặng và ẩn dật sinh hoa kết trái. Mẹ là một con
người không sợ đứng dưới Cây Thập Tự Giá cũng là vị hiện diện
ở cuộc Giáo Hội được hạ sinh. Thế nhưng, Mẹ cũng là vị, như thánh
ký nhấn mạnh mấy lần là ‘lưu giữ và suy niệm trong lòng’ những
gì được tỏ ra cho Mẹ. Là một tạo vật can trường và tuân phục,
Mẹ đã và vẫn còn là một mẫu gương cho hết mọi Kitô hữu nam nữ
có thể và cần phải bắt chước noi theo”.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, Tổng Hợp và Chuyển Dịch - Thoidiemmaria.net
|
|